- Luận án, luận văn: + Luận án tiến sĩ “Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường tòa án ở Việt Nam” 2003 của tác giả Nguyễn Thị Kim Vinh, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH
TRẦN THỊ ÁNH LOAN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒA BÌNH
TRẦN THỊ ÁNH LOAN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Mã số: 8380107
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ THỊ KIM TIÊN
TP HỒ CHÍ MINH, 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan luận văn về đề tài “Giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu cá nhân của tôi trong thời gian qua Tất cả
số liệu được tác giả sử dụng để nghiên cứu phân tích trong luận văn và các nội dung nghiên cứu do tác giả tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực, minh thị và vẫn chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tác giả xin chịu trách nhiệm hoàn toàn nếu tác giả không trung thực trong thông tin, số liệu, tư liệu được
sử dụng trong công trình nghiên cứu này
Học viên thực hiện
Trần Thị Ánh Loan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến Tiến sĩ Đỗ Thị Kim Tiên tận tình hướng dẫn trực tiếp tác giả từ xây dựng đề cương, tìm kiếm ý tưởng, hướng dẫn phương pháp nghiên cứu, cách thức tìm kiếm nguồn tài liệu liên quan, phương thức tiếp cận thực tế, phương pháp nghiên cứu, phương pháp xử lý và phân tích số liệu, khung nghiên cứu qua đó tác giả mới có thể nỗ lựchoàn thành đề tài luận văn theo đúng kế hoạch đề ra
Tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án nhân dân Quận 11 tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp các tài liệu, báo cáo cần thiết để tác giảcó tư liệu nghiên cứu đầy đủ về nội dung thực tiễn trong luận văn
Cuối cùng, tác giả cũng gửi lời cám ơn đến quý đồng nghiệp đã hỗ trợ cung cấp tài liệu và số liệu thực tế, bạn bè, người thân đã luôn động viên giúp đỡ, hỗ trợ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Học viên thực hiện
Trần Thị Ánh Loan
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 5
M c c n n c u 5
N m v n n c u 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiêncứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ TẠI TÕA ÁN 9
1.1 Khái quát về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá 9
Bản c ất, k á n m, ặc ểm ợp ồn mua bán àn óa 9
Bản c ất, k á n m, ặc ểm tran c ấp ợp ồn mua bán àn óa 16
Cơ c ế bảo ảm ợp ồn mua bán àn óa 23
1.2 Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
K á n m p áp luật về ả quyết tran c ấp ợp ồn mua bán àn óa tạ Tòa án……… 25
Đặc ểm p áp luật về ả quyết tran c ấp ợp ồn mua bán àn óa tạ Tòa án 27
Nộ dun p áp luật quy ịn về ả quyết tran c ấp ợp ồn mua bán àn óa tạ Tòa án 28
Trang 64 N uồn p áp luật ả quyết tran c ấp ợp ồn mua bán àn óa tạ
Tòa án 33
5 N uy n tắc ả quyết tran c ấp ợp ồn mua bán àn óa tạ Tòa án 36
6 Va trò p áp luật về ả quyết tran c ấp ợp ồn mua bán àn óa tạ Tòa án 36
7 Các yếu tố c p ố p áp luật về ả quyết tran c ấp ợp ồn mua bán hàng hóa 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÀ TẠI TÕA ÁN 42
2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa 42 P áp luật t ực ịn về n uy n tắc p áp luật ả quyết tran c ấp ợp ồn mua bán àn óa 42
T ẩm quyết ả quyết tran c ấp của Tòa án 53
T ủ t c ả quyết tran c ấp ợp ồn mua bán àn óa 57
2.2 Tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp thương mại tại hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh 66
Tìn ìn tran c ấp t ươn mạ tạ T àn p ố Hồ C M n 66
Tìn ìn ả quyết tran c ấp t ươn mạ tạ t ốn Tòa án n ân dân a cấp T àn p ố Hồ C M n 67
2.3 Thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 70
2.4 Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 84
2.4.1 Thành công 84
4 Hạn c ế 85
4 N uy n n ân của t àn côn và ạn c ế 86
Trang 7KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 89
CHƯƠNG 3:PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA CỦA TÕA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 90
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh90 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Toà án nhân dân và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, khi tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement - FTA), Việt Nam đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng về nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa, trên cơ sở hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu Hoạt động mua bán hàng hoá ngày càng mở rộng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đang là địa phương có đóng góp GDP nhiều nhất nước, đồng thời hoạt động mua bán hàng hoá giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp quốc tế ngày càng tăng về số lượng
và giá trị
Bên cạnh những chính sách kinh tế Chính phủ đã xây dựng, hoạt động mua bán hàng hoá về bản chất luôn tiềm ẩn những phát sinh về tranh chấp Những tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hoá yêu cầu phải được xử lý một cách nhanh chóng và chính xác nhằm đảm bảo duy trì lợi ích, giảm chi phí rủi ro, chi phí cơ hội của doanh nghiệp và nhà đầu tư
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải và qua các cơ quan tài phán Phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá thông qua toà án vẫn là phương thức chủ yếu trong giai đoạn hiện nay Thực tiễn xét xử cho thấy tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá đang gia tăng cả về mức độ phức tạp và về số lượng vụ việc Ngoài ra, các vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng đặt ra nhiều vấn đề mới về trình tự, thủ tục tố tụng, về tính hợp pháp của chứng cứ, về hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án Đồng thời, với vấn đề luật thực định, các quy định pháp luật được sử dụng để giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá vẫn chưa có sự thống nhất, còn nhiều quan điểm khác nhau, nhiều cách hiểu khác nhau Vấn đề xuất phát từ nhiều nguyên nhân như tập quán hoạt động thương mại của các thương nhân ở nước ta; cách thức quản trị; và quá trình xây dựng, soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên Khi tranh chấp phát sinh, đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thống nhất
Trang 9được với nhau về phương thức và nghĩa vụ thanh toán, phương thức giao hàng, vấn
đề bồi thường thiệt hại và các vấn đề khác phát sinh trong hoạt động mua bán hàng hóa Tuy nhiên, thời hạn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại so với các loại tranh chấp dân sự khác là ngắn hơn nhằm đảm bảo các bên không bị ảnh hưởng hoạt động kinh doanh thương mại và hạn chế những thiệt hại phát sinh như các chi phí về lưu kho bãi, các chi phí phải bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba và các chi phí phát sinh khác Các tình huống pháp lý thực tế phát sinh rất nhiều, các quy định pháp luật và các hướng dẫn áp dụng pháp luật có thể không phù hợp với sự chuyển biến của tình hình xã hội và sự phát triển của thị trường dẫn đến sự hạn chế trong thực trạng áp dụng pháp luật tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Từthực tế của hoạt động kinh doanh thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh,
và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân, tác giả chọn đề tài “Giải quyết
tranh chấp hợp ồng mua bán hàng hoá qua thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân Thành phố Hồ ChíMinh” làm luận văn thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu cho thấy, liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá tại tòa án có những công trình nghiên cứu như luận văn, luận án, giáo trình tài liệu và một số sách, báo đã phân tích và luận giải Tuy nhiên, từ những giác độ và góc nhìn khác, mỗi công trình nghiên cứu lựa chọn cách tiếp cận, phạm vi nghiên cứu và các cách xây dựng về nội dung khác Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau đây
- Luận án, luận văn:
+ Luận án tiến sĩ “Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường tòa
án ở Việt Nam” (2003) của tác giả Nguyễn Thị Kim Vinh, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật: Phân tích lý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế trên cơ
sở lựa chọn cơ quan tài phán là tòa án ở Việt Nam, mặc dù được viết trong giai đoạn pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại vẫn còn nhiều bất cập nhưng đến nay luận án vẫn còn nguyên vẹn những giá trị nghiên cứu mang tính lý luận đối với pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa trong giai
Trang 10đoạn hiện nay
