1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen

57 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4-ethylenedioxythiophene):polystyrene sulfonate graphen
Tác giả Nguyễn Thị Châm
Người hướng dẫn TS. Phạm Văn Trình, PGS.TS. Lê Tuấn Tú
Trường học Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Vật lý chất rắn
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 4,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều cách tiếp cận đã được thực hiện để hạ thấp giá thành của pin mặt trời dựa trên nền tảng vật liệu Si, trong đó pin mặt trời Si sử dụng cấu trúc màng mỏng được phát triển là một giải

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Hà Nội - 2020

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu do chính tôi − học viên Nguyễn Thị Châm, chuyên ngành Vật lý chất rắn, khoa Vật lý, trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Văn Trình và PGS.TS Lê Tuấn Tú Bản luận văn không sao chép từ bất kỳ tài liệu nào Nếu bản luận văn này được sao chép từ bất kỳ tài liệu nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước đơn vị đào tạo và pháp luật

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2020

Học Viên

Nguyễn Thị Châm

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Tuấn Tú và

TS Phạm Văn Trình, những người đã trực tiếp giao đề tài và tận tình hướng dẫn

em hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ trong phòng Vật liệu Cácbon nanô, Viện Khoa học Vật liệu đã cung cấp cơ sở vật chất và chỉ bảo tận tình em trong suốt quá trình làm thực nghiệm, nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với các thầy cô giáo thuộc Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã chỉ bảo và giảng dạy em trong suốt những năm học qua cũng như việc hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến GS Naoki Fukata tại viện NIMS, Nhật Bản

đã luôn sẵn sàng ủng hộ, giúp đỡ tôi thực hiện một số phép đo và khảo sát tính chất vật liệu phục vụ cho luận văn

Nội dung của luận văn là một phần công việc của đề tài Độc lập trẻ cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam mã số ĐLTE00.03/19-20 và đề tài Nafosted mã số 104.06-2018.34

Cuối cùng, xin được bày tỏ tình cảm tới những người thân trong gia đình, các bạn trong tập thể lớp đã động viên, hỗ trợ em về mọi mặt

Em xin chân thành cảm ơn!

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về pin mặt trời 3

1.1.1 Năng lượng mặt trời 3

1.1.2 Nguyên lý hoạt động của pin mặt trời 3

1.1.4 Pin mặt trời cấu trúc lai vô cơ-hữu cơ 8

1.2 Tình hình nghiên cứu về pin mặt trời trong nước 13

Chương 2 THỰC NGHIỆM 17

2.1 Chế tạo hỗn hợp PEDOT:PSS/Gr 17

2.2 Chế tạo SiNW 20

2.3 Chế tạo pin mặt trời 21

2.4 Các phương pháp phân tích 22

2.4.1 Kính hiển vi điện tử quét 22

2.4.2 Phổ tán xạ Raman 23

2.4.3 Phổ FTIR và Phổ UV-VIS 24

2.4.4 Khảo sát độ dẫn bằng phương pháp đo điện trở bốn mũi dò 25

2.4.5 Đặc trưng J-V 26

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Kết quả biến tính Graphen 27

3.2 Tính chất của màng PEDOT:PSS/Gr 28

3.3 Kết quả chế tạo SiNW 31

3.4 Đặc trưng tính chất của pin mặt trời 33

3.4.1 Ảnh hưởng của nồng độ graphen 33

3.4.2 Ảnh hưởng của chiều dài SiNW 35

KẾT LUẬN 40

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CVD Chemical Vapor Deposition Ngưng tụ pha hơi hoá học

EDX Energy Dispersive X-Ray

spectroscopy

Phổ tán xạ năng lượng tia

X FTIR Fourier Tranform Infrared

J-V Current density- Voltage Đặc trưng dòng-thế

MWCNTs Multi-Walled Carbon Nanotubes Ống nanô cacbon đa

tường

PEDOT:PSS

ethylenedioxythiophene):polystyrene sulfonate

poly(3,4-SEM Scanning Electron Microscopy Kính hiển vi điện tử quét

SWCNTs Single-Walled Carbon Nanotubes Ống nanô cacbon đơn

tường UV-VIS Ultraviolet–visible spectroscopy Phổ hấp thụ hồng ngoại

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Trang

Hình 1.2 Cấu tạo của một tế bào năng lượng mặt trời điển hình 4

Hình 1.4 Giá thành($/Wp) và hiệu suất của các thế hệ pin mặt trời 7

Hình 1.5 Hiệu suất cao nhất thu được của pin mặt trời dựa trên cấu trúc,

vật liệu khác nhau

7

Hình 1.6 Pin mặt trời sử dụng SiNW với cấu trúc pn dạng lõi-vỏ 9

Hình 1.7 Pin mặt trời sử dụng cấu trúc hybrid Si NW/PEDOT:PSS có

hiệu suất 13.2% (a) SiNW, (b) SiNW sau khi được phủ PEDOT:PSS, (c) đặc trưng J-V và (d) hệ số phản xạ

10

Hình 1.8 Các tính chất của pin mặt trời sử dung cấu trúc hybrid

SiNW/PEDOT:PSS/GO

11

Hình 1.9 (a) Pin mặt trời sử dụng cấu trúc PEDOT:PSS/Si và GQDs, (b)

Đặc trưng J-V của pin mặt trời với nồng độ GQD khác nhau và (c) hiệu suất lượng tử ngoại của pin mặt trời

12

Hình 1.10 Đặc trưng I/V của pin mặt trời sử dụng cấu trúc Au@TiO2 13

Hình 1.11 Pin mặt trời hữu cơ có hiệu suất chuyển đổi lớn hơn 10% 13

Hình 1.12 Đặc trưng I/V của pin mặt trời sử dụng cấu trúc

ITO/PEDOT/P3HT:PCBM/LiF/Al (WOSC) and ITO/ZnO/PEDOT/P3HT:PCBM/LiF/Al (BOSC)

