Sáng kiến nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí thông qua các tình huống học tập môn Địa lí lớp 10 chương trình phổ thông mới 2018. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong thời gian qua, hoạt động dạy học Địa lí ở các trường phổ thông đã có nhiều đổi mới, đáp ứng phần nào các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Tuy nhiên, để thực sự hình thành và phát triển năng lực cho HS thì vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Trong chương trình THPT, Địa lí tự nhiên lớp 10 có rất nhiều ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống như để xác định phương hướng, giải thích các hiện tượng xảy ra trong Vũ Trụ, Hệ Mặt Trời, Trái Đất. Vì vậy, HS không chỉ cần phải hiểu sâu sắc về Địa lí tự nhiên lớp 10 mà còn phải biết vận dụng các kiến thức đó vào cuộc sống. Qua phân tích cấu trúc, nội dung phần Địa lí tự nhiên lớp 10 kết hợp với thực tiễn dạy học của bản thân, tôi thấy có thể phát triển NL GQVĐ và ST cho HS trong quá trình dạy học phần này. Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu, thiết kế tình huống góp phần phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học phần: Địa lí tự nhiên lớp 10 THPT” nhằm tiếp cận việc thực hiện mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới thực hiện từ sau năm 2018.
Trang 1Trong đổi mới giáo dục, ở hầu khắp các nước trên thế giới, người ta rất quan tâm đếnphát triển NL GQVĐ và ST cho học sinh thông qua các môn học, thể hiện đặc biệt rõ néttrong quan điểm trình bày kiến thức và phương pháp (PP) dạy học thông qua chương trình,sách giáo khoa.
Ở Việt nam, nghị quyết số 29, Hội nghị Trung ương 8 Khoá XI về đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp,trong đó có nhấn mạnh: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáodục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học
Ở trường phổ thông, có thể xem học Địa lí là học vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩnăng (KN), năng lực (NL) của người học để giải thích các hiện tượng thực tiễn liên quanđến tự nhiên thông qua đó phát triển ý tưởng nghiên cứu khoa học cho học sinh (HS) DạyĐịa lí là tổ chức các hoạt động nhằm hình thành kiến thức, kĩ năng từ đó phát triển cácphẩm chất và năng lực (NL) cho học sinh
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong thời gian qua, hoạt động dạyhọc Địa lí ở các trường phổ thông đã có nhiều đổi mới, đáp ứng phần nào các mục tiêu,nhiệm vụ đã đề ra Tuy nhiên, để thực sự hình thành và phát triển năng lực cho HS thì vẫncòn gặp rất nhiều khó khăn
Trong chương trình THPT, Địa lí tự nhiên lớp 10 có rất nhiều ứng dụng trong thựctiễn cuộc sống như để xác định phương hướng, giải thích các hiện tượng xảy ra trong VũTrụ, Hệ Mặt Trời, Trái Đất Vì vậy, HS không chỉ cần phải hiểu sâu sắc về Địa lí tự nhiênlớp 10 mà còn phải biết vận dụng các kiến thức đó vào cuộc sống
Qua phân tích cấu trúc, nội dung phần Địa lí tự nhiên lớp 10 kết hợp với thực tiễndạy học của bản thân, tôi thấy có thể phát triển NL GQVĐ và ST cho HS trong quá trìnhdạy học phần này
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu, thiết kế tình huống góp phần phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học phần: Địa lí tự nhiên lớp 10 - THPT” nhằm tiếp cận việc thực hiện mục tiêu của
chương trình giáo dục phổ thông mới thực hiện từ sau năm 2018
2 NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG ĐỀ TÀI
Những điểm mới trong đề tài của tôi là:
Trang 2Page | 2
- Thiết kế được hệ thống 17 tình huống có vấn đề, giá trị lớn nhất của mỗi tình huống
là phát triển ý tưởng mới cho HS sử dụng để phát triển NL GQVĐ và ST cho học sinh quá trình dạy học phần Địa lí tự nhiên lớp 10.
- Đề xuất được qui trình thiết kế tình huống có vấn đề trong dạy học Địa lí.
- Thiết kế được qui trình sử dụng tình huống để phát triển NL GQVĐ và ST cho học sinh trong dạy học Địa lí.
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc phát triển các năng lực thành tố của NL GQVĐ và ST.
Trang 3Page | 3
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Định nghĩa năng lực
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực
Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, công bố tháng 4 năm 2017,
Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình
học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và cácthuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loạihoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể
1 2 Các năng lực cốt lõi cần hình thành và phát triển cho học sinh
Chương trình giáo dục phổ thông dự kiến thực hiện từ sau năm 2018 hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau:
- Những năng lực chung gồm: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợptác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một sốmôn học nhất định gồm: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên
và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất
- Năng lực hình thành và triển khai ý tưởng mới
- Năng lực đề xuất, lựa chọn giải pháp
- Năng lực thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề
- Năng lực tư duy độc lập
1.4 Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Năng lực GQVĐ và ST được cấu thành từ 6 NLTT, vì vậy sự phát triển của NLGQVĐ và ST tạo chính là quá trình hình thành và phát triển các NLTT của NL này Vềmặt bản chất, sự hình thành các NLTT của NL này chính là sự biến đổi về lượng, còn sựphát triển của NL chính là sự biến đổi về chất Khi các NLTT được hình thành từ các thaotác riêng lẻ đến KN (Kỹ năng) và kỹ xảo thì tất yếu sẽ dẫn tới sự phát triển NL Sự hìnhthành KN từ mức thao tác đơn giản đến kỹ xảo sẽ dẫn tới sự phát triển NL từ thấp đến cao,
từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện
Trang 4Page | 4
