: Bệnh viện:Bác sỹ chuyên khoa I: Bác sỹ chuyên khoa II: Bệnh viện đa khoa: Bộ Y tế: Bảo hiểm Y tế: Cận lâm sàng: Chăm sóc sức khỏe: Chăm sóc sức khoẻ ban đầu.: Cơ sở vật chất : Cán bộ y
Trang 1BỘYT TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN
Trang 2BỘYT TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN
VŨ VĂN QUANG
THỰC TRẠNG CUNG CẤP VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH TẠI BỆNH VIỆN
Trang 3ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các số liệu trong nghiên cứu của tôi
là hoàn toàn trung thực, chƣa từng đƣợc sử dụng trong bất kỳcông trình nghiên cứu nào khác
Hà Giang,, tháng 12 năm 2013
Học viên
Vũ Văn Quang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành quá trình học tập và hoàn thành luận án tốt nghiệp, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin trân trọng cảm ơn:
Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học Trường đại học Y, Dược Thái Nguyên
đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoànthiện luận án
Với lòng biết ơn chân thành nhất, em xin gửi lời cảm ơn tới TS Đàm ThịTuyết Trưởng khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y, Dược Thái Nguyên
đã dầy công, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trìnhnghiên cứu và hoàn thành luận án tốt nghiệp
Các thầy, cô Khoa y tế công cộng đã giảng dạy, hướng dẫn, tạo điềukiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Sở Y tế Hà Giang đã tạo nhiều điềukiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Cảm ơn Ban giám đốc, các Bác sỹ, cán bộ viên chức Bệnh viện Y học cổtruyền tỉnh Hà Giang và người bệnh đã giúp đỡ tôi thu thập thông tin trongkhi làm luận án này
Xin cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp, những người bạn thân thiết đãgiúp đỡ, động viên, khích lệ, chia sẻ khó khăn trong thời gian học tập, nghiêncứu để hoàn thành luận án và hoàn thành khóa học
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Giang,, tháng 12 năm 2013
Học viên
Vũ Văn Quang
Trang 5: Bệnh viện:Bác sỹ chuyên khoa I: Bác sỹ chuyên khoa II: Bệnh viện đa khoa: Bộ Y tế
: Bảo hiểm Y tế: Cận lâm sàng: Chăm sóc sức khỏe: Chăm sóc sức khoẻ ban đầu.: Cơ sở vật chất
: Cán bộ y tế: Dịch vụ
: Dân số- Kế hoạch hóa gia đình
: Điều dưỡng: Dược sỹ đại học: Hồi sức tích cựu: Khám bệnh: Khám chữa bệnh: Kỹ thuật viên: Kiểm soát nhiễm khuẩn: Ký sinh trùng- côn trùng: Lãnh đạo bệnh viện: Người bệnh
: Phỏng vấn sâu: Trang thiết bị y tế
Trang 6: Y tá điều dƣỡng
Trang 7MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục viết tắt
Mục lục
Danh mục bảng, biểu đồ
Đ T V N Đ 4
Chương 1: T NG QUAN T I LI U 3
1.1 Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe nhân dân một số nước trên thế giới 3
1.2 Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam 6
1.3 Một số khái niệm 12
1.4 Phân loại bệnh viện 13
1.5 Tổ chức Bệnh viện hạng II 14
1.6 Nhiệm vụ của bệnh viện 17
1.7 Tình hình cung cấp và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại Việt Nam hiện nay 19
1.8 Những bất cập trong cung cấp và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện của Việt Nam 22
1.9 Tổ chức các đơn vị Y tế tại tỉnh Hà Giang hiện nay 27
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 30
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
Trang 82.3.1 Thiết kế nghiên cứu: 30
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 30
2.3.3 Chỉ số nghiên cứu 32
2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu 35
2.3.5 Phương pháp xử l số liệu 36
2.4 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 36
Chương 3: K T QU NGHIÊN CỨU 38
3.1 Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của Bệnh viện Y học cổ Truyền, tỉnh Hà Giang, năm 2013 38
3.1.1 Thực trạng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện 38
3.1.2 Thực trạng về sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện Y học cổ truyền, tỉnh Hà Giang, năm 2013 54
3.2 Xác định những bất cập trong cung cấp và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện Y học Cổ Truyền, tỉnh Hà Giang 68
Chương 4: B N LUẬN 74
4.1 Thực trạng khả năng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hà Giang 74
4.2 Thực trạng về sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viên Y học cổ truyền tỉnh Hà Giang 81
4.3 Những bất cập trong cung cấp sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hà Giang 86
K T LUẬN 87
KHUY N NGH 88
T I LI U THAM KH O
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG, DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Bảng
Bảng 3.1 Thông tin chung về Bệnh viện 38
Bảng 3.2 Phân bố nhân lực tại các khoa, phòng 40
Bảng 3.3 Tình hình nhân lực hiện có so với qui định của thông tư liên bộ số 08/2007/TTLT-BYT-BNV 42 Bảng 3.4 Nhu cầu đào tạo, và dự kiến tuyển dụng cán bộ của bệnh viện 43
Bảng 3.5 Thực trạng phòng làm việc của một số khoa, phòng 44
Bảng 3.6 Danh mục trang thiết bị một số khoa so với quy định của Bộ Y tế 45 Bảng 3.7 Thực trạng danh mục thuốc Bệnh viện so với quy định tại Thông tư 31/2011/TT-BYTvà thông tư số 12/2010/TT-BYT 46 Bảng 3.8 Nguồn tài chính của Bệnh viện Đơn vị tính: VNĐ 48
Bảng 3.9 Đánh giá chất lượng chung Bệnh viện theo quy chuẩn 50
Bảng 3.10 Thực trạng danh mục kỹ thuật so với quy định 51
Bảng 3.11 Tình trạng không thực hiện được kỹ thuật theo phân tuyến 52
Bảng 3.12 Tình hình áp dụng kỹ thuật mới, kỹ thuật vượt tuyến 53
Bảng 3.13 Kết quả hoạt động khám chữa bệnh năm 2013 54
Bảng 3.14 Kết quả khám chữa bệnh bằng các phương pháp Y học cổ truyền 55 Bảng 3.15 Kết quả người bệnh sử dụng thuốc Y học cổ truyền 55
Bảng 3.16 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu là người bệnh 57
Bảng 3.17 Đánh giá của người bệnh về cơ sở vật chất của bệnh viện 58
Bảng 3.18 Đánh giá của người bệnh về điều kiện nhà làm việc 59
Bảng 3.19 Đánh giá của người bệnh về điều kiện phòng khám 59
Bảng 3.20 Đánh giá của người bệnh về phòng điều trị 60
Bảng 3.21 Đánh giá của người bệnh về trang thiết bị khám chữa bệnh 61
Bảng 3.22 Đánh giá của người bệnh về điều kiện sinh hoạt người bệnh 61
Trang 10Bảng 3.23 Đánh giá của người bệnh về vệ sinh bệnh viện 61Bảng 3.24 Đánh giá của người bệnh về sắp xếp bố trí khoa phòng thuận
tiện cho người bệnh 62Bảng 3.25 Đánh giá của người bệnh về hướng dẫn nội quy, quy định
