Tổng quan nghiên cứu về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Khái quát về vốn trong DN
Paul A Samuelson, nhà kinh tế học theo trường phái tân cổ điển, kế thừa quan niệm về các yếu tố sản xuất từ trường phái cổ điển, chia thành đất đai, lao động và vốn Vốn, theo ông, là hàng hóa được sản xuất để phục vụ quá trình sản xuất mới, bao gồm máy móc, trang thiết bị, vật tư, đất đai, và giá trị nhà xưởng Tuy nhiên, Samuelson không đề cập đến các tài sản tài chính trong quan niệm về vốn của mình.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hoá đặc biệt, có chủ sở hữu nhưng có thể chuyển nhượng quyền sử dụng trong một thời gian nhất định, với giá cả được gọi là lãi suất Sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn tạo điều kiện cho vốn lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời Một số nhà tài chính định nghĩa vốn là tổng số tiền do cổ đông đóng góp, nhấn mạnh khía cạnh tài chính và khuyến khích đầu tư, tuy nhiên, định nghĩa này chưa làm rõ nội dung và trạng thái của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét và đánh giá theo nhiều quan niệm khác nhau Vì vậy, khó có thể đưa ra một định nghĩa thỏa mãn tất cả các yêu cầu Tuy nhiên, có thể hiểu một cách khái quát về vốn như sau.
Vốn là giá trị ban đầu hoặc tích lũy được của doanh nghiệp, được sử dụng cho các quá trình sản xuất tiếp theo nhằm mục đích sinh lời, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh.
1.1.1.2 Phân loại vốn trong doanh nghiệp
Dựa trên yêu cầu quản lý và đặc điểm sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể lựa chọn các căn cứ phân loại vốn khác nhau để phù hợp với hoạt động của mình.
1 Quản lý vốn trong doanh nghiệp
2 Phân tích tài chính – Đỗ Văn Thuận
Trong phạm vi nghiên cứu, vốn được phân loại theo vai trò và tính chất luân chuyển trong quá trình sản xuất, cũng như theo nguồn hình thành để làm rõ bản chất và đặc điểm của từng loại vốn Việc phân loại này giúp tập trung vào các khía cạnh quan trọng nhất của vốn trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Phân theo vai trò và tính chất luân chuyển vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất
Vốn cố định của doanh nghiệp là một phần vốn đầu tư ứng trước vào tài sản cố định Đặc điểm của vốn cố định là luân chuyển dần trong nhiều chu kỳ sản xuất Vốn cố định hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Quy mô vốn cố định ảnh hưởng trực tiếp đến trình độ kỹ thuật và năng lực sản xuất của doanh nghiệp, đồng thời đặc điểm kinh tế của tài sản cố định chi phối tuần hoàn vốn.
Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh do tài sản cố định có thời gian luân chuyển dài Tùy theo hình thái biểu hiện và tính chất đầu tư, vốn cố định dưới dạng tài sản cố định được chia thành ba loại: tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình và tài sản cố định tài chính.
Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện giá trị đầu tư liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Các loại tài sản này bao gồm chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí sử dụng đất, bằng sáng chế, phát minh, nhãn hiệu thương mại và lợi thế thương mại, có thể hình thành do doanh nghiệp đầu tư hoặc cho thuê dài hạn.
Tài sản cố định hữu hình là tư liệu lao động chủ yếu, biểu hiện dưới hình thái vật chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải và các vật kiến trúc Các tài sản này có thể là đơn vị tài sản độc lập hoặc hệ thống gồm nhiều bộ phận liên kết, thực hiện chức năng trong sản xuất kinh doanh, và có thể do doanh nghiệp tự mua sắm, xây dựng hoặc thuê dài hạn.
Tài sản cố định tài chính là các khoản đầu tư tài chính dài hạn nhằm mục đích kiếm lời, bao gồm đầu tư vốn vào liên doanh và cho thuê tài sản cố định dài hạn, với thời gian thu hồi vốn thường lớn hơn một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh.
Vốn cố định luân chuyển giá trị dần dần khi tham gia vào quá trình sản xuất, tài sản không thay đổi hình dáng ban đầu nhưng tính năng và công suất giảm dần do hao mòn Vốn cố định được chia thành hai phần.