Năng lực GQVĐ và ST có những mối quan hệ mật thiết với KN quan sát, KN sosánh, KN tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá,… Các KN này đan xen, tương hỗ, gắnbó với nhau trong quá trình nhận thức của HS
NL GQVĐ và NL học tập phần Địa lí tự nhiên lớp 10 là hai bộ phận có quan hệ biệnchứng và gắn bó mật thiết với nhau Địa lí tự nhiên lớp 10 sẽ góp phần hình thành và pháttriển NL GQVĐ và ST, đồng thời việc hình thành, phát triển NL GQVĐ và ST sẽ gópphần thúc đẩy việc học tập phần Địa lí tự nhiên lớp 10 đạt hiệu quả cao
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi tiến hành quan sát sư phạm, tham khảo giáo án,
dự giờ, trao đổi ý kiến với một số GV, dùng phiếu thăm dò ý kiến (phần phụ lục) của GV
trường THPT Phan Châu Trinh của thành phố Đà Nẵng nhằm thu thập số liệu cụ thể vềthực trạng dạy – học Địa lí ở trường THPT hiện nay
Qua các số liệu điều tra tôi nhận thấy:
Hầu hết GV đều nhận thức được sự cần thiết của việc phát triển NL GQVĐ và STcho HS Tuy nhiên một số GV còn lúng túng vì chưa hiểu rõ các năng lực thành tố của NLGQVĐ và ST cũng như chưa tìm ra các biện pháp cụ thể
Một số giáo viên còn lúng túng trong việc lựa chọn phương pháp, kỹ thuật dạy học
để rèn luyện NL GQVĐ và ST cho HS
Đa số GV đánh giá NL GQVĐ và ST của HS ở mức trung bình Vì vậy, tôi lần nữakhẳng định rằng việc phát triển NL GQVĐ và ST cho HS là vấn đề rất quan trọng và cầnthiết
3 THIẾT KẾ CÔNG CỤ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ
SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC PHẦN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10
Trong giới hạn của đề tài này, tôi chỉ mới xây dựng được công cụ để phát triển NLGQVĐ và ST là các tình huống có vấn đề (CVĐ) và các bối cảnh để làm nảy sinh tìnhhuống CVĐ
3.1 Cấu trúc, nội dung phần Địa lí tự nhiên lớp 10 – THPT và các năng lực thành tố của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cần phát triển cho HS
3.1.1 Cấu trúc, nội dung phần Địa lí tự nhiên lớp 10
Trong chương trình Địa lí THPT, phần Địa lí tự nhiên lớp 10 được trình bày khá lôgic vàđầy đủ trong 4 chương
Qua phân tích cấu trúc, nội dung tôi thấy nhiều nội dung ở các bài có thể thiết kế
tình huống CVĐ để phát triển NL GQVĐ và ST cho HS Tuy nhiên ở trong phạm vi đề tài
này tôi chỉ đi sâu vào một số bài cụ thể trong chương II - Vũ Trụ và một số bài ở chương III - Cấu trúc của Trái Đất Các quyển của lớp vỏ Địa lí
3.1.2 Các NLTT của năng lực NL GQVĐ và ST cần phát triển cho HS
NL GQVĐ và ST cho HS
Trang 5Page | 5
TT
Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, dự kiến thực hiện từ sau 2018,đối với HS THPT, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo gồm các năng lực thành tố vớicác biểu hiện như sau:
1 Phát hiện và làm rõ vấn đề Phân tích được tình huống trong học tập, trong
cuộc sống; phát hiện và nêu được tình huống cóvấn đề trong học tập, trong cuộc sống
2 Đề xuất, lựa chọn giải pháp Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến
vấn đề; đề xuất và phân tích được một số giải phápgiải quyết vấn đề; lựa chọn được giải pháp phùhợp nhất
3 Thực hiện và đánh giá giải
pháp giải quyết vấn đề
Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề;suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấnđề để điều chỉnh và vận dụng trong bối cảnh mới
4 Tư duy độc lập Đặt được nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng
chấp nhận thông tin một chiều; không thành kiếnkhi xem xét, đánh giá vấn đề; quan tâm tới các lậpluận và minh chứng thuyết phục; sẵn sàng xemxét, đánh giá lại vấn đề
5 Nhận ra ý tưởng mới Xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức
tạp từ các nguồn thông tin khác nhau; phân tíchcác nguồn thông tin độc lập để thấy được khuynhhướng và độ tin cậy của ý tưởng mới
6 Hình thành và triển khai ý
tưởng mới
Nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộcsống; suy nghĩ không theo lối mòn; tạo ra yếu tốmới dựa trên những ý tưởng khác nhau; hình thành
và kết nối các ý tưởng; nghiên cứu để thay đổi giảipháp trước sự thay đổi của bối cảnh; đánh giá rủi
ro và có dự phòng
Trang 6Page | 6
3.2 Hệ thống tình huống có vấn đề để phát triển năng lực GQVĐ và ST
3.2.1 Quy trình thiết kế tình huống có vấn đề
Qua nghiên cứu, tham khảo của một số tác giả kết hợp thực tiễn dạy học của bảnthân, tôi đề xuất qui trình thiết kế tình huống CVĐ để phát triển NLGQVĐ và ST như sau:
Sơ đồ 1 Qui trình thiết kế tình huống CVĐ để rèn luyện, phát triển NLGQVĐ và ST
cho HS.
* Ví dụ minh họa quy trình xây dựng tình huống có vấn đề
Giả sử dựa vào đơn vị kiến thức: Ngày, đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độtôi tiếnhành xây dựng tình huống CVĐ với các bước như sau:
Bước 1: Ở mục III.1 Ngày, đêm dài ngắn theo mùa (Tr 24 – Địa lí 10), có thể xây dựng
tình huống CVĐ
Bước 2: Chuyển nội dung kiến thức đó thành câu hỏi sau đây:
Ở Việt Nam có hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa không? Vì sao?
Bước 3: Tạo bối cảnh cho tình huống để hình thành tình huống có vấn đề.
Tình huống 1 (Dành cho HS khá, giỏi)
Nhân dân ta có câu ca dao sau:
Chuyển đơn vị nội dung kiến thức thành các câu hỏi nêu vấn đề
Chuyển đổi câu hỏi nêu vấn đề thành tình huống bằng cách bổ sung thông tin để
tạo bối cảnh cho tình huống
Phân tích nội dung, lựa chọn đơn vị kiến thức để xây dựng tình huống
hhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhh
hhhhhhhhhhhhhhhuốngaaaahuốnghuốnghuhuống
Điều chỉnh tăng, giảm lượng thông tin có trong tình huống đã thiết kế để thay
đổi độ khó/dễ của tình huống phù hợp với năng lực nhận thức của đối tượng
Đánh giá chất lượng của tình huống bằng phương pháp thực nghiệm
trên các đối tượng phù hợp
Trang 7Page | 7
“Đêm tháng năm, chưa nằm đã sángNgày tháng mười, chưa cười đã tối”
Câu ca dao đề cập đến hiện tượng địa lí gì, em hãy giải thích câu ca dao trên?
Câu ca dao trên có đúng với mọi nơi trên Trái Đất không? Vì sao?