+ Luận văn thạc sĩ "Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án trong điều kiện hiện nay" (2007) của tác giả Lê Tự, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: Đề cập đến thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại hệ thống Tòa án ở Việt Nam hiện nay, kiến nghị những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục tố tụng thông qua nghiên cứu, phân tích những vụ án kinh doanh thương mại cụ thể
+ Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về nghĩa vụ thanh toán phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa” (2010) của tác giả Nguyễn Hồ Thanh Bạch, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh có đề cập, phân tích các quy định liên quan đến nghĩa vụ thanh toán phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, tham khảo, so sánh, đối chiếu với các quy định trong Công ước Viên năm
1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế
+ Luận văn thạc sĩ "Đại diện của đương sự trong vụ án giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Tòa án" (2014) của tác giả Võ Tuấn Nhu, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: Trình bày lý luận cơ bản,phân tích quy định pháp luật thực định, chỉ ra những bất cập, không thống nhất giữa các quy định pháp luật và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đại diện của đương sự trong vụ án giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
+ Luận văn thạc sĩ "Pháp luật về trung gian hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại" (2015) của tác giả Lê Hữu Lam Sơn, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đề cập đến bản chất, ý nghĩa, cơ sở lý luận của chế định trung gian hòa giải tại Điều 317 của Luật Thương mại năm 2005, thực tiễn áp dụng của chế định trung gian hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
và phương hướng, giải pháp hoàn thiện chế định trung gian hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
- Sách, giáo trình
+ Giáo trình Nghiệp vụ xét xử - Kỹ năng giải quyết vụ án kinh doanh thương
Trang 11mại lao động, 2020 của Học viện Tòa án, Tòa án nhân dân tối cao đã đề cập đến những đề cơ bản về lý luận và thực tiễn, đồng thời, giáo trình cũng có những phân tích đối với những vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa trong giai đoạn hiện
về mặt nội dung và hình thức
+ Giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại,
2020 của Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã đề cập đến những vấn đề cơ bản
về lý luận về nội hàm khái niệm và đặc trưng của tranh chấp thương mại
Tác giả tham khảo các giáo trình khác như Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2001, Giáo trình Luật thương mại, Đại học Luật Hà Nội, năm 2006… và các bài tạp chí chuyên ngành như: Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành (Phan Chí Hiếu, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/2005); Một số kiến nghị liên quan đến quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự (Thạc sĩ Nguyễn Thị Vân Anh - Giảng viên khoa Đào tạo Thẩm phán Học viện Tư pháp); Giải quyết Tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (Viên Thế Giang, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12/2005); Giải quyết tranh chấp thương mại quốc
tế bằng con đường Tòa án (Nguyễn Vũ Hoàng, NXB Thanh niên, năm 2003)
Ngoài ra, tác giả cũng tìm hiểu, tham khảo về nội dung và phương pháp xây dựng đề tài nghiên cứu từ các luận án tiến sỹ như luận án “Thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân đối với các vụ việc kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Tiến; luận án “Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Toà án ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Kim Vinh
và các luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại như: “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt Nam” của tác giả Vũ Quốc Hùng;
“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân cấp huyện” của tác giả Nguyễn Vũ Hoàng
Các công trình và kết quả nghiên cứu góp phần quan trọng trong việc hoàn
Trang 12thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá thông qua con đường tài phán là Tòa án Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá thông qua toà án vẫn là con đường tài phán chủ yếu mà các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hoá lựa chọn Phạm vi cấp huyện, tranh chấp kinh doanh thương mại có giá trị tranh chấp không lớn, quan hệ kinh tế không phức tạp như đối với tranh chấp doanh thương mại được giải quyết tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là những tranh chấp kinh doanh thương mại về mua bán hàng hóa được giải quyết tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thể là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Tranh chấp mua bán hàng hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh đặt ra những vấn
đề mới đối với thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá Đây cũng là một trong những tính mới mà tác giả lựa chọn để xây dựng và hoàn thiện luận văn thạc sĩ về thực tiễn xét xử đối với các vụ
án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 c c n n c
Mục đích nghiên cứu của luận văn là góp phần hoàn thiện quy định pháp luật
về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá, nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tạiTòa án nhân dân hai cấptại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và hệ thống Tòa án nhân dân nói chung
3.2 m n n c
Một là, nghiên cứu về cơ sở lý thuyết về hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá tại tòa án như: khái niệm, đặc điểm, quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, cơ chế bảo đảm hợp đồng mua bán hàng hóa, nguồn pháp luật, nguyên tắc giải quyết tranh chấp, vai trò pháp luật và các yếu tố cho phối pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua
Hai là, phân tích thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua
Trang 13bán hàng hoátại tòa án, đánh giá những mặt thành công, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của thành công, hạn chế trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Ba là, nhận định làm rõ các tình huống pháp lý từ thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2015-2020.Từ đó, tác giả đã đề xuất phương hướng
và các giải pháphoàn thiện phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Bốn là, với những hạn chế, bất cập trong pháp luật thực định về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá tại tòa án, tác giảtrình bày những giải pháp cụ thể góp phần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật còn bất cập, thiếu sót trong những quy định pháp luật hiện hành
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và các quy định pháp luật cụ thể về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá tại tòa án như: thẩm quyền của tòa
án, điều kiện và thủ tục thụ lý (phương thức gửi và nhận đơn khởi kiện; hình thức và nội dung đơn khởi kiện; chủ thể khởi kiện; thời hiệu khởi kiện; án phí), trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp từ khi thụ lý qua các cấp xét xử hay các thủ tục đặc biệt, thẩm quyền của Tòa án
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiêncứu
Về phương pháp luận: Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu luận văn là dựa trên quan điểm duy vật biện chứng của triết học Marx-Lenin, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học tương ứng với từng đối tượng nghiên cứu cụ thể, bao gồm phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp trong các nội dung được triển khai từng chương:
Chương 1: “Những vấn đề lý luận và pháp lý về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá tại Toà án”, tác giả sử dụng phương pháp phân tích và tổng
Trang 14hợp những vấn đề lý luận và pháp lý trong hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Chương 2: “Thực trạng quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả sử dụng phương pháp phân tích số liệu để từ đó chỉ ra được những bất cập trong giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, luận văn đưa vào các case study để phân tích những sai sót trong việc áp dụng pháp luật mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: “Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh”, sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp từ những bất cập, hạn chế, sai sót được trình bày ở chương 2 để xây dựng phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy cho sinh viên, giảng viên, các nhà nghiên cứu về pháp luật
tố tụng, ở phương phức giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án
Về thực tiễn: Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia nghiên cứu và xây dựng pháp luật, cung cấp thêm thông tin và kinh nghiệm xây dựng hợp đồng thương mại cho các chủ thể tham gia hoạt động thương mại, dự đoán trước các tình huống pháp lý khi phát sinh tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án, góp phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá trong hệ thống Tòa án nhân dân