Giá trị hao mòn tài sản cố định được chuyển vào giá trị sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao, tích lũy thành quỹ khấu hao sau tiêu thụ Quỹ này tái sản xuất tài sản cố định, duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Phần vốn cố định giảm dần trong hình thái hiện vật của tài sản cố định, đồng thời vốn luân chuyển tăng lên tương ứng với sự suy giảm giá trị tài sản cố định Khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng, vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của DN
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định và vốn lưu động thông qua các chỉ tiêu, so sánh giữa các năm để thấy sự thay đổi Bên cạnh đó, so sánh với trung bình ngành giúp xác định hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.1.2.1 Chỉ tiêu đánh giá toàn bộ vốn
Hiệu suất sử dụng vốn=
Doanh thu thuần Vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn đầu tư vào tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng vốn càng lớn, hiệu quả quản lý tài sản càng cao Khả năng sử dụng vốn hợp lý và hiệu quả cũng được thể hiện qua chỉ tiêu này.
Tỷ suất lợi nhuận vốn là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá khả năng sinh lời của vốn đầu tư, cho biết một đồng vốn đầu tư mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn đầu tư càng tốt.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu=
Chỉ tiêu ROE phản ánh khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu và hiệu quả quản lý vốn ROE càng cao cho thấy khả năng sử dụng vốn tốt, tạo ra lợi nhuận cao trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu.
1.1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng TSCĐ=
TSCĐ bình quân trong kỳ được tính bằng trung bình cộng của nguyên giá TSCĐ đầu kỳ và cuối kỳ, phản ánh hiệu suất sử dụng TSCĐ trong việc tạo ra doanh thu Chỉ số này càng cao chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSCĐ càng hiệu quả.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định=
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra doanh thu từ một đồng vốn cố định, đo lường hiệu suất sử dụng vốn Chỉ số càng cao chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định càng tốt, đồng thời thể hiện chất lượng quản lý và sử dụng vốn hiệu quả.
Hàm lượng vốn cố định=
Vốn kinh doanh bình quân
Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu
Doanh thu thuần TSCĐ sử dụng bình quân
Doanh thu thuần Vốn cố định sử dụng bình quân
Vốn cố định bình quân Doanh thu thuần
Hệ số sử dụng vốn cố định là đại lượng nghịch đảo của hiệu suất sử dụng vốn cố định, cho biết cần bao nhiêu vốn cố định để tạo ra một đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt, thể hiện hiệu quả sử dụng vốn cố định cao, giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí và tăng lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định=
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu suất sử dụng vốn cố định, cho biết một đồng vốn cố định tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế trong kỳ Chỉ số này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cố định càng tốt, cho thấy khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn đầu tư.
1.1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Vòng quay VLĐ trong kì
Vòng quay VLĐ trong kì được xác định bằng công thức:
Doanh thu thuần Vòng quay VLĐ trong kì=
Vòng quay vốn lưu động bình quân là chỉ tiêu đo lường số lần vốn lưu động quay vòng trong một kỳ, thường là một năm Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động thông qua so sánh giữa tổng doanh thu thuần và số vốn lưu động bình quân Số vòng quay càng cao càng thể hiện hiệu quả sử dụng vốn tốt.
Thời gian luân chuyển VLĐ: được xác định bằng công thức
360 Thời gian luân chuyển VLĐ=
Số vòng quay VLĐ trong kì
Thời gian luân chuyển vốn lưu động cho biết số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện một vòng quay trong kỳ, và thời gian này càng ngắn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động : được xác định bằng công thức
Hệ số đảm nhiệm VLĐ=
Doanh thu thuần là chỉ tiêu quan trọng phản ánh số vốn lưu động (VLĐ) cần thiết để tạo ra một đồng doanh thu thuần, và hệ số này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao, đồng nghĩa với việc tiết kiệm VLĐ lớn hơn.
Lợi nhuận sau thuế Vốn cố định bình quân
Hệ số sinh lời của vốn lưu động
Hệ số sinh lời vốn lưu động (VLĐ) phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận trước thuế (EAT) từ một đồng VLĐ, chỉ số này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ càng tốt Công thức xác định hệ số sinh lời VLĐ cho phép đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và quản lý vốn.
Hệ số sinh lời của VLĐ =
Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Tỉ số khả năng thanh toán đánh giá khả năng doanh nghiệp thanh toán nợ ngắn hạn, phản ánh vòng quay vốn và hiệu quả sử dụng vốn.
Hệ số thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, cho biết mức độ các khoản nợ ngắn hạn được trang trải bằng tài sản ngắn hạn Chỉ số này càng cao, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng tốt.
Hệ số thanh toán hiện hành=
Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh=
Tài sản lưu động là những tài sản có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền mặt, bao gồm tiền, chứng khoán ngắn hạn và các khoản phải thu Giá trị hàng tồn kho thường khó chuyển đổi thành tiền hơn và dễ bị lỗ khi bán Chỉ tiêu này đánh giá khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Chỉ số này càng cao, khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng tốt, hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao, tạo dựng uy tín với đối tác và chủ nợ.