Bước 4: Làm thay đổi độ khó/dễ của tình huống có vấn đề
Tùy vào NL của đối tượng mà chúng ta có thể thay đổi độ khó/dễ của VĐ để phùhợp với đặc điểm tâm sinh lí của HS Có như vậy thì VĐ mới trở thành tình huống CVĐđối với chủ thể HS
Cũng từ VĐ “thô” nói trên để giảm độ khó của tình huống trên, phù hợp với HStrung bình thì ta có thể thay đổi cách hỏi và giảm bớt lượng câu hỏi cho học sinh như sau:
Tình huống 2 (Dành cho HS trung bình)
Nhân dân ta có câu ca dao sau:
“Đêm tháng năm, chưa nằm đã sángNgày tháng mười, chưa cười đã tối”
Giải thích hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa được đề cập ở trong câu ca dao trên?
Bước 5: Sau khi đã xây dựng được tình huống, GV có thể tiến hành đánh giá chất lượng
của tình huống bằng phương pháp chuyên gia hoặc bằng cách tiến hành kiểm tra trên cácđối tượng HS tương đồng
3.2.2 Hệ thống tình huống có vấn đề để phát triển năng lực GQVĐ và ST cho HS trong dạy học phần Địa lí tự nhiên lớp 10
Trên cơ sở phân tích nội dung kiến thức phần Địa lí tự nhiên lớp 10 - THPT và đặcđiểm tâm sinh lí của HS lớp 10, tôi đã tiến hành vận dụng quy trình xây dựng tình huống vàxây dựng hệ thống các tình huống để sử dụng vào quá trình phát triển NL GQVĐ và ST cho
HS và ĐG sự phát triển NL GQVĐ ở mỗi cá nhân HS
Mặc dù, hệ thống các tình huống mà tôi xây dựng đã được sự góp ý của một số đồng nghiệp và đã dùng thử nghiệm để đánh giá tính phù hợp với đối tượng HS lớp 10 THPT nhưng so với sự vận động và phát triển không ngừng trong tư duy của các thế hệ HS thì những tình huống này chỉ phù hợp với những đối tượng HS nhất định Trong tương lai, những tình huống này phải tiếp tục được điều chỉnh, thay đổi độ khó, độ hấp dẫn để phù hợp với xu hướng phát triển nhận thức và đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HS.
Hệ thống 17 tình huống có vấn đề phát tiển năng lực và sáng tạo cho HS trong dạy học phần Địa lí tự nhiên 10 được đặt trong phần phụ lục.
4 THIẾT KẾ QUY TRÌNH RÈN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC PHẦN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10
Trang 8Page | 8
Để phát triển NL GQVĐ và ST, HS cần được liên tục đặt trong các tình huốngCVĐ, HS phải thực hiện việc giải quyết các tình huống đó một cách chủ động, sángtạo
Trong quá trình dạy học sử dụng công cụ là tình huống CVĐ, HS sẽ từng bước đượcrèn luyện từng NLTT của NL GQVĐ và ST Quá trình rèn luyện được lặp đi lặp lại nhiềulần thông qua các tình huống CVĐ ở mỗi bài học, do đó NL GQVĐ và ST của HS sẽ đượchình thành và phát triển một cách vững chắc theo thời gian Rèn luyện NL GQVĐ và STchính là việc thực hiện nhiều lần các thao tác hay năng lực thành tố của NL GQVĐ Hay nóicách khác là rèn luyện các thao tác, phương pháp GQVĐ cho HS Khi HS thông thạo cáchGQVĐ, các em sẽ vận dụng để giải quyết các VĐ gặp phải trong hoạt động học tập và trongthực tiễn cuộc sống
4.1 Nguyên tắc xây dựng quy trình rèn luyện, phát triển NL GQVĐ và ST
Theo tôi, khi xây dựng quy trình phát triển NL GQVĐ và ST cần phải tuân thủ đầy
đủ các nguyên tắc sau:
1) Quy trình rèn luyện NL GQVĐ và ST được xây dựng dựa trên cơ sở bám sát cấu
trúc của NL GQVĐ và ST (gồm 6 NL thành tố như trình bày ở trên)
2) Rèn luyện và phát triển các NLTT của NL GQVĐ và ST phải gắn với nhiệm vụdạy học, trong đó vừa rèn luyện NL GQVĐ vừa hình thành kiến thức mới cho HS
3) Các bước rèn luyện các NLTT của NL GQVĐ và ST phải gắn liền với việc tiếnhành các thao tác để thực hiện các NL nhằm giải quyết các tình huống CVĐ mà hoạt độngdạy học đặt ra
NL GQVĐ và ST có 6 NLTT tương ứng với các thao tác GQVĐ Vì vậy, để rènluyện các NLTT và phát triển NL GQVĐ và ST thì GV phải chú ý hình thành và phát triểntừng thao tác của các NLTT của NL này Xét về mặt logic, rèn luyện NLTT sẽ góp phần dẫntới sự thay đổi về lượng Sự thay đổi, tích lũy về lượng sẽ dẫn tới sự biến đổi về chất, làmphát triển NL của HS
4) Quá trình rèn luyện các NLTT của NL GQVĐ phải trải qua các cấp độ khácnhau Các cấp độ này thể hiện ở việc tăng/giảm vai trò của GV và HS trong mỗi bướcGQVĐ Ở cấp độ thấp nhất là GV đưa ra VĐ, GV và HS tiến hành các thao tác để phát hiệnVĐ; GV và HS đưa ra giả thuyết; GV và HS đưa ra giải pháp GQVĐ và tiến hành việcGQVĐ; GV và HS tiến hành ĐG việc GQVĐ và tự điều chỉnh Ở cấp độ cao nhất , GV đưa
ra bối cảnh để HS phát sinh ra VĐ; HS chủ động phát hiện VĐ; HS đưa ra giả thuyết; HS đưa
ra giải pháp và tiến hành GQVĐ; HS ĐG giải pháp GQVĐ và rút ra kết luận
