1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngân hàng thương mại quốc doanh việt nam và các doanh nghiệp nhà nước đ cổ phần hoá

45 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam và các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế ngân hàng
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 70,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần I Mở Đầu (1)
    • 3. Phơng pháp nghiên cứu (2)
    • 4. Kết cấu của đề tài (0)
  • PhÇn II: Néi Dung (3)
  • Chơng I. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam hiện nay (3)
    • 1. Sơ lợc về sự ra đời của việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc ở Việt (3)
      • 1.1 Doanh nghiệp nhà nớc Việt Nam (DNNN) trớc năm 1990 (3)
      • 1.2. Doanh nghiệp nhà nớc Việt Nam sau năm 1990 (3)
      • 2.1 Ưu điểm của cổ phần hoá (4)
      • 2.2 Nhợc điểm của cổ phần hoá (5)
      • 3.1. Cổ phần hóa với tăng trởng kinh tế (6)
      • 3.2. Cổ phần hoá với vấn đề dân chủ hoá đời sống kinh tế và chống tham nhòng (7)
      • 3.3. Tác động xã hội của cổ phần hoá (7)
      • 3.4. Cổ phần hoá với sự phát triển của thị trờng chứng khoán (8)
    • 4. Thực trạng về cổ phần hoá các DNNN ở nớc ta hiện nay (8)
  • Chơng II. Sự cần thiết phải cổ phần hoá hệ thống ngân hàng thơng mại quốc doanh ở nớc ta hiện nay(NHTMQD) (11)
    • 1. Sự hình thành và phát triển của hệ thống NHTMQD của Việt Nam (11)
    • 2. Sự cần thiết phải cổ phần hoá các NHTMQD (14)
      • 2.1. Tình trạng thiếu vốn của các NHTMQD hiện nay (15)
      • 2.2. Hoạt động của các NHTMQD Việt Nam vẫn cha đạt hiệu quả cao (18)
      • 2.3. Nguồn nhân lực trong các NHTMQD có trình độ cha đồng đều (20)
      • 2.4. Nhiều kết quả tích cực thu đợc từ quá trình cổ phần hoá các DNNN (21)
    • 3. Những thuận lợi và khó khăn khi cổ phần hoá các NHTMQD (22)
      • 3.1. Những thuận lợi khi cổ phần hoá (22)
        • 3.1.1. Cơ sở pháp lí cho cổ phần hoá đã đợc ban hành tơng đối đầy đủ (22)
        • 3.1.2 Các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đều làm ăn có hiệu quả nên đã tạo đợc lòng tin của nhân dân (23)
        • 3.1.4. Luật tổ chức tín dụng đã đợc sửa đổi bổ sung cho phù hợp (25)
      • 3.2. Những khó khăn trong quá trình cổ phần hoá các NHTMQD (25)
        • 3.2.1. Những khó khăn về mặt pháp Lý (26)
        • 3.2.2. Định giá NHTMQD (28)
        • 3.2.3. Nợ xấu trong các NHTMQD hiện nay (30)
        • 3.2.4. Tác động tâm lý của cổ phần hoá đối với một số đối tợng cổ phần hoá có liên quan (0)
  • Chơng III. Điều kiện để cổ phần hoá thành công NHTMQD ở Việt Nam hiện nay (33)
    • 1.1. Cổ phần hoá từng bớc vững chắc và theo lộ trình thích hợp (33)
    • 1.2. Thực hiện cổ phần hoá đồng thời và theo một đề án tổng thể (33)
    • 1.3. Giảm các yếu tố hành chính và tăng yếu tố thị trờng trong cổ phần hoá 36 2.Điều kiện về pháp lý (34)
    • 2.1. Cần xây dựng một khung pháp lý cho việc cổ phần hoá (34)
    • 2.2. Ban hành thông t hớng dẫn chi tiết Nghị định 144 (35)
    • 2.3. Tổ chức và điều hành NHTMQD sau cổ phần hoá (35)
    • 2.4. Cần phải ban hành quy chế đấu thầu cổ phiếu của NHTMQD sau cổ phần hoá (36)
    • 3. Về vấn đề tài chính trong các NHTMQD (36)
      • 3.1. Tính phức tạp trong xác định nợ phải thu (36)
      • 3.2. Việc định giá các NHTMQD (37)
      • 4.1. Chủng loại cổ phiếu (38)
      • 4.2. Tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu (39)
    • 5. Tổ chức của ngân hàng sau cổ phần hoá (40)
      • 5.1. Về mô hình quản lý (40)
      • 5.2. Về mô hình tổ chức (40)
      • 5.3. Nguồn nhân lực (41)
  • PhÇn III: KÕt luËn (0)

Nội dung

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam hiện nay

Sơ lợc về sự ra đời của việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc ở Việt

1.1 Doanh nghiệp nhà nớc Việt Nam (DNNN) trớc năm 1990 Đây là thời kì trớc khi tiến hành thí điểm việc cổ phần hoá các DNNN.

Sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở Việt Nam khởi đầu từ các xí nghiệp nhà nước được thành lập sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thông qua quá trình quốc hữu hóa Tuy nhiên, trong giai đoạn từ 1945 đến 1960, số lượng các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn hạn chế.

Trong giai đoạn từ năm 1960 đến 1986, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chủ yếu tồn tại dưới dạng xí nghiệp quốc doanh trong lĩnh vực công nghiệp, nông trường quốc doanh trong nông nghiệp và các công ty thương mại Khái niệm DNNN chưa được hình thành rõ ràng, mà chỉ có xí nghiệp công nghiệp và thương mại quốc doanh Các xí nghiệp này được coi là đơn vị sản xuất kinh doanh của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất và tích lũy xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các xí nghiệp quốc doanh rất thấp, dẫn đến tình trạng nợ nần nghiêm trọng với 187.091 tỷ đồng nợ phải thu, chiếm 35,5% giá trị tài sản doanh nghiệp, và 353.410 tỷ đồng nợ phải trả, gấp 2,3 lần vốn nhà nước cấp Hàng hóa tồn kho lên tới 45.688 tỷ đồng Mặc dù Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhiều cải cách để khắc phục tình trạng yếu kém này, nhưng hiệu quả vẫn chưa đạt được, khiến thua lỗ và lãng phí tài sản trở thành vấn đề cố hữu của các doanh nghiệp trong nước.