bệnh viện 62Bảng 3.26 Đánh giá của người bệnh về chất lượng thăm khám, phương
pháp điều trị bệnh của bác sỹ 63Bảng 3.27 Đánh giá của người bệnh về thực hiện nhiệm vụ của điều
dưỡng bệnh viện 63Bảng 3.28 Đánh giá của người bệnh về thái độ giao tiếp của cán bộ y tế
với người bệnh 64Bảng 3.29 Đánh giá của người bệnh về mức độ tin tưởng chuyên môn 64Bảng 3.30 Đánh giá của người bệnh về mức độ minh bạch và các khoản thu
65Bảng 3.31 Đánh giá về thông tin đầy đủ tình trạng người bệnh 65Bảng 3.32 Đánh giá về thời gian chờ đợi làm thủ tục khám bệnh, vào viện .66Bảng 3.33 Đánh giá về thời gian chờ đợi làm xét nghiệm, siêu âm, chụp XQ
66Bảng 3.34 Đánh giá về thời gian chờ đợi thanh toán ra viện 67Bảng 3.35 Đánh giá của người bệnh về tác phong làm việc của cán bộ y tế.67
Biểu đồ
Biểu đồ 3.1 Chỉ số về chất lượng chẩn đoán, điều trị nội trú 50Biểu đồ 3.2 Kết quả hoạt động khám bệnh cho người bệnh có thẻ BHYT 56Biểu đồ 3.3 Kết quả điều trị nội trú cho người bệnh có thẻ Bảo hiểm y tế 56
Trang 11DANH MỤC HỘP
Hộp 1 48
Hộp 2 49
Hộp 3 51
Hộp 4 52
Hộp 5 53
Hộp 5 68
Hộp 6 69
Hộp 7 71
Hộp 8 72
Hộp 9 73
Hộp 10 73
Trang 12Đ TVẤNĐ
Vai trò và giá trị sử dụng của Y học cổ truyền trên khắp thế giới ngàycàng được thừa nhận rộng rãi Hiện nay rất nhiều nước sử dụng Y học cổtruyền trong phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng cũng như chămsóc và nâng cao sức khỏe [79]
Việt Nam là một quốc gia thuộc khối ASEAN được đánh giá có tiềmnăng lớn về Y học cổ truyền [81] Việt Nam có một nền Y học cổ truyền lâuđời được lưu truyền và liên tục bổ xung bởi kinh nghiệm của các thế hệ, đểngày một hoàn thiện và khoa học hơn, góp phần đáng kể trong sự nghiệpchăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân [5]
Tuy nhiên từ những năm 1990, sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ bao cấptập chung sang cơ chế thị trường, bên cạnh những cải thiện lớn mà cơ chế nàymang lại cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe đã xuất hiện nhiều khó khăn dokhông thích ứng được với cơ chế mới, trong đó Y dược học cổ truyền tại cơ
sở đã bị thu hẹp đáng kể [44] Để thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng
và nhà nước về Y dược học cổ truyền, đồng thời để khắc phục những tồn tạitrên, Bộ Y tế tiếp tục khẳng định đường lối phát triển Y học cổ truyền trong
chăm sóc sức khỏe là: “Phát triển sử dụng thuốc nam và các phương pháp
không dùng thuốc của Y học cổ truyền tại tuyến Y tế cơ sở và cộng đồng vẫn
là mục tiêu chiến lược của ngành Y tế trong những thập kỷ tới để đảm bảo sức khỏe cho nhân dân” [53] Ngày 3/11/2003 Thủ tướng chính phủ đã k
quyết định số 222/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt chính sách quốc gia về Y
dược cổ truyền đến năm 2010 Ngày 23/2/ 2005, Bộ Chính trị, Ban chấp hànhTrung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành nghị quyết 46-NQ/TW vềcông tác bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới [13], [14].Trong hệ thống y tế ở các Quốc gia, Bệnh viện chiếm một vị trí quantrọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Trong các chứcnăng của bệnh viện, chức năng khám bệnh, chữa bệnh được xem là chức năngquan trọng nhất [14]
Trong những năm qua chất lượng chăm sóc người bệnh tại các bệnh viện
Trang 13ngày càng được nâng cao, tinh thần phục vụ người bệnh đang có những bướcchuyển biến mới Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ bệnh viện chưa đáp ứng nhucầu ngày càng cao của nhân dân [21], Cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnhlàm cho người bệnh hài lòng là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và pháttriển của một cơ sở y tế nói chung và bệnh viện nói riêng [62].
Ngành Y tế Hà Giang từ năm 2008 thực hiện Nghị định 13, 14 và Thông
tư 03 của liên bộ hệ thống Y tế, nhất là Y tế tuyến tỉnh đã được phân tách racác lĩnh vực: quản l Nhà nước, khám chữa bệnh, dự phòng với các chức năng,nhiệm vụ rõ ràng và cho đến nay các đơn vị Y tế tuyến tỉnh đang hoạt độngkhá hiệu quả [57]
Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hà Giang là bệnh viện hạng II, trực thuộc
Sở Y tế Hà Giang, hàng năm bệnh viện luôn bảo đảm công tác cấp cứu, khámchữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh và các vùng lân cận thuộc tỉnh Hà Giang.Bệnh viện luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực và các dịch vụ kỹ thuậttiên tiến để cứu chữa người bệnh được tốt hơn [3].Vậy câu hỏi đ t ra là: Nhânlực, cơ sở hạ tầng - trang thiết bị Y tế và thuốc thiết yếu của Bệnh viện có đủkhông? Bệnh viện có cung cấp đủ các kỹ thuật theo phân tuyến của Bộ Y tếhay không? Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa của Bệnh viện như thếnào? Những khó khăn thuận lợi trong việc cung cấp và sử dụng dịch vụ khámchữa bệnh của Bệnh viện là gì? Để trả lời các câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ
khám chữa bệnh tại bệnh viện dược cổ truyền, tỉnh Hà Giang”, nhằm 2
mục tiêu sau:
1 ánh giá th c trạng cung c p và sử dụng d ch vụ khám chữa b nh tại
nh vi n Y dược cổ truyền, tỉnh Hà Giang năm 2013.
2 Phân tích những b t cập trong cung c p và sử dụng d ch vụ khám
chữa b nh tại nh vi n.
Trang 14Chương 1
1.1 học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe nhân dân một số nước trên thế giới
Thuật ngữ “Y học cổ truyền” (YHCT) đề cập đến những cách bảo vệ và
phục hồi sức khỏe được ra đời, tồn tại trước khi có y học hiện đại (YHHĐ),được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [80] Để thống nhất khái niệm
về YHCT, tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) đã đưa ra định nghĩa như sau:
“Toàn bộ kiến thức, kỹ năng th c hành d a trên lý luận, lòng tin và kinh nghi
m vốn có của những nền văn hóa khác nhau, dù đã được giải thích hay chưa, nhưng được sử dụng để duy trì sức khỏe, cũng như để phòng b nh, chẩn đoán, cải thi n hoặc điều tr tình trạng đau ốm về thể xác hoặc tinh thần” [73].
Tổ chức Y tế thế giới cũng đã khẳng định: “Không cần chứng minh lợi
ích của YHCT, mà cần phải đề cao và khai thác rộng rãi hơn nữa những khả năng của nó và làm nó hữu hi u hơn ó là h thống mà dân chúng từ trước đến nay đã coi như của mình và ch p nhận không hạn chế Hơn thế dù ở đâu nó cũng có lợi hơn những h thống từ ngoài, vì nó là một bộ phận không thể tách rời của nền văn hóa nhân dân” [72].