14

Hình 1.13 Mô hình cấu trúc của pin mặt trời sử dụng cấu trúc hybrid

SiNW/PEDOT:PSS/Gr và các điểm ưu việt của nghiên cứu

15

Hình 2.1 Quy trình chế tạo pin mặt trời SiNW/PEDOT:PSS/Gr 17

Hình 2.2 Quy trình chế tạo hỗn hợp dung dịch PEDOT:PSS/Gr 18

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 8

Hình 2.3 (a) Ảnh SEM và (b) ảnh HRTEM của graphen chế tạo bằng

phương pháp bóc tách điện hóa có hỗ trợ plasma

18

Hình 2.4 Qui trình biến tính gắn nhóm chức COOH lên ống graphen 19

Hình 2.5 Quy trình chế tạo SiNW bằng phương pháp ăn mòn hóa học 20

Hình 2.6 Quy trình chế tạo pin mặt trời SiNW/PEDOT:PSS/Gr và một số

thiết bị

21

Hình 2.7 Sơ đồ khối của kính hiển vi điện tử quét 23

Hình 2.8 (a) Sơ đồ hệ FTIR và (b) mô hình mẫu đo 24

Hình 2.10 Sơ đồ đo điện trở bằng phương pháp 4 mũi dò (a) và thiết bị đo

JANDEL (b)

25

Hình 2.11 Hệ đo đặc trưng J-V của pin mặt trời 26

Hình 3.3 Ảnh SEM của màng PEDOT:PSS/Gr trên đế thủy tinh 29

Hình 3.4 Phổ Raman của màng PEDOT:PSS/Gr trên đế thủy tinh 29

Hình 3.5 UV-VIS của màng PEDOT:PSS/Gr trên đế thủy tinh 30

Hình 3.6 Điện trở và độ dẫn điện của màng PEDOT:PSS/Gr trên đế thủy

tinh

31

Hình 3.7 SiNW được chế tạo theo thời gian khác nhau 1, 3, 6, 15, 30 và

60 phút trong hỗn hợp dung dịch HF 4.6M + AgNO3 0.02M

31

Hình 3.8 Tốc độ hình thành SiNW theo thời gian ăn mòn 32

Hình 3.9 Quy trình chế tạo pin mặt trời cấu trúc lai n-Si/PEDOT:PSS/Gr 33

Hình 3.10 Đặc trưng J-V của pin mặt trời theo nồng độ Gr khác nhau 34

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 9

Hình 3.11 Hiệu suất chuyển đổi của pin mặt trời theo nồng độ Gr khác

Hình 3.13 Hệ số phản xạ của pin mặt trời cấu trúc SiNW/PEDOT:PSS/Gr

với chiều dài SiNW khác nhau

36

Hình 3.14 Hiệu suất lượng tử ngoại của pin mặt trời cấu trúc

SiNW/PEDOT:PSS/Gr với chiều dài SiNW khác nhau

37

Hình 3.15 Đặc trưng J-V của pin mặt trời theo chiều dài SiNW khác nhau 38

Hình 3.16 Chuẩn hóa các thông số J sc , V oc và FF của pin mặt trời theo

chiều dài SiNW khác nhau

38

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 10

MỞ ĐẦU

Hiện nay các nguồn năng lượng truyền thống như dầu, khí đốt đang dần bị cạn kiệt

do nhu cầu sử dụng tăng cao cùng với sự phát triển của loài người Vì vậy, việc tìm ra những nguồn năng lượng mới để thay thế là hết sức cần thiết, trong những nguồn năng lượng đó, năng lượng mặt trời được coi như một nguồn năng lượng thay thế có tiềm năng nhất Kể từ khi được phát hiện cho đến nay, đã có rất nhiều cấu trúc pin mặt trời được nghiên cứu và phát triển và được phân chia thành ba hệ pin mặt trời chính: (I) pin mặt trời trên cơ sở vật liệu Si khối (đơn tinh thể, đa tinh thể), (II) pin mặt trời trên cơ sở màng mỏng (CIGS, CdTe, DSSC, v.v ) và (III) pin mặt trời dựa trên các cấu trúc nano

và vật liệu nano Pin mặt trời thương mại hiện nay thường được chế tạo trên nền tảng vật liệu Si dạng khối không những đòi hỏi chi phí chế tạo cao mà còn hạn chế về mặt hiệu suất Vì vậy, việc khai thác nguồn năng lượng này đang bị hạn chế rất nhiều bởi giá thành cung cấp quá cao so với nhưng nguồn năng lượng khác Nhu cầu nghiên cứu những thế hệ pin mặt trời mới với hiệu suất chuyển đổi năng lượng cao, giá thành hạ và tuổi thọ dài là hết sức cần thiết Nhiều cách tiếp cận đã được thực hiện để hạ thấp giá thành của pin mặt trời dựa trên nền tảng vật liệu Si, trong đó pin mặt trời Si sử dụng cấu trúc màng mỏng được phát triển là một giải pháp tiềm năng; tuy nhiên, pin mặt trời Si cấu trúc màng mỏng lại có hiệu suất thấp hơn so với pin mặt trời dạng khối do khả năng hấp thụ quang bị hạn chế bởi chiều dày của lớp vật liệu Pin mặt trời hữu cơ được nghiên cứu phát triển với kỳ vọng là hạ được giá thành cung cấp Tuy nhiên, vấn đề chính đối với pin mặt trời hữu cơ đó chính là hiệu suất chuyển đổi đạt được chưa cao và có độ ổn định thấp Gần đây, thế hệ pin mặt trời dựa trên nền tảng sử dụng cấu trúc lai kết hợp vật liệu vô cơ và vật liệu hữu cơ đã và đang nhận được sự kỳ vọng và quan tâm của các nhà nghiên cứu trong việc nâng cao hiệu suất chuyển đổi bằng cách cải thiện khả năng hấp thụ quang và tập chung các hạt tải Trong đó, vật liệu vô cơ dựa trên nền tảng dây nanô Si (SiNW) không những thể hiện khả năng hấp thụ tuyệt vời mà còn cung cấp diện tích bề mặt lớn khi so sánh với vật liệu Si dạng khối hay màng mỏng Vì vậy, sử dụng cấu trúc SiNW vào các pin mặt trời đã thu hút được sự quan tâm rất lớn của các nhà khoa học, các kỹ sư và các nhà phát triển công nghệ hướng tới khả năng nâng cao hiệu suất chuyển đổi và tiết kiệm chi phí sản suất khi so sánh với thế hệ pin mặt trời Si dạng khối và dạng màng

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 11

Từ những lý do trên, tập thể thầy hướng dẫn và học viên đã lựa chọn thực hiện

luận văn: “Nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic/poly(3,4-ethylenedioxythiophene):polystyrene sulfonate/graphen”