Cấp độ thấp nhất chính là giai đoạn làm mẫu của GV để HS bắt chước và tiến hànhtập dượt, rèn luyện dưới sự hướng dẫn của GV Ở các cấp độ từ thấp đến cao chính là giaiđoạn HS tiến hành rèn luyện các NLTT của NL GQVĐ thông qua việc giải quyết các tìnhhuống CVĐ trong các hoạt động học tập, dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV
Học sinh vận dụng quy trình GQVĐ để tiến hành giải quyết các tình huống CVĐ.Thông qua GQVĐ sẽ thúc đẩy sự phát triển NL GQVĐ và ST của cá nhân mỗi HS
Trang 9Page | 9
5) Rèn luyện NL GQVĐ và ST phải gắn liền với quá trình ĐG, tự ĐG, ĐG lẫn nhauvề sự phát triển NL GQVĐ ở mỗi HS
Trong quá trình rèn luyện từng NLTT, GV cần phải liên tục theo dõi, KT để ĐG cấp
độ đạt được ở mỗi NLTT trên từng đối tượng HS, từ đó có biện pháp hỗ trợ, điều chỉnh,giúp đỡ HS khắc phục những hạn chế để hình thành được NL mà nhiệm vụ học tập đặt ra.Việc ĐG được tiến hành trên cơ sở sự theo dõi của GV và tự ĐG của mỗi HS để các em tự
KT đối chiếu với các tiêu chí cần đạt, từ đó tự ĐG cấp độ đạt được của từng NLTT trong
NL GQVĐ Khi HS tự ĐG được cấp độ của NL, các em sẽ biết cách đề ra phương pháp vàbiện pháp để tiến hành rèn luyện những NLTT còn yếu, từ đó hoàn thiện và phát triển NLGQVĐ và ST của bản thân
4.2 Xây dựng quy trình rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Xuất phát từ những nguyên tắc nói trên, tôi đưa ra quy trình rèn luyện NL GQVĐ vàsáng tạo chung trong dạy học Địa lí ở trường THPT
Việc rèn luyện NL GQVĐ và sáng tạo được lặp đi lặp lại qua các bài học thông quacông cụ là các tình huống CVĐ Ở mỗi tình huống, HS được rèn luyện các NLTT của NLGQVĐ và sáng tạo thông qua 4 bước sau đây:
Sơ đồ 2 Quy trình rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
4.3 Thực hiện công tác rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
4.3.1 Giai đoạn chuẩn bị cho công tác rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Bước chuẩn bị 1: Lập kế hoạch rèn luyện NL GQVĐ và ST
Tìm hiểu đối tượng HS, thiết kế công cụ phù hợp, lập kế hoạch phù hợp với đốitượng HS
Bước chuẩn bị 2: Tập huấn công tác rèn luyện NL GQVĐ và ST cho HS.
Bước 1: Phát sinh vấn đề/ tiếp cận vấn đề
Bước 4: Đánh giá mức độ đạt được về NL GQVĐ và ST để có
biện pháp rèn luyện nâng cao
Bước 2: HS tự lực làm việc
Bước 3: Tổ chức thảo luận để rèn luyện 6 NL thành tố của
NL GQVĐ và sáng tạo
Trang 10Page | 10
Ở bước này, GV nêu khái niệm về NL GQVĐ và ST; các NLTT của NL GQVĐ và
ST, sau đó GV tổ chức, hướng dẫn HS giải quyết một VĐ mẫu để HS hiểu rõ các bước khitiến hành GQVĐ Học sinh tiến hành thảo luận, đề xuất các ý kiến (nếu có) Giáo viên tiếpthu các ý kiến đề xuất của HS, tiến hành giải đáp những thắc mắc (nếu có) của HS vàthống nhất với HS về các bước khi tiến hành giải quyết một VĐ Đi đến thống nhất về quytrình GQVĐ
4.3.2 Ví dụ minh họa quy trình rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Bước 1: Phát sinh vấn đề/ tiếp cận vấn đề
GV đưa ra tình huống sử dụng dạy, củng cố, kiểm tra đánh giá phần các mùa trong
Câu 1: Nội dung của tình huống này liên quan đến kiến thức nào?
Câu 2: Hãy chuyển nội dung của tình huống trên thành một câu hỏi nêu VĐ
Câu 3: Lời khuyên dành cho ông Nam có đúng không?
Câu 4: Hãy chứng minh cho giả thuyết của mình.
Câu 5: Từ kết quả của tình huống này này cho phép rút ra kết luận gì?
Bước 3: Tổ chức thảo luận để rèn luyện 6 NL thành tố của NL GQVĐ và ST
Sau khi thảo luận, GV hướng dẫn HS thống nhất các nhiệm vụ cần giải quyết
Câu 1: Nội dung của tình huống này liên quan đến kiến thức nào?
HS sẽ suy nghĩ và xác định được kiến thức liên quan là: Kiến thức cơ bản về các mùa trong năm
Câu 2: Hãy chuyển nội dung của tình huống thành một câu hỏi nêu VĐ
Thời gian phân chia mùa ở Ôx-trây-li-a có giống với Việt Nam không? Vì sao?
Đáp án:
Tại thời điểm tháng 6, ở bán cầu Bắc đang là mùa hè thì ở bán cầu Nam đang là mùa đông do thời gian chiếu sáng ít hơn và góc nhập xạ nhỏ hơn bán cầu Bắc, do Ôx-trây-li-a nằm ở bán cầu Nam nên lúc này đang là mùa Đông
Câu 3: Lời khuyên dành cho ông Nam có đúng không?
* Kết luận: Lời khuyên trên là sai
Câu 4: Hãy chứng minh cho giả thuyết của mình.
Trang 11Page | 11
Ở câu hỏi này, HS phải sử dụng KN tư duy phản biện để chứng minh cho quan điểm của mình Những HS khác có thể phản biện lại quan điểm của bạn.
Câu 5: Rút ra kết luận về hiện tượng mùa trên Trái Đất?
Hiện tượng mùa ở hai bán cầu trái ngược nhau
Bước 4: Đánh giá mức độ đạt được về NL GQVĐ và ST để có biện pháp rèn luyện nâng cao
GV đánh giá mức độ đạt được về NL GQVĐ và ST của HS (theo các tiêu chí ở bảng 3) Sau khi HS đã thành thạo có thể hướng dẫn HS tự ĐG hoặc ĐG lẫn nhau.