Năm 1999, hội nghị quốc tế về YHCT được tổ chức tại Senegan đã đưa
ra tuyên bố về sự khẩn cấp bảo vệ YHCT ở các quốc gia trên thế giới Hộinghị khuyến cáo tất cả các cơ sở y tế ở địa phương của mọi quốc gia cần thiếtlập lại các dịch vụ YHCT bên cạnh các dịch vụ YHHĐ trong chăm sóc sứckhỏe ban đầu (CSSKBĐ) cho nhân dân [66]
Trang 15Một trong các quốc gia có hệ thống YHCT phát triển cao phải kể tới đó
là Trung Quốc, quốc gia có nền YHCT lâu đời và có ảnh hưởng sâu sắc tớinền YHCT của nhiều quốc gia khác nhau như: Triều Tiên, Nhật Bản, ViệtNam, n Độ… [74], [79]
Ngày nay, để kết hợp YHCT với YHHĐ là một trong những chủ trươngchính của Trung Quốc, trong đó các thầy thuốc YHHĐ được đào tạo thêm vềYHCT, các thầy Lang cổ truyền được đào tạo thêm về YHHĐ, họ được thamgia các chương trình Y tế của nhà nước và được công nhận một cách chínhthức [78] Năm 1995 Trung Quốc đã có 2.522 bệnh viện YHCT với 353.757nhân viên Y tế và 236060 giường bệnh Những bệnh viện này đã điều trị 200triệu bệnh nhân ngoại trú và 3 triệu bệnh nhân nội trú 1 năm Đồng thời 95%các bệnh viện ở Trung Quốc có khoa YHCT [75], [80]
Hội nghị phát triển YHCT Trung Quốc năm 2005 đã thống kê: YHCTTrung Quốc đã được 120 quốc gia và khu vực trên thế giới chấp nhận Ở Anh,hơn 3000 bệnh viện thực hành về YHCT Trung Quốc đã được mở, có khoảng2,5 triệu người Anh đã chi tổng số tiền 90 triệu bảng hàng năm để được điều trịbằng YHCT Trung Quốc Ở Pháp có 2600 bệnh viện thực hành về YHCT TrungQuốc có tới 7000 đến 9000 cán bộ châm cứu Cho đến nay, ít nhất 40 nước đã
mở trường học về châm cứu Trên 50 hợp đồng về y học k giữa Trung Quốc vớicác nước khác trong đó có sự hợp tác về YHCT Y học cổ truyền Trung Quốcnói chung đã giành được vị thế hợp pháp ở nhiều nước bao gồm Singapo,Malaisia, Indonesia… Ở Trung Quốc, hơn 3000 xí nghiệp đang tham gia vào cáchoạt động về YHCT Năm 2004, công nghiệp thuốc cổ truyền Trung Quốc đã thuđược 90 tỷ Tệ (tương đương 11,1 tỷ USD) tổng giá trị sản lượng chiếm 26%toàn bộ khu vực dược phẩm Trung Quốc [1], [75]
Trang 16Nền YHCT của Nhật Bản có lịch sử trên 1400 năm Nhật Bản được xem
là nước có tỷ lệ người sử dụng YHCT cao nhất thế giới hiện nay [77]
Thuốc cổ truyền Nhật Bản là sự kết hợp giữa thuốc cổ truyền TrungQuốc và dùng những loại thuốc YHCT của nước bản địa, họ còn đến với cácthầy thuốc YHCT Trung Quốc [76]
Cho đến nay tại Châu Phi có tới 80-85% dân số được giáo dục và chămsóc sức khỏe từ những người cung cấp dịch vụ YHCT Nguồn nhân lựcYHCT chiếm tỷ lệ khá cao so với nguồn nhân lực YHHĐ [84]
Trong 10 năm qua mối quan tâm đối với thuốc YHCT ngày càng đượctăng lên ở nhiều quốc gia Năm 1989 có 1/3 người Mỹ đã sử dụng thuốcYHCT Năm 1990 doanh số bán ra của thuốc YHCT ước khoảng 1 Tỷ USD.60% dân số Hà Lan và Bỉ, 74% dân số Anh hài long với phương pháp chữabệnh theo YHCT [82]
Theo chiến lược phát triển YHCT năm 2010-2020, Tổ chức y tế Thế giới(TCYTTG) tiếp tục khẳng định vài trò và giá trị của YHCT trong CSSKBĐcho nhân dân [83] TCYTTG đã tích cực và nỗ lực hỗ trợ cho các hoạt độngphát triển nguồn nhân lực YHCT ở các nước thông qua các khóa đào tạo cholương y ở Lào, Mông Cổ, Philipin và các quần đảo Tây Thái Bình Dương.Mục tiêu là sử dụng những lương y đã được đào tạo để giáo dục sức khỏe ho
c cung cấp dịch vụ CSSKBĐ bằng YHCT [79], [81] Nâng cao năng lựcnghiên cứu về YHCT cho các nước thông qua tổ chức hội thảo khu vực, cáckhóa đào tạo và những học bổng đào tạo chuyên gia [79]
Trang 171.2 học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam
Y học cổ truyền Việt Nam ra đời rất sớm và gắn liền với sự phát triểncủa truyền thống văn hóa dân tộc Trải qua hang nghìn năm lịch sử, Y học cổtruyền Việt Nam đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm phòng và chữa bệnh cóhiệu quả Nền YHCT Việt Nam còn được phát triển trong sự giao lưu vớiTrung Quốc và các nước láng giềng trong khu vực Bằng sự xuất hiện củanhiều danh y lớn như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Đại Năng,Hoàng Đôn Hòa… Y học cổ truyền Việt Nam không chỉ là một nền y học đơnthuần mà còn phát triển về m t l luận Các tác phẩm YHCT Việt Nam có giátrị to lớn trong nền văn hóa Y học dân tộc [44]
Thời kỳ Hồng Bàng và các Vua Hùng, nhân dân ta đã biết ăn trầu, trầu có
tác dụng làm ấm người, chống “Sốt rét cơn, ngã nước”, nhuộm răng làm ch t
chân răng, ăn kèm gừng, tỏi với thịt, cá cho dễ tiêu hóa đã trở thành tập quándung gia vị trong mỗi bữa ăn hàng ngày Dân miền núi có tập quán ăn hạtngải, uống nước riềng, chấm muối sả… để phòng thấp khí, chống sốt rétrừng; dân miền trung du biết uống chè vối; miền xuôi uống chè xanh, ăn diếp
cá, riềng giúp tiêu hóa tốt… Sản phụ uống chè vằng cho “thông máu”, ăn
ngon hơn và tiêu cơm Những phong tục tập quán đó tạo ra các phương pháp
vệ sinh, phòng chữa bệnh hiệu quả cho nhân dân [51]
Ông tổ của thuốc Nam chính là danh y thiền sư Tuệ Tĩnh (thế kỷ thứ
XIV), đã được nhân dân ta suy tôn làm vị “Thánh thuốc nam” Vào thời kỳ
mà đa số các nước Đông Nam Á đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của y dược học
Trung Quốc thì Tuệ Tĩnh đã đưa ra quan điểm “Nam dược tr Nam nhân”.
Đây là một quan điểm vừa mang tính khoa học, tính nhân văn, nhân bản vừathể hiện thể hiện chí độc lạp, tự chủ long tự tôn dân tộc và tiềm năng trí tuệcon người Việt Nam trong phòng bệnh và chữa bệnh.Tuệ Tĩnh thức rõ rang
Trang 18là con người Việt Nam sinh sống trên đất nước mình phải chịu ảnh hưởngcủa thổ ngơi, khí hậu, nước ăn, cây cỏ, động vật, muôn loài, sẵn có ngay tạichỗ Để cho dân dễ hiểu dễ nhớ các phương pháp trị bệnh bằng thuốc nam,Tuệ Tĩnh đã soạn sách bằng thơ phú để truyền bá YHCT Bài thơ phú bằng
thuốc Nam có 630 vị viết bằng quốc âm Phần đầu cuốn “Nam Dược Thần Hi
u” có 400 chữ ghi bằng chữ Hán, 82 vị có tên Việt Nam… Nhằm phổ biến
kinh nghiệm sử dụng thuốc nam trong phòng, chữa bệnh cho nhân dân [65].Dưới triều Lê có Lê Hữu Trác (1724-1791) là đại danh y của nước ta,
ngoài việc chữa bệnh tận tụy, tài giỏi, ông còn soạn “Hải Thượng Y Tông Tâm
Lĩnh” 28 tập 66 quyển Bộ sách được coi là bách khoa toàn thư của YHCT
Việt Nam
Về phòng bệnh, có quyển vệ sinh yếu quyết đã chỉ dẫn cụ thể cách giữ vệsinh theo hoàn cảnh sinh hoạt của nhân dân ta, từ vệ sinh cá nhân đến vệ sinhmôi trường với cách tu dưỡng tinh thần và rèn luyện than thể để tăng sứckhỏe, tăng tuổi thọ Ông còn rất chú trọng đến các điều kiện môi trường, khíhậu, phong tục tập quán khác nhau để có cách chữa bệnh phù hợp với các điềukiện đó
Về dược học phát huy truyền thống của Tuệ Tĩnh, ông thừa kế NamDược Thần Hiệu 496 vị, bổ xung 300 vị trong tập Lĩnh Nam Bản Thảo, gần
2000 phương thuốc gia truyền kinh nghiệm vào các tập Bách Gia Trân Tàng,Hành Giả Trận Nhu Ông đã đúc kết được nhiều quy tắc chuẩn đoán, biệnchứng, luận trị, cách dung thuốc chữa bệnh và đạo đức người thầy thuốc Ôngđược suy tôn làm đại danh y, đại nho, đại thiện
Dưới triều Tây Sơn (1789-1802) lương y Nguyễn Hoành quê ở ThanhHóa biên soạn tập thuốc Nam có trên 500 vị cở cây ở địa phương và 130 vi
Trang 19các loại đông khoáng vật làm thuốc với công dụng đơn giản theo kinh nghiệmdân gian.
