TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu đặc điểm lâm học, bao gồm hình thái, vật hậu học, phân bố và sinh thái học của các loài cây, đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới, tạo tiền đề cho các ngành khoa học liên quan Các công trình nghiên cứu ban đầu tập trung vào mô tả và phân loại các loài cây, như Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), và Thực vật chí Ấn Độ (1872 – 1897).
(1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam
Sự ra đời của các bộ thực vật chí, như Thực vật chí Quảng Đông (1977), đóng vai trò tiền đề quan trọng cho nghiên cứu hình thái, phân loại và đánh giá đa dạng sinh học của các vùng miền.
Nghiên cứu vật hậu học tập trung vào các chu kỳ sinh học của cơ quan sinh dưỡng và sinh sản, với sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng sinh thái khác nhau Điều này có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và chọn tạo giống Các công trình nghiên cứu đã làm nổi bật đặc điểm chu kỳ hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài.
Nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài là cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng, một vấn đề được giới khoa học đặc biệt quan tâm Các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc và tái sinh rừng được ứng dụng triệt để trong việc nghiên cứu đặc điểm của từng loài cụ thể.
Odum E.P (1971) hoàn chỉnh học thuyết hệ sinh thái dựa trên thuật ngữ "hệ sinh thái" của Tansley A.P (1935), phân chia thành sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể tập trung nghiên cứu các cá thể sinh vật hoặc loài, đặc biệt chú trọng đến chu kỳ sống, tập tính và khả năng thích nghi với môi trường.
Nghiên cứu sinh thái thực vật tập trung vào sự thích nghi của thực vật đối với các yếu tố môi trường như dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và nhịp điệu khí hậu (Lacher, 1978).
Tái sinh rừng là quá trình sinh học đặc thù, thể hiện sự xuất hiện của thế hệ cây con trong môi trường rừng Hiệu quả tái sinh được đánh giá qua mật độ, thành phần loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con và đặc điểm phân bố của chúng.
Vansteenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt
Trong rừng nhiệt đới, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây con, nhưng ít ảnh hưởng đến sự nảy mầm Do mật độ tái sinh và số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích lớn, việc đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có biện pháp tác động phù hợp là rất quan trọng.
Nghiên cứu cấu trúc rừng giúp làm sáng tỏ các mối quan hệ sinh thái nội tại của quần xã, tạo cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp tác động phù hợp, đồng thời phản ánh mối tương tác giữa thực vật rừng và môi trường sống.
Hiện tượng thành tầng là đặc trưng cơ bản của cấu trúc quần thể thực vật, tạo nên cấu trúc tầng thứ Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng, khởi xướng bởi David và P.W Risa, minh họa sự sắp xếp theo hướng thẳng đứng Cusen (1951) cải tiến phương pháp này bằng cách vẽ các dải kề nhau, tạo hình ảnh không gian ba chiều.
Nghiên cứu của Sampion Gripfit (1948) tại Ấn Độ và Tây Phi đề xuất phân cấp cây rừng thành 5 cấp Richards P.W (1952) phân chia rừng ở Nigeria thành 6 tầng dựa trên chiều cao, tuy nhiên, đây thực chất là phân chia theo lớp chiều cao Ngược lại, Odum E P (1971) nghi ngờ sự phân tầng rõ rệt của rừng rậm ở độ cao dưới 600m tại Puerto Rico, cho rằng không có sự tập trung tán lá riêng biệt ở một tầng cụ thể nào.
Theo nghiên cứu của Richards P.W (1968), rừng mưa nhiệt đới nổi bật với cấu trúc nhiều tầng và thành phần chủ yếu là các loài thân gỗ Ông nhấn mạnh rằng rừng mưa là một quần lạc hoàn chỉnh, phức tạp và đa dạng nhất về loài cây.
Nghiên cứu tầng thứ theo chiều cao còn mang tính cơ giới, chưa phản ánh sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đang chuyển từ mô tả định tính sang định lượng, nhờ sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc phức tạp của rừng.