5 XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GQVĐ VÀ ST
Trên cơ sở phân tích cấu trúc NLGQVĐ và ST cần phát triển cho HS THPT và qui trình rèn luyện các NLTT của NL GQVĐ và ST, tôi xây dựng các tiêu chí đánh giá đối với mỗi NLTT như sau:
Bảng 3 Các tiêu chí/NL và các mức độ đánh giá việc rèn luyện
NL GQVĐ và ST (Trong đó Mức 3 > Mức 2> Mức 1) Tên tiêu chí/NL
huống trong học tập, trong cuộc
sống; không phát hiện và nêu được tình
huống có vấn đề
trong học tập, trong cuộc sống
Phân tích, phát hiện và nêu được
tình huống có vấn đề trong học tập
nhưng chưa phân tích, phát hiện và nêu được tình
huống có vấn đề
có vấn đề tronghọc tập, trongcuộc sống
2 Đề xuất, lựa chọn
giải pháp
Chưa thu thập
và làm rõ các thông tin có liên
quan đến vấn
đề , không đề xuất và phân tích được một số
một số giải pháp giải quyết vấn đề
pháp giải quyếtvấn đề; lựa chọn được giải
pháp phù hợpnhất
Trang 12vấn đề; chưa suy
ngẫm về cáchthức và tiến trìnhgiải quyết vấn đề
để điều chỉnh vàvận dụng trongbối cảnh mới
Thực hiện và đánh giá giải
pháp giải quyết
vấn đề nhưng chưa suy ngẫm về
cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề để điều chỉnh và vận dụngtrong bối cảnh mới
Thực hiện và đánh giá giải
pháp giải quyếtvấn đề; suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết
vấn đề để điềuchỉnh và vậndụng trong bốicảnh mới
4 Tư duy độc lập Không đặt được
nhiều câu hỏi có
giá trị, không quan tâm tới các
lập luận và minhchứng thuyết
phục; không sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn
đề
Đặt được ít câu hỏi có giá trị, ít quan tâm tới các
lập luận và minhchứng thuyết
phục; chưa sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn
đề
Đặt được nhiều câu hỏi có giá trị, quan tâm tới
các lập luận vàminh chứng
thuyết phục; sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn
không phân tích
các nguồn thông tin độc lập để thấy được khuynh hướng
và độ tin cậy của
ý tưởng mới
Xác định và làm
rõ thông tin, ý
tưởng mới và phức tạp từ các nguồn thông tin
khác nhau nhưng chưa phân tích
các nguồn thông tin độc lập để thấyđược khuynh hướng và độ tin cậy của ý tưởng mới
Xác định và làm
rõ thông tin, ý
tưởng mới vàphức tạp từ cácnguồn thông tin
khác nhau; phân tích các nguồn
thông tin độc lập
để thấy đượckhuynh hướng
và độ tin cậy của
cuộc sống; chưa
Nêu được ý tưởng
mới trong học tập
và cuộc sống;
nhưng chưa tạo
Nêu được nhiều
ý tưởng mớitrong học tập và
cuộc sống; tạo
Trang 13Page | 13
tạo ra yếu tố
mới dựa trên những ý tưởng khác nhau; hình thành và kết nối các ý tưởng
ra yếu tố mới dựa
trên những ý tưởng khác nhau;
hình thành và kết nối các ý tưởng
6 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
6.1 Mục đích thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành để kiểm nghiệm tính khả thi và tính hiệu quảcủa quy trình rèn luyện NL GQVĐ và ST cho HS trong quá trình học phần Địa lí tự nhiên –lớp 10 ở trường THPT
6.2 Nội dung thực nghiệm
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi cùng đồng nghiệp ở trường THPT Phan Châu Trinh thực nghiệm đã sử dụng các bài tập tình huống đã thiết kế để tiến hành giảng dạy một số bài lí thuyết thuộc phần Địa lí tự nhiên, Địa lí 10 - THPT (Giáo án thực nghiệm ở phần phụ lục)
Bảng 4 Các bài dạy thực nghiệm trong phần Địa lí tự nhiên
Bài 6 Hệ quả chuyển động xung quanh Mặt Trời
Nhằm thoả mãn yêu cầu của TN sư phạm, tôi tiến hành tìm hiểu chất lượng học tập
bộ môn Địa lí của các lớp 10 trong trường.Tôi chọn 6 lớp 10 do các GV có năng lực chuyên môn tốt giảng dạy Các lớp sĩ số gần bằng nhau, có trình độ và chất lượng học tập tương đương nhau Quá trình thực nghiệm được tiến hành trong học kì 1, năm học 2021- 2022) Trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi chỉ trình bày kết quả thực nghiệm năm học
2021 – 2022.
Trang 14Page | 14
Trong quá trình TN, tôi kết hợp với các GV trong tổ bộ môn ở trường THPT Phan Châu Trinh thảo luận thống nhất nội dung, phương pháp giảng dạy, KTĐG
6.3.2 Bố trí thực nghiệm
Ở đây tôi tiến hành thực nghiệm theo mục tiêu (không có lớp đối chứng), tiến hành
trên 6 lớp với số lượng 244 HS, gồm:
Bảng 5 Thực nghiệm tại các lớp 10- THPT Phan Châu Trinh
- Trước thực nghiệm (sau bài 5:Vũ Trụ Hệ Mặt Trời và Trái Đất), tôi cho học sinh
làm 1 bài kiểm tra với các câu hỏi cần NL GQVĐ và ST
- Sau thực nghiệm (sau khi dạy các bài: Bài 6, bài 11, bài 12, bài13 ), tôi tiến hành
4 bài kiểm tra nhằm kiểm tra các tiêu chí của từng NLTT qua dạy học phần Địa lí tự nhiên
lớp 10 (đề ở phần phụ lục)
- Ở các bài kiểm tra tôi không chấm điểm mà chủ yếu xem xét khả năng phát triển 6NLTT của HS đạt đến mức độ nào bằng cách đối chiếu giữa bài làm của học sinh với cáctiêu chí đề ra ở mỗi NLTT
- Các đề kiểm tra ở các lớp, được thực hiện cùng thời điểm, cùng đề và cùng tiêuchí đánh giá
- Sau đó tiến hành đánh giá và so sánh kết quả (theo các tiêu chí ở bảng 3) bài làm
của học sinh trước và sau khi được rèn luyện về các NLTT
6.4 Kết quả thực nghiệm
6.4.1 Phân tích định lượng các bài kiểm tra trong thực nghiệm
Sau khi kiểm tra, tiến hành đối chiếu kết quả bài làm của HS với các tiêu chí đã đề
ra So sánh với kết quả kiểm tra trước thực nghiệm, kết quả thu được theo các bảng sau
Bảng 6 Bảng tổng hợp các mức độ rèn luyện của từng tiêu chí của NL
Trang 15Bảng 8 Bảng tổng hợp các mức độ rèn luyện của từng tiêu chí của NL
thực hiện và đánh giá giải pháp GQVĐ