Dưới triều Nguyễn (1802-1945) khi có dịch bệnh, Viện thái y mời cácthầy thuốc ở địa phương tham gia chống dịch Tổ chức Viện thái y còn quyđịnh cụ thể các phương thức phục vụ thuốc men (bào chế, kiểm tra, đóng gói,sắc thuốc, tiêm thuốc) của phòng Ngũ Dược
Dưới thời Pháp thuộc (1884-1945), do ảnh hưởng của phong trào “Tây
hóa” ở các nước phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, chế dộc thực
dân, thuộc địa, bán thuộc địa đã kìm hãm ngành YHCT, nhưng chủ yếu tạicác đô thị, còn tuyệt đại đa số nhân dân lao động nghèo nhất là ở nông thônmiền núi vẫn tin dùng phương pháp YHCT để chữa bệnh Nhờ đó nền YHCTViệt Nam vẫn được bảo tồn, duy trì và phát triển [59]
Chính cách mạng tháng 8 thành công, dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa,Đảng và Chính Phủ ta đã luôn quan tâm đến phát triển YHCT Năm 1946 cáchội Đông Y được thành lập để phát triển Y Dược dân tộc phục vụ chế độmới Nam Bộ kháng chiến, ban nghiên cứu Đông Y Nam Bộ được thành lậpphục vụ nhân dân và Bộ Đội Ban nghiên cứu Đông Y ngoài xây dựng mạng
lưới YHCT đã xây dựng và biên soạn “Toa căn bản” trị bệnh thông thường Tập “Tủ thuốc nhân dân” được soạn để phổ biến và sử dụng thuốc YHCT.
Ngày 27/02/1955 Bác Hồ đã gửi thư cho ngành Y tế Trong thư Bác viết
“Y học phải d a trên nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng Ông cha ta đã
có nhiều kinh nghi m quý báu chữa b nh bằng thuốc ta, thuốc bắc ể mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu phối hợp thuốc ông Y và thuốc Tây Y” [51].
Năm 1957 hội Đông Y và Vụ Đông Y được thành lập với mục đích làđoàn kết giới lương y và những người hành nghề y dược Đông Y và Tây Y,
Trang 20đồng thời phát huy các cơ sở YHCT, tạo điều kiện kết hợp YHCT với YHHĐ,đến 1978, 33/34 tỉnh thành có bệnh viện YHCT, hầu hết các cơ sở Y tế đều có
sự kết hợp giữa YHCT với YHHĐ trong phòng chữa bệnh Phong trào trồng
và sử dụng thuốc Nam chữa bệnh phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết, đếngiữa những năm 80 số xã, phường của cả nước, sử dụng thuốc nam lên đến
7000 Xã, phường chiếm 80% số xã, phường của cả nước, nhiều xã, phường
có đến 70-80% số gia đình có “Khóm thuốc gia đình” hàng ngàn cán bộ Y tế
được học hỏi và bồi dưỡng những kiến thức sử dụng thuốc nam và châm cứu.Trong thời kỳ này, thuốc nam và châm cứu đã góp phần không nhỏ trong việcchăm sóc sức khỏe cho nhân dân tại cộng đồng [32], [33],
Ngoài các cơ sở Y tế nhà nước còn có nhiều phòng chẩn trị, nhà thuốcYHCT tư nhân mở ra khắp nơi để phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh bằngYHCT của nhân dân
Song từ những năm cuối thập kỷ 80 đến nay, đất nước ta thực hiện côngcuộc đổi mới, mô hình sử dụng thuốc Nam và châm cứu trong thời kỳ bao cấpkhông còn phù hợp với những thay đổi nhanh chóng, sâu sắc của nền kinh tế
xã hội, với yêu cầu phát triển kinh tế hộ gia đình Hậu quả là hàng loạt các cơ
sở thuốc Nam và châm cứu ở tram Y tế Xã, Phường không hoạt động, nhiềulương Y ra khỏi các trạm Y tế ở tuyến Cơ sở, chỉ có khoảng 10-12% số trạm
Y tế Xã, Phường còn hoạt động YHCT, nguồn thuốc, hoạt động bào chếYHCT cung cấp cho cộng đồng chăm sóc sức khỏe (CSSK) và điều trị cũnggiảm sút, [33], [42].Cán bộ được đào tạo YHCT ít muốn trở về cơ sở Y tế đểphục vụ [63] Những biến động này đã ảnh hưởng đến chất lượng CSSKBĐcho nhân dẫn cũng như việc thực hiện các mục tiêu của chương trìnhCSSKCĐ do đó chưa đảm bảo được tính công bằng trong CSSK nhân dân
Trang 21Trước tình hình đó, báo cáo “ ánh giá công tác chăm sóc sức khỏe và
bảo v sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, đặc bi t là từ sau đại hộ ảng lần thứ VII đến nay” của ộ Y tế đã nêu rõ: “… ảm bảo công bằng về chăm
sóc sức khỏe cho nhân dân và giữ được bản ch t nhân đạo của ngành Y tế trong điều ki n kinh tế th trường là một v n đề c p bách, vừa là chính sách lâu dài” [53].
Vấn đề đ t ra là phải lựa chọn được những phương pháp chữa bệnh hiệuquả mà lại ít tốn kém, YHCT phải chằng là lời giải hợp l và có tính khả thinhất? [49]
Bộ Y tế khẳng định: “Phát triển sử dụng thuốc Nam và các phương pháp
chữa b nh không dùng thuốc của YHCT tại cơ sở Y tế cộng đồng, vẫn là mục tiêu chiến lược của ngành Y tế trong những thập kỷ tới để bảo v sức khỏe cho nhân dân tại cộng đồng” [53].
Mong muốn chấn hưng và phát triển mạng lưới YHCT nói chung vàmạng lưới YHCT tuyến cơ sở nó riêng, vào những năm cuối thập kỷ 90,Đảng và Nhà Nước đã có những quan tâm sát thực: Ngày 30/8/1999, ChínhPhủ đã có chỉ thị 25/1999/CT/TTg về việc đẩy mạnh công tác YHCT nhằmphát triển mạnh công tác YHCT trong tình hình mới [35] Ngày 03/11/2003Thủ Tướng Chính Phủ đã có quyết định số 222/20032QĐ-TTg ban hànhchính sách quốc gia về YHCT đến năm 2010 [51] Tiếp đến ngày 2/2/2005Thủ Tướng Chính Phủ đã có quyết định số 30/2005/QĐ-TTg về việc thànhlập Viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam [54]…
Nhằm thực hiện đường lối chỉ đạo của Đảng và Chính Phủ, Bộ Y tế đã
có nhiều chỉ thị, thông tư và các văn bản chỉ đạo và phát triển mạng lướiYHCT như:
Trang 22Chỉ thị số 30/BYT-CT ngày 01/3/1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc:
“Khôi phục vườn thuốc Nam và tăng cường sử dung phương pháp xoa bóp
day n của YHCT để chăm sóc và bảo v sức khỏe nhân dân” [34].
Thông tư 02/TT-BYT ngày 28/02/1997 của Bộ Y tế về việc: “Hướng dẫn
về chức năng, nhi m vụ và tổ chức khoa YHCT trong vi n, b nh vi n YHH ” [61].
Thông tư số: 37/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 10 năm 2011 của Bộ Y tế
“Hướng dẫn chức năng, nhi m vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của b nh
vi n Y học cổ truyền tuyến tỉnh” [31].
Tháng 10 năm 1999 Bộ Y tế có văn bản số 97/YT-YH về việc: “Phối kết
hợp với chi hội ông Y Xã triển khai khám chữa b nh bằng YHCT tại trạm Y tế
Xã, Phường” [7].
Văn bản số: 5123/YT-YH ngày 3/7/2001 về việc ban hành bảng: “Tiêu
chuẩn xã tiên tiến về YHCT” [9].