Hệ số thanh toán tức thời: được xác định như sau
Hệ số thanh toán tức thời=
Lợi nhuận trước thuế Vốn lưu động bình quân
Tài sản lưu động – Giá trị hàng tồn kho
Tiền mặt + Chứng khoán ngắn hạn
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
1.1.3.1 Những nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế, với sự ổn định hoặc không ổn định của nó, ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu doanh nghiệp và nhu cầu vốn kinh doanh Biến động kinh tế gây ra rủi ro kinh doanh mà nhà quản trị cần nhận biết và lường trước Những ảnh hưởng này tác động đến chi phí đầu tư, lãi suất và chi phí thuê nhà xưởng, máy móc, công nhân.
Nền kinh tế ổn định và tăng trưởng bền vững tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển và giữ vững vị thế trên thị trường Doanh nghiệp phát triển giúp tăng doanh thu, tài sản và nguồn vốn Từ đó, doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất và phát triển hơn nữa.
Môi trường pháp luật minh bạch và chặt chẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Các quy định pháp luật rõ ràng giúp giảm thiểu rủi ro và tạo niềm tin cho nhà đầu tư, thúc đẩy đầu tư và mở rộng hoạt động kinh doanh.
Doanh nghiệp (DN) phát triển mạnh mẽ, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, tuy nhiên, mọi thay đổi trong quy định pháp luật đều tác động lớn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.
Môi trường kinh tế - chính trị ổn định, không có bạo loạn và khủng bố, tạo điều kiện cho doanh nghiệp yên tâm hoạt động kinh doanh và mở rộng quan hệ đối tác quốc tế Điều này giúp doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả, giảm thiểu hàng tồn kho, hiện đại hóa nguyên vật liệu và khoa học kỹ thuật, từ đó nâng cao lợi nhuận.
Môi trường văn hóa đóng vai trò then chốt trong thành công của doanh nghiệp, đặc biệt khi mục tiêu chính là hướng tới khách hàng Việc hiểu rõ văn hóa, phong tục tập quán địa phương là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đạt được thành công bền vững trên thị trường.
1.1.3.2 Những nhân tố chủ quan Đặc điểm kỹ thuật ngành sản xuất: Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành sản xuất kinh doanh cóảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Mỗi ngành sản xuất kinh doanh có những đặc điểm khác nhau về mặt kinh tế kỹ thuật như: Tính chất ngành nghề, tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh Ảnh hưởng của tính chất ngành nghềđến hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở quy mô, cơ cấu vốn kinh doanh Quy mô, cơ cấu vốn khác nhau sẽảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn, tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán, chi trả do đóảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất thể hiện ở nhu cầu vốn và doanh thu tiêu thụ sản phẩm Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất có tính thời vụ thì nhu cầu vốn lưu động giữa các quý trong năm thường biến động lớn, doanh thu bán hàng không được đều, tình hình thanh toán, chi trả cũng gặp khó khăn, ảnh hưởng tới chu kỳ thu tiền bình quân, tới hệ số vòng quay vốn do đóảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn thì nhu cầu vốn trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp lại thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo cân đối thu chi bằng tiền vàđảm bảo nguồn vốn trong kinh doanh, vốn được quay nhiều vòng trong năm Ngược lại những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sẩn phẩm có chu kỳ sản xuất dài phải ứng ra một lượng vốn lưu động tương đối lớn, vốn thu hồi chậm, quay vòng ít
Mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, do đó việc sử dụng vốn hiệu quả và hợp lý là yếu tố then chốt Doanh nghiệp cần tối thiểu hóa chi phí, tăng tốc độ quay vòng vốn để đạt hiệu quả cao nhất Để đạt được mục tiêu này, việc áp dụng các phương pháp sử dụng vốn một cách hợp lý và hiệu quả là vô cùng cần thiết.
Doanh nghiệp có quy mô cơ sở vật chất lớn và hiện đại sẽ sử dụng vốn hiệu quả hơn nhờ vòng quay vốn ngắn, tiết kiệm nguyên nhiên liệu và hiệu quả sản xuất cao Ngược lại, doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu sẽ sản xuất chậm, tốn nhiều nguyên vật liệu và hiệu suất thấp.
Trình độ nhận thức của nhà quản lý doanh nghiệp (DN) có tác động lớn đến hiệu quả sử dụng vốn, giúp DN đưa ra các quyết định đầu tư và quản lý vốn tối ưu Sự điều hành và quản lý sử dụng vốn hiệu quả thể hiện ở sự kết hợp tối ưu các yếu tố sản xuất, giảm chi phí không cần thiết, nắm bắt cơ hội kinh doanh, từ đó đem lại sự tăng trưởng và phát triển cho DN.