Trang 17Bảng 11 Bảng tổng hợp các mức độ rèn luyện của từng tiêu chí của NL
hình thành và triển khai ý tưởng mới
Qua bảng các bảng 6 – 11 cho thấy: Giai đoạn trước thực nghiệm, đối với tiêu chí 1
và 2 số HS đạt mức độ 2 khá cao (17,8 – 20,8%) nhưng đến tiêu chí 3,4 ,5,6 thì số HS đạtđược mức độ này lại rất thấp (1,8% - 10,1%), đối với mức độ 3 thì cả 6 tiêu chí có rất ít
HS đạt được (0% - 11%), chứng tỏ HS có kiến thức nhưng chưa biết vận dụng và lập luận
để tìm ra vấn đề Sau khi được rèn luyện về NLGQVĐ và ST, tôi thấy ở cả 6 tiêu chí, mức
độ 1 giảm đi rõ rệt , còn mức độ 2 và mức độ 3 tăng lên một cách đáng kể Điều này chứng
tỏ việc sử dụng các tình huống CVĐ và qui trình rèn luyện như đề tài đã đề xuất có tácdụng tốt trong việc rèn luyện và phát triển NLGQVĐ và ST cho HS
Trang 18Page | 18
Không khí lớp học sôi nổi trước các tình huống nêu ra Đa số học sinh được lôi cuốn vào nội dung bài học, các em tranh luận rất sôi nổi, hứng thú, chủ động tìm ra kiến thức mới Đồng thời các em còn lấy lại được kiến thức cơ bản, sửa chữa những sai lầm do hiểu chưa cặn kẽ kiến thức
Các tình huống đã kích thích được tính tích cực suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của học sinh
Các tình huống còn gắn liền với thực tiễn, hoặc được thiết kế dưới dạng tranh luận của hai người bạn, nên các em nhớ nội dung bài học được lâu hơn Điều đó được thể hiện
ở bài kiểm tra thực nghiệm số 5, mặc dù sau một thời gian dài mới làm bài kiểm tra nhưng các em vẫn đạt mức độ 3 với tỉ lệ cao
Năng lực giải quyết vấn đề của em ngày càng tiến bộ qua các bài kiểm tra
* Về hiệu quả của qui trình rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Ở giai đoạn trước thực nghiệm, HS có kiến thức nhưng chưa biết sử dụng phù hợp,
chưa biết rút ra tiền đề cần thiết từ các dữ kiện của câu hỏi hoặc từ lượng kiến thức mà mình đã có HS còn lúng túng trong việc sắp xếp thông tin cũng như thiết lập mối quan hệ về mặt nội dung giữa các tiền đề một cách khoa học, chặt chẽ
Trong quá trình thực nghiệm, HS rất hăng hái tham gia thảo luận giữa các nhóm,
giữa các cá nhân để rút ra được phán đoán mới xác thực Càng về sau của quá trình thực nghiệm, khả năng lập luận của các em càng tốt, sự thích ứng và mức độ tự lực của các em càng cao Các em có cơ hội bộc lộ và phát huy được thế mạnh của bản thân
Ở giai đoạn sau thực nghiệm, bên cạnh cải thiện được năng lực giải quyết vấn đề và
sáng tạo, HS còn phát triển được các kĩ năng nhận thức khác như phân tích – tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, đặc biệt là phát triển được kĩ năng tự học Các em biết cách lập luận, trình bày vấn đề lôgic hơn, ngắn gọn hơn nhưng đầy đủ Các em đã biết cách sắp xếp thông tin trong các phán đoán mới lôgic, đầy đủ Đặc biệt, trước một nội dung kiến thức
cơ bản các em có khả năng phán đoán các tình huống ra đề có thể sử dụng trong bài kiểm tra, bài thi
Qua đó cũng chứng tỏ việc sử dụng tình huống CVĐ để rèn luyện NL GQVĐ và ST theo qui trình và đánh giá hiệu quả của việc rèn luyện theo các tiêu chí là một trong những biện pháp tốt, có tính khả thi Vì vậy, nếu chúng ta xây dựng được hệ thống tình huống CVĐ phù hợp, có phương pháp sử dụng hệ thống tình huống đó một cách linh hoạt
sẽ mang lại hiệu quả cao trong dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Địa lí ở các trường THPT.
Trang 191.2 Đề xuất được qui trình thiết kế, qui trình sử dụng tình huống CVĐ để rèn
luyện và phát triển NLGQVĐ và ST cho HS (Sơ đồ 1 và 2)
1.3 Xây dựng được các tiêu chí đánh giá việc rèn luyện 6 NLTT của NLGQVĐ và
sáng tạo (3 mức độ cho mỗi tiêu chí ở mỗi NLTT) cho HS (Bảng 3) Đây là một hướng đi
mới góp phần tiếp cận xây dựng chương trình, sách giáo khoa theo hướng tiếp cận nănglực – một trong những nội dung quan trọng của chiến lược đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục sau 2018
1.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Phan Châu Trinh, bước đầu chứng tỏ các tình huống CVĐ đã xây dựng để rèn luyện và phát triển NL GQVĐ và ST cùng việc đánh giá quá trình rèn luyện các NLTT theo tiêu chí có hiệu quả và có tính khả thi.
2 KIẾN NGHỊ
Trên cơ sở kết quả thu được, tôi có một số kiến nghị sau:
2.1 Tiếp tục mở rộng nghiên cứu, thực nghiệm quy trình rèn luyện NL GQVĐ và
ST vào hoạt động dạy học phần Địa lí tự nhiên lớp 10 và các phần khác của chương trìnhĐịa lí THPT
2.2 Mở rộng nghiên cứu việc rèn luyện NL GQVĐ và ST cho HS bằng nhiều loạicông cụ khác nhau, ở các phần khác nhau của bộ môn Địa lí
Trang 20Page | 20
2.3 Để tình huống CVĐ có thể áp dụng đại trà trên mọi đối tượng HS (dạy đại trà hoặc bồi dưỡng học sinh giỏi), trong quá trình sử dụng GV có thể biến đổi linh hoạt mức
độ khó, dễ của tình huống bằng cách thêm, bớt các dữ kiện
Trong khuôn khổ đề tài, tôi chỉ mới xây dựng hệ thống tình huống CVĐ để rèn luyện
và phát triển 6 NLTT của NL GQVĐ và ST cho HS trong dạy học phần Địa lí tự nhiên lớp
10 đồng thời xây dựng các tiêu chí đánh giá việc rèn luyện 6 NLTT đó Trên cơ sở này có thể triển khai hướng nghiên cứu của đề tài để thiết kế và sử dụng tình huống CVĐ cùng các công cụ khác nhằm rèn luyện các NL cần thiết khác cũng như xây dựng các tiêu chí đánh giá việc rèn luyện các NL khác góp phần tiếp cận việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa theo hướng tiếp cận năng lực trong chiến lược đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục sau 2018.