1.2 Doanh nghiệp nhà nớc Việt Nam sau năm 1990 Đây là giai đoạn mà Đảng và Nhà nớc thực hiện việc thí điểm cổ phần hoá các DNNN

Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995, Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, được thành lập và quản lý để thực hiện các hoạt động kinh doanh hoặc công ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao phó DNNN có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, và tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn mà doanh nghiệp quản lý.

Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thúc đẩy nhiều biện pháp nhằm cải thiện tình hình của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tạo động lực mới cho nền kinh tế Trong số đó, cổ phần hóa được coi là bước đột phá quan trọng Cơ sở pháp lý cho chương trình này được xác định bởi quyết định số 143/HĐBT ngày 10/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng, và sau đó đã được triển khai trên quy mô rộng hơn.

Ta có khái niệm về cổ phần hoá:

Cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ hình thức sở hữu một chủ sang sở hữu chung, bằng cách chuyển nhượng một phần tài sản cho những người khác Những người này sẽ trở thành cổ đông và sở hữu doanh nghiệp theo tỷ lệ tài sản mà họ nắm giữ trong doanh nghiệp cổ phần hoá.

Cổ phần hoá là một giải pháp quan trọng nhằm thay đổi cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp, cho phép sự dung hoà giữa nhiều thành phần kinh tế khác nhau Đây là một phương thức triệt để để giải quyết nguyên nhân gây ra sự yếu kém trong tổ chức, quản lý và hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề sở hữu Trong khi các giải pháp cải cách doanh nghiệp nhà nước khác chỉ tập trung vào việc tăng cường quyền tự chủ trong một số lĩnh vực cụ thể, cổ phần hoá mang lại sự thay đổi toàn diện hơn cho doanh nghiệp.

2 Ưu điểm và nhợc điểm của cổ phần hoá

2.1 Ưu điểm của cổ phần hoá

Cổ phần hóa giúp doanh nghiệp tăng vốn đầu tư bằng cách huy động từ các cổ đông mới Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định khả năng hoạt động và đạt được lợi nhuận của doanh nghiệp Khi việc vay vốn từ ngân hàng ngày càng khó khăn, phát hành cổ phiếu để thu hút vốn từ cổ đông trở thành giải pháp hiệu quả, giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp.

Cổ phần hoá không làm thay đổi cơ bản cấu trúc sở hữu của nền kinh tế, mà chỉ điều chỉnh tỷ trọng giữa các loại hình sở hữu Sự thay đổi này có thể tạo ra sự kết hợp hiệu quả hơn giữa các loại hình sở hữu trong hoạt động kinh tế Do đó, nền tảng kinh tế xã hội vẫn giữ nguyên tính chất cơ bản sau khi cổ phần hoá.

Cổ phần hóa sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việc giảm tỷ trọng sở hữu nhà nước giúp doanh nghiệp có những quyết định kinh doanh cẩn trọng hơn Khi lợi ích của doanh nghiệp gắn liền với các quyết định của họ, các chủ sở hữu sẽ tránh những sai lầm tốn kém Nhờ đó, cổ phần hóa hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện tốt hơn nhiệm vụ và vai trò của mình.

Cổ phần hóa đã dẫn đến sự hình thành nhiều công ty cổ phần với sự tham gia của sở hữu nhà nước Các công ty cổ phần đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, và sự hiện diện rộng rãi của loại hình công ty này sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế.

Cổ phần hoá doanh nghiệp chỉ giảm tỷ trọng của kinh tế nhà nước mà không loại bỏ hoàn toàn, do đó không gây ra vấn đề lớn về việc làm Điều này thể hiện tính tích cực về mặt xã hội của quá trình cổ phần hoá.

Cổ phần hoá mang lại cho người lao động cơ hội làm chủ doanh nghiệp nếu họ mong muốn Khi sở hữu cổ phần, người lao động có thể tham gia vào quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp, góp phần hình thành cơ quan quản lý và quyết định các vấn đề trọng đại Điều này không chỉ nâng cao tính chủ động của người lao động đối với doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến các vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước.

2.2 Nhợc điểm của cổ phần hoá

Cổ phần hóa, như bất kỳ hiện tượng kinh tế xã hội nào, cũng tồn tại những nhược điểm Nhược điểm lớn nhất của cổ phần hóa trong phát triển kinh tế thị trường là mâu thuẫn giữa việc hình thành nền kinh tế thị trường và quá trình cổ phần hóa Theo quan điểm của các nước phương Tây, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) không hoàn toàn xóa bỏ thành phần kinh tế nhà nước, điều này không tạo ra một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa Họ cho rằng chỉ có tư nhân hóa mới có thể hình thành nền kinh tế thị trường Việc cổ phần hóa vẫn giữ lại sự hiện diện của kinh tế nhà nước, điều này không cho phép thị trường tự quyết định các quyết định kinh tế của mình, hay nói cách khác, cổ phần hóa không tạo điều kiện cho cơ chế “Bàn tay vô hình” hoạt động Nhược điểm này đã khiến nhiều chương trình cải cách DNNN ở các nước Đông Âu tập trung vào tư nhân hóa.

3.Tác động của cổ phần hoá

3.1.Cổ phần hóa với tăng trởng kinh tế

Tốc độ và tính bền vững của tăng trưởng kinh tế ở nước ta phụ thuộc nhiều vào khu vực kinh tế nhà nước Thực tế cho thấy, các nước có nhiều thành phần kinh tế công thường có tốc độ tăng trưởng kinh tế không cao Cổ phần hóa sẽ phát huy lợi ích sở hữu, giúp các cổ đông tham gia quản lý và sử dụng hợp lý hơn các nguồn lực của doanh nghiệp.

Giảm số lượng doanh nghiệp nhà nước (DNNN) sẽ giúp giảm bớt nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước, từ đó giảm gánh nặng cho nhà nước Điều này tạo cơ hội cho các thành phần kinh tế khác phát triển, đồng thời phân phối nhiệm vụ tăng trưởng một cách hợp lý giữa các thành phần kinh tế.

Thực trạng về cổ phần hoá các DNNN ở nớc ta hiện nay

Chủ trương cổ phần hóa tại Việt Nam đã được triển khai từ những năm 1990 Đến cuối tháng 11 năm 2002, cả nước đã thực hiện quá trình cổ phần hóa.