Mục tiêu của luận văn

i) Nghiên cứu quy trình chế tạo pin mặt trời cấu trúc lai SiNW/PEDOT:PSS ii) Tối ưu hóa sự kết hợp các tính chất đặc biệt của vật liệu SiNW và các vật liệu chức năng như polyme dẫn hay graphen nhằm nâng cao hiệu suất chuyển đổi của pin mặt trời

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Pin mặt trời cấu trúc lai vô cơ/hữu cơ là một giải pháp có nhiều triển vọng vì sử dụng công nghệ đơn giản và giá thành thấp hơn nhiều so với các pin mặt trời vô cơ và hữu cơ Vì vậy việc nghiên cứu chế tạo các pin mặt trời cấu trúc lai là một hướng đi mới

và nhiều triển vọng và có khả năng đáp ứng được những yêu cầu cấp bách về nghiên cứu khoa học cũng như những ứng dụng năng lượng trong thực tiễn Đồng thời đề tài này cũng góp phần đẩy mạnh việc nghiên cứu chế tạo và ứng dụng thực tiễn vật liệu graphen trong các linh kiện quang điện tử ở Việt Nam

Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu trình bày ý nghĩa và lý do lựa chọn vấn đề nghiên cứu và phần Kết luận về những kết quả đã đạt được, luận văn được cấu trúc trong 3 Chương:

Chương 1 trình bày tổng quan về pin mặt trời và vật liệu graphen Phần tổng quan

về pin mặt trời trình bày các thế hệ pin mặt trời, đặc trưng tính chất và tình hình nghiên cứu về pin mặt trời ở trong nước

Chương 2 trình bày các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn, bao gồm phương pháp thực nghiệm chế tạo mẫu và các phương pháp khảo sát, đánh giá tính chất của vật liệu

Chương 3 trình bày kết quả nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các thông số như nồng độ graphen, kích thước graphen và chiều dài dây nano Silic đến tính chất của pin mặt trời

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về pin mặt trời

1.1.1 Năng lượng mặt trời

Năng lượng mặt trời là năng lượng của dòng bức xạ điện từ xuất phát từ mặt trời, cộng với một phần nhỏ năng lượng của các hạt nguyên tử khác phóng ra từ các ngôi sao Dòng năng lượng này sẽ tiếp tục phát ra cho đến khi phản ứng hạt nhân trên mặt trời hết nhiên liệu, vào khoảng 5 tỉ năm nữa Con người đã biết sử dụng nguồn năng lượng này

từ rất sớm, nhưng ứng dụng năng lượng mặt trời vào các công nghệ sản xuất và trên quy

mô rộng thì mới chỉ thực sự vào thế kỷ 18 và cũng chủ yếu ở những nước nhiều năng lượng mặt trời, nhưng vùng sa mạc Từ sau cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới năm

1968 và 1973, năng lượng mặt trời càng được đặc biệt quan tâm Các nước công nghiệp phát triển đã đi tiên phong trong việc nghiên cứu ứng dụng năng lượng mặt trời Các ứng dụng năng lượng mặt trời phổ biến hiện nay là điện mặt trời và nhiệt mặt trời

1.1.2 Nguyên lý hoạt động của pin mặt trời

Pin mặt trời (pin điện quang, hình 1.2) là thiết bị sản xuất ra điện năng từ các chất bán dẫn dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời Khi ánh sáng chiếu tới các tế bào quang điện, nó sẽ sản sinh ra điện năng Khi không có ánh sáng, các tế bào này ngưng sản xuất điện Quá trình chuyển đổi này còn được gọi là hiệu ứng quang điện Hiệu ứng quang

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 13

điện điện là một hiện tượng điện – lượng tử, trong đó các điện tử được thoát ra khỏi vật chất sau khi hấp thụ năng lượng từ các bức xạ điện từ Hiệu ứng quang điện đôi khi được người ta dùng với cái tên hiệu ứng Hertz, do nhà khoa học Heinrich Hertz tìm ra Hiện tượng: khi bề mặt của một tấm kim loại được chiếu bởi bức xạ điện từ có tần

số thích hợp (lớn hơn một tần số ngưỡng đặc trưng cho mỗi kim loại), các điện tử sẽ hấp thụ năng lượng từ các photon và chuyển lên vùng dẫn tạo thành các điện tử tự do e- đồng thời để lại các lỗ trống mang điện dương, các hạt mang điện này di chuyển tạo ra dòng điện (gọi là dòng quang điện) Khi các điện tử bị bật ra khỏi bề mặt của tấm kim loại, ta

có hiệu ứng quang điện ngoài (external photoelectric effect), hình 1.3 Các điện tử không thể phát ra nếu tần số của bức xạ nhỏ hơn tần số ngưỡng bởi điện tử không được cung cấp đủ năng lượng cần thiết để vượt ra khỏi rào thế (gọi là công thoát) Điện tử phát xạ

ra dưới tác dụng của bức xạ điện từ được gọi là quang điện tử Ở một số chất khác, khi được chiếu sáng với tần số vượt trên tần số ngưỡng, các điện tử không bật ra khỏi bề mặt, thoát ra khỏi liên kết với nguyên tử, trở thành điện tử tự do (điện tử dẫn) chuyển động trong lòng của khối vật dẫn tạo nên hiêu ứng quang điện trong (internal photoelectric effect) Hiệu ứng này dẫn đến sự thay đổi về tính chất dẫn điện của vật dẫn, do đó, người ta còn gọi hiệu ứng này là hiệu ứng quang dẫn

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 14

Hình 1.3 Hiệu ứng quang điện Việc chuyển đổi từ ánh sáng mặt trời thành dòng điện đòi hỏi sự hình thành của cả điện tích âm và điện tích dương cũng như một lực điều khiển có thể đẩy các điện tích

đó qua mạch điện ngoài Khi được kết nối với mạch điện bên ngoài, bất kỳ thiết bị điện nào, chẳng hạn một màn hình máy tính hay một động cơ của máy bơm nước, có thể sử dụng năng lượng mặt trời đã được chuyển đổi

1.1.3 Sự phát triển của pin mặt trời

Từ trước đến nay, các nguồn nhiên liệu hóa thạch như than, dầu, khí đốt đã và đang được sử dụng như nguồn năng lượng truyền thống Tuy nhiên, nguồn nhiên liệu này đang dần cạn kiệt vì hạn chế về số lượng và không thể tái tạo được Không những thế, sản phẩm của chúng giải phóng một lượng lớn khí CO2, là một trong những tác nhân chính gây nên sự nóng lên toàn cầu Vì vậy, tìm ra những nguồn năng năng lượng mới