Năm 1971, nghiên cứu đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính cây thông qua hàm hồi quy, đồng thời phân tích sự phân bố đường kính ngang ngực và đường kính tán bằng các dạng phân bố xác suất, cung cấp cơ sở toán học cho việc mô hình hóa và dự đoán sự phát triển của cây.
Mô hình hóa cấu trúc đường kính thân cây bằng hàm Weibull đã được Balley (1972) sử dụng, tuy nhiên, phương pháp này không phản ánh đầy đủ các mối quan hệ sinh thái phức tạp giữa cây rừng và môi trường xung quanh, do đó không được áp dụng trong nghiên cứu này.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu thực vật ở Đông Dương có nền tảng vững chắc từ các tác phẩm cổ điển như "Flora Cochinchinensis" của Loureiro và "Flore Forestière de la Cochinchine" của Pierre Bước sang thế kỷ 20, "Bộ thực vật chí Đông Dương" do H Lecomte chủ biên (1907-) trở thành công trình quan trọng, đặt nền móng cho nghiên cứu hình thái và phân loại thực vật trong khu vực.
Các tác giả người Pháp (1952) đã thu thập và mô tả hệ thực vật Việt Nam với 7.004 loài, 1.850 chi và 289 họ trên toàn Đông Dương Schmid (1974) nghiên cứu thảm thực vật Nam Trung Bộ, phân biệt các quần xã dựa trên sự khác biệt về khí hậu và chế độ thoát nước Lê Khả Kế chủ biên bộ sách "Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam" (6 tập), và Phạm Hoàng Hộ (1970-1972) giới thiệu 5326 loài trong "Cây cỏ miền Nam Việt Nam", sau này mở rộng thành "Cây cỏ Việt Nam".
Nhiều bộ sách chuyên khảo khác, dù không tập trung riêng cho vùng Tây Nam Bộ, vẫn đóng góp vào nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật chung của Việt Nam Các bộ sách tiêu biểu bao gồm "Cây gỗ rừng Việt Nam," "Cây thuốc Việt Nam," "Cây tài nguyên," "Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam," "100 loài cây bản địa," và "Cây cỏ có ích ở Việt Nam."
Nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam đã được ghi nhận qua nhiều công trình như "Cây cỏ Việt Nam" (Phạm Hoàng Hộ, 1999) và "Tài nguyên cây gỗ Việt Nam" (Trần Hợp, 2002), cùng với 11 tập Thực vật chí Việt Nam chuyên khảo từ Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, đóng góp lớn vào việc nghiên cứu thực vật Tuy nhiên, các nghiên cứu về đặc điểm lâm học của cây bản địa còn hạn chế.
Nghiên cứu của Nguyễn Bá Chất (1996) về đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng, nuôi dưỡng cây Lát hoa đã làm rõ các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh của loài cây này Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng hiệu quả cho cây Lát hoa, góp phần vào việc phát triển và bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá này.
Nghiên cứu của Trần Minh Tuấn (1997) về đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi tại Vườn Quốc gia Ba Vì không chỉ cung cấp thông tin về hình thái, tái sinh, sinh trưởng và phân bố, mà còn đề xuất các kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng, làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển loài cây này.
Nghiên cứu của Vũ Văn Cần (1997) tại Vườn Quốc gia Cúc Phương đã làm sáng tỏ các đặc điểm sinh học của cây Chò đãi, từ đó đề xuất kỹ thuật tạo cây con từ hạt, góp phần quan trọng vào công tác tạo giống và trồng rừng.
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2003) về loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang đã chỉ ra các đặc điểm lâm học quan trọng, bao gồm hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc và tái sinh tự nhiên Phân bố N-H và N-D của loài Dẻ có một đỉnh, đồng thời tương quan giữa Hvn và D1.3 tuân theo phương trình Logarit.
Nghiên cứu năm 2003 của Lê Phương Triều tại Vườn Quốc gia Cúc Phương đã làm sáng tỏ đặc điểm sinh học của loài Trai lý, bao gồm hình thái, vật hậu và sinh thái Nghiên cứu này đề xuất sử dụng hàm khoảng cách để mô tả sự phân bố và mối quan hệ giữa các yếu tố N-D1.3, N-Hvn, H-D1.3, và Dt-D1.3, mở ra hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu loài Trai lý.