Quyết định 3447/QĐ - BYT ngày 22/9/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về
việc ban hành: “ ộ tiêu chí quốc gia về Y tế xã giai đoạn 20011- 2020” trong
đó tiêu chí VII có đề cập đến YHCT [55]
Văn bản số 3777/YT-YH ngày 16/5/2002 của Bộ Y tế về việc: “Chỉ đạo
xây d ng xã điểm tiên tiến về YHCT” [11].
Nhằm quán triệt và thực hiện tốt các chỉ thị, quyết định cùng các văn bảntrên của Đảng, Chính Phủ và Bộ Y tế, trong những năm qua ngành Y tế đã tậpchung chỉ đạo công tác phát triển mạng lưới Y tế cơ sở nói chùng và về lĩnhvực YHCT nói riêng, tập chung chính vào việc triển khai chính sách quốc gia
về YHCT, xây dựng xã tiên tiến và chuẩn quốc gia y tế xã về YHCT
Kết quả là: tính dến tháng 12 năm 2005 cả nước đã có 54 Viện, Bệnhviện YHCT, trong đó có 2 Bệnh viện đầu ngành (Bệnh viện YHCT Trung
Trang 23ương, Bệnh viện châm cứu Trung ương), 2 Bệnh viện ngành (Quân đội, Côngan) và 50 bệnh viện YHCT tỉnh, thành phố, 62/64 Bệnh viện đa khoa tỉnh,thành phố có khoa YHCT, và trên 50% các bệnh viện đa khoa khu vực và cácbệnh viện đa khoa huyện, thị có khoa ho c bộ phận YHCT lồng ghép Tuynhiên hầu hết các bệnh viện YHCT tỉnh, thành phố mới chỉ đạt bệnh việnhạng III với số gường bệnh thấp, biên chế còn rất thiếu và yếu, cơ sở vật chất,trang thiết bị còn nghèo nàn chưa thực sự tương xứng với chức năng, nhiệm
vụ của bệnh viện…[47], [71]
Theo báo cáo của Vụ YHCT Bộ Y tế tại Hội nghị sơ kết công tác xâydựng xã tiên tiến và chuẩn quốc gia về YHCT tháng 8 năm 2004 Tính đếnthời điểm đó trên toàn quốc có 42/64 tỉnh, thành có báo cáo đã thực sự triểnkhai xây dựng xã điểm tiên tiến và chuẩn quốc gia về YHCT và đạt đượcnhiều kết quả khả quan Cụ thể là số xã đạt chuẩn Quốc gia về Y tế xã là 625
và số xã đạt tiêu chuẩn xã tiên tiến về y học cổ truyền là 227 [12]
Tuy nhiên số xã phường có biên chế và hoạt động YHCT còn quá ít, số
xã phường đạt chuẩn quốc gia chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn so với tổng số
xã phường trong cả nước (625/11.000 chiếm tỷ lệ 5,7%) [12]
1.3 Một số khái niệm
Sức khỏe: “Sức khoẻ là tình trạng thoải mái về thể ch t, tinh thần và xã
hội, chứ không phải chỉ đơn thuần là không có b nh hay tật” [2].
hái niệm về bệnh viện: Theo bách khoa toàn thư “ nh vi n hay nhà
thương là cơ sở để khám và chữa tr cho người b nh khi b nh của họ không thể chữa ở nhà hay nơi nào khác, đây là nơi tập trung các chuyên viên y tế gồm
ác sỹ nội và ngoại khoa, các y tá, các kỹ thuật viên xét nghi m, cận lâm sàng”
[2]
Trang 24hái niệm dịch vụ: Theo bách khoa toàn thư “D ch vụ trong kinh tế học
được hiểu là những thứ tương t như hàng hóa nhưng là phi vật ch t” [2].
1.4 Phân loại bệnh viện
Hệ thống bệnh viện công ở Việt Nam được phân cấp theo quản l hànhchính và phân tuyến kỹ thuật từ trung ương đến địa phương Tuyếnquận/huyện thực hiện các kỹ thuật chăm sóc sức khỏe (CSSK) cơ bản, mangtính đa khoa Tuyến tỉnh/thành phố thực hiện CSSK với các kỹ thuật phức tạphơn, mang tính chuyên khoa, tiếp nhận người bệnh (NB) do tuyến huyệnchuyển đến.Tuyến trung ương là tuyến cuối cùng, thực hiện các kỹ thuậtchuyên khoa sâu và tiếp nhận người bệnh từ tuyến dưới chuyển lên [16]
Hệ thống các bệnh viện công lập hiện nay đã được Chính phủ quan tâmđầu tư phát triển khá toàn diện trên phạm vi toàn quốc [10] Từ năm 2008,thực hiện Quyết định 47/TTg của Thủ tướng Chính phủ về sử dụng nguồnvốn trái phiếu Chính phủ để dầu tư cơ sở hạ tầng cho bệnh viện [40], đến nay100% các bệnh viện tuyến huyện đã được đầu tư, nâng cấp, xây dựng mới,khắc phục được tình trạng xuống cấp, thiếu hụt giường bệnh bên cạnh sựnâng cấp về cơ sở vật chất, các thiết bị dùng cho chẩn đoán và điều trị tạibệnh viện tuyến huyện đã được đầu tư về cơ bản, một số thiết bị hiện đại nhưmáy siêu âm 4 chiều, máy nội soi, máy xét nghiệm, bằng các nguồn vốn từngân sách Nhà nước, vốn xã hội hóa, liên danh, liên kết , cùng với nâng cấptrang thiết bị, cơ sở hạ tầng, Bộ Y tế (BYT) cũng đã chỉ đạo về tăng cườngcông tác đào tạo cán bộ [25], từ năm 2008, Bộ Y tế đã cho phép một số bệnhviện đầu ngành như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnhviện Thống Nhất …được mở các khóa đào tạo sau đại học như đào tạo Bác
sỹ CKI, CKII, … để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao trongcác cơ sở khám chữa bệnh hiện nay Do đó, nhiều kỹ thuật mới và phức tạp đã
Trang 25được thực hiện thành công, trình độ và kỹ thuật y tế Việt Nam đang dần tiến
bộ ngang với các nước trong khu vực [48], góp phần chữa trị và cứu sốngđược nhiều người bệnh hiểm nghèo
* Phân hạng b nh vi n: Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ, quy mô giường
bệnh và khả năng chuyên môn kỹ thuật các bệnh viện được phân thành 5hạng: Hạng đ c biệt, hạng I, hạng II, hạng III và hạng IV [15], [45] Hạng đ cbiệt và hạng I là hạng cao nhất bao gồm một số bệnh viện có quy mô quá lớn,trang thiết bị (TTB) hiện đại như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Trungương Huế, Bệnh viện Thống Nhất…, hạng IV là thấp nhất gồm nhóm cácbệnh viện chưa xếp hạng vì chưa đạt tiêu chuẩn xếp hạng III
Bệnh viện y học cổ truyền tuyến tỉnh (Bệnh viện hạng II) là đơn vị sựnghiệp trực thuộc Sở Y tế, có chức năng triển khai các hoạt động khám chữabệnh (KCB), thực hiện các nhiệm vụ của bệnh viện theo Quy chế bệnh việncủa BYT
Các khoa chuyên môn:
1 Khoa khám bệnh đa khoa
Trang 268 Khoa Châm Cứu dƣỡng sinh
9 Khoa Phục hồi chức năng
10 Khoa Xét nghiệm
11 Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Thăm dò chức năng
12 Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
13 Khoa Dƣợc
14 Khoa Dinh dƣỡng
Trang 27Nhi
K.
Ngũ Quan
K.
Ngoại TH
K.
Phụ
K.
Châm Cứu DS
K.
PHCN
K.
Xét nghiệ m
K.
CĐHA -TDCN
K.
KSN K
K.