Trong 10 tháng đầu năm 2003, 907 doanh nghiệp, chiếm 88% số doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được chuyển đổi sở hữu, đạt 86% kế hoạch đề ra Trong số 766 DNNN đang thực hiện chuyển đổi, có tới 425 doanh nghiệp đã cổ phần hóa, cho thấy cổ phần hóa đang là hình thức chuyển đổi sở hữu chủ yếu trong quá trình đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước Tình hình cổ phần hóa DNNN ở nước ta qua các giai đoạn tiếp theo sẽ làm rõ hơn về xu hướng này.

Từ năm 1992 đến tháng 6 -1998 (trớc khi có Nghị định 44/1998/NĐ-

Trong giai đoạn này, cả nước đã cổ phần hóa 30 doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trong đó có 5 doanh nghiệp theo cơ chế thí điểm và 25 doanh nghiệp theo nghị định 28/CP Các DNNN này đều có sự tiến bộ khác nhau về năng suất, chất lượng và hiệu quả Cổ phần hóa đã thu hút nhiều cổ đông, bao gồm cán bộ công nhân viên và người dân, dẫn đến tăng doanh thu, lợi nhuận nộp ngân sách và tích lũy vốn Điều này cũng giúp đảm bảo việc làm cho người lao động tốt hơn.

Giai đoạn từ khi chính phủ ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP đến ngày 31-12-1999 chứng kiến sự gia tăng đáng kể trong số lượng doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chuyển đổi thành công ty cổ phần, với 340 DNNN được cổ phần hóa Năm 1999, số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa đạt 250, gấp 8 lần so với tổng số doanh nghiệp trong 7 năm trước đó Sự chuyển đổi này đã được các bộ ngành, địa phương và tổng công ty tích cực thực hiện, mang lại những kết quả đáng khích lệ.

Từ tháng năm 2000 đến hết tháng 11-2002 , trong hai năm 2000-

Năm 2002, Việt Nam đã cổ phần hóa 523 doanh nghiệp nhà nước, nâng tổng số doanh nghiệp được cổ phần hóa lên 907 Trong năm này, có 427 doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại, trong đó 164 doanh nghiệp được cổ phần hóa, 34 doanh nghiệp được giao, 17 doanh nghiệp được bán và một số doanh nghiệp được khoán kinh doanh và cho thuê.

8 doanh nghiệp, sát nhập 83 doanh nghiệp hợp nhất 44 doanh nghiệp giải thể

27 doanh nghiệp và phá sản 2 doanh nghiệp

Năm 2003 có 766 doanh nghiệp đợc sắp xếp lại trong đó có 425 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp đợc cổ phần hoá, giao 48 doanh nghiệp bán

Trong số 20 doanh nghiệp, có 7 doanh nghiệp được khoán kinh doanh, 116 doanh nghiệp đã thực hiện sát nhập, 46 doanh nghiệp hợp nhất, 44 doanh nghiệp giải thể, và 55 doanh nghiệp được sắp xếp theo hình thức khác.

Tốc độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ngày càng nhanh chóng, với quy mô ngày càng lớn hơn Điều này thể hiện sự kiên quyết và nhất quán trong việc thực hiện chủ trương sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước của Đảng và Nhà nước ta.

Sự cần thiết phải cổ phần hoá hệ thống ngân hàng thơng mại quốc doanh ở nớc ta hiện nay(NHTMQD)

Sự hình thành và phát triển của hệ thống NHTMQD của Việt Nam

Hệ thống Ngân hàng Thương mại Quốc doanh (NHTMQD) tại Việt Nam hiện nay bao gồm 6 ngân hàng: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNN&PHNT), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (NHNT), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (NHĐT&PT), Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCT), Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long (MHB), và Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCS) Mỗi ngân hàng trong hệ thống này có thâm niên thành lập và nhiệm vụ, quyền hạn riêng biệt.

Năm 1958, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (NHĐT&PT) được thành lập với nhiệm vụ tài trợ cho các dự án đầu tư lớn của doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là đầu tư hạ tầng Đến năm 1963, Ngân hàng Ngoại thương (NHNT) ra đời để xử lý các giao dịch tài chính liên quan đến ngoại thương Cả hai ngân hàng này đều thuộc sở hữu của chính phủ và hoạt động như một đơn vị đặc thù trong hệ thống ngân hàng một cấp Vào tháng 5-1999, hai pháp lệnh về ngân hàng được ban hành, đánh dấu sự chuyển đổi sang ngân hàng hai cấp, với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng NHĐT&PT và NHNT đã được chuyển thành Ngân hàng Thương mại Quốc doanh (NHTMQD), trong khi hai NHTMQD mới là Ngân hàng Công thương và Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam được thành lập vào năm 1991, với trách nhiệm thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng đa năng và quản lý tài chính.

Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL được thành lập vào năm 1999 Quyết định 131 ban hành vào tháng 10/2002 đã đề xuất việc hình thành Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCS), chính thức đi vào hoạt động đầu năm 2002, với tiền thân là ngân hàng phục vụ người nghèo.

Ngân hàng Nhà nước và Phát triển Nông thôn (NHNN&PTNT) là ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất về vốn pháp định, với phạm vi hoạt động tương đối rộng Mỗi ngân hàng thương mại quốc doanh (NHTMQD) có nhiệm vụ và thâm niên hoạt động khác nhau.

Ngân hàng này phục vụ một lượng khách hàng lớn và có ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp cũng như các hoạt động phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn Theo báo cáo năm 2000, tổng số vốn của ngân hàng đạt 55.041 tỷ VND, với tổng nợ là 48.548 tỷ VND, trong đó nợ trung dài hạn chiếm 42% NHNN&PTNT đang mở rộng quan hệ quốc tế và hợp tác với các đối tác nước ngoài, nhận được hỗ trợ tài chính từ các tổ chức như ADB, VIBank và quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế Ngân hàng đã thực hiện các chương trình tín dụng với mục tiêu kinh tế xã hội lớn theo quy định của Chính phủ, bao gồm tín dụng chính sách cho các mục đích phi thương mại như cho vay xây nhà trên sông nước ở vùng lũ ĐBSCL và cho vay giảm thiểu tác động tiêu cực của lũ lụt và hạn hán.