Nghiên cứu của Vương Hữu Nhị (2003) tập trung vào các đặc điểm sinh học và kỹ thuật tạo cây con Căm xe, nhằm mục đích phục vụ cho việc trồng rừng tại Đắc Lắc.
Nghiên cứu về đặc điểm hình thái và cấu trúc của loài cây, kết hợp với kỹ thuật gây trồng, mở ra hướng đi mới trong việc bảo tồn và phát triển giống cây này một cách bền vững.
Nghiên cứu của Lê Xuân Thắng (2013) về đặc điểm sinh học và sinh thái học cây Mỡ Sa Pa đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo tồn và phát triển loài cây này tại Vườn quốc gia Hoàng Liên, Lào Cai, một khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao.
Nghiên cứu của Nguyễn Toàn Thắng (2008) về loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng đã làm rõ đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố và giá trị sử dụng của loài này Thành phần tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao, với sự ưu thế của Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa và Dusam, cho thấy sự đa dạng sinh học trong khu vực nghiên cứu.
Nghiên cứu của Hoàng Văn Chúc (2009) về loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) tại Bắc Giang đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái, vật hậu, tái sinh và phân bố của loài cây này, góp phần vào việc nhân rộng một loài cây bản địa có giá trị.
Nghiên cứu của Mạc Đăng Trung (2014) tập trung vào đặc điểm lâm học và phân bố của loài Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, Mộc Châu, Sơn La Mục tiêu của nghiên cứu là xác định đặc điểm sinh thái, hình thái, cấu trúc và tái sinh của Sa mộc dầu Kết quả nghiên cứu góp phần vào công tác bảo tồn loài tại khu vực này.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên khu BTTN Pù Luông
Khu BTTN Pù Luông thuộc tỉnh thanh hóa, cách thành phố thanh hóa
Khu bảo tồn này nằm cách thành phố khoảng 125 km về phía Tây Bắc và có thể tiếp cận được từ đường Hồ Chí Minh theo quốc lộ 217, đi sâu vào huyện Cẩm Thủy khoảng 40 km Tọa độ địa lý của khu bảo tồn là từ 20°21' đến 20°34' vĩ độ Bắc và từ 105°02' đến 105°20' kinh độ Đông.
- Phía Đông giáp huyện Tân Lạc và Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình
- Phía Bắc giáp huyện Mai Châu, Tân Lạc và Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình
- Phía Tây giáp với phần đất còn lại của các xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân
- Phía Nam giáp với phần đất còn lại của các xã Thành Lâm, Phú Nghiêm
Vùng lõi và vùng đệm Khu BTTN Pù Luông nằm trên địa giới hành chính của 9 xã thuộc 2 huyện: Quan Hóa và Bá Thước bao gồm:
+ Huyện Quan Hoá: gồm 5 xã: Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân, Phú Nghiêm
Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Pù Luông, thuộc huyện Bá Thước với các xã như Thành Sơn, Thành Lâm, Cổ Lũng, Lũng Cao, đóng vai trò then chốt ở phía Tây Bắc của dải núi đá Pù Luông-Cúc Phương-Ngọc Sơn, Ngổ Luông Đây là một hệ sinh thái núi đá vôi quan trọng mang tính toàn cầu và là khu vực đất thấp lớn duy nhất còn sót lại ở miền Bắc Việt Nam, cần được ưu tiên bảo tồn đa dạng sinh học.
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 2.1.2.1 Đặc điểm địa hình
Khu bảo tồn Pù Luông là một phần của dãy núi đá vôi Pù Luông – Cúc Phương, đặc trưng bởi hai dãy núi song song được ngăn cách bởi một thung lũng Địa hình khu bảo tồn cao dốc với nhiều đỉnh cao trên 1000m, trong đó đỉnh Pù Luông cao nhất (1.700m), và địa thế nghiêng dần từ Tây Bắc sang Đông Nam.