Dƣợc
K Dinh
Dƣỡng
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức của bệnh viện hạng 2 ( học cổ truyền)
Trang 281.6 Nhiệm vụ của bệnh viện [29]
1.6.1 Khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng
Tổ chức cấp cứu, khám bệnh, điều trị ngoại trú, nội trú, chăm sóc, phụchồi chức năng bằng YHCT, kết hợp YHCT với Y học hiện đại (YHHĐ) theoquy định Chú trọng sử dụng thuốc nam, châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt vàcác phương pháp điều trị khác theo đúng quy chế chuyên môn
Tổ chức khám và chứng nhận sức khỏa theo quy định tại thống tư số13/2007/TT-BYT ngày 21/11/2007 của Bộ Y tế hướng dẫn khám sức khỏe
1.6.2 Nghiên cứu khoa học, bảo tồn và phát triển Y, Dược cổ truyền
Triển khai nghiên cứu khoa học, nghiên cứu kế thừa, nghiên cứu ứngdụng và kết hợp Y học cổ truyền với Y học hiện đại
Phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức nghiệm thu, đánh giá tính
an toàn và hiệu quả của các đề tài nghiên cứu khoa học về Y, Dược cổ truyềntrong tỉnh
Phối hợp với các đơn vị có liên quan tham mưu cho Giám đốc Sở y Tếxây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch bảo tồn, phát triển Y, Dược cổtruyền trên địa bàn
Chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học, bảo tồn, kế thừa, ứngdụng theo quy định của pháp luật
1.6.3 Đào tạo
Tiếp nhận, tạo điều kiện và hướng dẫn cho học sinh, sinh viên, học viên của
cơ sở đào tạo và các đơn vị có nhu cầu đến thực hành lâm sàng tại bệnh viện
Cử công chức, viên chức đủ năng lực tham gia giảng dạy và hướng dẫnthực hành lâm sàng
Tổ chức đào tạo liê tục cho cán bộ y tế về lĩnh vực Y, Dược cổ truyềntheo quy định
Trang 29Cấp giấy chứng nhận bồi dưỡng và thực hành lâm sàng cho các đốitượng đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng, thực hành tại bệnh viện theoquy định.
Phối hợp với các đơn vị có liên quan chỉ đạo xây dựng vườn thuốc namtrong các cơ sở y tế và thực hiện công tác chăm sóc sức khỏa cộng đồng bằng
1.6.6 Công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe
Tổ chức tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
về công tác Y, Dược cổ truyền
Tuyên truyền ứng dụng các biện pháp Y, Dược cổ truyền hợp l , an toàn,hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
Tuyên truyền vận động nhân dân nuôi trồng, thu hái, bảo tồn và sử dụng
có hiệu quả cây con làm thuốc
1.6.7 Công tác Dược và vật tư y tế
Phối hợp với các đơn vị chức năng tham mưu cho các cấp lãnh đạo vềcông tác bảo tồn, phát triển dược liệu
Trang 30Cung ứng đầy đủ, kịp thời, đảm bảo chất lượng thuốc, hóa chất, vật tư y
tế cho công tác khám, chữa bệnh nội, ngoại trú
Tổ chức bào chế, sản xuất thuốc đông y, thuốc từ dược liệu đáp ứng nhucầu của người bệnh và nhân dân trên địa bàn
Hướng dẫn sử dụng dược liệu, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và các
vị thuốc YHCT hợp l , an toàn, hiệu quả
Bố trí trang thiết bị theo danh mục tiêu chuẩn trang thiết bị y tế theo quyđịnh của Bộ y tế
Theo số liệu thống kê năm 2008 của Cục quản l khám chữa bệnh Bộ Y
tế, Việt Nam có 1.024 bệnh viện công với 126.772 giường bệnh (chiếm93,3%) [19] Song song với bệnh viện thuộc Bộ Y tế, còn có bệnh viện do các
bộ, ngành khác quản l như Quân đội, Công an, Bưu điện, Giao thông, Gangthép, May m c Các bệnh viện này thường là bệnh viện đa khoa và Điều
Trang 31dưỡng phục hồi chức năng, chủ yếu phục vụ cho cán bộ công nhân viên của bộ, ngành đó Quy mô của các bệnh viện này thường ở mức trung bình và nhỏ [21].
Ở khu vực tư nhân, đến nay cả nước có 68 bệnh viện với hơn 4.000giường bệnh, hơn 30.000 phòng khám, dịch vụ y tế tư nhân (chiếm 3,7% và2,2%) Số lượng các cơ sở y tế ngoài công lập nhiều nhưng quy mô còn manhmún, nhỏ lẻ Tỷ lệ bệnh viện tư và giường bệnh tư của Việt Nam là rất thấp
so với các nước trong khu vực như Thái Lan (30% và 22,5%), Indonesia(42% và 32%), Malaysia (62,4% và 164,4%), Philippin (67% và 50%) [21].Nhìn chung các bệnh viện Việt Nam có quy mô nhỏ Số bệnh viện dưới
100 giường chiếm gần 70% (570 bệnh viện) Số bệnh viện có quy mô 101
-300 giường chiếm 20% (165 bệnh viện); số giường từ -300 - 500 giườngchiếm 7,2%; số từ 501 - 700 giường chiếm 2,4% (20 bệnh viện) Có 8 bệnhviện trên 700 giường, khoảng 1%, trong đó có 3 bệnh viện có quy mô trên1.000 giường là Bạch Mai, Trung ương Huế và Chợ Rẫy [50] So với quy môgiường bệnh của các bệnh viện của một số nước trong khu vực cũng rất khácnhau: số giường bình quân của bệnh viện ở Malaysia là 288 giường, củaTrung Quốc là 138,7 Theo số liệu năm 2008 của 932 bệnh viện có báo cáo,trong đó có 559 bệnh viện tuyến huyện, thị thì năm 2008 số giường tại cácbệnh viện tuyến huyện chiếm 35,1 %, số lượt khám bệnh tại tuyến huyệnchiếm 49,9 %, số lượt điều trị ngoại trú là 42,8%, số lượt điều trị nội trú là40,2%, công suất sử dụng giường bệnh bình quân tại các bệnh viện tuyếnhuyện là 101% [23] Theo báo cáo của Bộ Y tế và nghiên cứu của một số tácgiả cho thấy, tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế Việt Nam rất thấp, chỉ khoảng từ 0,3đến 0,5 lần khám bệnh hàng năm cho một đầu người tại các dịch vụ khámchữa bệnh cơ sở, trong khi đó ở các nước đang phát triển khác các chỉ số nàytrung bình khoảng 4 đến 5 lần khám chữa bệnh (KCB) cho một người mộtnăm [21], [22], [36], [69], [70]
Trang 32* Về quản lý ch t lượng d ch vụ khám chữa b nh: Nâng cao chất lượng
CSSK người bệnh là mục tiêu số một của bệnh viện trong công tác quản lchuyên môn
* ề cập đến ch t lượng chăm sóc sức khỏe người b nh: Chất lượng
CSSK người bệnh bao gồm khám chữa bệnh và chăm sóc Điều dưỡng (ĐD)[29] Theo người bệnh: Chất lượng CSSK là người bệnh được điều trị đúngmức, được thương yêu, tôn trọng Theo thầy thuốc: Chất lượng CSSK là sửdụng kiến thức, kỹ thuật tiên tiến cho người bệnh
* Đánh giá chất lượng chuyên môn bệnh viện dựa vào các tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Y tế [6]
- Tỷ lệ sử dụng giường bệnh:
- Ngày điều trị trung bình:
- Thời gian chờ đợi:
- Phẫu thuật:
- Tỷ lệ chết các loại bệnh:
- Một số chỉ số đánh giá chất lượng chuyên
môn: + Tỷ lệ loét ở bệnh viện do nằm lâu
+ Chất lượng của xét nghiệm, Xquang, đạt yêu cầu
+ Vô khuẩn tiệt khuẩn tốt
+ An toàn điều trị: Sử dụng an toàn hợp l thuốc
+ Chăm sóc y tá Điều dưỡng: Chăm sóc toàn diện
+ Đủ trang thiết bị theo tiêu chuẩn
+ Đội ngũ chuyên môn kỹ thuật có học hàm, học vị, tay nghề giỏi
Trang 33Khu vực cận lâm sàng & dược chiếm: 12-15%
* Về nhân l c: Năm 2005, tỷ số bình quân giữa cán bộ nhân viên/một
giường bệnh chung cả nước xấp xỉ là 0,92 và nếu tính cả số cán bộ hợp đồng
là 1,15 Trong đó, số cán bộ hợp đồng của tuyến trung ương là 20,9%, bệnhviện tỉnh là 22,2%, tuyến huyện là 11,8% Tỷ số bình quân giữa số cán bộ trênmột giường bệnh ở các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế cao hơn (1,38) so vớibệnh viện tỉnh (1,13) và huyện (1,09); các bệnh viện thuộc các bộ ngành, tỷ sốbình quân giữa số cán bộ nhân viên/một giường bệnh thấp hơn (khoảng 1).Bình quân cứ 10 giường thì có 2 bác sĩ và 3 y tá Tỷ số y tá/Điều dưỡng sovới bác sĩ còn thấp và bất hợp l Tỷ số chung cho các bệnh viện vào khoảng1,5 Điều dưỡng/1 bác sĩ Tỷ số này thấp nhất ở các bệnh viện trực thuộc Bộ Y
tế là 1,22 và cao nhất ở các bệnh viện tỉnh là 1,56 Nếu so với mục tiêu chiếnlược của Bộ Y tế về đổi mới công tác Điều dưỡng theo định hướng chăm sóctoàn diện bệnh nhân và tỷ số Điều dưỡng/bác sĩ cần phải đạt ít là 2,5 thì cácbệnh viện ở tất cả các tuyến đều chưa đạt được [43]
Sự thiếu hụt Điều dưỡng, cả về số lượng và chất lượng tại các bệnh việnđều rất lớn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện người bệnh Sự bấthợp lí về cơ cấu, số lượng cán bộ viên chức y tế và phân bố nhân lực mất cânđối giữa các vùng miền sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng công tác chăm sóc
và khám chữa bệnh cho bệnh nhân [70] Nghiên cứu của Phan Trọng Quyền(2009) về chất lượng khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc
Trang 34Giang đã cho thấy tình hình nhân lực thì thiếu cán bộ so với quy định (đạt90,9%); tỷ lệ Điều dưỡng viên/ Bác sỹ thấp (1,76) Về cơ sở vật chất (diệntích đất sử dụng, nhà làm việc) quá chật hẹp, thiếu thốn (đạt 26,46%) Ngânsách nhà nước cấp chỉ chiếm 11,10% trong tổng số kinh phí chi phí cho hoạtđộng, thiếu quá nhiều trang thiết bị y tế hiện đại [60].