Theo báo cáo năm 2000 của NHCT, tổng tài sản đạt 48.704 tỷ VND, trong khi tổng số tiền gửi là 40.745 tỷ VND Tổng dư nợ ghi nhận là 26.224 tỷ VND, với tỷ lệ vay trung dài hạn chiếm 31,6%.

Trong năm 2000, NHCT đã tăng tỷ lệ cho vay trung dài hạn từ 20% lên 25% tổng mức cho vay, chủ yếu phục vụ cho các chương trình lớn của Chính phủ và các lĩnh vực ưu tiên như dịch vụ bưu điện, viễn thông, chế biến và sản xuất vật liệu xây dựng Đồng thời, NHCT cũng đã phân cấp đầu tư và thực hiện các hoạt động tín dụng phi thương mại nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của lũ lụt, hình thành quỹ đào tạo cho sinh viên nghèo và cho vay mua lương thực Về phía NHNT, tổng tài sản tính đến cuối năm 2000 đạt 65.633 tỷ VND, trong đó vốn ngoại tệ chiếm 74,9% Tổng tiền gửi tại NHNT là 43.748 tỷ VND, với tổng mức cho vay đạt 14.421 tỷ VND, trong đó cho vay trung dài hạn chiếm 17,61% và cho vay bằng VND chiếm 57,8% NHNT chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực tài trợ thương mại.

Theo báo cáo thường niên năm 1999 của NHĐT&PT, tổng tài sản của ngân hàng đạt 39.176 tỷ VND, trong đó số tiền cho vay là 28.201 tỷ VND và tổng số tiền gửi đạt 18.379 tỷ VND Bên cạnh việc thực hiện các chức năng của một ngân hàng thương mại đa chức năng, NHĐT&PT còn có trách nhiệm hỗ trợ Chính phủ trong việc điều phối các khoản đầu tư phát triển.

Năm 1999, Chính phủ đã cấp cho ngân hàng một khoản tín dụng phát triển lên tới 8.335 tỷ VND Khoản vốn này được phân bổ cho các chương trình kinh tế lớn nhằm hỗ trợ quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, bao gồm các lĩnh vực như điện, dầu mỏ, xi măng và cao su, cũng như các chương trình phục vụ ngành chế biến nông sản như mía và hải sản.

Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (NHPT nhà ĐBSCL) không chỉ cung cấp một chuỗi sản phẩm và dịch vụ đa dạng như các ngân hàng thương mại khác, mà còn chú trọng đến việc huy động vốn qua nhiều hình thức phong phú với lãi suất linh hoạt và hấp dẫn NHPT nhà ĐBSCL hỗ trợ cho vay để xây dựng nhà ở và cơ sở hạ tầng, bao gồm cho vay trực tiếp cho hộ dân để mua hoặc xây nhà trả góp trong nhiều năm, cho vay qua các công ty xây dựng và tài chính nhà ở, cũng như hỗ trợ các công ty sản xuất vật liệu xây dựng và trang thiết bị nội thất.

Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCS) chủ yếu hoạt động nhờ vào các quỹ phúc lợi do chính phủ tài trợ, bao gồm quỹ tạo công ăn việc làm và quỹ hỗ trợ sinh viên nghèo Năm 2003, NHCS đã nhận 5 tỷ đồng từ ngân sách Chính phủ Mặc dù có bộ máy hoạt động riêng, nhưng nghiệp vụ tín dụng vẫn do các chi nhánh và cán bộ của Ngân hàng Nhà nước và Phát triển nông thôn (NHNN&PTNT) đảm nhận NHCS chỉ cho vay đối với những người thuộc diện nghèo trong xã hội, tuy nhiên, nhiều hộ nghèo không đồng tình với cách trả nợ, theo đó chỉ có lãi được thanh toán từng lần, còn gốc phải trả đủ vào thời điểm đáo hạn Họ cho rằng việc trì hoãn thanh toán phần vốn gốc cho đến khi đáo hạn là rủi ro, và thích trả theo định kỳ, mỗi lần một ít cả vốn lẫn lãi Thêm vào đó, các phí giao dịch để có được khoản vay cũng là một rào cản lớn đối với những người nghèo.

Ngân hàng Nhà nước và Phát triển Nông thôn cùng Ngân hàng Nông thôn là hai trong số các ngân hàng thương mại quốc doanh, chủ yếu cung cấp dịch vụ tín dụng cho doanh nghiệp tư nhân Điều này nhờ vào mạng lưới chi nhánh rộng lớn của họ, trải dài đến tận các làng xã.

Tính đến năm 2004, hệ thống NHTMQD đã thu hút gần 60.000 lao động, trong đó hơn 55% có trình độ đại học và trên đại học, 40% có trình độ trung học, và khoảng 2% chưa qua đào tạo Sau hơn 15 năm đổi mới, cùng với sự hình thành hệ thống ngân hàng thương mại hai cấp, NHTMQD đã đảm nhận nhiệm vụ kinh doanh tài chính chủ yếu Những cải cách quan trọng này đã tạo điều kiện cho ngành ngân hàng Việt Nam thực hiện chính sách tiền tệ, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và huy động nguồn vốn lớn cho phát triển kinh tế trong nước.

Mặc dù hệ thống NHTMQD ở Việt Nam đã đạt được một số thành công nhất định, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục Những vấn đề này thể hiện qua một số điểm cụ thể.

Năng lực tài chính của nhiều ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMQD) vẫn còn yếu và tiềm ẩn nhiều rủi ro Mặc dù khối NHTMQD chiếm khoảng 70% huy động vốn và gần 80% thị phần tín dụng, nhưng vốn tự có của họ vẫn thấp và chưa tương xứng với thị phần Mặc dù nợ quá hạn đã được cải thiện, nhưng vẫn ở mức cao và có thể ảnh hưởng đến tính an toàn trong hoạt động của các ngân hàng.

Sự cần thiết phải cổ phần hoá các NHTMQD

Hệ thống NHTMQD của nước ta đã được hình thành từ lâu và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể qua nhiều năm hoạt động Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó, vẫn còn tồn tại những hạn chế cần được khắc phục.