Trình độ tay nghề cao của công nhân, phù hợp với trình độ công nghệ, giúp doanh nghiệp khai thác tối đa công suất máy móc, tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Trình độ quản lý và sử dụng nguồn vốn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Hệ thống kế toán - tài chính là công cụ chủ yếu để theo dõi và quản lý việc sử dụng vốn Công tác kế toán tốt cung cấp số liệu chính xác, giúp lãnh đạo nắm bắt tình hình tài chính và đưa ra quyết định đúng đắn Thông qua công tác kế toán, doanh nghiệp có thể thường xuyên kiểm tra tình hình sử dụng vốn và sớm tìm ra những điểm tồn tại để có biện pháp giải quyết.
Tổng quan thực tiễn nghiên cứu về vốn trong doanh nghiệp
Thực tiễn về nghiên cứu vốn trong doanh nghiệp
Trong quá trình nghiên cứu và làm luận văn về vốn trong doanh nghiệp, tôi đã tham khảo các đề tài nghiên cứu từ nhiều trường đại học, bao gồm cả Đại học Thăng Long, để tìm hiểu và mở rộng kiến thức.
- Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ Phần Chương Dương ( Nguồn: Thư viện Đại Học Thăng Long)
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Tổng Công ty xây dựng công trình hàng không ACC ( Nguồn: luanvan.net.vn)
Khi tham khảo các bài viết trên em đã đúc kết được:
Các bài viết tiếp cận đề tài từ nhận thức về tầm quan trọng của vốn trong kinh doanh, thường tập trung vào các khía cạnh sau.
Tiếp cận đề tài về vốn trong doanh nghiệp
Giới thiệu tổng quan về vốn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Phân tích cụ thể tình hình sử dụng và quản lý vốn lưu động tại doanh nghiệp
Tìm ra các tồn tại, khó khăn cũng như thách thức đối với vốn trong doanh nghiệp
Đưa ra các biện pháp khắc phục thực tế về vốn của doanh nghiệp
Nhận định cá nhân về thiếu sót của những bài tham khảo
Khi tham khảo các bài viết, tôi nhận thấy vẫn còn một số thiếu sót và điểm chưa thực sự chính xác.
Chương 1 thường mắc lỗi trùng lặp lý luận giữa các mục nhỏ và lạm dụng công thức không cần thiết Các bài tham khảo thường liệt kê công thức một cách lan man ở chương 1 nhưng lại thiếu sót khi phân tích ở chương 2 Nội dung chương 1 mang tính lý thuyết chung nhưng lại trình bày các khái niệm, đặc điểm theo quan điểm cá nhân, ít bám sát giáo trình chuẩn, chuẩn mực kế toán hoặc thông tư của Bộ Tài Chính.
Trong chương 2, phân tích kinh doanh thường tập trung vào các lĩnh vực hoạt động mà ít chú trọng đến các chỉ số và thực trạng cụ thể Các nhận xét và phân tích thường lặp lại số liệu đã trình bày trong bảng mà không đi sâu vào nguyên nhân, đánh giá thực tế về công ty.
Chương 3 thường mắc lỗi khi giải pháp không tương xứng với tồn tại đã nêu, thiếu tính cụ thể và thường mang tính chung chung Cần lượng hóa số liệu và mục tiêu phấn đấu cho các năm tiếp theo của doanh nghiệp để tăng tính khả thi và đo lường được của kế hoạch.
Kết luận
Mục tiêu nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá thực trạng sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần OMNISYSTEM VN trong giai đoạn 2010-2012 Trên cơ sở đánh giá này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty, góp phần vào sự phát triển bền vững.
Phương pháp nghiên cứu tổng hợp lý thuyết được sử dụng để thu thập thông tin từ các giáo trình và sách tham khảo uy tín Các thông tin lý thuyết này sau đó được hệ thống hóa để đưa ra một khái niệm đầy đủ và sâu sắc về vốn, theo quan điểm cá nhân.
Để đưa ra lý thuyết đầy đủ và sâu sắc nhất, bài viết sử dụng các lý thuyết từ lịch sử đến hiện tại, như quan điểm của CN Mác và David Begg, từ đó rút ra những điểm thiếu hụt và chưa hoàn chỉnh để hoàn thiện khái niệm tổng quát.
Trong các nghiên cứu về vai trò và hiệu quả sử dụng vốn, phương pháp tổng hợp lý thuyết và phương pháp lịch sử thường được ưu tiên sử dụng trong chương 1, nhằm cung cấp cơ sở lý luận và tổng quan về các công thức đánh giá liên quan.
Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn thường sử dụng phương pháp thực tiễn để rút ra bài học kinh nghiệm Việc quan sát thực tiễn giúp xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng, làm cho bài viết gắn liền với thực tế hơn.