để thay thế và giải quyết sự nóng lên toàn cầu đang nhận được rất nhiều sự quan tâm Các nguồn năng lượng tự nhiên như năng lượng sinh khối, năng lượng gió, năng lượng biển, năng lượng mặt trời là những nguồn năng lượng có tiềm năng lớn cho việc thay thế nguồn nhiên liệu hóa thạch và đóng vai trò quan trọng trong nỗ lực giảm nguồn khí thải CO2, tránh tác động xấu đến biến đổi khí hậu Trong đó, năng lượng mặt trời được

sử dụng rộng rãi và tiềm năng nhất Do Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới cận xích đạo nên có số giờ nắng trung bình ngày khá cao, ở miền Nam trung bình đạt 6.5 giờ/ngày, miền Bắc là 4.1 giờ/ngày, một số địa phương có số giờ nắng trung bình ngày cao như Cần Thơ: 6.9 giờ/ngày, Đà Lạt: 6.1 giờ/ngày… Cường độ tổng lượng bức xạ trung bình ngày thuộc loại cao trên thế giới: 5 kWh/m2 (các khảo sát trên thế giới cho thấy cường

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 15

độ tổng lượng bức xạ trung bình ngày cao nhất đạt 7 kWh/m2, thấp nhất 2 kWh/m2) Những số liệu trên cho thấy pin mặt trời có tiềm năng phát triển rất lớn ở Việt Nam Năm 1883, pin mặt trời đầu tiên trên thế giới được Charles Fritts chế tạo bằng cách phủ một lớp rất mỏng kim loại vàng lên bán dẫn selen, pin mặt trời này hoạt động dựa vào chuyển tiếp kim loại – bán dẫn và có hiệu suất khoảng 1% Năm 1946, Russell Ohl phát minh ra pin mặt trời chuyển tiếp hai lớp bán dẫn đầu tiên Năm 1954, pin mặt trời silic dạng khối được chế tạo có hiệu suất khoảng 6%; đến cuối thập niên 1980, pin mặt trời silic đã đạt đến hiệu suất 20%, các loại pin mặt trời khác cũng được phát triển và có hiệu suất cao (chủ yếu dựa trên nền GaAs) Năm 1989, pin mặt trời silic đã đạt đến hiệu suất 37%

Dựa vào lịch sử phát triển và cấu tạo của các loại pin mặt trời, người ta phân thành bốn thế hệ pin mặt trời:

1 Thế hệ thứ nhất: pin mặt trời dạng khối, đơn tinh thể silic (còn gọi là pin mặt trời kiểu

truyền thống) được chế tạo từ đế silic, loại pin mặt trời này có hiệu suất rất cao, tuy nhiên giá thành đắt, khó lắp đặt, kích thước nhỏ

2 Thế hệ thứ hai: pin mặt trời được chế tạo theo công nghệ màng mỏng, các loại vật

liệu tạo thành phong phú hơn như silic đa tinh thể, vô định hình, CdTe (cadmium telurit), các hợp kim của CIGS (gồm đồng, indium, galium và selen) và các loại bán dẫn màng mỏng khác Pin mặt trời thế hệ này có hiệu suất không cao bằng thế hệ đầu nhưng giá thành rẻ hơn, diện tích phơi sáng lớn hơn, gọn nhẹ hơn, có thể tích hợp nhiều chức năng hơn

3 Thế hệ thứ ba: Pin mặt trời dạng nano tinh thể, pin quang – điện – hóa, pin mặt trời

có thành phần hữu cơ như pin mặt trời nhuộm, pin mặt trời polymer Ưu điểm lớn nhất của pin mặt trời thế hệ này là giá thành rẻ hơn hẳn hai thế hệ trước, việc lắp đặt và vận chuyển rất dễ dàng, kích thước và hình dạng của hệ rất phong phú và có thể tùy chỉnh theo nhu cầu sử dụng, tuy nhiên hiệu suất thường không cao và quá trình chế tạo có thể gây ô nhiễm môi trường

4 Thế hệ thứ tư: Pin mặt trời lai vô cơ - hữu cơ, được chế tạo từ vật liệu nano tinh thể

phủ trên ma trận nền polymer Thế hệ pin mặt trời này cải thiện được hiệu suất so với

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 16

pin mặt trời thế hệ thứ ba và thân thiện với môi trường hơn Hiện nay, pin mặt trời thế

hệ thứ tư đang là hướng nghiên cứu được các nước phát triển chú trọng nhất

Hình 1.4 Giá thành($/Wp) và hiệu suất của các thế hệ pin mặt trời [3]

Hình 1.5 Hiệu suất cao nhất thu được của pin mặt trời dựa trên cấu trúc, vật

liệu khác nhau [4]

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 17

Pin mặt trời thương mại hiện nay thường được chế tạo trên nền tảng vật liệu Si dạng khối không những đòi hỏi chi phí chế tạo cao mà còn hạn chế về mặt hiệu suất (Hình 1.4) Vì vậy, việc khai thác nguồn năng lượng này đang bị hạn chế rất nhiều bởi giá thành cung cấp quá cao so với nhưng nguồn năng lượng khác Nhu cầu nghiên cứu những thế hệ pin mặt trời mới với hiệu suất chuyển đổi năng lượng cao, giá thành hạ và tuổi thọ dài là hết sức cần thiết Nhiều cách tiếp cận đã được thực hiện để hạ thấp giá thành của pin mặt trời dựa trên nền tảng vật liệu Si, trong đó pin mặt trời Si sử dụng cấu trúc màng mỏng được phát triển là một giải pháp tiềm năng [3] Tuy nhiên, pin mặt trời

Si cấu trúc màng mỏng lại có hiệu suất thấp hơn so với pin mặt trời dạng khối do khả năng hấp thụ quang bị hạn chế bởi chiều dày của lớp vật liệu (Hình 1.5) Pin mặt trời hữu cơ được nghiên cứu phát triển với kỳ vọng là hạ được giá thành cung cấp Tuy nhiên, vấn đề chính đối với pin mặt trời hữu cơ đó chính là hiệu suất chuyển đổi đạt được chưa cao và có độ ổn định thấp