30 0 , nhiều nơi độ dốc trên 45 0 Với đặc điểm địa hình nhƣ vậy rất khó khăn cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng nếu xảy ra
Sự đa dạng của đá vôi đã tạo nên các dạng địa hình Karst và karst-xâm thực phong phú tại khu BTTT Pù Luông, bao gồm cao nguyên karst, thung lũng karst-xâm thực và cánh đồng karst.
Do đặc điểm địa chất, địa mạo khá đa dạng nên lớp đất ở khu BTTN Pù Luông phong phú
Khu BTTN Pù Luông mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, đồng thời chịu ảnh hưởng từ khí hậu vùng Tây Bắc và gió Lào, tạo nên sự đa dạng thời tiết đặc trưng.
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 23 0 C; nhiệt độ trung bình cao nhất 38 0 C; nhiệt độ tối thấp trung bình: 0 0 C
Lượng mưa bình quân năm dao động từ 1.500 mm đến 1.600 mm Khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam và Đông Bắc, cùng với gió Lào Mùa khô kéo dài, nóng bức và dễ xảy ra cháy rừng do lượng mưa thấp và bốc hơi cao Tình trạng thiếu nước vào mùa khô ảnh hưởng tiêu cực đến các loài thú lớn.
Hệ thống thuỷ văn: Đặc điểm chủ yếu của hệ thống nước Khu BTTN
Pù Luông nằm trong thung lũng có đường yên ngựa giữa Phú Lệ và Thành Sơn, tạo ra đường phân thủy giữa hai phụ lưu Pung và Cham trước khi hợp vào sông Mã Sông Mã bao quanh vùng đệm Pù Luông, thuận lợi cho phát triển đường thủy và du lịch du thuyền.
Pù Luông ven sông Mã
Hệ thống nước vùng lõi đá vôi phức tạp, không có mối liên hệ trực tiếp giữa nước mặt và nước ngầm Các nghiên cứu gần đây chỉ ra sự tồn tại của hai hệ thống sông ngầm quy mô lớn, cho thấy sự liên kết giữa các hệ thống nước trong và xung quanh Khu BTTN Pù Luông.
Do khả năng giữ nước kém, các suối nhỏ thường cạn kiệt vào mùa khô Xây dựng hồ chứa và đập tràn quy mô vừa và nhỏ trên các suối này có ý nghĩa quan trọng trong điều tiết dòng chảy, tạo dòng chảy mùa kiệt, phòng chống cháy rừng Việc này còn cung cấp nước cho động vật rừng, cải thiện môi trường sinh thái và phục vụ phát triển du lịch sinh thái.
Do đặc điểm địa chất và địa mạo đa dạng, Khu BTTN Pù Luông có lớp đất phủ phong phú Các loại đất chính bao gồm: Đất Renzit phát triển trên đá vôi, Đất Luvisol phát triển trên đá vôi, Đất Leptosol phát triển trên các sườn đá vôi, và Đất Cabisol phát triển trên đá macma.
Các loại đất chính ở Việt Nam bao gồm: (1) đất Acrisol màu xám nâu hình thành trên đá macma, (2) đất Acrisol màu vàng xám và xám nâu phát triển trên đá lục nguyên, và (3) đất Fluvisol và Gleysol màu vàng sẫm đến nâu sẫm, thường thấy dọc các thung lũng.
2.1.3 Đặc điểm tài nguyên 2.1.3.1 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng
Dựa trên kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng hàng năm và giải đoán ảnh vệ tinh Spot5, hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng Khu BTTN Pù Luông đã được xác định.
Bảng 2.1 Diện tích các loại đất loại rừng ĐVT: ha
TT Hạng mục Tổng cộng Bá Thước Quan Hóa
II Rừng hỗn giao gỗ nứa
3 Đất trống có cây gỗ rải rác 41,48 41,48
Dựa trên Quyết định 2755/QĐ-UBND và 3001/QĐ-UB, bài viết này tập trung vào việc rà soát quy hoạch 3 loại rừng và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN), nhằm cung cấp thông tin chi tiết và cập nhật nhất về vấn đề này.