Chương 2 tập trung vào phân tích dữ liệu hiện có để đánh giá hoạt động của công ty, từ đó đưa ra nhận xét tổng quan Dựa trên kết quả phân tích này, đề tài nghiên cứu sẽ rút ra kết luận về ưu điểm và hạn chế của công ty.
Chương 3 tập trung vào việc phân tích kinh nghiệm thực tiễn và các nhược điểm được rút ra từ chương 2, từ đó đề xuất các biện pháp hiệu quả nhất cho công ty và nền kinh tế nói chung, nhằm tối ưu hóa hoạt động và đóng góp vào sự phát triển bền vững.
Về cơ bản, chúng tôi áp dụng các phương pháp tổng hợp lý thuyết và phân tích số liệu, kết hợp với phương pháp quan sát khách quan để thu thập thông tin và đưa ra kết luận dựa trên kết quả trong quá khứ Để tăng hiệu quả quan sát, phương pháp giả thuyết được sử dụng để dự đoán bản chất đối tượng, từ đó đưa ra những quan sát chính xác nhất.
TRẠNG SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
Khái quát chung về công ty Cổ phần OMNISYSTEM VN
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty cổ phần OMNISYSTEM VN được thành lập từ ngày 03 tháng 10 năm
Công ty hoạt động theo giấy phép đầu tư số 011032000112 do UBND thành phố Hà Nội cấp, với lĩnh vực hoạt động chính là sản xuất kinh doanh đồng hồ điện tử đo điện, nước, gas, nhập khẩu thiết bị, hệ thống đo xa sử dụng tại Việt Nam và xuất khẩu.
Năm 2010 đánh dấu bước phát triển không ngừng của công ty, khẳng định vị thế trong lòng người tiêu dùng và mở rộng sản phẩm ra toàn miền Bắc Công ty không chỉ tập trung vào thị trường nội địa mà còn vươn ra thị trường nước ngoài, bắt đầu từ Đài Loan, đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ trong thời kỳ hội nhập kinh tế Doanh thu liên tục tăng trưởng, đảm bảo đời sống và việc làm cho người dân.
Trong những năm gần đây, công ty liên tục nhập khẩu thiết bị hiện đại từ các nước phát triển và học hỏi kinh nghiệm quản lý chuyên nghiệp từ Nhật Bản, Mỹ Nhờ đó, uy tín và vị thế của công ty ngày càng được nâng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và sự phát triển của nền kinh tế.
Đến năm 2015, Công ty TNHH Một Thành Viên Cường Đạt sẽ đầu tư dây chuyền sản xuất mới, cập nhật thiết kế sản phẩm, và mở rộng thị trường quốc tế.
2.1.2 Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty
Chủ tịch hội đồng quản trị
Chủ tịch HĐQT là người có quyền hạn tối cao trong mọi quyết định của công ty, chủ trì các cuộc họp quan trọng, và giám sát hoạt động điều hành của Ban Giám Đốc Đồng thời, Chủ tịch HĐQT là người duy nhất ký duyệt các khoản chi tài chính và chịu trách nhiệm trước HĐQT và pháp luật về thu chi tài chính của công ty.
20 chính công ty; báo cáo hoạt động kinh doanh về tài chính của công ty hàng tháng trước HĐQT
Phòng Kế hoạch Sản xuất
Lập kế hoạch sản xuất và giá thành sản phẩm theo tháng, quý, năm là yếu tố then chốt Tổ chức cung cấp vật tư đầy đủ, kịp thời cho sản xuất, đồng thời thực hiện đầu tư, xây dựng cơ bản và sửa chữa thiết bị, nhà xưởng Phân tích, đánh giá và báo cáo định kỳ về kế hoạch sản xuất, cung cấp vật tư cho Giám đốc và Hội đồng quản trị.
Nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm Lập kế hoạch và đề xuất chiến lược kinh doanh theo từng giai đoạn là yếu tố quan trọng để đạt được mục tiêu Tư vấn cho Ban Giám đốc về kế hoạch sản xuất kinh doanh, thực hiện dự án đầu tư ngắn, trung và dài hạn giúp công ty phát triển bền vững Soạn thảo hợp đồng kinh tế và tiếp nhận đơn đặt hàng là hoạt động không thể thiếu trong quy trình kinh doanh Báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh định kỳ, kết hợp với phòng tài chính kế toán để xác định nguồn vốn, hỗ trợ chiến lược kinh doanh hiệu quả.
Phòng Tài chính Kế toán
Lập kế hoạch tài chính và tổ chức hạch toán kế toán theo quy định, điều lệ và hướng dẫn của công ty, đồng thời lập báo cáo tài chính định kỳ (tháng, quý, năm) phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh Báo cáo kịp thời, chính xác tình hình tài chính cho Ban Giám Đốc và tư vấn các vấn đề tài chính, thuế.