Các kết quả nghiên cứu cũng có thể là những bài học kinh nghiệm cho các tòa án khi giải quyết các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn bao gồm phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và danh
Trang 15mục tài liệu tham khảo, toàn bộ nội dung luận văn được xây dựng và phát triển thành ba chương như sau:
C ươn : N ững vấn ề lýluận và pháp lý về giải quyết tranh chấp hợp ồng mua bán hàng hoá tại Toà án
C ươn :T ực trạn quy ịnh của pháp luật và thực trạng áp d ng pháp luật trong giải quyết tranh chấp hợp ồng mua bán hàng hoá tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
C ươn : P ươn ướng, giải pháp hoàn thi n pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp ồng mua bán hàng hóa của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 16CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ TẠI TÒA ÁN
1.1 Khái quát về tranh chấp hợp đồng mua án hàng hoá
1.1.1 Bản c ất, k á n m, ặc ểm ợp ồn m a bán àn óa
Sự phát triển lịch sử loài người trải qua nhiều giai đoạn từ một “nền kinh tế
cướp đoạt” (theo cách nói của Friedrich Engels), loài người đã trải qua một thời kỳ lâu dài để biết cáchsử dụng lửa nấu chín thức ăn và sưởi ấm, thuần hóa súc vật, chăn nuôi, làm nghề nông, chế tạo ra những vật phẩm đơn giản nhằm đáp ứng nhu cầu đơn giản và hạn chế trong một phạm vi cộng đồng công xã nguyên thủy như làng,
Cùng với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa, các hoạt động mua bán hàng hóa và sự ra đời của tầng lớp thương nhân, kết quả của quá trình phân công lao động xã hội lần thứ ba và sự trao đổi hàng hóa đã xuất hiện trong xã hội loài người
Từ thời chiếm hữu nô lệ, các hoạt động mua bán hàng hóa của thương nhân nhằm mục đích kiếm lợi đã hình thành
Dưới góc độ lý luận và phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả nghiên cứu khái niệm hàng hóa là khái niệm tài sản trong lưu thông, hay có thể nói, mục đích mua bán hàng hóa là nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận
Nhà nước là một định chế thuộc về kiến trúc thượng tầng, cùng với sự hình
Trang 17thành nền kinh tế hàng hóa Nhà nước với đặc trưng là một tổ chức chính trị quyền lực đặc biệt, có quyền ban hành các quy định pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị và điều hòa các quan hệ xã hội Nhà nước đã xây dựng và hình thành các quy định về các hoạt động mua bán hàng hóa, trong đó, những quy định về quyền sở hữu và chuyển quyền sở hữu hàng hóa đã được thể hiện từ Luật Mười hai bảng của
La Mã
Đến nay, các quốc gia đều nỗ lực hoàn thiện quy định pháp luật về mua bán hàng hóa, xây dựng thị trường mua bán hàng hóa thống nhất trên toàn cầu Điều đó thể hiện rõ nét với sự hình thành và phát triển Công ước Viên năm 1980 Từ sự khởi đầu vào những năm 30 của thế kỷ XX và ra đời của hai Công ước La Haye năm
1964 (Công ước La Haye năm 1964 về ký kết hợp đồng và Công ước Luật Thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế ngày 01/7/1964), các nhà làm luật trên thế giới đã
nỗ lực tạo ra sự thống nhất và nhất quán về nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo tư pháp quốc tế, nhưng vì nhiều trở ngại khác nhau, thực tiễn áp dụng công ước vẫn chưa được phổ biến
Từ thực tế hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và nhu cầu xây dựng cơ sở pháp lý khi lựa chọn nguồn luật áp dụng và các nguyên tắc áp dụng pháp luật trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, Ủy ban liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế, năm 1968, căn cứ vào các yêu cầu của đa số các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, đã tổ chức soạn thảo một Công ước thống nhất về pháp luật nội dung áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế để thay thế cho hai Công ước La Haye (Công ước La Haye năm 1964 về ký kết hợp đồng và Công ước Luật Thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế ngày 01/7/1964)
Kế thừa những điểm tiến bộ trong Công ước La Haye và từ những vấn đề phát sinh trong thực tế hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, ngày 11/4/1980, Công ước Vienna 1980 (được 10 quốc gia phê chuẩn theo Điều 99 của Công ước) thông qua tại Vienna (Áo) tại Hội nghị của Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế và có hiệu lực từ ngày 01/01/1988
Trang 18Đối với pháp luật Việt Nam, trước Luật Thương mại năm 1997, quy định pháp luật về mua bán hàng hóa không được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt mà chủ yếu được thể hiện trong các nội dung của chế độ hợp đồng kinh tế (khi đó gọi hợp đồng kinh doanh), như Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh số 735-TTg ngày 10/4/1956 của Thủ tướng Chính phủ, có nội dung điều chỉnh những quy định liên quan đến việc mua bán hàng hóa giữa các đơn vị kinh tế như: các đơn vị kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, công ty hợp doanh, tư doanh, người Việt Nam hay ngoại kiều kinh doanh trên đất Việt Nam Đến năm 1960, chế định mua bán hàng hóa tiếp tục được đổi mới, theo đó Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế kèm theo Nghị định số 04/TTg ngày 04/01/1960 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định cụ thể đối với các bên tham gia hợp đồng kinh doanh là “các đơn vị kinh tế cơ sở, các tổ chức xã hội chủ nghĩa” với mục đích ký kết hợp đồng để thực hiện “chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước” Sau đó, Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế kèm theo Nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975 của Hội đồng Chính phủ đã khẳng định rõ nhiệm vụ ký kết hợp đồng kinh tế, trong đó có hợp đồng mua bán hàng hóa
là nghĩa vụ, kỷ luật của Nhà nước
Sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 với những quy định như: Hợp đồng kinh tế được ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản và không trái pháp luật Ngoài ra, các giao dịch mua bán hàng hóa ngoại thương cũng được điều chỉnh bằng pháp luật theo Quy định số 299-TMDL/XNK ngày 09/4/1992 của Bộ Thương mại và Du lịch về việc ký kết và quản
lý hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương [14, tr 6]
- Khái ni m của hợp ồn t ươn mại
Bản chất hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể trong xã hội, thông qua đó xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý Pháp luật không định nghĩa về hợp đồng thương mại, nhưng về mặt lý luận, hợp đồng thương là hợp đồng dân sự, tuy nhiên hợp đồng thương mại có những đặc
Trang 19điểm riêng như được thiết lập chủ yếu giữa các thương nhân, hình thức hợp đồng theo quy định cụ thể pháp luật, mục đích hợp đồng thương mại là vì lợi nhuận
Khoản 01 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2017 vànăm 2019 đã định nghĩa hoạt động thương mại là tất cả những hoạt động có mục đích sinh lợi,bao gồm các hoạt động cụ thể như sau: (i) mua bán hàng hoá; (ii) cung ứng dịch vụ; (iii) đầu tư; (iv) xúc tiến thương mại; và (v) các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
Trong khi đó, khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì định nghĩa hoạt động kinh doanh là những hoạt động nhằm thực hiện liên tục một, một số hoặc tất
cả các công đoạn của quá trình đầu tư bao gồm: (i) sản xuất; (ii) tiêu thụ sản phẩm; hoặc (iii) cung ứng dịch vụ trên thị trường Mục đích của các hoạt động này phải nhằm mục đích sinh lợi
Cả hai khái niệm trên đều có điểm chung là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi Tuy nhiên, khái niệm hoạt động thương mại trong Luật Thương mại lại nhằm chỉ những hoạt động của thương nhân, còn khái niệm hoạt động kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp là nhằm chỉ những hoạt động của chủ thể mang tính liên tục nhằm mục đích sinh lợi
Luật Thương mại năm 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa, vì vậy người viết xác định khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa thông qua việc phân tích khái niệm và xác định bản chất hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại trên cơ sở quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng mua bán tài sản:
Thứ nhất, mua bán tài sản là phương thức chủ yếu để chuyển dịch tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt từtổ chức, cá nhân này sang tổ chức, cá nhân khác Bản chất của hoạt động mua bán tài sản là những giao dịch dân sự làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý tương ứng giữa các bên Trong quan hệ pháp luật mua bán tài sản, bên bán có nghĩa