1.1.4 Pin mặt trời cấu trúc lai vô cơ-hữu cơ

Pin mặt trời thương mại được nghiên cứu và chế tạo trên nền silic do có nguồn tài nguyên dồi dào (Si là nguyên tố phổ biến thứ 2 trên thế giới), dễ dàng chế tạo, không độc hại, có khả năng hoạt động bền bỉ trong thời gian dài [7] Tuy nhiên, bề mặt silic phẳng có hệ số phản xạ ánh sáng cao nên hầu hết bức xạ mặt trời tới đều không được hấp thụ dẫn đến hiệu suất chuyển đổi năng lượng thấp Do đó, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu tìm ra các phương pháp làm giảm hệ số phản xạ của silic [6] Trong

đó, phương pháp tạo cấu trúc nano trên bề mặt silic được coi là một trong những phương pháp đầy hứa hẹn làm giảm hệ số phản xạ của silic [7] Si cấu trúc nano làm tăng diện tích bề mặt dẫn đến giảm hệ số phản xạ, tăng khả năng hấp thụ ánh sáng, do đó tăng hiệu quả chuyển đổi năng lượng [8,9]

Thông thường có hai cách tạo cấu trúc nano silic là “từ trên xuống” và “từ dưới lên” Nhiều phương pháp “từ dưới lên” đã được áp dụng để chế tạo dây nano silic như phương pháp lắng đọng pha hơi hóa học [10-12], epitaxy chùm phân tử [13], bốc bay nhiệt [14-15] Tuy nhiên, các phương pháp này thường khó thực hiện do cần có các hệ thiết bị phức tạp, đắt tiền, và chi phí vận hành đắt đỏ

Đối với phương pháp “từ trên xuống”, có 3 phương pháp thường được sử dụng là: phương pháp quang khắc [16], ăn mòn khô (RIE) [17], và ăn mòn ướt hay còn gọi là

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 18

ăn mòn hóa học (WCE) [16,17] Trong đó, phương pháp quang khắc và ăn mòn khô thường tốn thời gian và chi phí đắt đỏ Còn phương pháp ăn mòn ướt thì đơn giản, ít tốn thời gian, dễ thực hiện ngay ở nhiệt độ phòng Không những thế, phương pháp ăn mòn hóa học dễ dàng chế tạo được số lượng lớn với cấu trúc đồng đều, phù hợp trong quy

mô sản xuất công nghiệp Gần đây, thế hệ pin mặt trời dựa trên nền tảng vật liệu cấu trúc nanô đã và đang nhận được sự kỳ vọng và quan tâm của các nhà nghiên cứu trong việc nâng cao hiệu suất chuyển đổi bằng cách cải thiện khả năng hấp thụ quang và tập chung các hạt tải Trong đó, vật liệu dây nanô Si (SiNW) không những thể hiện khả năng hấp thụ tuyệt vời mà còn cung cấp diện tích bề mặt lớn khi so sánh với vật liệu Si dạng khối hay màng mỏng Vì vậy, sử dụng cấu trúc SiNW vào các pin mặt trời đã thu hút được sự quan tâm rất lớn của các nhà khoa học, các kỹ sư và các nhà phát triển công nghệ hướng tới khả năng nâng cao hiệu suất chuyển đổi và tiết kiệm chi phí sản suất khi

so sánh với thể hệ pin mặt trời Si dạng khối và dạng màng [17,18]

Garnett và cộng sự đã nghiên cứu và đề xuất cấu trúc pin mặt trời sự dụng SiNW với mục đích là tạo là được lớp tiếp giáp pn với diện tích lớn trên cơ sở cấu trúc lõi-vỏ Tuy hiệu suất chuyển đổi của pin ban đầu đạt được có 0.5%, nhưng kết quả nghiên cứu

đã mở ra hướng nghiên cứu mới về pin mặt trời (Hình 1.6) [19] Ko và cộng sự nghiên

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 19

cứu phát triển pin mặt trời sử dụng SiNW dạng bất đối xứng Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số phản xạ của pin mặt trời dạng này tương đối thấp (4-5%) và hiệu suất chuyển đổi đạt được là gần 8% [20]

13.2% (a) SiNW, (b) SiNW sau khi được phủ PEDOT:PSS, (c) đặc trưng J-V và (d) hệ

số phản xạ [28]

Mặc dù vậy, tất cả các nghiên cứu về pin mặt trời sử dụng cầu trúc SiNW thường đòi hỏi những quy trình xử lý bán dẫn khá đắt đỏ, bao gồm các quy trình khuếch tán nhiệt độ cao, lắng đọng hóa học trong môi trường chân không cao và do đó sẽ dẫn đến tăng chi phí sản xuất của pin mặt trời Vì lý do đó, pin mặt trời sử dụng cấu trúc lai kết hợp vật liệu SiNW và vật liệu hữu cơ đã, đang được nghiên cứu phát triển mạnh mẽ [21-23] Cấu trúc pin mặt trời dạng này không chỉ yêu cầu nhiệt độ chế tạo thấp do đặc tính của vật liệu hữu cơ mà còn thực tế hóa khả năng giảm giá thành chế tạo bằng cách khai thác các loại vật liệu hữu cơ rẻ tiền và phong phú Điều này hoàn toàn trái ngược với sự đắt đỏ của các thế hệ pin mặt trời chỉ sử dụng vật liệu Si [24,25] Ngoài ra, các pin mặt trời này có thể có ích cho các ứng dụng ở những nơi yêu cầu trọng lượng thấp, tính linh hoạt cơ học và khả năng thay thế cao [26,27] Hầu hết các báo cáo về pin mặt trời dựa trên nền tảng cấu trúc lai vô cơ/hữu cơ với hiệu suất chuyển đổi cao sử dụng một lớp

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 20

polyme dẫn mỏng là Poly(3,4-ethylenedioxythiophene):poly(styrenesulfonate) (PEDOT:PSS) bọc quanh các dây nanô Si để hình thành các lớp tiếp giáp Park và các cộng sự đã nghiên cứu chế tạo pin mặt trời sử dụng cấu trúc hybrid SiNW/PEDOT:PSS, hiệu suất chuyển đổi thu được của cấu trúc này là 13.2% (Hình 1.7) [28]

SiNW/PEDOT:PSS/GO [30]