Nhận xét chung về cơ cấu tổ chức:
Công ty cổ phần OMNISYSTEM VN có cơ cấu tổ chức hợp lý với đầy đủ phòng ban chuyên môn, đảm bảo sự liên kết và hỗ trợ giữa các bộ phận, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tình hình kết cấu vốn của công ty Cổ phần OMNISYSTEM
Trong 3 năm 2010, 2011, 2012, ta thấy công ty Cổ phần OMNISYSTEM VN có tình hình sử dụng nguồn vốn khá hợp lý và hiệu quả Cụ thể:
Về cơ cấu nguồn vốn:
Cơ cấu vốn của công ty hình thành từ vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Để đạt hiệu quả, cơ cấu vốn hợp lý cần kết hợp hài hòa giữa hai nguồn này, đảm bảo an toàn tài chính, phát huy đòn bẩy tài chính và tạo tính thanh khoản cao.
Quy mô vốn kinh doanh của công ty tăng đều qua các năm, cho thấy sự đầu tư mạnh mẽ vào sản xuất và mở rộng kinh doanh Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng nguồn vốn, tuy nhiên đang có xu hướng giảm so với nợ ngắn hạn Nguyên nhân chủ yếu là do lợi nhuận sau thuế chưa phân phối âm và không có lợi nhuận từ chênh lệch tỷ giá hối đoái.
Năm 2012, vốn chủ sở hữu (VCSH) của công ty giảm xuống còn 9.512.611.748 đồng do lợi nhuận chưa phân phối âm và tốc độ tăng tài sản cao hơn tốc độ tăng VCSH, cho thấy sự phụ thuộc vào vay ngắn hạn và chiếm dụng vốn Nợ phải trả tăng mạnh trong năm 2012, đạt 10.728.154.489 đồng, cho thấy sự mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Cơ cấu nợ chủ yếu là nợ ngắn hạn, phản ánh đặc thù của doanh nghiệp thương mại và sản xuất với tỷ trọng tài sản lưu động lớn Việc chiếm dụng vốn cao có thể gây rủi ro thanh toán và hạn chế khả năng tự chủ tài chính.
Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty Cổ phần OMNISYSTEM VN
2.3.1 Đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong vài năm gần đây
Trong 3 năm vừa qua, mặc dù nền kinh tế nói chung và công ty nói riêng đều chịu ảnh hưởng nặng từ cuộc khủng hoảng kinh tế, nền kinh tế giảm sút, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cũng giảm theo Tuy nhiên, nhờ có những định hướng phát triển đúng đắn và hợp lý, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế nên tình hình hoạt động, sản xuất kinh doanh của công ty vẫn phát triển, doanh thu và lợi nhuận sau thuế cũng tăng cao qua các năm Cụ thể:
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần OMNISYSTEM VN Đơn vị tính: đồng
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Số tiền (đ) Số tiền (đ) Chênh lệch Số tiền (đ) Chênh lệch
1 Kết quả sản xuất kinh doanh
- Giá trị hao màn luỹ kế
(Nguồn:Báo cáo tài chính năm 2010-2012)
Dựa trên bảng kết quả hoạt động kinh doanh, các chỉ tiêu biến động do thay đổi cơ cấu và chính sách phù hợp với sự phát triển của công ty và nền kinh tế.
Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty, bao gồm doanh thu, chi phí và lợi nhuận, đã có sự phát triển và tăng trưởng cao qua ba năm 2010, 2011 và 2012 Mặc dù nền kinh tế chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng, công ty vẫn duy trì được sự tăng trưởng nhờ các biện pháp hợp lý và những bước đi đúng đắn.
Năm 2011, doanh thu tăng trưởng mạnh mẽ nhờ vào việc công ty mở rộng thị trường và áp dụng các chiến lược marketing hiệu quả, tuy nhiên đến năm 2012, doanh thu giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và chính sách tín dụng thắt chặt Để phát triển bền vững, công ty cần có chiến lược mở rộng thị trường và tăng doanh thu khi kinh tế phục hồi.
Chi phí của công ty đang có xu hướng giảm theo thời gian, cho thấy nỗ lực trong việc giảm chi phí và tăng lợi nhuận Cụ thể, chi phí đã giảm từ 3.460.593.150 đồng năm 2010 xuống 2.573.979.056 đồng năm 2011, tương đương mức giảm 886.614.094 đồng.
Chi phí của công ty đã giảm đáng kể, từ 2.573.979.056 đồng năm 2011 xuống còn 2.057.485.496 đồng vào năm 2012, tương đương mức giảm 516.493.560 đồng Trong vòng hai năm, tổng chi phí đã giảm 1.403.107.654 đồng, cho thấy các chính sách giảm chi phí hiệu quả đã giúp công ty vượt qua giai đoạn khủng hoảng.