Quá trình cổ phần hoá các DNNN tại Việt Nam đã bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ trước, phản ánh xu thế phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế Các NHTMQD, với vai trò đặc biệt trong nền kinh tế, đang đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức Để nâng cao chất lượng hoạt động, cần có những cải cách hợp lý, giúp các ngân hàng Việt Nam theo kịp xu thế toàn cầu và đáp ứng yêu cầu của Đảng và Nhà nước Cổ phần hoá được xem là biện pháp khả thi nhất để thực hiện các mục tiêu này Hiện tại, NHNT và ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long đang trong diện thí điểm cổ phần hoá của Nhà nước, cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục quá trình này trong thời gian tới.

2.1.Tình trạng thiếu vốn của các NHTMQD hiện nay

Vốn tự có của hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh (NHTMQD) Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế, với không ngân hàng nào đạt ngưỡng 300 triệu USD, trong khi ngân hàng có vốn lớn nhất là NHNN&PTNT chỉ đạt 280 triệu USD Điều này tạo ra bất lợi về năng lực tài chính khi các ngân hàng trong nước phải cạnh tranh bình đẳng với ngân hàng nước ngoài Mặc dù đã nhận thức và nỗ lực đạt tiêu chuẩn an toàn vốn CAR theo thông lệ quốc tế, áp lực tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu vốn xã hội rất lớn đã khiến tổng tài sản tăng nhanh hơn nhiều so với vốn tự có Kết quả là chỉ số an toàn vốn chỉ đạt khoảng 50% mức tiêu chuẩn quốc tế, và nếu không có phương án tăng vốn điều lệ khả thi, chỉ tiêu này sẽ không chỉ không được cải thiện mà còn có nguy cơ giảm dần.

Từ năm 2001 đến 2003, nhà nước đã cấp bổ sung 3 đợt vốn điều lệ cho 4 NHTMQD với tổng số vốn lên tới 9.000 tỷ đồng Gần đây, Bộ Tài chính đã cấp bổ sung vốn điều lệ đợt 4 cho NHNN&PTNT với số tiền 690 tỷ đồng, trong khi hai ngân hàng khác là NHNT và NHCT vẫn chưa được cấp, mặc dù có đề nghị từ NHNN Ba ngân hàng này cần được bổ sung 1.500 tỷ đồng vốn điều lệ ngay trong năm nay Sau 4 đợt tăng vốn điều lệ, hiện có 5 ngân hàng thương mại có số vốn thuộc sở hữu nhà nước khoảng trên 15.000 tỷ đồng NHNN&PTNT có quy mô vốn lớn nhất nhưng chỉ khoảng trên 4.000 tỷ đồng, trong khi các ngân hàng khác chỉ nằm trong khoảng từ 2.000-3.000 tỷ đồng, cho thấy số vốn này rất nhỏ bé so với các ngân hàng quốc tế mà chúng ta đang phải cạnh tranh.

Mỹ hiện có khoảng 10 ngân hàng với vốn điều lệ trên 10 tỷ USD, 62 ngân hàng có vốn trên 1 tỷ USD, và 215 ngân hàng có vốn điều lệ trên 150 triệu USD Hơn nữa, hơn 50% số vốn tự có hiện nay là vốn danh nghĩa, chủ yếu hình thành từ trái phiếu đặc biệt, loại trái phiếu chỉ chuyển dần thành vốn với tỷ lệ 3% mỗi năm do cách trả lãi của Bộ Tài chính Do đó, mặc dù được cấp vốn bổ sung liên tục, tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản của hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh chỉ đạt 4%, trong khi tiêu chuẩn quốc tế là 8%.

Ngân hàng NHNT hiện có tỷ lệ an toàn vốn CAR cao nhất trong số các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMQD) tại Việt Nam, đạt khoảng 7,5% với vốn điều lệ 2.500 tỷ VND và tổng dư nợ 33.000 tỷ VND Trong khi đó, các NHTMQD khác đều có tỷ lệ CAR không vượt quá 5% Ngân hàng NN&PTNT có vốn điều lệ 4.400 tỷ VND và tổng dư nợ 95.000 tỷ VND, chỉ đạt CAR 5% Ngân hàng ĐT&PT có vốn điều lệ 2.700 tỷ VND và tổng tài sản 82.000 tỷ VND, với tỷ lệ CAR là 3,3% Cuối cùng, NHCT Việt Nam có vốn điều lệ 2.500 tỷ VND và tổng dư nợ 70.000 tỷ VND, tỷ lệ CAR đạt 3,4%.

Bảng I dới đây cho ta biết một số chỉ số về vốn của NHTMQD Việt Nam trong các năm từ 1999 đến năm2003

Tổng tài sản có (tỷ VND) 179.62

470.34 5 Tốc độ tăng tổng tài sản có( %) 25,55 33,33 24,95 26,59 24,11

Tổng tài sản có điều chỉnh theo rủi ro ( tû VND)

Vèn tù cã (tû VND) 7.473 6.673 7.117 12.010 17.018

Tỷ lệ tăng vốn tự có ( %) 16 -11 7 69 42

Tổng số vốn tự có( tỷ VND) 4.023 8.660 12.042 12.244 13.082

Nguồn:Ngân hàng nhà nớc Việt Nam

Bảng II : Dự báo về tình trạng thiếu vốn của NHTMQD Việt Nam đến 2010

Tổng tài sản có(tỷ

Tốc độ tài sản có (%) 2,5 2,5 2,5 2,5 2,5 2,5 2,5

Tổng tài sản có điều chỉnh trong rủi ro (Tỷ

Tỷ lệ tăng vốn tự có(%) 6 6 6 6 6 6 6

Tổng vốn tự có tối thiểu

Tổng vốn tự có bị thiếu

Cuối năm 2003, các NHTMQD sẽ thiếu khoảng 13.082 tỷ đồng Nếu tốc độ tăng tổng tài sản đạt 25% từ 2004 đến 2010, trong khi nguồn vốn tự có chỉ tăng 6%, thì đến cuối năm 2010, hệ số CAR sẽ chỉ còn 1,4% Để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, các NHTMQD cần bổ sung khoảng 117.940 tỷ đồng vốn tự có Nếu không có giải pháp, các NHTMQD sẽ rơi vào tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng, ảnh hưởng đến an toàn hoạt động và phát triển bền vững Nhà nước sẽ phải trích một phần lớn ngân sách để hỗ trợ các ngân hàng, điều này có thể ảnh hưởng đến tài trợ cho các lĩnh vực khác Do đó, cổ phần hóa được xem là giải pháp hiệu quả để bù đắp vốn cho các NHTMQD, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và huy động vốn từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.