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông có diện tích đất có rừng là 16.675,34ha, với độ che phủ đạt 97,11%, chủ yếu là rừng tự nhiên, tạo nên nguồn tài nguyên thiên nhiên có giá trị bảo tồn cao Hệ sinh thái rừng nơi đây là môi trường sống quan trọng của nhiều loài động vật, cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
- Rừng trung bình: 1.536,96 ha (chiếm 9,05%)
- Rừng phục hồi: 573,34 ha (chiếm 3,37%)
- Rừng tre nứa: 17,58 ha (chiếm 0,1%)
- Rừng núi đá: 9.920,03ha (chiếm 58,04%)
Tổng trữ lượng rừng đạt 637.772,9 m³, bao gồm trữ lượng rừng giàu đạt 163.627 m³ (bình quân 180 m³/ha), rừng trung bình 199.804 m³ (bình quân 130 m³/ha), và rừng nghèo 236.019 m³ (bình quân 70 m³/ha) Ngoài ra, rừng phục hồi có trữ lượng 37.267 m³ (65 m³/ha), cùng với 160.113 ngàn cây tre nứa, trong đó rừng tre nứa chiếm 52.740 cây (bình quân 50-60m³/ha, 3000 cây/ha).
Đặc điểm kinh tế-xã hội
Khu BTTN Pù Luông có mật độ dân cư cao, chủ yếu là dân tộc Thái và Mường (>95%), sinh sống rải rác thành các thôn bản do điều kiện tự nhiên và nhu cầu canh tác nông nghiệp Sự phân bố dân cư không đồng đều, tập trung chủ yếu ở những vùng có khả năng canh tác.
Vùng núi đất Pù Luông là khu vực đất đai màu mỡ, thuận lợi cho canh tác lúa nước và trồng hoa màu nhờ các tuyến giao thông và nguồn sông suối dồi dào Đây là nơi tập trung sinh sống của người Thái, Mường và Kinh, với các hoạt động kinh tế chủ yếu là trồng lúa, chăn nuôi và dịch vụ.
Vùng núi đá là nơi sinh sống chủ yếu của người Mường, với địa hình núi đá xen lẫn thung lũng màu mỡ, thích hợp trồng lúa và cây nông nghiệp Tuy nhiên, địa hình hiểm trở gây khó khăn cho giao thông và phát triển kinh tế Canh tác nông nghiệp cũng ảnh hưởng đến bảo tồn thiên nhiên và thu hẹp môi trường sống của động vật.
ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 21 NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Cung cấp cơ sở khoa học nhằm bảo tồn Loài Thông pà cò (Pinus kwangtungensis Chun ex Tsiang) và Thông đỏ bắc (Taxus chinensis (Pilg.)
Rehder) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông
- Xác định đƣợc đặc điểm lâm học và hiện trạng bảo tồn Thông pà cò và Thông đỏ bắc tại Khu BTTN Pù Luông
Khu BTTN Pù Luông cần các biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững cho các loài Thông Pà Cò và Thông Đỏ Bắc, hai loài cây có giá trị sinh thái cao.
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm vật hậu học của Thông pà cò và Thông đỏ bắc tại khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc tính sinh thái của Thông pà cò và Thông đỏ bắc tại Khu BTTN Pù Luông
- Đánh giá các tác động ảnh hưởng đến loài Thông pà cò và Thông đỏ bắc tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển Thông pà cò và Thông đỏ bắc tại tại Khu BTTN Pù Luông.