Trong 3 năm qua, lợi nhuận của công ty đã tăng trưởng đáng kể nhờ các chính sách phát triển kinh doanh hợp lý và chiến lược giảm thiểu chi phí hiệu quả Năm 2011, lợi nhuận tăng lên 59.662.646 đồng, và đến năm 2012 tiếp tục tăng lên 124.566.759 đồng Công ty đã giảm thiểu chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính để tối ưu hóa lợi nhuận.
Trong 3 năm qua, chi phí nộp ngân sách nhà nước có xu hướng tăng mạnh, từ 22.731.524 đồng năm 2010 lên 345.865.603 đồng năm 2012 Sự gia tăng này chủ yếu đến từ các khoản thuế giá trị gia tăng nhập khẩu, thuế xuất nhập khẩu và thuế thu nhập cá nhân Nguyên nhân chính là do hoạt động kinh doanh hiệu quả và mở rộng mạng lưới ra nước ngoài, dẫn đến lợi nhuận và các khoản thuế phải nộp tăng cao.
Trong 3 năm qua, công ty thận trọng trong việc mua sắm thiết bị mới do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và chất lượng thiết bị hiện có vẫn đảm bảo Tài sản cố định của công ty giảm từ 4.950.467.324 đồng năm 2010 xuống 3.986.812.122 đồng năm 2012, đồng thời phát sinh thêm tài sản cố định vô hình trị giá 23.000.000 đồng năm 2011 Chi phí hao mòn tài sản cố định cao, đặc biệt là tài sản cố định vô hình, làm giảm giá trị tài sản cố định.
Nguồn vốn kinh doanh của công ty bao gồm vốn lưu động và vốn cố định, có xu hướng tăng cao trong 3 năm qua Cụ thể, từ 15.664.497.580 đồng năm 2010, tăng lên 17.625.506.120 đồng năm 2011 và đạt 24.871.687.100 đồng năm 2012 Sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ mức tăng của vốn lưu động, trong khi vốn cố định giảm nhẹ do vốn chủ sở hữu giảm.
Trong 3 năm qua, các khoản phải thu của công ty tăng lên đáng kể do áp dụng chính sách tín dụng nới lỏng để mở rộng thị trường và tăng doanh thu Cụ thể, các khoản phải thu tăng từ 29.437.640 đồng năm 2010 lên 6.472.546.260 đồng năm 2012 Vì các khoản phải thu tăng cao, công ty cần quan tâm đến chất lượng của các khoản phải thu để tránh rủi ro.
Các khoản phải trả của công ty có xu hướng tăng, bao gồm nợ ngắn hạn và các khoản phải trả khác như phải trả người bán, công nhân viên, và các khoản phải nộp.
2011 tăng lên 2.791.591.564 đồng, tăng 1.116.694.591 đồng so với năm 2010 và năm
Năm 2012, các khoản phải trả của công ty tăng mạnh so với năm 2011 do thua lỗ từ năm 2010, dẫn đến việc vay nợ và mua chịu Khủng hoảng kinh tế khiến hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, làm giảm khả năng trả nợ, bao gồm nợ lương nhân viên, bảo hiểm xã hội và kinh phí công đoàn.
2.3.2 Thực trạng sử dụng vốn tại công ty cổ phần OMNISYSTEM VN
2.3.2.1 Tình hình đảm bảo nguồn vốn cho kinh doanh Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì công ty cần phải có một lượng vốn nhất định để duy trì sản xuất và phát triển hoạt động kinh doanh, giúp công ty đứng vững trên thị trường Hiện nay, trong cơ cấu nguồn vốn của công ty có hai nguồn vốn chính là nguồn vốn nợ vay và nguồn vốn chủ sở hữu, vì vậy, để có thể hiểu hơn về tình hình đảm bảo nguồn vốn trong kinh doanh của công ty Cổ phần OMNISYSTEM
VN, ta sẽ phân tích sự thay đổi trong cơ cấu nguồn vốn của công ty qua các năm Cụ thể:
Bảng 2.2: Bảng cơ cấu nguồn vốn của công ty Cổ phần OMNISYSTEM VN Đơn vị: VNĐ
(Nguồn: Số liệu tính toán được từ bảng cân đối kế toán năm 2010-2012)
Cơ cấu vốn của công ty có sự chênh lệch đáng kể giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, với vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ trọng cao hơn Nguyên nhân là do công ty mới thành lập, nguồn cung cấp vốn chủ yếu là vốn chủ sở hữu, có tính ổn định cao và tạo niềm tin với đối tác Đến năm 2012, có sự đảo ngược khi nợ phải trả chiếm tỷ trọng cao hơn.