2.2 Hoạt động của các NHTMQD Việt Nam vẫn cha đạt hiệu quả cao

Tính cạnh tranh của các ngân hàng thương mại quốc doanh (NHTMQD) Việt Nam còn thấp do sự độc quyền và sự chỉ huy trực tiếp của chính phủ Sự bảo hộ làm giảm tính bình đẳng và hiệu quả trong kinh doanh, khiến NHTMQD khó tự định đoạt Việc tái cấp vốn từ nhà nước không kích thích kinh doanh do lợi nhuận chủ yếu do nhà nước quyết định Cơ chế phê duyệt lương hàng năm của các Bộ đối với doanh nghiệp nhà nước cũng dẫn đến tình trạng phân chia không công bằng Hơn nữa, công nghệ ngân hàng hiện tại còn lạc hậu so với khu vực, cần đầu tư thêm để nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động Khi cổ đông không chỉ là một chủ sở hữu duy nhất, vấn đề quản trị sẽ được giải quyết minh bạch hơn.

Khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh ở Việt Nam được đánh giá qua tỷ lệ thu nhập sau thuế trên tài sản (ROA) và tỷ lệ thu nhập sau thuế trên vốn tự có (ROE) Hiện tại, cả hai chỉ số này đều rất thấp so với tiêu chuẩn quốc tế Theo thông lệ quốc tế, một ngân hàng tốt thường có ROA trung bình là 1% và ROE là 15%.

Khả năng sinh lời của các ngân hàng Việt Nam hiện nay rất thấp so với các ngân hàng khác Từ năm 2000 đến 2003, chỉ số ROA của các NHTMQD Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,38% Đồng thời, chỉ số ROE cũng có xu hướng giảm liên tục trong giai đoạn 2001-2003, từ 15,85% năm 2001 xuống còn 6,54% năm 2003.

2000 là 0,8%, năm2001 là 0,4% năm2002 là 0,3%, ROA của NHCT năm2000 là 0,3%, năm 2001 và 2002 là 0,3% ,ROA của NHĐT&PT năm 2000 là 0,3% năm 2001 là 0,4% ,năm 2002 là 0,4%,ROAcủa NHNT năm 2000 là 0,4% năm

2001 là 0,6% năm 2002 là 0,4% ROE trung bình của ngành ngân hàng năm

Năm 2002, tỷ lệ ROA đạt 9,43%, trong đó NHCT là 8,53%, NHĐT&PT là 13,5%, NHNN&PTNT là 16,2% và NHNT là 7,4% Nguyên nhân chính là do tỷ lệ nợ không sinh lời cao và áp lực cạnh tranh khiến các NHTMQD phải đầu tư vào mạng lưới, làm tăng chi phí Đồng thời, chênh lệch lãi suất huy động và cho vay có xu hướng giảm Dịch vụ và sản phẩm của các NHTMQD vẫn còn hạn chế, chưa phát triển mạnh mẽ theo quy định trong hiệp định thương mại Việt-Mỹ, dẫn đến nguồn thu từ dịch vụ phi tín dụng chưa cao Để cải thiện ROA và ROE, cần tăng cường vốn từ cổ đông nhằm nâng cao vốn tự có cho ngân hàng và sử dụng hiệu quả hơn, từ đó nâng cao tỷ lệ sinh lời.

Nhà nước hiện đang đầu tư 100% vốn vào các ngân hàng, mặc dù số vốn này không lớn so với nhu cầu hoạt động của ngân hàng, nhưng vẫn có ý nghĩa quan trọng đối với ngân sách nhà nước Vốn đầu tư này không chịu áp lực về cổ tức, mà phụ thuộc vào lợi nhuận và thuế thu nhập đặc biệt Nếu các ngân hàng thương mại quốc doanh trở thành công ty cổ phần, Nhà nước sẽ trở thành cổ đông và có quyền đầu tư thêm hoặc rút vốn thông qua việc nhượng lại cổ phần Điều này không chỉ tạo cơ hội kinh doanh cho Nhà nước mà còn yêu cầu các ngân hàng phải hoạt động hiệu quả hơn.

Năng lực quản trị điều hành của các NHTMQD ở nước ta hiện nay còn yếu kém, do phải tuân theo mô hình duy nhất của DNNN là tổng công ty nhà nước Ngân hàng cần có cơ chế vận hành phù hợp với nhu cầu nội tại, không thể bị chi phối bởi các tác động bên ngoài Hiện tại, nhiều ngân hàng chưa xác định rõ chức năng và quyền hạn của Hội Đồng Quản Trị (HĐQT), dẫn đến quản trị rủi ro và kiểm soát kém hiệu quả Mặc dù các NHTMQD có vị thế quan trọng, nhưng thực tế lại là chi nhánh của các NHTM, thường cạnh tranh không lành mạnh vì mục tiêu lợi nhuận Mối quan hệ giữa các chi nhánh và trụ sở chính gặp khó khăn do thiếu kết nối trực tuyến Cổ phần hóa sẽ giúp thay đổi cách quản trị, như đã chứng minh bởi sự thành công của nhiều ngân hàng tư nhân trên thế giới.

2.3 Nguồn nhân lực trong các NHTMQD có trình độ cha đồng đều

Hiện nay, 90% nhân lực tại các ngân hàng thương mại quốc doanh (NHTMQD) chủ yếu là lao động do lịch sử để lại, với độ tuổi trung bình cao và ít được đào tạo về kinh tế thị trường, quản lý kinh doanh, ngoại ngữ và tin học Tỷ lệ lao động gián tiếp trong các ngân hàng này lên tới 30%, chủ yếu ở các vị trí như kế toán, lễ tân, ngân quỹ, lái xe và bảo vệ Mặc dù các ngân hàng đã chú trọng đến đào tạo, tỷ lệ đào tạo ở trình độ đại học chỉ đạt trên 40%, trong khi ở Thái Lan là 70% Chế độ đãi ngộ và thu nhập chưa tương xứng với lao động cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám Sự chênh lệch về nguồn nhân lực giữa NHTMQD và các ngân hàng thương mại khác ngày càng lớn, đặc biệt khi công nghệ mới được áp dụng Các NHTMQD không được coi là doanh nghiệp trong việc sử dụng lao động, dẫn đến việc không thể sa thải nhân viên thuộc biên chế Nhà nước Với chi phí cao và chất lượng nguồn nhân lực thấp, áp lực về lực lượng lao động tại các NHTMQD hiện nay rất khó giải quyết, và biện pháp khả thi nhất là cổ phần hóa.