Vấn đề đặt ra ở đây là PEDOT có chuỗi polyme quá lớn để xâm nhập vào khoảng cách nhỏ giữa các SiNW, do đó không thể bao phủ một cách hoàn toàn bề mặt của các SiNW dẫn đến hệ quả làm giảm hiệu suất của thiết bị cũng như hình thành những bề mặt tiếp xúc dẫn đến độ dẫn không đồng nhất [29] Một số lượng nhỏ các nghiên cứu đã được thực hiện để cải thiện khả năng làm việc ổn định với nhiệt độ, độ ẩm, giảm suy hao phẩm chất hóa học của vật liệu cũng như phân tán đồng đều lớp vật liệu polyme dẫn trên đế Si bằng cách sử dụng ống nanô cácbon, fullerenes, graphen oxide [30-32] Graphen có các đặc tính tuyệt vời như trở kháng thấp, độ truyền qua cao, tính chất cơ học tốt, sự ổn định nhiệt và hóa học cao, đồng thời dễ dàng phân tán trong các dung môi khác nhau để kết hợp với nhiều loại vật liệu hữu cơ và/hoặc vô cơ trong dung dịch

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 21

Ngoài ra, graphen có thể được sản xuất quy mô lớn với giá thành thấp với công nghệ hiện nay Do đó, graphen đã được sử dụng với vai trò là điện cực trong suốt, lớp vận chuyển điện tử, lớp vận chuyển lỗ trống, hoặc kết hợp với các polyme dẫn trong việc chế tạo pin mặt trời cấu trúc lai vô cơ/hữu cơ Uma và các cộng sự đã nghiên cứu chế tạo pin mặt trời sử dụng cấu trúc hybrid SiNW/PEDOT:PSS kết hợp với graphen oxide (GO), cấu trúc cho thấy sự tăng cường khả năng giam giữ ánh sáng và tăng diện tích lớp tiếp giáp hơn so với cấu trúc pin không sử dụng GO, hiệu suất đạt được của pin mặt trời thu được là 9.57% cao hơn so với pin mặt trời không có GO (8.31%) (Hình 1.8) [30] Gần đây, Tsai và các cộng sự đã nghiên cứu ứng dụng GQDs vào pin mặt trời cấu trúc hybrid Si/PEDOT:PSS, kết quả cho thấy hiệu suất pin mặt trời tăng lên đến 13.22%

và 16.5% (Hình 1.9) [33] Sự tăng cường hiệu suất được cho là do sự cải thiện tính quang, điện bởi quá trình tăng độ dẫn điện của PEDOT:PSS và chuyển đổi photon vùng ánh sáng có bước sóng ngắn [33] Tuy nhiên, hiện chưa có nhiều nghiên cứu nào được thực hiện để hiểu được bản chất của sự cải thiện hiệu suất chuyển đổi pin mặt trời hybrid khi có thêm các thành vật liệu nano cacbon Đây chính là vấn đề còn thiếu sót của vấn

đề nghiên cứu này

J-V của pin mặt trời với nồng độ GQD khác nhau và (c) hiệu suất lượng tử ngoại của pin

mặt trời [33]

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 22

1.2 Tình hình nghiên cứu về pin mặt trời trong nước

Hiện nay hướng nghiên cứu về pin mặt trời cũng đang được nghiên cứu phát triển

ở một số nhóm nghiên cứu tại Viện Khoa Học vật liệu như nhóm nghiên cứu của PGS Phạm Duy Long ở phòng Vật liệu Năng lượng Nhóm nghiên cứu của PGS Long đã có nhiều năm kinh nghiệm làm việc về pin mặt trời và hiện nay đang tạp chung vào hướng nghiên cứu công nghệ chế tạo và khảo sát tính chất vật liệu cấu trúc perovskite lai hữu

cơ – vô cơ, sử dụng chất nhạy màu (DSSC) nhằm ứng dụng cho pin mặt trời với hiệu suất đạt được khoảng 2% (Hình 1.10) Nhóm nghiên cứu của PGS Long đạt được những kết quả thành công ban đầu được thể hiện qua các công trình đã được công bố trong và ngoài nước [34-38]

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 23

Tại Viện Hóa học, nhóm nghiên cứu của TS Hoàng Mai Hà cũng đang tập chung nghiên cứu chế tạo pin mặt trời trên cơ sở vật liệu bán dẫn hữu cơ Nhóm nghiên cứu của TS Hà đã chế tạo thành công pin mặt trời hữu cơ có độ bền cao, hiệu suất > 9% mà không cần sử dụng fullerene làm chất nhận (Hình 1.11) Ngoài ra quy trình chế tạo được

đề xuất tương đối đơn giản khi không cần sử dụng các phương pháp xử lý nhiệt, phụ gia… để nâng cao đặc tính của linh kiện pin mặt trời [39-42]

Tại Đại học Quốc Gia Hà Nội, nhóm nghiên cứu của GS Nguyễn Năng Định,

TS Nguyễn Phương Hoài Nam – Trường Đại Học Công nghệ,cũng đang tập chung nghiên cứu chế tạo pin mặt trời trên cơ sở vật liệu bán dẫn hữu cơ và chấm lượng tử với hiệu suất đạt được khoảng 2% (Hình 1.12) [43-46] Nhóm nghiên cứu của PGS Phạm Hồng Quang, Đại học Khoa học tự nhiên cũng đang nghiên cứu chế tạo pin mặt trời nhưng dựa trên cấu trúc màng mỏng CIGS [47,48]

ITO/PEDOT/P3HT:PCBM/LiF/Al (WOSC) và ITO/ZnO/PEDOT/P3HT:PCBM/LiF/Al (BOSC) [44] Tại Đại học Bách Khoa Hà Nội, các nhóm nghiên cứu của PGS Mai Anh Tuấn –ITIMS, TS Nguyễn Duy Cường tại Viện AIST và một số nhóm nghiên cứu khác cũng đang tập chung nghiên cứu chế tạo pin mặt trời trên cơ sở DSSC Các kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu đã và đang được công bố trên các tạp chí quốc tế và trong nước uy tín [49-54]

Tại Đại học Quốc Gia HCM, nhóm nghiên cứu của PGS Đặng Mậu Chiến (INT) đang nghiên cứu chế tạo pin mặt trời trên cơ sở vật liệu màng mỏng Si Nhóm nghiên cứu của PGS Nguyễn Thị Phương Thoa – Đại học Khoa học Tự Nhiên cũng đang nghiên