vụ chuyển quyền sử dụng, quyền chiếm hữu, quyền định đoạt cho bên mua và quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, tương ứng với quyền và nghĩa vụ của bên
Trang 20bán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận tài sản và quyền sở hữu tài sản theo sự thỏa thuận của các bên trong giao dịch dân sự
Thứ hai, hàng hóa được định giá bằng tiền và được lưu thông trong thị trường, về cơ bản là sự dịch chuyển từ bên cung và bên cầu Như vậy, để có thể chuyển dịch từ cung qua cầu có phát sinh sự trao đổi trong thị trường hàng hóa, các bên phải xác lập quyền sở hữu tài sản khi có sự chuyển dịch, hay có thể nói, quan hệ mua bán hàng hóa cũng chính là quan hệ mua bán tài sản
Như vậy, hợp đồng mua hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một bên có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên kia và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán và nhận hàng hóa
- Đặc ểm của hợp ồng mua bán hàng hóa
Trên cơ sở bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa có một số đặc điểm cụ thể như sau:
(i)Phân tích về chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa:dựa vào đối tượng điều chỉnh và phạm vi điều chỉnh của pháp luật thương mại Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa (giao dịch dân sự về mua bán hàng hóa) được xác lập giữa: (a) các bên chủ thể là thương nhân; hoặc giữa (b) thương nhân với các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa khi các chủ thể đó lựa chọn nguồn luật áp dụng Luật Thương mại – các chủ thể này là một bên trong giao dịch với thương nhân, thực hiện hoạt động mua bán không nhằm mục đích sinh lợi trên lãnh thổ Việt Nam và chọn áp dụng Luật Thương mại để điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa của các bên (Căn cứ vào khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm
2017, năm 2019)
(ii) Phân tích về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa:hình thức trong cặp phạm trù hình thức – nội dung phản ánh cái bên ngoài của hợp đồng mua bán hàng hóa, như vậy hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa là cái bên ngoài, là cách thức thể hiện, ghi nhận và phản ánh cái bên trong là ý chí của các bên trong giao kết
Trang 21đồng, trừ những trường hợp pháp luật có quy định hình thức cụ thể của hợp đồng thì các bên phải tuân thủ theo quy định đó
Chế định hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam quy định hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện với nhiều hình thức khác nhau như dưới hình thức văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể của các bên giao kết (Điều 24 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2019) Việc xác lập bằng hành vi cụ thể có thể dựa vào tập quán thương mại giữa các bên Trong một số trường hợp cụ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa buộc phải thể hiện bằng văn bản nhằm giảm thiểu rủi ro cho các bên trong hợp đồng và các chủ thể khác có liên quan Đồng thời, đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó
(iii) Phân tích về đối tượng hợp đồng mua bán hàng hóa: hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa, hoặc theo học thuyết kinh tế chính trị, hàng hóa
là tài sản được đưa vào lưu thông trong thị trường Về mặt lý luận, hàng hóa là sản phẩm lao động của con người (có giá trị chính là sự hao phí sức lao động của người sản xuất kết tinh trong sản phẩm), được tạo ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của con người Khái niệm hàng hóa được ghi nhận trong luật pháp quốc tế hiện nay, mặc dù có sự khác biệt giữa các quốc gia, nhưng có xu hướng mở rộng đối tượng là các tài sản được phép lưu thông thương mại Cùng với
sự phân công lao động xã hội, quá trình chuyên môn hóa nghề nghiệp và nhu cầu của con người ngày càng gia tăng, hàng hóa trở nên vô cùng phong phú và đa dạng
Dĩ nhiên, có nhiều cách phân chia tài sản khác nhau, tuy nhiên dựa vào tính chất pháp lý và cách thức phân chia truyền thống được xác định từ Luật La Mã, hàng hóa được chia thành nhiều loại khác nhau như:(a) bất động sản; (b) động sản; (c) tài sản hữu hình; (d) tài sản vô hình; hoặc (e) các quyền về tài sản
Theo pháp luật thương mại của các nước trên thế giới, hàng hóa là đối tượng của hoạt động thương mại hiểu là những loại tài sản có hai thuộc tính cơ bản là: tính lưu thông và tính chất thương mại Luật Thương mại năm 1997 định nghĩa hàng hoá
Trang 22gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán[25] Cách định nghĩa về ngoại diên khái niệm hàng hóa có phạm vi hẹp hơn so với các quan niệm phổ biến trên thế giới, vì vậy, Luật Thương mại năm
2005 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2019 quy định, hàng hóa bao gồm: tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai
(iv) Phân tích về nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa:Sự xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa Trong ba thành phần của quan hệ pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm chủ thể, khách thể và nội dung, nội dung của quan hệ pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa là quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên Nội dung hợp đồng mua bán về bản chất là sự ghi nhận lại các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó Như đã phân tích ở phần trên, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa là chuyển giao quyền sở hữu, thanh toán tiền và các thỏa thuận khác liên quan những điều khoản cơ bản của hợp đồng Hành vi mua bán hàng hóa về mặt nội hàm có sự khác biệt lớn nhất so với hành vi mua bán tài sản là hành vi có tính chất thương mại nhằm mục đích lợi nhuận, hay theo thuật ngữ pháp lý, khách thể của hành vi mua bán hàng hóa khác với khách thể của hành vi mua bán tài sản chỉ nhằm xác lập quyền sở hữu đối với tài sản
(v) Phân tích về mục đích hợp đồng mua bán hàng hóa:Đối với trường hợp chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa là thương nhân thì mục đích của hợp đồng
là lợi nhuận, vì hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại với mục đích cuối cùng nhằm sinh lời Trường hợp một bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa là không phải là thương nhân và lựa chọn áp dụng Luật Thương mại 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2019 thì mục đích của hợp đồng là phục vụ cho việc sinh hoạt, tiêu dùng hoặc các hoạt động nội bộ của các cơ quan, tổ chức đó…
- Nguyên tắc giao kết hợp ồng mua bán hàng hóa
Trang 23Không phải sự thỏa thuận nào cũng dẫn đến việc hình thành hợp đồng, cũng như không phải mọi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể với nhau đều phát sinh từ sự thỏa thuận Sự thỏa thuận giữa các chủ thể được coi là hợp đồng và được pháp luật bảo vệ phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật
Nguyên tắc giao kết trong hợp đồng mua bán hàng phát xuất phát từ nguyên tắc được quy định trong hợp đồng dân sự nói chung Nguyên tắc giao kết hợp đồng được quy định xuất phát từ việc nhằm đảm bảo quyền tự do hợp đồng Theo quy định của Bộ luật dân sự, việc giao kết hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc: tự do giao kết nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Việc tuân thủ các nguyên tắc giao kết có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo cho sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng phù hợp với ý chí thực của họ; hợp đồng có thể mang lại lợi ích các bên đồng thời không xâm hại đến những lợi ích khác được pháp luật bảo vệ
1.1.2 Bản c ất, k á n m, ặc ểm tran c ấp ợp ồn m a bán àn hóa
- Khái ni m tranh chấp hợp ồng mua bán hàng hóa
Trong cuốn sách “Black's Law Dictionary 7th Edition”của hai tác giả Bryan
A Garner, Henry Campbell Black do West Publishing Co xuất bản năm 1999, khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa được là:(i) mâu thuẫn, bất đồng; (ii) mâu thuẫn về các yêu cầu hay quyền; hoặc (iii) những đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược của bên kia
Nghiên cứu nhiều công trình, bài báo khoa học về khái niệm trên, tác giả nhận thấy hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về tranh chấp Theo tác giả Trần Thị Thủy (2014), tác giả cũng cho rằng tranh chấp trước hết là sự mâu thuẫn, sau đó còn là sự bất đồng về quyền, nghĩa vụ và cuối cùng trách nhiệm pháp lý giữa các chủ thể có liên quan khi tham gia vào quan hệ pháp luật [32, tr 16] Còn theo quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Mơ (2006), nội hàm tranh chấp là chỉ bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về một lợi ích nhất định Xuất phát từ mâu thuẫn lợi ích, dẫn