2.4 Nhiều kết quả tích cực thu đợc từ quá trình cổ phần hoá các DNNN

Cổ phần hoá DNNN đã mang lại những kết quả tích cực, chứng minh tính cần thiết của việc cổ phần hoá các NHTMQD tại Việt Nam Những thành quả này có thể được đánh giá qua các kết quả cụ thể.

Những thuận lợi và khó khăn khi cổ phần hoá các NHTMQD

3.1 Những thuận lợi khi cổ phần hoá

3.1.1 Cơ sở pháp lí cho cổ phần hoá đã đợc ban hành tơng đối đầy đủ Để thực hiện cổ phần hoá các DNNN thì Nhà nớc đã ban hành nhiều chủ trơng, chính sách và nhiều văn bản pháp luật khác nhau Cần phải thấy rằng cha có một lĩnh vực nào mà nhà nớc lại quan tâm đến mặt hoàn thiện cơ sở pháp lí nh lĩnh vực cải cách DNNN Chỉ riêng trong hai năm 1991 và 1992 đã có 57 các văn bản pháp luật quy định về DNNN và cải cách DNNN Nhiều khái niệm và phạm trù nêu trong nêu trong những văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện cổ phần hoá Sau này là một số các nghị định nh các nghị định 44/1998/NĐ- CP ban hành năm 1998 và sau đó đã đợc thay bằng nghị định 64/2002/NĐ-CP hớng dẫn về việc chuyển mốt số cácDNNN thành các công ty cổ phần Thông t số 19/2002/thị trờng-BTC ngày12/9/2002 của bộ tàI chính hớng dẫn xác định giá trị doanh nghiệp khi chuyển các DNNN thành công ty cổ phần… Để tiếp tục đạt đ và các văn bản pháp lý trực tiếp điều chỉnh hoạt động cổ phần hoá của các DNNN Qua hơn hai năm thực hiện thì văn bản này đã phát huy đợc hiệu quả trong quá trình cổ phần hoá thể hiện trong số lợng các doanh nghiệp cổ phần hoá tăng lên hàng năm Số liệu cụ thể nghiệp đợc cổ phần hoá vào khoảng 1750 doanh nghiệp Nếu nh trong các năm từ 1992-1998 tổng số doanh nghiệp đợc cổ phần hóa chỉ vào khoảng 115 doanh nghiệp thì đến năm 1999 số các doanh nghiệp đợc cổ phần hoá đã lên đến 250 doanh nghiệp và năm 2003 là 537 doanh nghiệp

3.1.2 Các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đều làm ăn có hiệu quả nên đã tạo đợc lòng tin của nhân dân

Cổ phần hoá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tăng cường tính cạnh tranh và tạo ra mô hình doanh nghiệp với nhiều chủ sở hữu, bao gồm cả người lao động Điều này không chỉ tạo động lực mạnh mẽ cho doanh nghiệp mà còn giúp sử dụng hiệu quả tài sản Hơn nữa, cổ phần hoá là phương thức hiệu quả để huy động vốn từ cả trong nước và quốc tế, phục vụ cho việc đổi mới công nghệ Khi doanh nghiệp cổ phần hoá phát huy vai trò làm chủ, lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và người lao động sẽ được hài hoà, từ đó người lao động sẽ gắn bó với doanh nghiệp như những người làm chủ, góp phần vào sự phát triển bền vững Chính sách lao động dôi dư cũng đang được giải quyết một cách hài hoà, tạo sự thống nhất trong quan điểm cổ phần hoá ở nhiều doanh nghiệp Đây là thành quả của chủ trương cổ phần hoá, giúp các ngân hàng thương mại cổ phần nhận thức rõ ràng về hiệu quả của việc áp dụng phương thức này.

Theo dữ liệu từ hơn 50 doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa, tất cả đều hoạt động hiệu quả Các chỉ tiêu như doanh thu, nộp ngân sách và thu nhập bình quân đầu người đều tăng từ 112%.

Cổ phần hoá đã tăng trưởng 342% so với trước, chứng tỏ đây là bước đi đúng đắn trong chính sách đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước của Đảng và Nhà nước Điều này đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho các ngân hàng thương mại quốc doanh thực hiện cổ phần hoá, giúp nâng cao vị thế của họ trong nền kinh tế.

3.1.3 Thị trờng chứng khoán của Việt Nam đã đi vào hoạt động và thu hút đợc nhiều vốn cho sự nghiệp CNH- HĐH của đất nớc

Thị trường chứng khoán Việt Nam, hoạt động từ năm 2000 với sự ra đời của trung tâm giao dịch chứng khoán TPHCM, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp cổ phần hóa phát hành cổ phiếu và thu hút vốn đầu tư Mặc dù thị trường còn non trẻ với số lượng công ty niêm yết và công ty chứng khoán hạn chế, việc cổ phần hóa sẽ gia tăng số lượng công ty và tạo thêm nhiều cơ hội cho nhà đầu tư Khung pháp luật về thị trường chứng khoán đã được hoàn thiện, với nghị định 144/2003 thay thế nghị định 48/1998, quy định rõ ràng về phát hành và niêm yết chứng khoán, giao dịch chứng khoán, cũng như trách nhiệm của nhà đầu tư Những quy định này nhằm hạn chế các rủi ro và tạo môi trường pháp lý vững chắc cho các hoạt động trên thị trường.

Cơ quan quản lý chứng khoán đã được củng cố qua nghị định 90/2003/NĐ-CP, thay thế nghị định 75/CP ngày 28-11-1996, quy định chức năng và nhiệm vụ của Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước Hiệp hội kinh doanh chứng khoán, thành lập ngày 11/6/2003 theo quyết định số 29/2003/QĐ/BNV, đóng vai trò hỗ trợ cho các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, ngân hàng lưu ký và nhà đầu tư trong việc cập nhật thông tin và trao đổi kinh nghiệm Gần đây, chính phủ đã ban hành nghị quyết số 01/2004/NQ-CP ngày 12-1-2004 nhằm định hướng thị trường và quản lý các định chế trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán.