Những kết quả đã đạt được trong công tác quản lý và sử dụng vốn tại công ty
Qua 3 năm qua, công ty đã có những thành tựu đáng kể trong công tác quản lý và sử dụng vốn kết quả kinh doanh trong 3 năm khá cao, hệ số khả năng thanh toán các nguồn vay ngắn hạn là khá tốt, thể hiện ở hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn > 1 và khả năng thanh toán nhanh > 0,5 Trong 3 năm qua, công ty cũng đã tạo dựng được niềm tin và uy tín cho bạn hàng và nhà cung cấp nên số tiền chiếm dụng từ nhà cung cấp cũng nhiều hơn
Công ty tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Nhà nước và xã hội, hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ ngân sách, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của cán bộ công nhân viên.
Công ty đã thành công trong việc tập trung nguồn lực đầu tư vào hoạt động sản xuất và đổi mới trang thiết bị hiện đại, giúp tăng hiệu suất sử dụng vốn cố định (TSCĐ) song song với sự tăng lên của nguyên giá TSCĐ.
Trong 3 năm qua, hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty tăng lên nhờ doanh thu và lợi nhuận tăng trưởng Việc sử dụng vốn hiệu quả giúp giảm nhu cầu về nguồn vốn, từ đó giảm chi phí sử dụng vốn và tăng lợi thế cạnh tranh Công ty đã áp dụng các biện pháp và chiến lược hợp lý để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động (VLĐ), thể hiện qua số vòng quay VLĐ tăng và thời gian luân chuyển VLĐ rút ngắn, đồng thời hệ số đảm nhiệm VLĐ thấp, cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh được đảm bảo và lợi nhuận tăng cao.
Hệ số khả năng thanh toán của công ty đang ở mức cao nhưng có xu hướng giảm, tuy nhiên vẫn đảm bảo an toàn và đủ khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn.
Trong 3 năm qua, hiệu quả sử dụng vốn của công ty được đánh giá là khá tốt Tuy nhiên, để duy trì sự ổn định và tăng lợi nhuận, nhà quản lý cần triển khai các biện pháp phù hợp và hiệu quả hơn nữa.
2.4.1 Những hạn chế trong công tác quản lý vốn của công ty
Mặc dù đã đạt được thành công trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, công ty vẫn đối mặt với những hạn chế trong việc sử dụng vốn lưu động và vốn cố định gần đây.
2.4.1.1 Hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng vốn cố định
Công tác quản lý và sử dụng vốn cố định đang có xu hướng tăng lên, cho thấy hiệu quả tích cực Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong việc quản lý và sử dụng vốn cố định cần được khắc phục.
Hàm lượng vốn cố định thấp cho thấy công ty ít đầu tư vào TSCĐ, làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường.
Tỷ suất sinh lời vốn cố định thấp cho thấy công ty cần tập trung hơn vào quản lý và sử dụng hiệu quả vốn cố định để tăng lợi nhuận.
2.4.1.2 Hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động
Trong 3 năm qua, mặc dù hiệu quả sử dụng VLĐ khá tốt nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế:
Trong giai đoạn 2011-2012, công tác quản lý hàng tồn kho và các khoản phải thu của công ty còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động Số lượng hàng tồn kho lớn kéo theo khả năng thanh toán nhanh thấp, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn chưa cao Tình trạng nợ phải thu lớn, đặc biệt là các khoản phải thu dài hạn, gây áp lực lên khả năng thanh toán và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.
Nợ khó đòi ở mức cao làm suy giảm chất lượng tài sản của công ty Đồng thời, việc trích lập dự phòng cho nợ phải thu khó đòi và dự phòng giảm giá hàng tồn kho chưa đầy đủ cũng là một vấn đề đáng lưu ý.
Thứ nhất , thủ tục pháp lý của Nhà nước còn nhiều bất cập
Nhà nước đã ban hành các quy định về quản lý tài chính doanh nghiệp và tài sản, tuy nhiên, việc áp dụng thực tế còn nhiều bất cập Thủ tục mua sắm, nhượng bán, thanh lý tài sản theo quy định còn rườm rà, phức tạp, gây khó khăn và giảm hiệu quả quản lý tài sản của doanh nghiệp.
Thứ hai, nền kinh tế đầy biến động và không ổn định
Công ty non trẻ đối mặt nhiều thách thức do biến động kinh tế và giá cả hàng hóa không ổn định, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản Thiếu giải pháp cụ thể, trực tiếp từ Nhà nước càng làm gia tăng khó khăn cho doanh nghiệp.
Tình hình kinh tế bất ổn trong khu vực và trên thế giới tác động lớn tới khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, gây ra những biến động tiêu cực.