Trang 24đến mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ,tác giả xác định khái niệm tranh chấp có tính chất là mang tính đối kháng không thể dung hòa được,đòi hỏi phải có phương cách giải quyết thỏa đáng để bảo vệ lợi ích của mình [18, tr 5-12]
Những năm đầu của thế kỷ 21, nền kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển thành nền kinh tế tri thức, các quan hệ kinh tế phát triển với một tốc độ nhanh chóng với
sự phong phú và đa dạng đối với các phương thức thỏa thuận, loại hàng hóa Tất yếu trong bất kỳ quá trình phát triển nào, cũng như trong bất kỳ quan hệ xã hội nói chung, quan hệ pháp luật nói riêng, tranh chấp kinh tế cũng ngày càng gia tăng về
số lượng và mức độ phức tạp
Hiện nay, không có khái niệm về tranh chấp thương mại trong các điều khoản về định nghĩa trong pháp luật thương mại mà chỉ có khái niệm về tranh chấp thương mại dưới góc độ lý luận, theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã
sử dụng phương pháp liệt kê để giới hạn ngoại diên khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại bao gồm:
(i) Thứ nhất, tranh chấp kinh doanh thương mại điển hình là các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại vì mục đích lợi nhuận giữa các chủ thể có đăng ký kinh doanh với nhau
(ii) Thứ hai, trong nền kinh tế tri thức, tranh chấp kinh doanh thương mại theo nghĩa mở rộng về đối tượng tranh chấp là tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa chủ thể tham gia quan hệ pháp luật kinh doanh thương mại với nhau nhằm mục đích lợi nhuận
(iii) Thứ ba, tranh chấp kinh doanh thương mại theo nghĩa rộng còn là tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
(iv) Thứ tư, tương tự như loại tranh chấp thứ (iii) như trên, tranh chấp kinh doanh thương mại còn bao gồm các tranh chấp trong nội bộ công ty như: (a) tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; (b) tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản
Trang 25trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty
(v) Cuối cùng, các nhà làm luật đã sử dụng phương pháp liệt kê theo hướng
mở khi quy định tranh chấp kinh doanh thương mại còn là các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan,
tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Pháp luật EU và pháp luật của Pháp, Bỉ, Đức không quy định khái niệm về thương mại, kinh doanh thương mại và tranh chấp kinh doanh thương mại mà thay vào đó là khái niệm giao dịch thương mại, hành vi thương mại, hoạt động kinh doanh, tranh chấp thương mại và tranh chấp kinh doanh [41, tr 20]
Pháp luật Singapore cũng không quy định về kinh doanh thương mại và tranh chấp kinh doanh thương mại Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử của Tòa án của Singapore, cách hiểu thương mại nói chung và tranh chấp về thương mại có sự đồng với quy định có liên quan trong Luật mẫu UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế [44]
Qua nghiên cứu pháp luật Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam cũng như các nước không có cách hiểu thống nhất về kinh doanh, thương mại; về tranh chấp kinh doanh thương mại, tranh chấp kinh doanh và tranh chấp thương mại Có ba cách thức đưa ra cách hiểu mà các nước sử dụng để
cố gắng tìm ra một khái niệm dễ tiếp cận nhưng phản ánh được các hoạt động kinh doanh, thương mại và các tranh chấp phát sinh có liên quan như [23, tr 29-30]:
(i) Thứ nhất, cách hiểu với mức độ khái quát cao theo kiểu logic hình thức; (ii) Thứ hai, cách hiểu theo kiểu liệt kê bao gồm hai phương pháp liệt kê cụ thể bao gồm: (a) phương pháp liệt kê có hạn định là cách thức liệt kê đầy đủ nhất, theo ý chí chủ quan của nhà làm luật, chỉ có các hành vi thương mại được liệt kê mới được xem hành vi thương mại; (b) phương pháp liệt kê chỉ dẫn là cách thức kết hợp giữa phương pháp liệt kê có hạn định và mở rộng hành vi tương tự khác cũng được xem là hành vi thương mại [13, tr 40-47];
Trang 26(iii) Thứ ba, cách hiểu theo kiểu kết hợp của hai cách thức nêu trên
Theo tác giả Phan Hoài Nam (2019) [23, tr 29-30], dù có sự không đồng nhất
về quan niệm song nội hàm của các thuật ngữ để chỉ các loại hình hoạt động này lại
có sự tương đồng khi các khái niệm theo pháp luật Việt Nam và các nước đều thống nhất rằng là hoạt động của các thương nhân nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Sự thống nhất ở điểm này sẽ cung cấp cái nhìn cụ thể liên quan đến việc giải quyết vì quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại sẽ đặt ra những yêu cầu khác với việc giải quyết tranh chấp về hôn nhân gia đình, lao động, hình sự hay hành chính
Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa về bản chất cũng là tranh chấp kinh doanh thương mại, như vậy, ta có thể xác định khái niệm tranh chấp mua bán hàng hóa là:
Tranh chấp hợp ồng mua bán hàng hóa là những mâu thuẫn về quyền và
n ĩa v phát sinh trong hoạt ộng mua bán hàng hóa giữa cả hai bên hoặc một bên
là t ươn n ân, cá n ân oạt ộn t ươn một các ộc lập, t ường xuyên và có
m c c lợi nhuận
Trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các bên, có thể xuất phát từ các yếu tố khách quan hoặc do ý chí chủ quan mà các bên tham gia quan hệ pháp luật kinh doanh thương mại có thể vi phạm về nghĩa vụ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên còn lại, cụ thể đối với hợp đồng mua bán hàng hóa thì tranh chấp phát sinh khi các bên vi phạm nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng Như vậy, căn cứ vào các điều khoản cơ bản trong hợp đồng mua bán hàng hóa, tác giả xác định có những loại tranh chấp phát sinh trong hoạt động mua bán hàng hóa như sau:
Thứ nhất, tranh chấp liên quan đến đối tượng của hợp đồng, điều khoản về đối tượng hợp đồng là điều khoản quan trọng không thể thiếu trong hợp đồng giúp các bên phân biệt rõ đối tượng của hợp đồng với những sản phẩm khác, do đó tên hàng hóa phải được ghi một cách rõ ràng, đầy đủ Thực tiễn thương mại có nhiều cách diễn đạt tên hàng như: (a) tên hàng bao gồm tên thường, tên thương mại, tên khoa học của hàng hóa (ví dụ: Cooking oil Marvella do tập đoàn Golden Hope sản xuất); (b) tên
Trang 27hàng kèm theo tên địa phương sản xuất ra hàng hóa đó nếu nơi sản xuất ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm (ví dụ: nước mắm Phú Quốc, sầu riêng Cái Mơn) hoặc kèm tên hãng sản xuất ra hàng hóa đó (ví dụ: cà phê Trung Nguyên); (c) tên hàng kèm theo quy cách chính của hàng hóa đó (ví dụ: Ti vi màn hình phẳng) [4, tr 176] Trong thực tiễn tranh chấp, tranh chấp có thể phát sinh giữa các bên có thể xuất phát
từ nhầm lẫn đối tượng hàng hóa hoặc một bên cố tình giao sai đối tượng hàng hóa dẫn đến tranh chấp Nếu hợp đồng mua bán hàng hóa có quy định rõ ràng cụ thể và
có mô tả về hàng hóa thì khi có phát sinh, Thẩm phán có thể căn cứ vào thỏa thuận của các bên để giải quyết Nếu hợp đồng mua bán hàng hóa không định cụ thể, rõ ràng, hoặc các bên thực hiện hoạt động theo tập quán thương mại giữa các bên, khi có phát sinh tranh chấp, Thẩm phán sẽ gặp khó khăn trong việc xác định ý chí của các bên khi xác lập nội dung hợp đồng về đối tượng hợp đồng
Thứ hai, tranh chấp liên quan đến chất lượng hàng hóa, điều khoản về chất lượng hàng hóa quy định về tính năng, quy cách, kích thước, tác dụng, công suất, hiệu suất của hàng hóa Việc xác định cụ thể chất lượng hàng hóa rất quan trọng vì nó
là cơ sở để xác định giá cả hàng hóa và ảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán Các điều khoản quy định về chất lượng hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên nhằm xác định chất lượng và phương thức kiểm tra chất lượng hàng hóa [4, tr 177] Trong thực tiễn tranh chấp, các bên có thể thống nhất về chất lượng hàng hóa, không xác lập về chất lượng hàng theo tiêu chuẩn của Vinacontrol, khi có tranh chấp phát sinh lại yêu cầu Vinacontrol thực hiện giám định, dẫn đến tranh chấp kéo dài Đặc biệt, có nhiều trường hợp, các bên có dấu hiệu
cố tính kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp, không chấp nhận kết quả giám định, yêu cầu giám định nhiều lần Những vấn đề này sẽ được trình bày chi tiết và cụ thể ở thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Thứ ba, tranh chấp liên quan đến số lượng hàng hóa, điều khoản về số lượng hàng hóa liên quan đến việc xác định rõ đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa cũng như trách nhiệm của các bên Thỏa thuận lựa chọn đơn vị đo lường có thể được quy định cụ thể trong hợp đồng và căn cứ vào tính chất hàng hóa, tập quán
Trang 28thương mại đối với các loại hàng hóa cụ thể Thông thường, số lượng hàng hóa được xác định theo hai cách: (i) quy định chính xác số lượng hàng hóa (ví dụ: 1000 cái giỏ tre, 5000 thùng dầu); (ii) quy định ước chừng về số lượng hàng hóa, theo đó