Năm 2004, Bộ Tài chính phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã triển khai các giải pháp nhằm củng cố và phát triển thị trường chứng khoán Các quy định về tổng công ty và doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tài chính ngân hàng sẽ được xây dựng và trình Chính phủ Để tạo điều kiện cho Ngân hàng Thương mại Quốc doanh tham gia giao dịch trên thị trường chứng khoán, việc cổ phần hóa các ngân hàng này là cần thiết.

3.1.4.Luật tổ chức tín dụng đã đợc sửa đổi bổ sung cho phù hợp

Trong đợt sửa đổi mới nhất, tín dụng chính sách đã được tách biệt với tín dụng thương mại, giảm thiểu sự can thiệp của Chính phủ vào hoạt động của các ngân hàng Các ngân hàng thương mại quốc doanh (NHTMQD) không còn phải thực hiện tín dụng chính sách cho Nhà nước, mà nhiệm vụ này thuộc về Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCS) Để tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực tiền tệ, NHTMQD cần được giải phóng khỏi sự bao bọc của Nhà nước Việc để cho các NHTMQD tự đứng trên đôi chân của mình là cần thiết, vì hiệu quả và tính an toàn của hệ thống ngân hàng phụ thuộc vào vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTƯ), chứ không phải do Nhà nước nắm 100% vốn ngân hàng.

Luật cho phép nhà đầu tư nước ngoài góp vốn và mua cổ phần tại các ngân hàng trong nước, nhằm thu hút vốn đầu tư và tăng vốn điều lệ mà không phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Cổ phần hóa ngân hàng thương mại quốc doanh được xem là phương thức hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu này.

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, đặc biệt là hệ thống NHTMQD, nhằm xây dựng một hệ thống ngân hàng thương mại đáp ứng nhu cầu tín dụng và cung cấp dịch vụ ngân hàng thuận lợi cho xã hội Mục tiêu là kiện toàn các NHTMQD thành những doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm và có uy tín, đủ sức cạnh tranh trên thị trường Đồng thời, cần xoá bỏ sự can thiệp hành chính của các cơ quan Nhà nước đối với hoạt động cho vay của các NHTMQD Để thực hiện được chủ trương này, các NHTMQD cần phải tiến hành cơ cấu lại và tổ chức lại môi trường kinh doanh, đảm bảo tính tự chủ và tính cạnh tranh.

3.2 Những khó khăn trong quá trình cổ phần hoá các NHTMQD

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã gặp nhiều khó khăn trong suốt 14 năm qua, trong khi cổ phần hoá các ngân hàng thương mại quốc doanh (NHTMQD) còn khó khăn hơn nhiều do quy mô tài sản và vị trí quan trọng của các ngân hàng này trong nền kinh tế Các NHTM đóng vai trò chủ chốt trong hệ thống tài chính Việt Nam, chi phối các dòng vốn và gánh chịu phần lớn rủi ro Với tính chuyển đổi hạn chế, NHTMQD thường nắm giữ khoảng 70-80% luân chuyển vốn trong nền kinh tế.

80% nguồn vốn cho các hoạt động kinh tế đến từ các ngân hàng thương mại quốc doanh (NHTMQD), đóng vai trò chủ đạo trong tín dụng, thanh toán và huy động vốn trong nước Việc cổ phần hóa các NHTMQD yếu sẽ gây ra hiệu ứng domino đối với nền kinh tế đang chuyển mình chậm chạp Áp lực xã hội đối với cổ phần hóa sẽ rất lớn, và hậu quả kinh tế - xã hội từ việc làm sẽ không nhỏ.

Theo kế hoạch của Chính phủ, đến năm 2005, việc sắp xếp và điều chỉnh cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) sẽ cơ bản hoàn thành, với 41% doanh nghiệp còn lại là công ty TNHH một thành viên và 18 tổng công ty 91, 73 tổng công ty 90 Tuy nhiên, khoảng cách từ chủ trương đến thực hiện thành công vẫn còn khá xa Mục tiêu tái cơ cấu các ngân hàng thương mại quốc doanh là rất lớn, nhưng các nguồn lực tài chính, trí thức và công nghệ hiện tại chưa đủ để các ngân hàng đạt được mục đích Nhận thức về cổ phần hóa của người lao động và một số cán bộ ngân hàng vẫn chưa đầy đủ và sẵn sàng.

Có rất nhiều các khó khăn trong quá trình cổ phần hoá, tuy nhiên ở đây có thể kể một số các khó khăn cơ bản:

3.2.1.Những khó khăn về mặt pháp lí

NHTMQD là một ngân hàng lớn với vốn điều lệ hàng nghìn tỷ VND, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ và nhạy bén với thông tin thị trường Mặc dù đã có nhiều văn bản pháp luật về cổ phần hóa, nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là đối với các ngân hàng thương mại quy mô lớn.

Quyết định số 58/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí phân loại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tổng công ty nhà nước Theo mục A điểm 1, 2 của quyết định, các ngân hàng thương mại (NHTM) thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn Do đó, theo điều 2 Nghị định 64/2002/NĐ-CP ban hành ngày 19/6/2002, việc chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần được thực hiện.

Điều kiện để cổ phần hoá thành công NHTMQD ở Việt Nam hiện nay

Ngày đăng: 20/07/2023, 18:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng II : Dự báo về tình trạng thiếu vốn của NHTMQD Việt Nam đến 2010 - Ngân hàng thương mại quốc doanh việt nam và các doanh nghiệp nhà nước đ cổ phần hoá
ng II : Dự báo về tình trạng thiếu vốn của NHTMQD Việt Nam đến 2010 (Trang 17)
Bảng I dới đây cho ta biết một số chỉ số về vốn của NHTMQD Việt Nam - Ngân hàng thương mại quốc doanh việt nam và các doanh nghiệp nhà nước đ cổ phần hoá
ng I dới đây cho ta biết một số chỉ số về vốn của NHTMQD Việt Nam (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w