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 24

cứu chế tạo pin mặt trời trên cơ sở DSSC và chấm lượng tử Các kết quả nghiên cứu cũng được các nhóm nghiên cứu công bố trong thời gian gần đây [55,56]

Ngoài các nhóm nghiên cứu nêu trên, rất nhiều nhóm nghiên cứu khác từ các trường Đại học như Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Duy Tân, Đại Học Thái Nguyên, Đại học Đà Nẵng, v.v cũng đang tập chung nghiên cứu về pin mặt trời

Như vậy, có thể thấy rằng hướng nghiên cứu về pin mặt trời đang thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trong và ngoài nước Đây là hướng nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng cao nhằm góp phần vào việc giải quyết các vấn đề an toàn năng lượng trong tương lai Vấn đề cốt lõi của các nghiên cứu liên quan đến chủ đề này

đó là làm thế nào chế tạo được pin mặt trời có hiệu suất chuyển đổi cao nhất nhưng đồng thời đảm bảo được giá thành hợp lý nhất khi so sánh với các nguồn năng lượng khác

Từ các nhận xét tổng quan trên có thể nhận thấy rằng nghiên cứu ứng dụng vật liệu graphen vào pin mặt trời cấu trúc hybrid SiNW/PEDOT:PSS là một vấn đề nghiên cứu tương đối mới không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới Tính khả thi của nghiên cứu được xây dựng dựa trên một số cơ sở khoa học được trình bày như trên hình 1.13:

SiNW/PEDOT:PSS/Gr và các điểm ưu việt của nghiên cứu

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 25

- Hiệu suất chuyển đổi của pin mặt trời được cải thiện do SiNW tạo ra diện tích vùng

chuyển tiếp lớn và giảm hệ số phản xạ

- Vật liệu chức năng hóa bao gồm polyme dẫn (PEDOT:PSS) và graphen được kỳ vọng sẽ làm giảm chi phí chế tạo, nâng cao hiệu quả do giảm nhiệt độ chế tạo, sử dụng các vật liệu hữu cơ phong phú và khả năng làm việc ổn định với điều kiện

nhiệt độ, độ ẩm khác nhau

- Vật liệu Graphen được sử dụng nhằm khai thác tính chất điện tử ưu việt để cải thiện khả năng hấp thụ các photon Đồng thời, với sự xuất hiện của graphen được chức năng hóa phân tán đồng đều sẽ làm cho các chuỗi polyme của PEDOT:PSS ngắn lại để tăng khả năng bám dính cũng như xâm nhập vào các khe của các dây

nano Si qua đó tăng cường được hiệu suất chuyển đổi

Do vậy, chúng tôi đề xuất đề tài: “Nghiên cứu chế tạo pin mặt trời sử dụng cấu trúc lai dây nano Silic/PEDOT:PSS/Graphen” và hướng tới 2 mục tiêu chính như sau:

i) Nghiên cứu quy trình chế tạo pin mặt trời sử dụng cấu trúc lai SiNW/PEDOT:PSS/Graphen

ii) Tối ưu hóa sự kết hợp các tính chất đặc biệt của vật liệu SiNW và các vật liệu chức năng như polyme dẫn hay graphen nhằm nâng cao hiệu suất chuyển đổi của pin mặt trời

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 26

CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

Quy trình chế tạo pin mặt trời sử dụng cấu trúc SiNW/PEDOT:PSS/Graphen được mô tả như trên hình 2.1 Quy trình bao gồm 3 phần chính đó là: (i) chế tạo hỗn hợp PEDOT:PSS/Gr, (ii) chế tạo SiNW và (iii) chế tạo cấu trúc và các điện cực của pin mặt trời

2.1 Chế tạo hỗn hợp PEDOT:PSS/Gr

Hình 2.2 mô tả quy trình chế tạo hỗn hợp PEDOT:PSS bao gồm hai bước cơ bản

đó là (i) biến tính vật liệu graphen và (ii) chế tạo hỗn hợp PEDOT:PSS/Gr bằng rung siêu âm

Biến tính vật liệu graphen

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 27

Trong nghiên cứu này chúng tôi lựa chọn phương pháp hóa học để tiến hành biến tính vật liệu graphen Đây là phương pháp dễ thực hiện, không đòi hỏi các kỹ thuật phức tạp graphen được biến tính bề mặt bằng những chất oxi hóa mạnh Vật liệu được sử dụng

là graphen đa lớp được chế tạo bằng phương pháp bóc tách điện hóa có hỗ trợ plasma ở phòng Vật liệu Nano Cacbon, Viện Khoa học Vật liệu graphen có kích thước rộng khoảng 1-2 μm và chiều dày khoảng 5nm (tương đương 13-15 lớp) (Hình 2.3) Hóa chất được dùng để tiến hành thực nghiệm là hỗn hợp axit: HNO3/H2SO4 tỷ lệ 1:3, HNO3-67% và H2SO4-98%

bóc tách điện hóa có hỗ trợ plasma Cho 0,1 gam graphen vào bình cầu chứa 100 ml hỗn hợp axít (lượng axít vừa đủ

để ôxi hoá graphen và có thể khuấy trộn được hỗn hợp phản ứng), khuấy trộn đều bằng máy khuấy từ, duy trì nhiệt độ ở 700 C trong 5 giờ (sơ đồ hình 2.4) Tiếp theo, huyền phù sau phản ứng được lọc rửa bằng máy lọc hút chân không để loại bỏ axít dư Để đảm bảo là lượng axít dư đã được loại bỏ hoàn toàn bằng quá trình lọc rửa chúng tôi thực

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 28

hiện xác định độ pH của dịch lọc bằng giấy chỉ thị pH Khi giấy chỉ thị không đổi màu thì chứng tỏ graphen biến tính đã sạch, không còn axít dư Cuối cùng, graphen biến tính được sấy khô ở 80oC trong 24 giờ ta sẽ thu được sản phẩm biến tính graphen-COOH

Chế tạo hỗn hợp PEDOT:PSS/Gr

Sau quá trình biến tính vật liệu Gr-COOH được phân tán vào các dung môi phân tán khác nhau là nước khử ion (DI), Isopropanol (IPA) và Ethylene Glycol (EG) với nồng độ là 1mg/1ml bằng phương pháp rung siêu âm trong thời gian 45 phút và được bảo vệ trong môi trường nước mát để tạo các dung dịch Gr-COOH/DI, Gr-COOH/IPA

và Gr-COOH/EG Sau khi được phân tán đồng đều các dung dịch trên được đưa vào PEDOT:PSS (PH 1000) với nồng độ khác nhau là 0.1, 0.3, 0.5 và 0.7% theo khối lượng Hỗn hợp bao gồm PEDOT:PSS/Gr với nồng độ khác nhau được khuấy trộn trong thời gian là 6h để phân tán đồng đều Gr trong nền PEDOT:PSS