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm vật hậu học của Thông pà cò và Thông đỏ bắc a Công tác chuẩn bị
- Chuẩn bị các thông tin liên quan đến hai loài nêu trên
- Chuẩn bị các tƣ trang cá nhân phục vụ cho quá trình điều tra ngoài thực địa
Để thực hiện điều tra tài nguyên rừng hiệu quả, cần chuẩn bị hệ thống phiếu biểu điều tra chi tiết cùng các thiết bị, dụng cụ chuyên dụng như bản đồ hiện trạng rừng, máy ảnh, GPS, thước dây, thước kẹp kính, thước đo cao và kẹp tiêu bản Quá trình thu thập số liệu bao gồm kế thừa số liệu đã có và phỏng vấn để có thông tin đầy đủ, chính xác nhất.
Kế thừa và phát triển các nguồn tài liệu, nghiên cứu hiện có về đặc tính sinh học và sinh thái học của loài là nền tảng quan trọng để hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu Việc này giúp tối ưu hóa các phương pháp bảo tồn và quản lý loài một cách hiệu quả.
Nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm hình thái và vật hậu của Thông Pà Cò và Thông Đỏ Bắc được thực hiện thông qua tham vấn cán bộ khu bảo tồn, phỏng vấn người dân địa phương và chuyên gia, tập trung vào mùa ra nón, nón chín, nảy mầm và nảy chồi để thu thập thông tin chi tiết.
Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
Nghiên cứu chuyên sâu về Thông Pà Cò và Thông Đỏ Bắc bao gồm việc quan sát, đo đếm, và ghi chép chi tiết các đặc điểm hình thái và vật hậu của ít nhất 30 cá thể/loài, được chọn lọc từ các kiểu rừng, đai cao và cấp tuổi khác nhau, nhằm thu thập dữ liệu toàn diện theo mẫu biểu 01, phục vụ cho việc phân tích và đánh giá đa dạng sinh học.
Các chỉ tiêu đo đếm hình thái bao gồm vỏ, thân (chiều cao, đường kính và đặc điểm đặc trưng), lá (kích thước, hình dạng, màu sắc), đặc điểm hình thái nón và đặc điểm hình thái hạt, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá và phân loại thực vật.
Mẫu biểu 01 Biểu điều tra đặc điểm hình thái Địa điểm: Vị trí: Kiểu rừng: Độ tàn che
Số hiệu biểu Ngày điều tra: Người điều tra:
Tọa độ ghi nhận Mô tả đặc điểm hình thái
X Y Vỏ Thân Lá Nón đực
Nghiên cứu vật hậu học: Phương pháp nghiên thực hiện theo giáo trình
Nghiên cứu đặc điểm vật hậu của thực vật rừng, bao gồm thời gian ra nón, nón chín, hạt nảy mầm, ra chồi non và lá non, được thực hiện theo mẫu biểu 02 của Trường Đại học Lâm nghiệp (2000) để thu thập dữ liệu chi tiết ngoài thực địa.
Mẫu biểu 02 Biểu điều tra vật hậu Địa điểm: Vị trí: Kiểu rừng: Độ tàn che
Số hiệu biểu Ngày điều tra: Người điều tra:
Tọa độ ghi nhận Tên loài
Thời gian Đặc điểm vật hậu
X Y Thân Lá Chồi Nón đực
Nón cái Hạt c Xử lý nội nghiệp
Nghiên cứu tổng hợp đặc tính sinh học của Thông Pà Cò và Thông Đỏ Bắc, bao gồm đặc điểm hình thái và vật hậu như mùa ra nón, nón chín, ra lá non, nảy chồi và rụng lá, dựa trên kết quả điều tra và thu thập số liệu.
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc tính sinh thái của Thông pà cò và Thông đỏ bắc tại KBTTN Pù Luông a Điều tra sơ thám
Tiến hành xác định trên bản đồ khu vực cần điều tra, điều tra sơ thám nhằm:
- Xác định đƣợc khu vực nghiên cứu nơi có loài Thông pà cò, Thông đỏ bắc phân bố
tại các khu vực nghi ngờ có sự xuất hiện của loài cây này.