số lượng có thể cao hơn hoặc thấp hơn số lượng quy định trong hợp đồng và khoản chênh lệch đó được gọi là dung sai về số lượng Cách thức này thường được áp dụng khi mua bán hàng hóa có khối lượng lớn, khó căn đo đong đếm chính xác, hàng hóa có sự bốc hơi hay có sự thay đổi độ ẩm (ví dụ thỏa thuận bán 10.000 tấn gạo +- 2%) Ngoài ra, một vấn đề quan trọng dẫn đến tranh chấp của các bên là khối lượng hàng hóa khi các bên không thỏa thuận cụ thểvề trọng lượng của bao bì và khối lượng của hàng hóa[4, tr 176] Tranh chấp phát sinh liên quan đến số lượng hàng hóa sẽ dẫn đến tranh chấp liên quan đến xác định nghĩa vụ thanh toán của bên mua cũng như trách nhiệm giao hàng của bên bán Ngoài việc phát sinh tranh chấp
do không có xác lập một cách minh thị về phương pháp xác định số lượng và sự hao hụt về số lượng do các yếu tố khách quan, tranh chấp còn có thể phát sinh liên quan đến việc xác định trách nhiệm của bên thứ ba trong việc vận chuyển hàng hóa Khi bên thứ ba vận chuyển hàng hóa, bên bán không có sự kiểm đếm cụ thể, bên mua theo tập quán thương mại cũng không kiểm đếm lại, khi có phát sinh tranh chấp, Thẩm phán phải đưa bên thứ ba trở thành người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời phải xét đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa Lúc này, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa trở nên phức tạp, thời gian xác minh và giải quyết bị kéo dài
Thứ tư, tranh chấp phát sinh liên quan đến vấn đề giá cả, giá cả hàng hóa thường được xác định thông qua đồng tiền định giá, mức giá, phương pháp quy định mức giá, phương pháp xác định mức giá, cơ sở của giá cả và việc giảm giá[4, tr 179] Trong thực tế, nhiều trường hợp, bên mua yêu cầu bên bán ghi giá ít hơn giá thực tế với mục đích trốn thuế hoặc ghi giá hơn giá thực tế để hưởng phần chênh lệch, khi tranh chấp phát sinh giữa các bên, Thẩm phán phải xác định ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng, đồng thời xem xét tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc bên thứ ba Tranh chấp liên quan đến giá cả còn có thể
Trang 29liên quan đến những hàng hóa có giá cả thay đổi theo thị trường thế giới (ví dụ như sắt, thép), một bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có thể tìm cách tranh chấp với bên còn lại nhằm chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa Tác giả cho rằng hành vi này vừa xuất phát từ ý thức chủ quan của bên vi phạm nghĩa vụ, vừa xuất phát từ việc nước ta vẫn chưa xây dựng và hoàn thiện được sàn giao dịch hàng hóa nhằm tạo điều kiện để các bên có thể mua bán hàng hóa hình thành trong tương lai, giảm thiểu rủi ro cho các bên trước biến động về giá cả trên thế giới
Thứ năm, tranh chấp phát sinh liên quan đến thanh toán hàng hóa, bao gồm phương thức, thời hạn, địa điểm thanh toán hàng hóa Tùy theo tính chất, đối tượng của hợp đồng, các bên có thể lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp nhất như thanh toán bằng tiền mặt, chuyển tiền, thư tín dụng… Trong thực tế, có thể vì tập quán thương mại, có thể vì các bên đã có sự tin tưởng lẫn nhau, hoặc từ trình độ của nhân viên soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên có thể thỏa thuận về điều kiện, thời hạn thanh toán không rõ ràng, dẫn đến tranh chấp về sau như thỏa thuận
“bên mua phải thanh toán cho bên bán bằng phương thức chuyển tiền sau 03 ngày tính từ ngày hàng cập cảng” là một thỏa thuận không rõ ràng bởi vì trong thời gian 03 ngày sau khi hàng cập cảng, việc thanh toán có thể không xảy ra mà việc thanh toán chỉ được thực hiện khi hết thời hạn 03 ngày đó nhưng chính xác ngày nào thì không thể xác định được
Thứ sáu, tranh chấp phát sinh liên quan đến thời điểm, địa điểm giao hàng, điều khoản này liên quan đến một số quyền và nghĩa vụ của các bên, ảnh hưởng đến giá cả của hàng hóa cũng như thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa và rủi ro[4, tr 178] Việc quy định địa điểm giao hàng cũng có ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt pháp
lý mà còn trong khía cạnh thương mại, đặc biệt là trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bởi vì chi phí vận chuyển trong nhiều trường hợp chiếm từ 40% đến 50% giá trị của hàng hóa Thực tiễn hoạt động mua bán hàng hóa cho thấy, địa điểm chuyển giao hàng hóa do các bên quy định trong hợp đồng bằng cách lựa chọn điều kiện giao hàng theo tập quán thương mại tại địa phương và tập quán thương mại giữa các bên Tranh chấp liên quan đến thời điển, địa điểm giao hàng là tranh chấp thường phát sinh
Trang 30trong thực tế Tranh chấp này liên quan đến thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa
và rủi ro nên cũng liên quan đến tranh chấp về vận chuyển hàng hóa với bên thứ ba là bên vận chuyển hàng hóa Ngoài ra, tập quán thương mại cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên trong nhiều trường hợp không quy định rõ ràng mà có thể ngầm hiểu là giao hàng đến kho hàng của bên mua hoặc đến cổng kho hàng của bên mua Khi thiệt hại phát sinh, các bên sẽ có nhiều cách giải thích khác nhau về ý chí của mình trong việc xác định thời gian và địa điểm giao hàng, lúc đó, Thẩm phán giải quyết gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên
Các bên còn có thể phát sinh tranh chấp liên quan đến trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, tranh chấp phát sinh liên quan đến đồng tiền thanh toán, tranh chấp phát sinh liên quan đến trách nhiệm đối với sản phẩm, tranh chấp phát sinh liên quan đến giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, nhìn chung, các tranh chấp nêu trên cũng đều phát sinh liên quan đến các tranh chấp về đối tượng hợp đồng, số lượng hàng hóa, giá cả, thanh toán, thời gian và địa điểm giao hàng
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thời gian chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử đối với tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là 02 tháng Quy định này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn hoạt động kinh doanh thương mại phải được diễn ra liên tục để các bên có duy trì được dòng tiền và tiết giảm chi phí cơ hội Tuy nhiên, thực tiễn hiện này, các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa không được giải quyết, giải quyết không đúng quy định pháp luật dẫn đến hủy, sửa bản án, thời gian giải quyết kéo dài, thương nhân hoặc các bên tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa
bị thiệt hại về tài chính, gia tăng chi phí cơ hội, các chi phí khác phát sinh như chi phí lưu kho bãi, chi phí giám định và các chi phí khác Đồng thời, việc kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp, kết quả giải quyết không đúng quy định pháp luật dẫn đến suy giảm niềm tin của nhà đầu tư, đồng thời làm môi trường đầu tư bị ảnh hưởng, gián tiếp gây ảnh hưởng đến hệ thống kinh tế và sự phát triển của xã hội
1.1.3 Cơ chế ảo đảm hợp đồng mua án hàng hóa
Trang 31Cơ chế thực hiện pháp luật được thực hiện thông qua các hình thức chủ yếu bao gồm tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật, chấp hành pháp luật và áp dụng pháp luật, cụ thể:
(i) Thứ nhất,tuân thủ pháp luật là cơ chế thực hiện pháp luật, trong đó, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật kiềm chế, giữ mình không làm những gì mà pháp luật cấm;
(ii) Thứ hai,sử dụng pháp luật là cơ chế thực hiện pháp luật, trong đó, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thực hiện quyền được pháp luật quy định;
(iii) Thứ ba,chấp hành pháp luật là cơ chế thực hiện pháp luật, trong đó, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật;
(iv) Thứ tư, áp dụng pháp luật là cơ chế thực hiện pháp luật, trong đó,có ít nhất một bên chủ thể tham gia quan hệ pháp luật là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
áp dụng các quy phạm pháp luật vào trường hợp cụ thể đối với cá nhân, tổ chức để giải quyết quyền, nghĩa vụ cho họ hoặc xác định trách nhiệm pháp lý đối với họ
Bảo đảm thi hành pháp luật là tổng thể các biện pháp, phương thức mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng để các chủ thể thực hiện pháp luật đưa các quy định của pháp luật vào cuộc sống Các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật gồm:
(i) Thứ nhất,biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật bằng biện pháp pháp lý: là các biện pháp từ việc tạo ra cơ sở pháp lý cụ thể (ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản cá biệt) để thi hành pháp luật đến các biện pháp cưỡng chế (hành chính hoặc tư pháp);
(ii) Thứ hai, biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật bằng biện pháp kinh tế -
xã hội (ổn định và phát triển cơ sở vật chất, đời sống, điều kiện phương thức kỹ thuật…);