* Về nguồn tài chính b nh vi n: Nguồn tài chính bệnh viện công có từ 4
nguồn: ngân sách Nhà nước, viện phí, Bảo hiểm y tế, và nguồn khác Ngânsách Nhà nước cấp cho các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện theo chỉ tiêu kếhoạch giường bệnh; trung ương theo quy mô dân số Trên thực tế, số lượnggiường bệnh tại các địa phương chưa phải là chỉ số hợp lí về nhu cầu nguồnlực vì nó không phản ánh đầy đủ thực tế năng suất và hiệu quả hoạt động cácbệnh viện Với mức đầu tư thấp cho chăm sóc sức khoẻ như hiện nay (chiếmkhoảng 29% tổng nguồn thu của bệnh viện, qua kiểm tra 731 bệnh viện năm
2007 của Bộ Y tế cho thấy nguồn thu chủ yếu của bệnh viện là viện phí chiếm59,4% các nguồn thu và tăng hơn 26,5% so với năm 2006 Từ năm 2002, một
số bệnh viện thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số
10/2002/NĐ-CP để cụ thể hoá việc phân cấp cho các đơn vị sự nghiệp có thu Nghị định số10/2002/NĐ-CP đã cho phép các đơn vị tự chủ động về m t tài chính, tổ chứcnhân lực, nhằm quản l thống nhất nguồn thu, khuyến khích tăng thu, tiết kiệmchi đảm bảo trang trải kinh phí hoạt động, thực hiện tinh giản biên chế và tăngthu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao vàthực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước [50]
Sau vài năm thực hiện, năm 2006, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP thay thếNghị định số 10/2002/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm vềthực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệpcông lập Ngày 09/8/2006, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 71/2006/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP cho tất cả các đơn vị
Trang 35sự nghiệp công lập Ngày 23/01/2008, Liên bộ Bộ Y tế - Bộ Nội vụ ban hànhThông tư liên tịch số 02/2008/TTLT/BYT-BNV hướng dẫn thực hiện một sốđiều của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đối với đơn vị sự nghiệp công lậptrong lĩnh vực y tế Theo quy định này, Nhà nước chủ trương trao quyền tựchủ toàn diện cho các đơn vị sự nghiệp công lập y tế cả về tổ chức, bố trí sắpxếp bộ máy, nhân lực và tài chính Đối với tự chủ tài chính thì các đơn vịđược hoàn toàn chủ động về nguồn thu chi tài chính, được tự chủ trong việc
sử dụng kết quả hoạt động tài chính năm để trích lập các quỹ như: quỹ pháttriển hoạt động sự nghiệp, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng rủi
ro, quỹ thu nhập tăng thêm cho người lao động [38] Đồng thời cho phép cácđơn vị sử dụng tài sản để liên doanh, liên kết ho c góp vốn liên doanh với các
tổ chức¸ cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng, mua sắm máy mócthiết bị y tế phục vụ hoạt động dịch vụ phù hợp với các chức năng nhiệm vụđược giao theo quy định của pháp luật [20] Việc trao quyền tự chủ tài chínhcho các bệnh viện sẽ là đòn bẩy nhằm tăng cường hiệu suất hoạt động, tiếtkiệm chi phí, tăng thêm nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ cho các cơ sở y tếđồng thời tăng thêm tính sẵn có của các dịch vụ y tế để đáp ứng nhu cầu phục
vụ chăm sóc sức khoẻ của nhân dân [28]
Thực hiện tốt các quy định và quản lí tài chính bệnh viện theo quy địnhtại Nghị định số 43/NĐ-CP có liên quan đến đời sống của nhân viên và pháttriển kỹ thuật - công nghệ của bệnh viện Tự chủ tài chính bệnh viện là vấn đềnhạy cảm và nó liên quan đến khả năng sử dụng dịch vụ bệnh viện của cácthành phần xã hội khác nhau, liên quan đến vấn đề công bằng xã hội trongchăm sóc sức khoẻ
* Về Tổ chức quản lý b nh vi n: Quản l bệnh viện tốt tức là sử dụng có
hiệu quả nguồn ngân sách, nguồn nhân lực vào trong chăm sóc sức khoẻ
Đánh giá về vấn đề này, trong tài liệu "Những nhi m vụ c p bách của công
Trang 36tác khám và chữa b nh" đã chỉ rõ: "Sai phạm về Y đức, về tinh thần trách nhi
m là v n đề nổi cộm lớn nh t, gây tổn hại sâu sắc tới niềm tin của nhân dân"
[6]
Nhằm khắc phục những tồn tại về tình trạng quá tải, nằm ghép tại cácbệnh viện, những việc làm vi phạm đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ y
tế chậm khắc phục đã giảm lòng tin của nhân dân Nguyên nhân chính là: một
số bệnh viện thiếu Bác sỹ, Bác sỹ chuyên khoa, Bác sỹ cận lâm sàng, giườngbệnh điều trị nội trú, sự chênh lệch về chất lượng khám bệnh, chữa bệnh giữacác tuyến bệnh viện, công tác giáo dục y đức, thực hiện chưa thường xuyên,
sự kiểm tra, giám sát chưa liên tục [43]
Để nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho nhândân, ngày 07/12/2007, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị số06/2007/CT-BYT [19], đã yêu cầu các bệnh viện cần thực hiện ngay một sốnội dung công việc cụ thể:
* Hạn chế tình trạng quá tải b nh vi n:
Cần bố trí, sắp xếp lại nơi làm việc hợp l tạo thêm buồng bệnh điều trị;xây dựng lịch làm việc và bố trí cán bộ hợp lí, cải tiến quy trình, thủ tục khámbệnh rút ngắn thời gian chờ đợi khám bệnh và làm xét nghiệm cận lâm sàng;nâng cao hiệu quả điều trị nhằm rút ngắn thời gian điều trị nội trú, tăng cườngđiều trị ngoại trú
Kết quả nghiên cứu của Lê Quang Cường, Trần Thị Mai Oanh, KhươngAnh Tuấn, Dương Huy Lương và cộng sự (2007) Đánh giá tình hình quá tảicủa một số Bệnh viện ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã đưa ranhững giải pháp tương tự [43]
Trang 37* Nâng cao năng l c tuyến cơ sở:
Có biện pháp bổ xung nhân lực, trang thiết bị y tế để nâng cao năng lực y
tế tuyến cơ sở đ c biệt tuyến quận/huyện; Thực hiện tốt quy chế vào viện, raviện, chuyển viện góp phần giảm quá tải cho tuyến trên [27]
* ẩy mạnh xã hội hoá công tác khám b nh, chữa b nh:
Bệnh viện tăng cường thực hiện có hiệu quả Nghị định số