Trên đây là kết quả nghiên cứu của tôi trong quá trình thực hiện đề tài Mặc dù đã rất cố gắng nhưng phần trình bày cũng như nội dung không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quí báu của Hội đồng khoa học các cấp
và các bạn đồng nghiệp!
Xin trân trọng cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 05 tháng 02 năm 2022
Phan Thị Quỳnh Bông
Trang 21Page | 21
PHẦN IV: TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Vụ giáo dục, 2014 Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong trường phổ thông môn Địa lí NXB giáo
4 Bộ giáo dục và đào tạo, 2010.Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Địa lí
10 NXB giáo dục tại Hà Nội
5 Lê Thông – Nguyễn Minh Tuệ Dạy học phát triển năng lực môn Địa lí NXB đại học sưphạm, 2018
6 Bộ giáo dục và đào tạo, 2008 Địa lí 10 NXB giáo dục tại Hà Nội
7 Bộ giáo dục và đào tạo, 2008 Địa lí 10- sách giáo viên NXB giáo dục tại Hà Nội
8 Trần Văn Tính, 2007 “Những điều kiện phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong nhà trường”, Tạp chí khoa học giáo dục, (số 19), tr 8-12
9 Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Lê, Châu An, 2005 Khơi dậy tiềm năng sáng tạo
NXB Giáo dục, Hà Nội
Trang 22Page | 22
PHẦN V: PHỤ LỤC Phụ lục 1
PHIẾU TÌM HIỂU Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN THPT
VỀ VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC CHO HỌC SINH THPT
Họ và tên :…….……….……… Nam nữ Trường THPT … ………… … Số năm công tác: … Tỉnh, thành phố:……….…….…
Xin Quý thầy (cô) vui lòng cho biết những ý kiến của mình về các VĐ dưới đây
(Ở mỗi câu hỏi, quý thầy (cô) có thể chọn 1 đến nhiều phương án trả lời).
Câu 1: Theo thầy (cô), việc rèn luyện, phát triển NL GQVĐ và sáng tạo cho HS khi dạy phần
Địa lí tự nhiên lớp 10 có cần thiết không?
Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết
Câu 2: Thầy (cô) có thường xuyên rèn luyện cho HS NL GQVĐ và sáng tạo cho HS không?
Thường xuyên Không thường xuyên Chưa tiến hành
Câu 3: Thầy (cô) thường sử dụng các phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học để rèn luyện
NL GQVĐ và sáng tạo cho HS ở mức độ nào sau đây?
Trang 23Câu 4: Trong dạy học GQVĐ cho HS hiện nay, thực tế thầy (cô) đã giải quyết ở mức độ
nào sau đây?
Giáo viên nêu vấn đề và tự GQVĐ, học HS cách GQVĐ của GV
Giáo viên nêu vấn đề, HS và GV cùng GQVĐ
Giáo viên nêu vấn đề, HS GQVĐ, GV xác định mức độ đúng đắn kết quả GQVĐ từ HS
Học sinh tự tìm kiếm vấn đề, tự GQVĐ, GV xác định mức đúng đắn của VĐ HS pháthiện và tự GQVĐ
Câu 5: Trong quá trình DH, thầy (cô) đã sử dụng công cụ nào để rèn luyện NL GQVĐ
cho HS?
Tình huống có VĐ Bài toán nhận thức Dự án học tập
Câu 6: Trong quá trình DH, thầy (cô) đã tiến hành ĐG NL GQVĐ của HS ở mức nào sau
đây?
Không thường xuyên Chưa bao giờ
Câu 7: Theo thầy (cô), để rèn luyện NL GQVĐ của HS, thì cần phải rèn luyện những KN/
Trang 24HỆ THỐNG 17 TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ SÁNG
TẠO CHO HS TRONG DẠY HỌC PHẦN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 10.
* Chương II – Vũ Trụ Hệ quả các chuyển động của Trái Đất.
Bài tập tình huống 1: (Sử dụng dạy bài mới, phần giờ trên Trên Trái Đất và đường
chuyển ngày quốc tế)
Một trận bóng đá diễn ra ở Braxin (450T), múi giờ số 21 vào lúc 15h 0’ ngày
25/5/2019 Hai bạn học sinh tranh luận, bạn Thành cho rằng ở Việt nam (1050Đ), múi giờ
số 7 chờ đúng 15h 0p ngày 25/5/2019 bật ti vi lên xem, nhưng bạn Tú nói rằng phải xem vào lúc 1h 00’, ngày 26/5/2019
Nghiên cứu tình huống trên, suy nghĩ để trả lời các câu hỏi gợi ý sau đây:
Câu 1: Nội dung của tình huống này liên quan đến kiến thức nào?
HS sẽ suy nghĩ và xác định được kiến thức liên quan là: Giờ trên Trên Trái Đất và đường chuyển ngày quốc tế
Câu 2: Hãy chuyển nội dung của tình huống thành một câu hỏi nêu VĐ
HS có thể nêu câu hỏi: Việt Nam sẽ xem bóng đá vào thời gian nào? Vì sao?
Đáp án:
- Theo cách phân chia giờ múi, mỗi múi giờ rộng 15 độ kinh tuyến
- Giờ ở múi số không được lấy làm giờ quốc tế hay giờ GMT Từ múi giờ số 1 – 12 có giờ sớm hơn giờ GMT, Từ múi giờ số 13 – 23 có muộn hơn giờ GMT
- Giờ bên đông sớm hơn giờ bên tây Vậy Việt nam sẽ có giờ sớm hơn so với Braxin
là 10 tiếng
- Việt Nam có giờ sớm hơn Braxin là 10 tiếng Vậy khi Braxin là 15h 0’ ngày
25/5/2019 thì Việt nam 15h 0p ngày 25/5/2019
* Kết luận: Tú đúng, Thành sai
Câu 3: Từ kết quả này cho phép rút ra kết luận gì?