(iii) Thứ ba, biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật bằngbiện pháp hành chính điều hành bảo đảm để các chủ thể quan hệ pháp luật thực hiện các hành vi hợp pháp
Trang 32Như vậy để có cơ chế bảo đảm hợp đồng mua bán hàng hóa, các cơ quan nhà nước phải thực hiện biện pháp như:
- Bảo đảm bằng pháp luật: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng và ban hành các quy định pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng mua bán hàng như Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thương mại năm 2005 được sửa chữa, bổ sung năm 2017, năm 2019
- Bảo đảm bằng thực thi pháp luật: Trong quá trình áp dụng pháp luật, để đảm bảo các bên thực hiện đúng theo quy định pháp luật, các bên có thể thực hiện quyền khởi kiện tại Tòa án để giải quyết tranh chấp, giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài thương mại và yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành bản án, quyết định của Tòa án, phán quyết của Trọng tài thương mại
1.2 Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua án hàng hóa tại Tòa án
1.2.1 K á n m p áp l ật ề ả q yết tran c ấp ợp ồn m a bán hàng hóa tạ Tòa án
Theo Điều 317 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm
2019, hình thức giải quyết tranh chấp trong thương mại được pháp luật thương mại quy định bao gồm:
(i) Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp khi các bên tự thỏa thuậnvới nhau để tìm ra giải pháp nhằm chấm dứt tranh chấp đã phát sinh trên tinh thần tự nguyện, thiện chí, hợp tác mà không có sự tham gia của chủ thể thứ ba, đồng thời các bên cũng tự nguyện thi hành theo phương án đã thỏa thuận với nhau Pháp luật hầu hết các nước đều không có quy phạm điều chỉnh trình tự, thủ tục của phương thức giải quyết tranh chấp này
(ii) Phương thức giải quyết tranh chấp bằng hoà giải là phương thứcmà các bên thỏa thuận lựa chọn một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân làm trung gian hoà giải
để giúp các bên có được tiếng nói chung trong việc giải quyết các bất đồng Hình thức giải quyết tranh chấp này có các đặc điểm như:
Trang 33+ Luôn có sự tham gia của bên thứ ba đóng vai trò là hòa giải viên giúp đỡ,
hỗ trợ các bên tìm kiếm giải pháp;
+ Để đảm bảo tính khách quan, hòa giải viên là người không có quyền lợi liên quan đến vụ tranh chấp và phải hoàn toàn trung lập, khách quan để tạo sự tin cậy đối với mỗi bên tranh chấp khi yêu cầu hòa giải bất đồng của mình
+ Hòa giải viên có thể đưa ra phương án mà theo người này, phương án đó giúp giải quyết thỏa đáng nhất bất đồng của các bên và các bên cũng có thể đồng ý với phương án do hòa giải viên đưa ra nhưng việc thực hiện kết quả hòa giải phụ thuộc hoàn toàn vào sự tự nguyện và thiện chí của các bên
+ Giống như thương lượng, hòa giải là phương pháp giải quyết tranh chấp
mà trình tự, thủ tục hòa giải cũng không được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật Tuy nhiên, trong các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án hay trọng tài, đều có quy định về hòa giải
(iii) Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án
+ Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh tại trọng tài thương mại: là phương thức tài phán các bên thoả thuận và tiến hành theo trình tự tố tụng Trọng tài thương mại;
+ Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh tại Tòa án: là phương thức tài phán tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước theo trình tự tố tụng do pháp luật quy định Với phương thức này bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp nếu các bên tranh chấp không tự nguyện tuân thủ thì có thể bị cưỡng chế thi hành [45]
Tranh chấp mua bán hàng hóa là một loại tranh chấp kinh doanh thương mại, tác giả xác định khái niệm về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là:
Giải quyết tranh chấp hợp ồng mua bán hàng hóa là giải quyết những mâu thuẫn bất ồng về quyền và n ĩa v nảy sinh trong hoạt ộn k n doan t ươn mại giữa các bên hoặc một b n là t ươn n ân, cá n ân oạt ộn t ươn mại một các ộc lập, t ường xuyên và có m c c lợi nhuận
Trang 34Như vậy, trên cơ sở khái niệm “giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, tác giả xác định nội hàm và ngoại diên khái niệm pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa như sau:
Pháp luật giải quyết tranh chấp hợp ồng mua bán hàng hóa là h thống các quy tắc xử sự c un , do N à nước ban hành hoặc thừa nhận, dùn ể ều chỉnh các quan h xã hội phát sinh trong hoạt ộng giải quyết những mâu thuẫn bất ồng
về quyền và n ĩa v nảy sinh trong hoạt ộn k n doan t ươn mại giữa các bên hoặc một b n là t ươn n ân, cá n ân oạt ộn t ươn mại một các ộc lập,
t ường xuyên và có m c c lợi nhuận theo trình tự và thủ t c nhất ịnh
1.2.2 Đặc điểm pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua án hàng hóa tại Tòa án
Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm chung sau đây[1, tr 313]:
(i) Thứ nhất,trên cơ sở bản chất hoạt động mua bán hàng hóa, tranh chấp mua bán hàng hóa chịu sự chi phối, ảnh hưởngtừ hoạt động này như mục đích sinh lợi, yêu cầu về thời cơ kinh doanh và giữ bí mật thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa cũng phải đảm bảo giảm thiểu về thiệt hại kinh tế cho các bên, các quy định về giữ bí mật liên quan đến hoạt động kinh doanh
(ii) Thứ hai, tranh chấp phát sinh trong hoạt động mua bán hàng hóa có thể được giải quyết bằng các phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau, trong đó có các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án
(iii) Thứ ba, pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán, các bên có thể tự hòa giải, thương lượng và Tòa án, Trọng tài cũng chỉ có quyền giải quyết yêu cầu của các bên trong phạm vi khởi kiện, các bên cũng có quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu của mình trong quá trình giải quyết
Trang 35(iv) Thứ tư, xuất phát từ mục đích hợp đồng mua bán hàng hóa là tìm kiếm lợi nhuận Yếu tố thời gian có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thương nhân Do vậy, pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng có những quy định
về rút ngắn thời hạn đưa vụ án ra xét xử, quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với
vụ án tranh chấp mua bán hàng hóa nói riêng, tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung cũng ngắn hơn so với các loại tranh chấp dân sự khác (tranh chấp dân sự hiểu theo nghĩa rộng)
1.2.3 Nội dung pháp luật quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
Để một tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được giải quyết thông qua cơ quan tài phán Toà án, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa đó phải thoả mãn 03 điều kiện như sau:
(i) Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng phát sinh từ hoạt động thương mại
mà pháp luật áp dụng giải quyết tranh chấp là pháp luật Việt Nam
Căn cứ vào yếu tố nước ngoài, ta có thể chia tranh chấp kinh doanh thương mại bao gồm tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài và tranh chấp kinh doanh thương mại không có yếu tố nước ngoài
Đối với các tranh chấp kinh doanh thương mại không có yếu tố nước ngoài, toà án tại Việt Nam là toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Đối với các tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền của Toà án Việt Nam, theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được phân chia thành hai loại thẩm quyền: thẩm quyền chung (Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và thẩm quyền riêng (Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) Thẩm quyền chung của Toà án Việt Nam có thể mang tính “trùng lặp” với thẩm quyền của Toà án một quốc gia khác khi tiến hành giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài Trường hợp có sự “trùng lặp” thẩm quyền thì việc xác định thẩm quyền giải quyết phụ thuộc vào việc nộp đơn của đương sự và các mối liên hệ của
vụ việc đối với lãnh thổ hay luật áp dụng cho vụ việc đó
Trang 36Thẩm quyền riêng biệt của Toà án Việt Nam là thẩm quyền đối với các tranh chấp chỉ thuộc về Toà án của Việt Nam Việc Toà án của nước ngoài có thẩm quyền giải quyết hay không sẽ phụ thuộc vào quy tắc của Tư pháp quốc tế quốc gia đó xác định, tuy nhiên, trong trường hợp nếu việc khởi kiện được tiến hành tại Toà án nước ngoài thì các phán quyết được tuyên bởi Toà án nước ngoài đó sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Nội dung này được thể hiện rõ tại Điều 439 và Điều 440 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
(ii) Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa khi các bên không lựa chọn Trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp
Theo quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, các bên tranh chấp có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Trọng tài thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được, do đó điều kiện để một Tòa án thụ lý một tranh chấp thương mại là các bên không có thoả thuận lựa chọn Trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp
(iii) Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án:
Những tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc thẩm quyền của Toà án quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bao gồm:
- Thứ nhất, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là tranh chấp giữa các chủ thể có đăng ký kinh doanh với nhau và nhằm mục đích lợi nhuận
- Thứ hai, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là tranh chấp về các điều khoản liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
- Thứ ba, theo phương pháp kết hợp giữa phương pháp liệt kê và phương pháp định nghĩa, các nhà làm luật các mở rộng các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Trang 37Thủ tục giải quyết để giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng tòa án:
(i) Thủ tục khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi tham gia các quan hệ xã hội đều có các quyền
và nghĩa vụ pháp lý được Nhà nước và pháp luật bảo vệ Trong đó, quyền pháp lý là khả năng được xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật cho phép Tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở việc thực hiện quyền của mình chấm dứt hành vi đó Hoặc trong trường hợp quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, cá nhân, cơ quan, tổ chức
có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ lợi ích chính đáng của mình Một trong những biện pháp bảo vệ quyền pháp lý của các chủ thể hữu hiệu nhất là quyền khởi kiện Các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự có quyền khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Toà án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm
Về mặt lý luận, thời hiệu khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại nói chung, thời hiệu khởi kiện vụ án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóanói riêng là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án kinh doanh thương mại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật tố tụng dân sự có quy định khác Về pháp luật thực định, thời hiệu khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại được quy định trongcác quy phạm pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự Theo
đó, nếu pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là 02 năm kể từ ngày cá nhân, tổ chức biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm
Một số thời hiệu khởi kiện cụ thể:
(a)Đối với tranh chấp liên quan đến hư hỏng, mất mát hàng hóa hàng hóa vận chuyển theo chứng từ vận chuyển, thời hiệu khởi kiện là 01 năm, kể từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng (Điều 97 Bộ luật hàng hải năm
Trang 382005);
(b) Đối với tranh chấp liên quan đến hợp đồng thuê tàu, thời hiệu khởi kiện
là 02 năm, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng (Điều 142 Bộ luật hàng hải năm 2005);
(c) Đối với tranh chấp liên quan đến thực hiện hợp đồng đại lý tàu biển, thời hiệu khởi kiện là 02 năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp (Điều 169 Bộ luật hàng hải năm 2015);
(d) Đối với tranh chấp liên quanđến thực hiện hợp đồng cứu hộ hàng hải, thời hiệu khởi kiện là 02 năm, kể từ ngày kết thúc hành động cứu hộ (Điều 195 Bộ luật hàng hải năm 2005);
(ii) Thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại
Trong trường hợp, sau khi hoàn thành thủ tục khởi kiện, nếu toà án xác định
vụ án kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì việc giải quyết sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại bao gồm các bước như sau:
+ Thụ lý vụ án kinh doanh thương mại: Thụ lý vụ án kinh doanh thương mại
là hoạt động đầu tiên của quá trình giải quyết vụ án dân sự, được tiến hành sau khi
có đơn khởi kiện của những chủ thể có quyền khởi kiện được pháp luật quy định Trong hoạt động thụ lý vụ án, Toà án sẽ xác định yêu cầu khởi kiện có đủ điều kiện làm phát sinh vụ án kinh doanh thương mại hay không Trong trường hợp thoả mãn tất cả các điều kiện thụ lý theo quy định cũng như không thuộc các trường hợp trả lại đơn khởi kiện Toà án trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình có bổn phận tiến hành thủ tục vào sổ thụ lý vụ án Vì vậy, thụ lý vụ án có thể được hiểu là việc Toà án xác định các điều kiện khởi kiện và tiến hành vào sổ thụ lý vụ án khi nhận đơn khởi kiện của các chủ thể có quyền theo quy định
+ Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại có thể được hiểu là những hoạt động được Toà
án tiến hành để giải quyết vụ án dân sự từ sau khi thụ lý vụ án Vì vậy, có thể xem chuẩn bị xét xử sơ thẩm là một giai đoạn trong quá trình tố tụng dân sự Trong giai
Trang 39đoạn này, cơ quan tiến hành tố tụng là Tòa án thực hiện các hoạt động như Chánh
án phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, ra thông báo thụ lý vụ án, thực hiện lập
hồ sơ vụ án, tiến hành tổ chức hoà giải, nghiên cứu và thực hiện áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại hoặc quyết định đưa vụ án kinh doanh thương mại ra xét xử
+ Phiên toà sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại: Khi hoà giải không đạt được kết quả và không có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án thì Toà án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
Theo quy định pháp luật, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với vụ án kinh doanh thương mại bằng con đường Tòa án là 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với những vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì thẩm phán được phân công giải quyết vụ án được gia hạn thời gian chuẩn bị xét xử thêm 01 tháng
Ngoài ra, theo trình tự tố tụng, pháp luật còn quy định rõ về thời hạn tố tụng
về thời hạn mở phiên tòa là 01 (một) tháng, kể từ ngày có thẩm phán ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm,trường hợp có lý do chính đáng hoặc có trở ngại khách quan thì thời hạn mở phiên tòa là 02 tháng
(iii) Thủ tục giải quyết phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại
Đây là một nội dung quan trọng của chế độ hai cấp xét xử nhằm đảm bảo cho
tấ cả các bản án, quyết định của Toà án trước khi có hiệu lực được xem xét một cách thận trọng nhằm sửa chữa kịp thời những sai sót nếu có trong quá trình giải quyết vụ án kinh doanh thương mại
(iv) Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Thủ tục xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được xem là thủ tục đặc biệt, có nghĩa là việc xem xét lại này chỉ được thực hiện trong những trường hợp mà pháp luật có quy định nhằm hạn chế việc lạm dụng khiến cho tính ổn định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không được đảm bảo, bao gồm
Trang 40thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm Trong đó căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là phát hiện có sai lầm trong quá trình điều tra, xét xử vụ án, căn
cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án mà đương sự không thể biết được khi Tòa án ban hành bản án, quyết định
đó
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn xét xử, ngoài hai thủ tục giám đốc thẩm
và tái thẩm, pháp luật tố tụng dân sự còn quy định thủ tục đặc biệt liên quan đến việc xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Theo
đó, khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định việc xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao được thực hiện khi có căn cứ xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
1.2.4 ồn p áp l ật ả q yết tran c ấp ợp ồn m a bán àn óa
tạ Tòa án
Nguồn của pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án là nơi chứa quy tắc pháp luật cần thiết cho xử sự của chủ thể pháp luật hay nơi chứa đựng quy phạm pháp luật, bao gồm ba nguồn cơ bản:
(i) Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL)
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật (quy tắc
xử sự mang tính bắt buộc chung được Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện), được xây dựng theo quy trình lập pháp chặt chẽ và được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tạiĐiều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020, bao gồm các nguồn sau: Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và những văn bản pháp luật có liên quan như Luật Thương mại 2005, Nghị quyết 103/2015/QH13 của Quốc hội về việc thi hành BLTTDS 2015, Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13, Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