43/2006/NĐ-CP của Chính phủ; chủ động huy động các nguồn vốn để hiện đại hoá bệnhviện; đào tạo cán bộ có trình độ chuyền môn cao, cải tạo cơ sở hạ tầng, nângcấp trang thiết bị y tế theo quy định nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnhcủa nhân dân ngày càng cao
* Nâng cao y đức cho cán bộ y tế phải được th c hi n thường xuyên:
Cán bộ y tế phải làm tốt chuyên môn nghiệp vụ của mình, thực hiệnnghiêm các quy chế chuyên môn, đ c biệt chú đến thái độ trong giao tiếp vớingười bệnh và người nhà người bệnh Không lạm dụng thuốc, xét nghiệmcận lâm sàng, dịch vụ kỹ thuật cao gây tốn kém không cần thiết cho ngườibệnh [8]
Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử l nghiêm những trường hợp viphạm quy chế chuyên môn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
* Nghiên cứu của Phan Trọng Quyền (2009) về chất lượng khám chữabệnh tại Bệnh viện đa khoa thành phố Bắc Giang đã cho thấy, muốn nâng caochất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại đơn vị là phải chống tình trạng quá tảitrong khám bệnh và người bệnh phải nằm ghép tại bệnh viện Đơn vị cần phảiđược đầu tư về: Cơ sở vật chất, kinh phí sự nghiệp y tế, tăng cường nguồnlực, cải tiến về lề lối làm việc quản l , giám sát các hoạt động khám bệnh,chữa bệnh của các khoa, phòng: Quản l và giám sát cán bộ chấp hành kỷ luậtlao động, mọi hoạt động giao tiếp ứng xử giữa nhân viên y tế với người bệnh;giữa nhân viên y tế các khoa phòng với nhau thông qua triển khai thí điểm tổ
Trang 38chức quản l cán bộ, giám sát điều hành hoạt động đơn vị bằng hệ thống quansát camera, bằng ghi hình hàng ngày [64].
1.9 Tổ chức các đơn vị tế tại tỉnh Hà Giang hiện nay
Năm 2006 thực hiện Nghị định 171/NĐCP quy định về tổ chức các cơquan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương và Nghị định 172/ NĐ -CP của Chính phủ quy định về tổ chức các cơquan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, thị, thành phố, tỉnh HàGiang [37], [39], đã tiến hành chia tách Trung tâm y tế huyện thành 3 đơn vịgồm: Phòng Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng và Bệnh viện đa khoa huyện Từnăm 2008 đến nay hệ thống Y tế tỉnh Hà Giang đang thực hiện theo quy địnhtại Nghị định 13, 14 và Thông tư 03 của liên bộ Bộ Y tế - Bộ nội vụ
1.9.1 Về tổ chức bộ máy
* Tuyến tỉnh: Sở Y tế là đơn vị quản l Nhà nước, gồm các bộ phận: Văn
phòng Sở, Thanh tra Sở, Phòng Kế hoạch - Tài chính, phòng Nghiệp vụ Y,phòng Nghiệp vụ Dược
- Các Chi cục trực thuộc Sở: Chi cục Dân số - KHHGĐ, Chi cục
- Các đơn vị sự nghiệp y tế tuyến tỉnh gồm: Trung tâm Y tế dự phòng,Trung tâm Phòng chống Sốt rét-KST-CT, Trung tâm Phòng chốngHIV/AIDS; Trung tâm phòng chống Bệnh xã hội
- Hệ điều trị, gồm: Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện Y dược cổ truyền, Bệnh viện Lao & bệnh Phổi, Bệnh viện Diều dưỡng và Phục hồi chức năng
- Các đơn vị chuyên khoa, gồm: Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản,Trung tâm Kiểm nghiệm, Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe, Trungtâm Giám định Y khoa [57]
* Tuyến huy n.
- Hệ dự phòng: Gồm 11 Trung tâm Y tế huyện, thị, thành phố
Trang 39-Hệ điều trị: Gồm 11 BVĐK tuyến huyện: 19 phòng khám đa khoa khu vực.
- 11 Trung tâm Dân số-KHHGĐ (trực thuộc Chi cục DS-KHHGĐ)
- 11 Phòng Y tế huyện, thành phố (trực thuộc UBND huyện, TP)
* Tuyến xã: Có 177 Trạm y tế (TYT) xã, phường, thị trấn
1.9.2 Về tình hình nhân lực
Theo báo cáo của Văn phòng Sở Y tế, đến năm 2012 toàn tỉnh có tổngsố: 3.835 cán bộ y tế, có 583 cán bộ y tế có trình độ từ đại học trở lên, trong
đó Bác sỹ (BS) có 498, Điều dưỡng (ĐD) đại học là 40, Bác sỹ CKI thạc sỹ
133, chỉ có 10 BSCK2, tiến sỹ không, dược sỹ đại học là:45 Tỷ lệ 6,78BS/10.000 dân [69] và 0,6 DSĐH/10.000 dân
1.9.3 Thực trạng các cơ sở khám chữa bệnh tại tỉnh Hà Giang
Đến năm 2012 tỉnh Hà Giang có tổng số 15 bệnh viện trong đó tuyến tỉnh
có 1 bệnh viện đa khoa, 3 bệnh viện chuyên khoa gồm Bệnh viện Y học cổtruyền, Bệnh viện Lao và bệnh phổi, Bệnh viện Điều dưỡng và phục hồi chứcnăng Tuyến huyện có 11 bệnh viện đa khoa, 19 phòng khám đa khoa khuvực, có 2 trung tâm thuộc hệ dự phòng cũng thực hiện chức năng khám bệnh
là Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản và Trung tâm Phòng chống bệnh xãhội, 195 Trạm y tế xã, phường, thị trấn Khối y tế ngoài công lập có 97 phòngkhám đa khoa và phòng khám chuyên khoa, 39 phòng chẩn trị Y học cổtruyền, 1 cơ sở kinh doanh trang thiết bị y tế Tổng số giường bệnh là 2.536(tuyến tỉnh có 740 giường bệnh, tuyến huyện là 1.275 giường, xã là 521giường,) Tỷ lệ giường bệnh là 0.25/10.000 dân [58]
- Về trang thiết bị: Đến năm 2012 từ các nguồn kinh phí khác nhau nhưngân sách Nhà nước, dự án tài trợ và xã hội hóa, hầu hết các bệnh viện trongtoàn tỉnh đã được trang bị khá đầy đủ các thiết bị phục vụ tốt cho chẩn đoán,điều trị …
Trang 40- Về thực hiện các kỹ thuật chuyên môn: Hầu hết các bệnh viện tuyến tỉnhđều thực hiện được trên 80% danh mục kỹ thuật do Bộ Y tế quy định, nhiềubệnh viện đã triển khai một số kỹ thuật vượt tuyến như mổ nội soi, phẫu thuậtcắt lách cấp cứu, phẫu thuật kết hợp xương, cắt đoạn ruột, cắt tử cung bán phần,toàn phần, các kỹ thuật hồi sức cấp cứu như đ t nội khí quản cấp cứu, thở máy,cấp cứu ngừng tuần hoàn, suy hô hấp cấp, ngộ độc, rắn cắn, xuất huyết tiêu hóa,chạy thận nhân tạo đã được triển khai ở một số bệnh viện [56].
- Về công tác Điều dưỡng cũng được quan tâm coi trọng để nâng caochất lượng dịch vụ như công tác tư vấn, chăm sóc, hướng dẫn cho ngườibệnh, một số bệnh viện bệnh viện đã triển khai áp dụng khá hiệu quả mô hìnhchăm sóc người bệnh theo nhóm, mô hình này đã góp phần tích cực trongcông tác nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện [30]