Trang 25Page | 25
Đáp án: Mỗi múi giờ rộng 15 độ kinh tuyến Các địa phương nằm trong cùng một
múi sẽ thống nhất một giờ, Tăng thêm 15 độ kinh tuyến sẽ cộng, trừ thêm một giờ phụ thuộc vào địa điểm đó nằm ở bên đông hay bên tây so với địa điểm đã cho
Bài tập tình huống 2: (Dùng để đưa vào phần tìm tòi và mở rộng khi dạy bài Vũ Trụ Hệ
Mặt Trời và Trái Đất….)
Bạn An cho rằng ở Việt Nam vào thời điểm 18h ngày 08 – 03 thì các địa điểm khác trên Trái Đất có cùng ngày 08- 3 nhưng có giờ khác nhau
Nghiên cứu tình huống trên, suy nghĩ để trả lời các câu hỏi gợi ý sau đây:
Câu 1: Nội dung của tình huống này liên quan đến kiến thức nào?
HS sẽ suy nghĩ và xác định được kiến thức liên quan là: Giờ trên Trên Trái Đất và đường chuyển ngày quốc tế
Câu 2: Hãy chuyển nội dung của tình huống thành một câu hỏi nêu VĐ
HS có thể nêu câu hỏi: Ở Việt nam ( múi giời số 7) vào giờ nào trong 08 – 3 thì các địa điểm khác trên Trái Đất có cùng ngày 08- 3 nhưng có giờ khác nhau Giải thích tại sao?
Đáp án:
- Múi giờ số 12 có giờ sớm nhất, Còn múi giờ số 13 có giờ trễ nhất Vậy ở Việt Nam vào thời điểm 18h ngày 08 – 03 thì các địa điểm khác trên Trái Đất có cùng ngày 08-
3 nhưng có giờ khác nhau
- Vì Việt Nam múi giờ số 7, múi giờ số 12 có ngày sớm nhất Vậy lúc đó múi giờ số
12 là 18 + 5 = 23 giờ, ngày 08 – 03 Còn múi giờ số 13 có ngày trễ nhất lúc đó là 18 – 18
= 0 giờ ngày 08 – 03
* Kết luận: Vậy ở Việt Nam vào thời điểm 18h ngày 08 – 03 thì các địa điểm khác trên Trái Đất có cùng ngày 08- 3 nhưng có giờ khác nhau
Câu 3: Ở Việt Nam vào thời điểm 22h ngày 08 – 03 thì các địa điểm khác trên Trái Đất
có cùng ngày 08- 3 nhưng có giờ khác nhau không? Vì sao?
Đáp án:
- Múi giờ số 12 có giờ sớm nhất, Còn múi giờ số 13 có giờ trễ nhất Vậy ở Việt Nam vào thời điểm 22h ngày 08 – 03 thì các địa điểm khác trên Trái Đất không cùng ngày08- 3 nhưng có giờ khác nhau
- Vì Việt Nam múi giờ số 7, múi giờ số 12 có ngày sớm nhất Vậy lúc đó múi giờ số
12 là 22+ 5 = 27 giờ (3 giờ) ngày 09 – 03 Còn múi giờ số 13 có ngày trễ nhất lúc đó là 22– 18 = 4 giờ ngày 08 – 03
* Kết luận: Vậy ở Việt Nam vào thời điểm 22h ngày 08 – 03 thì các địa điểm khác trên Trái Đất không cùng ngày 08- 3 nhưng có giờ khác nhau
Câu 4: Nêu ý nghĩa của việc phân chia giờ múi?
Trang 26Page | 26
Đáp án: Để thuận tiện cho việc tính giờ giao dịch trên toàn thế giới, vì các hoạt
động của người dân ở các nơi khác nhau trên thế giới sẽ được thống nhất về mặt thời gian
Bài tập tình huống 3: (Sử dụng để dạy bài mới, củng cố hay ôn tập về chuyển động biểu
kiến hàng năm của Mặt Trời)
Hai bạn tranh cãi nhau:
Bạn Lan nói rằng trên lãnh thổ Việt Nam vào mùa hè lúc giữa trưa bất kỳ ngày nào tại địa điểm người quan sát cũng có hiện tượng mặt trời lên thiên đỉnh
Bạn Thu nói rằng: Tất cả các ngày trong năm ở Việt nam đều có hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh Do Việt Nam nằm trong nội chí tuyến
Nghiên cứu tình huống trên, suy nghĩ để trả lời các câu hỏi gợi ý sau đây:
Câu 1: Nội dung của tình huống này liên quan đến kiến thức nào?
HS sẽ suy nghĩ và xác định được kiến thức liên quan là: Kiến thức cơ bản về
chuyển động biểu kiến hàng năm của Mặt Trời
Câu 2: Hãy chuyển nội dung của tình huống thành một câu hỏi nêu VĐ
HS có thể nêu câu hỏi: Ở Việt nam quan sát hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh vào thời gian nào? Vì sao?
Đáp án:
- Khái niệm Mặt Trời lên thiên đỉnh
- Phạm vi: xảy ra trong vùng nội chí tuyến
- Việt Nam nằm giữa xích đạo và chí tuyến bắc vì vậy bất kì nơi nào trên đất nước
ta trong một năm cũng thấy mặt trời lên thiên đỉnh hai lần vào mùa hạ từ ngày 23,24 tháng 4 đến 20,21 tháng 8- là hai ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh tại địa điểm đó Các địa
điểm có vĩ độ khác nhau sẽ có ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh khác nhau Đây là thời gian Mặt Trời chuyển động biểu kiến từ Cà Mau lên chí tuyến bắc
- Từ ngày 20, 21 tháng 8 đến 23, 24 tháng 4 là thời kì Mặt Trời chuyển động biểu kiến từ Cà Mau xuống chí tuyến nam nên ở Viện Nam không quan sát được hiện tượng trên
Câu 3: Ý kiến của bạn nào là đúng?
* Kết luận: Vậy ý kiến cả bạn Lan và bạn Thu đều không đúng
Bài tập tình huống 4: (Sử dụng để dạy phần các mùa trong năm)
Bạn Hà thắc mắc tại cùng một thời điểm, trên Trái Đất lại có sự khác nhau về thời tiết
và khí hậu, nơi thì nắng như thiêu đốt, nơi thì vô cùng lạnh giá, có nơi lại vô cùng mát mẻ…
Nghiên cứu tình huống trên, suy nghĩ để trả lời các câu hỏi gợi ý sau đây:
Câu 1: Nội dung của tình huống này liên quan đến kiến thức nào?