* Điều tra theo tuyến luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Nghiên cứu sử dụng tài liệu của KBTTN, phỏng vấn cán bộ và người dân địa phương để nắm bắt thông tin chung, kết hợp điều tra thực địa nhằm xác định vùng phân bố của Thông Pà Cò và Thông Đỏ Bắc tại khu BTTN Pù Luông Các tuyến điều tra được xây dựng trên bản đồ, đi qua 36 tiểu khu rừng, và việc phát hiện loài được thực hiện thông qua quan sát, nhận dạng đặc điểm hình thái, với kết quả được ghi nhận theo mẫu biểu.
Mẫu biểu 03: Điều tra phân bố của loài theo tuyến
Ngày điều tra: ………Người điều tra: ……… Địa điểm điều tra: ………… Tọa độ: ……… Độ cao: ………
Xã Điểm đầu tuyến Điểm cuối tuyến Độ dài tuyến (km)
Xuất hiện của cây Thông pà cò,Thông đỏ bắc Địa danh
Tọa độ Độ cao (m) Địa danh
* Phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp điều tra lâm học để thu thập thông tin tại các ô tiêu chuẩn (OTC) diện tích 500m2, được thiết lập ở các độ cao và sinh cảnh khác nhau nơi có Thông pà cò hoặc Thông đỏ bắc phân bố, với mục tiêu điều tra ít nhất 10 OTC/loài Các chỉ tiêu cần xác định bao gồm tần số bắt gặp, đặc điểm cấu trúc trạng thái rừng, loài cây đi kèm và loài cây chiếm ưu thế ở các tầng cây khác nhau Số liệu thu thập được sẽ được ghi chép theo các mẫu biểu lập sẵn để phân tích.
Nghiên cứu tại các OTC tập trung mô tả các chỉ tiêu quan trọng như độ dốc mặt đất, hướng phơi và độ cao, phục vụ cho nội dung nghiên cứu của đề tài Luận văn tốt nghiệp xác định tên loài và các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao.
- Đường kính thân cây (D1.3cm) được đo bằng thước kẹp kính hai chiều, hoặc dùng thước dây đo chu vi
Chiều cao vút ngọn (HVN) và chiều cao dưới cành (HDC) là hai chỉ số quan trọng trong đo đạc lâm nghiệp, được xác định bằng thước đo cao, trong đó HVN đo từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng, còn HDC đo từ gốc cây đến cành đầu tiên thuộc tán cây.
Đường kính tán lá (DT) được xác định bằng cách đo hình chiếu tán lá theo hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trung bình để có được giá trị DT chính xác nhất.
Kết quả đo đƣợc thống kê vào phiếu điều tra tầng cây cao theo mẫu biểu 04
Mẫu biểu 04: Điều tra tầng cây cao
Số OTC: Hướng dốc: Người điều tra: Độ cao: Độ dốc: Ngày điều tra: Tọa độ: Độ tàn che: Trạng thái rừng:
*Phương pháp điều tra cây tái sinh
Trong mỗi ODB có diện tích 25m 2 , phân bố trên OTC theo sơ đồ sau: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Thống kê chi tiết cây tái sinh theo mẫu biểu 05, bao gồm tên loài và chiều cao theo các cấp khác nhau, giúp đánh giá chính xác nguồn tài nguyên rừng Việc xác định chất lượng cây tái sinh (tốt, xấu, trung bình) dựa trên các tiêu chí về hình thái và tình trạng sinh trưởng, từ đó đánh giá khả năng phục hồi và phát triển của rừng Nguồn gốc cây tái sinh cũng cần được xác định để hiểu rõ hơn về quá trình tái sinh tự nhiên của rừng.
Trong quá trình điều tra tái sinh trên các ô dạng bản (ODB), chúng tôi đồng thời xác định các chỉ tiêu quan trọng như độ tàn che, độ che phủ bình quân và độ dốc mặt đất tại vị trí ODB để đánh giá toàn diện điều kiện tái sinh.
Mẫu biểu 05: Điều tra cây tái sinh dưới tán rừng
Số OTC: Hướng dốc: Người điều tra: Độ cao: Độ dốc: Ngày điều tra: Tọa độ: Độ tàn che: Trạng thái rừng:
Số cây tái sinh (cm) Chất lượng
* Phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên quanh gốc cây mẹ luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si