Graphen

HNO3 :H2SO4 (1:3)

Lọc với nước cất (máy lọc hút chân không)

Sấy khô

Phân tích Khuấy đều

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Ngày đăng: 21/07/2023, 09:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] P. Beckmann,. A. Spizzichino, The Scattering of Electromagnetic Waves from Rough Surfaces, Publisher: Pergamon Press Oxford, London, New York, Paris, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Scattering of Electromagnetic Waves from Rough Surfaces
Tác giả: P. Beckmann, A. Spizzichino
Nhà XB: Pergamon Press Oxford
Năm: 1963
[7] Naoki Fukata Thiyagu Subramani Wipakorn Jevasuwan Mrinal Dutta Yoshio Bando, Functionalization of Silicon Nanostructures for Energy ‐ Related Applications, Small 13(45) (2017) 1701713 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Functionalization of Silicon Nanostructures for Energy"‐ "Related Applications
[5] Thiyagu S, Hsueh C C, Liu C T, Syu H J, Lin T C, Lin C F, Nanoscale, Hybrid organic–inorganic heterojunction solar cells with 12% efficiency by utilizing flexible film-silicon with a hierarchical surface, 6 (2014) 3361–3366 Khác
[6] P. Campbell and M. A. Green, Light trapping properties of pyramidally textured surfaces, J. Appl. Phys, 62 (1987) 243– 249 Khác
[8] Sievert. W, K.U. Zimmermann, B. Hartmann, C. Klimm, K. Jacob and H. Angermann, Surface Texturization and Interface Passivation of Mono-Crystalline Silicon Substrates by Wet Chemical Treatments, Solid State Phenomena, 145-146 (2009) 223-226 Khác
[9] Srivastava S K, Kumar D, Singh P K, Kar M, Kumar V and Husain M, Excellent antireflection properties of vertical silicon nanowire arrays, Sol. Energy Mater.Sol. Cells, 94 (2010) 1506–11 Khác
[10] Garnett E and Yang P, Light trapping in silicon nanowire solar cells, Nano Lett. 10 (2010) 1082–7 Khác
[11] Kumar D, Srivastava S K, Singh P K, Husain M and Kumar V, Fabrication of silicon nanowire arrays based solar cell with improved performance, Sol. Energy Mater. Sol. Cells, 95 (2011) 215–8luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.6. Pin mặt trời sử dụng SiNW với cấu trúc pn dạng lõi-vỏ [19] - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 1.6. Pin mặt trời sử dụng SiNW với cấu trúc pn dạng lõi-vỏ [19] (Trang 18)
Hình 1.7. Pin mặt trời sử dụng cấu trúc hybrid Si NW/PEDOT:PSS có hiệu suất - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 1.7. Pin mặt trời sử dụng cấu trúc hybrid Si NW/PEDOT:PSS có hiệu suất (Trang 19)
Hình 1.8. Các tính chất của pin mặt trời sử dung cấu trúc hybrid - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 1.8. Các tính chất của pin mặt trời sử dung cấu trúc hybrid (Trang 20)
Hình 1.9. (a) Pin mặt trời sử dụng cấu trúc PEDOT:PSS/Si và GQDs, (b) Đặc trưng J- - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 1.9. (a) Pin mặt trời sử dụng cấu trúc PEDOT:PSS/Si và GQDs, (b) Đặc trưng J- (Trang 21)
Hình 1.12. (a) Giản đồ năng lượng và (b) đặc trưng I/V của pin mặt trời sử dụng cấu trúc - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 1.12. (a) Giản đồ năng lượng và (b) đặc trưng I/V của pin mặt trời sử dụng cấu trúc (Trang 23)
Hình 2.6. Quy trình chế tạo pin mặt trời SiNW/PEDOT:PSS/Gr và một số thiết bị - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 2.6. Quy trình chế tạo pin mặt trời SiNW/PEDOT:PSS/Gr và một số thiết bị (Trang 30)
Hình 2.7. Sơ đồ khối của kính hiển vi điện tử quét - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 2.7. Sơ đồ khối của kính hiển vi điện tử quét (Trang 32)
Hình 2.11 - Hệ đo đặc trưng J-V của pin mặt trời - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 2.11 Hệ đo đặc trưng J-V của pin mặt trời (Trang 35)
Hình 3.2. Phổ FTIR của Graphen và Gr-COOH - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 3.2. Phổ FTIR của Graphen và Gr-COOH (Trang 37)
Hình 3.3. Ảnh SEM của màng PEDOT:PSS/Gr trên đế thủy tinh - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 3.3. Ảnh SEM của màng PEDOT:PSS/Gr trên đế thủy tinh (Trang 38)
Hình 3.5. UV-VIS của màng PEDOT:PSS/Gr trên đế thủy tinh - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 3.5. UV-VIS của màng PEDOT:PSS/Gr trên đế thủy tinh (Trang 39)
Hình 3.7. Ảnh SEM của SiNW được chế tạo theo thời gian khác nhau 1, 3, 6, và 15 - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 3.7. Ảnh SEM của SiNW được chế tạo theo thời gian khác nhau 1, 3, 6, và 15 (Trang 40)
Hình 3.8. Tốc độ hình thành SiNW theo thời gian ăn mòn - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 3.8. Tốc độ hình thành SiNW theo thời gian ăn mòn (Trang 41)
Hình 3.11. Hiệu suất chuyển đổi của pin mặt trời theo nồng độ Gr khác nhau - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 3.11. Hiệu suất chuyển đổi của pin mặt trời theo nồng độ Gr khác nhau (Trang 44)
Hình 3.12. Ảnh hưởng của chiều dài SiNW đến sự hình thành cấu trúc lai - (Luận văn) nghiên cứu chế tạo và khảo sát tính chất của pin mặt trời dựa trên cấu trúc lai dây nano silic poly(3,4 ethylenedioxythiophene) polystyrene sulfonate graphen
Hình 3.12. Ảnh hưởng của chiều dài SiNW đến sự hình thành cấu trúc lai (Trang 44)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm