Đối với doanh nghiệp sản xuất, một trong những quyết định quan trọng của nhà quản trị chính là những quyết định về sản xuất sản phẩm.. Mục tiêu chung Nghiên cứu công tác kế toán quản tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐÔNG Á
NGUYỄN VĂN VIỆT
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY
TNHH XÂY DỰNG AN BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
BẮC NINH – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐÔNG Á
NGUYỄN VĂN VIỆT
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY
TNHH XÂY DỰNG AN BÌNH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 8340301
A
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ QUANG GIÁM
BẮC NINH – 2018
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập và nghiên cứu hoàn thiện đề tài “Hoàn thiện
công tác kế toán quản trị chi phí nguyên vật liệu tại Công ty TNHH xây dựng
An Bình”, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều
sự động viên giúp đỡ của rất nhiều đoàn thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kế toán
và Quản trị kinh doanh, cùng toàn thể các thầy cô giáo Trường Đại học Công nghệ Đông Á đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian tôi học tập tại
trường Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS Đỗ Quang
Giám đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình làm luận văn Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy, các cô giáo đã cho tôi những ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thành tốt hơn bài khóa luận của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty TNHH xây dựng An Bình nói chung và phòng Kế toán nói riêng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian tôi thực tế tại Công ty
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Bắc Ninh, ngày 18 ttháng 05 năm 2018 Sinh viên
Nguyễn Văn Việt
Trang 4ii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục từ viết tắt iv
Danh mục bảng, sơ đồ, biểu đồ v
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Mục tiêu nghiên cứu 7
2.1 Mục tiêu chung 7
2.2 Mục tiêu cụ thể 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
4.1 Phương pháp thu thập số liệu 8
4.2 Phương pháp xử lý số liệu 8
4.3 Phương pháp phân tích số liệu 9
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Một số vấn đề chung về kế toán quản trị trong doanh nghiệp 11
1.2 Cơ sở thực tiễn 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG AN BÌNH 34
2.1 Khái quát chung về Công ty TNHH Xây dựng An Bình 34
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 34
Trang 5iii
2.1.3 Đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh của công ty 42
2.2 Thực trạng kế toán quản trị NVL tại Công ty TNHH XD An Bình 45
2.2.2 Công tác lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trong Công ty: 48
2.2.6 Phân tích và đánh giá chung 59
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY 62
3.1 Đánh giá thực trạng về công tác KTQT chi phí NVL tại Công ty 62
3.1.1 Mô hình kế toán tại công ty 62
3.1.2 Hình thức tổ chức sản xuất 66
3.1.3 Thu hồi phế liệu sau thi công 67
3.1.4 Phương pháp tính giá 72
3.1.5 Luân chuyển chứng từ, báo cáo kế toán nguyên vật liệu 74
3.1.6 Đánh giá kết quả đạt được về công tác KTQT chi phí NVL tại Công ty 75
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị nguyên vật liệu tại Công ty 79
3.2.1 Đối với công tác quản lý nguyên vật liệu trong công ty: 79
3.2.2 Đối với công tác quản lý con người trong công ty: 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Kiến nghị 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 87
Trang 7v
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của công ty 38
Bảng 3.1 Chênh lệch chi phí trong xây dựng khu nhà kho của Công ty 73
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty 41
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình sản xuất 42
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất 43
Sơ đồ 2.4: Sơ đồ hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp thẻ song song 53
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức kế toán tại công ty 62
Biểu đồ 3.1 Trình độ chuyên môn đội ngũ kế toán công ty xây dựng An Bình 64
Biểu đồ 3.2 Nhu cầu đào tạo của đội ngũ kế toán công ty An Bình 65
Biểu đồ 3.3 Giá trị thu hồi phế liệu của công ty giai đoạn 2015 - 2017 69
Trang 86
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tình hình kinh tế nước ta đang hội nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là Việt Nam hiện đã là thành viên của tổ chức thương mại quốc tế WTO, đó vừa là thuận lợi nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức cho Việt Nam nói chung và doanh nghiệp trong nước nói riêng Trong bối cảnh đó, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp, cụ thể là các nhà quản trị phải đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời nhằm đem lại kết quả cũng như hiệu quả kinh doanh cho mình nếu muốn tồn tại và phát triển
Đối với doanh nghiệp sản xuất, một trong những quyết định quan trọng của nhà quản trị chính là những quyết định về sản xuất sản phẩm Để ra những quyết định đó, nhà quản trị đặc biệt cần đến những thông tin về chi phí sản xuấtthích hợp do KTQT cung cấp, trong đó không thể thiếu chi phí NVL Đây là khoản mục có vị trí quan trọng trong cơ cấu chi phí của doanh nghiệp sản xuất Vì vậy, tổ chức tốt công tác KTQT nói chung và KTQT chi phí NVL nói riêng là điều kiện cần thiết nhằm cung cấp thông tin chi phí thích hợp và kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp Đó
là cơ sở cho kiểm soát, thúc đẩy tốt hơn công tác quản lý, sử dụng chi phí của đơn vị một cách có hiệu quả, từ đó góp phần làm giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp
Qua những tìm hiểu về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH xây dựng An Bình, tôi nhận thấy rằng chi phí NVL là khoản mục thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp Do vậy, công ty luôn quan tâm đến công tác KTQT chi phí NVL để
có sự điều tiết NVL phù hợp, tìm mọi biện pháp giảm bớt chi phí NVL trong
Trang 97
giá thành sản phẩm, qua đó có thể tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Tuy nhiên, do chỉ mới thành lập không lâu (cuối năm 2009) nên kinh nghiệm cũng như tiềm lực về tài chính, công nghệ,…của Công ty còn hạn chế so với các doanh nghiệp khác đã hoạt động nhiều năm trong ngành Hơn nữa, quá trình sản xuất trải qua nhiều công đoạn, chi phí phát sinh nhiều, dễ bị thất thoát, dù công tác KTQT được quan tâm chú ý nhưng vẫn bộc lộ một số hạn chế, chưa
thực sự phát huy hiệu quả Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn
thiện công tác kế toán quản trị chi phí nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Xây dựng An Bình” làm nội dung nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu công tác kế toán quản trị chi phí nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH xây dựng An Bình, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản trị tại công ty nói chung và KTQT chi phí NVL nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác kế toán quản trị chi phí nguyên vật liệu của Công ty TNHH xây dựng An Bình
Trang 10+ Thời gian nghiên cứu đề tài: Năm2018;
+ Số liệu chung được sử dụng trong báo cáo được lấy từ năm 2015 – 2017;
+ Số liệu kế toán sử dụng để nghiên cứu được lấy trong tháng 07/2016
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Công ty TNHH xây dựng An Bình – Lô 3, N9 , Đường Ngọc Hân Công Chúa, phường Võ Cường , thành phố Bắc Ninh , tỉnh BắcNinh
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
* Số liệu thứ cấp: Trong bài nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng số liệu thứ cấp là những báo cáo tài chính (cụ thể là bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh), một số báo cáo về tình hình nguyên liệu, vật liệu lấy từ phòng Kế toán của công ty Bên cạnh đó, chúng tôi còn tìm hiểu, thu thập thông tin từ sách, báo, tạp chí, Internet và một số đề tài nghiên cứu trước đó
để phục vụ cho việc nghiên cứu
* Số liệu sơ cấp: Bài nghiên cứu có sử dụng thông tin sơ cấp có được do việc phỏng vấn các nhân viên của các phòng ban trong công ty về quá trình hình thành, phát triển, sản phẩm, ngành nghề kinh doanh, về cơ cấu, tổ chức
bộ máy quản lý, các đặc điểm…
4.2 Phương pháp xử lý số liệu
Phương pháp chủ yếu được chúng tôi sử dụng trong bài là thu thập có chọn lọc thông tin và sắp xếp một cách hợp lý Sau khi thu thập số liệu thô chúng tôi tiến hành sắp xếp theo các chỉ tiêu khác nhau để nghiên cứu mối
Trang 119
liên hệ và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các vấn đề có liên quan trong lĩnh vực nghiên cứu Công cụ chính là phần mềm Excel
4.3 Phương pháp phân tích số liệu
❖ Phương pháp thống kê mô tả
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, phương pháp này dùng để thống kê lại những hiện tượng, sự kiện xảy ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như quản trị NVL của doanh nghiệp Dựa vào cơ sở thực tế để mô
tả lại bằng văn viết của mình, giúp cho các đối tượng quan tâm hiểu được vấn
đề nghiên cứu
❖ Phương pháp so sánh
Là phương pháp được sử dụng phổ biến và rộng rãi trong phân tích kinh
tế nói chung và phân tích kinh doanh nói riêng
* So sánh tuyệt đối: Nhằm xác định mức biến động tuyệt đối của các chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu kỳ gốc So sánh tuyệt đối cho thấy quy mô của sự thay đổi giữa 2 kỳ phân tích Khi so sánh dùng phép trừ
* So sánh tương đối: So sánh tương đối có tác dụng làm rõ bản chất của các hiện tượng nghiên cứu, được tính bằng tỷ lệ phần trăm của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu kỳ gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của
số chênh lệch tuyệt đối so với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng
* So sánh có liên hệ: Khi so sánh phải liên hệ với chỉ tiêu có quan hệ trực tiếp khác để làm rõ bản chất của hiện tượng nghiên cứu mà phương pháp
so sánh tuyệt đối, tương đối chưa làm được Sử dụng phương pháp này sẽ đánh giá được tính hợp lý của sự thay đổi của các chỉ tiêu phân tích, tiết kiệm hay vượt mức kế hoạch là bao nhiêu
Áp dụng của phương pháp so sánh trong đề tài là so sánh số thực hiện kỳ này với kỳ trước, năm nay với năm trước để thấy rõ sự biến động của tài sản, nguồn vốn, kết quả sản xuất kinh doanh, hay sự biến động về chi phí NVL giữa
kế hoạch và thực hiện và đánh giá tính hợp lý của sự thay đổi chi phí NVL
Trang 12Áp dụng phương pháp này trong đề tài để phân tích tài chính của công
ty, chia thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng Đó là các nhóm tỷ lệ về nội dung thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm các tỷ lệ về năng lực hoạt động, nhóm các tỷ lệ về khả năng sinh lời
❖ Phương pháp kế toán quản trị
Ngoài các phương pháp chung của kế toán, KTQT còn có những phương pháp đặc thù để thực hiện mục tiêu Đó là:
- Nhận diện các cách phân loại chi phí: Chi phí là nhân tố chủ yếu tác động đến kết quả kinh doanh nên việc dự toán và kiểm soát với người quản lý
là rất quan trọng Nhận diện để phân loại chi phí theo nhiều cách là công cụ quan trọng, là điểm then chốt để đề ra các quyết định đúng đắn
- Sử dụng các kỹ thuật phân tích để cung cấp thông tin: kế toán quản trị
sử dụng nhiều phương pháp phân tích như phương pháp so sánh, phương pháp chênh lệch,… kết hợp với các kỹ năng và kiến thức của nhiều môn học
để cung cấp thông tin
- Truyền đạt thông tin theo nhiều cách: Bảng biểu, đồ thị, công thức,… Trong đề tài này, qua các thông tin, số liệu thu thập được ta tiến hành phân tích biến động của chi phí nguyên vật liệu của doanh nghiệp, đánh giá tính tích cực, hạn chế của những biến động đó đến doanh nghiệp Từ đó có những đề xuất cho phù hợp
Trang 1311
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số vấn đề chung về kế toán quản trị trong doanh nghiệp
➢ Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị:
* Khái niệm:
Kế toán là một công cụ quản lý kinh tế tài chính nói chung và đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp Việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về thu nhập, chi phí của doanh nghiệp là một yêu cầu của KTTC nhưng do yêu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao, mối quan hệ trong kinh doanh ngày càng phức tạp, doanh nghiệp sản xuất ngày càng đa dạng nên KTTC không thể cung cấp thông tin chi tiết về từng sản phẩm, dịch vụ nhằm phục vụ kịp thời cho nhu cầu quản lý của từng cấp trong doanh nghiệp Vì vậy các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống KTQT để xây dựng các dự toán, sau đó theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện nhằm có biện pháp quản lý tốt hơn Cùng với sự phát triển của khoa học quản lý, khoa học kế toán cũng phát triển theo vì kế toán là công cụ của quản lý KTQT phát triển muộn hơn KTTC
và được bắt nguồn từ kế toán chi phí nhằm nghiên cứu quá trình tính toán, xác định chi phí và kết quả để có các quyết định kinh doanh phù hợp.Có thể nói sự ra đời và phát triển của KTQT đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ trong việc nghiên cứu sử dụng hệ thống thông tin kế toán cho công tác quản lý kinh doanh Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về kế toán quản trị:
Theo Ray H Garrison (1980): “Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung
cấp tài liệu cho các nhà quản lý và những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó.”
Trang 1412
Theo Ronald W Hilton (1982): “KTQT là một bộ phận của hệ thống
thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định
và kiểm soát các hoạt động của tổ chức.”
Theo từ điển thuật ngữ kế toán Mỹ: “KTQT là lĩnh vực kế toán liên quan
đến thu thập và xử lý các thông tin kinh tế nhằm hỗ trợ những nhà quản lý trong việc đưa ra các quyết định tài chính đặc biệt trong hoạch định kế hoạch
và quản lý giá thành.”
Theo ViệnKế toán quản trị Hoa Kỳ (IMA, 1982): “KTQT là quy trình
định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp và để đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”
Theo Luật Kế toán Việt Nam (2003): “KTQT là việc thu thập, xử lý,
phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu KTQT là một khoa học thu thập,
xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động SXKD cụ thể phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ doanh nghiệp
Như vậy, cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường, KTQT đã ra đời và trở thành công cụ quan trọng trợ giúp cho những người làm công tác quản lý ra quyết định SXKD và là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp
* Bản chất của KTQT;
Về bản chất, KTQT chi phí nguyên vật iệu là một bộ phận của kế toán quản trị KTQT chi phí NVL cung cấp những thông tin về chi phí NVL trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của doanh nghiệp Mục đích của KTQT chi phí NVL là cung cấp thông tin về các loại chi phí NVL cho nhu cầu quản trị
Trang 15- KTQT cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi quản lý nội bộ của DN Những thông tin này chỉ có ý nghĩa với những người, những bộ phận, những nhà quản lý doanh nghiệp Vì vậy, KTQT là loại kế toán dành cho người làm công tác quản lý còn KTTC không phục vụ trực tiếp mục đích này
- KTQT là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một công
cụ quan trọng trong quản lý nội bộ doanh nghiệp
➢Vai trò của KTQT với chức năng quản lý DN
KTQT là công cụ quản lý giúp nhà quản trị thực hiện chức năng Theo từng chức năng quản lý, KTQT có vai trò như sau:
- Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch, dự toán để có cơ
sở đưa ra các mục tiêu, các kế hoạch ngắn và dài hạn;
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện để có cơ sở kết hợp tốt nhất các nguồn lực của doanh nghiệp;
- Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra đánh giá để có cơ sở phát hiện những lệch lạc, những tồn tại hoặc bất hợp lý nhằm có cơ sở điều chỉnh mục tiêu và kế hoạch ban đầu;
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định Để ra quyết định, người quản lý phải có sự lựa chọn hợp lý giữa các phương án, các tình huống.Đây là chức năng cao nhất của quản lý, chức năng xuyên suốt mọi chức năng Để có thông tin thích hợp cho việc ra quyết định, KTQT phải phân tích và tổng hợp
Trang 1614
các thông tin một cách dễ hiểu để cung cấp cho người quản lý;
- Góp phần cải tiến công tác quản lý doanh nghiệp, đặc biệt hoàn thiện công tác quản lý tài chính và công tác kế toán
1.1.2 Một số vấn đề chung về chi phí nguyên vật liệu trong doanh nghiệp
➢ Khái niệm và đặc điểm của chi phí NVL
* Khái niệm NVL, chi phí NVL:
- NVL là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến cần thiết trong quá trong quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và được thể hiện dưới dạng vật hóa như: sắt, thép trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo, sợi trong doanh nghiệp dệt…
- Chi phí nguyên vật liệu bao gồm tất cả các chi phí về nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu, các phụ tùng thay thế,… được sử dụng vào mục đích sản xuất, chế tạo ra sản phẩm Các loại NVL này có thể xuất từ kho ra để sử dụng và cũng có thể mua về đưa vào sử dụng ngay hoặc do tự sản xuất ra và đưa vào sử dụng ngay
* Đặc điểm
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu chính sử dụng để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm nhưng không thể xác định trực tiếp mức tiêu hao thực tế cho từng loại mà phải tiến hành phân bổ theo mức tiêu hao, hệ số phân bổ được quy định, tỷ lệ với trọng lượng sản phẩm được sản xuất
- Chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu xuất sử dụng cũng có thể liên quan đến liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí và không thể xác định trực tiếp mức sử dụng cho từng đối tượng Do đó, để phân bổ chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu có thể chọn tiêu chuẩn phân bổ là chi phí định mức, chi phí NVL chính, khối lượng sản phẩm sản xuất ra…
➢ Vai trò của NVL và yêu cầu quản lý NVL
- Trong các doanh nghiệp sản xuất, NVL thường chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nên việc quản lý chu trình thu
Trang 1715
mua, vận chuyển, bảo quản, dự trữ và sử dụng NVL có ý nghĩa rất lớn trong việc tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm sản xuất…
- Các DN phải thường xuyên theo dõi tình hình biến động của NVL để từ
đó có kế hoạch bổ sung, dự trữ kịp thời cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm cũng như các nhu cầu khác của doanh nghiệp Nguồn NVL dự trữ cho sản xuất đòi hỏi phải đảm bảo về số lượng, đúng về chất lượng, quy cách, chủng loại, đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất liên tục
- Tổ chức tốt kho tàng, bến bãi, trang bị đầy đủ các phương tiện cân, đo, thực hiện đúng chế độ bảo quản đối với từng loại vật liệu, tránh hư hỏng, mất mát, hao hụt, đảm bảo an toàn cho sản xuất
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, kiểm kê định kỳ nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực
➢ Phân loại chi phí NVL
Trong các DN, NVL bao gồm rất nhiều loại khác nhau với nội dung kinh
tế, công dụng trong quá trình sản xuất và tính năng lý hóa khác nhau, vì vậy, cần phải phân loại NVL theo những tiêu thức phù hợp với đặc điểm SXKD và đáp ứng yêu cầu quản lý của DN Có nhiều tiêu thức phân loại NVL nhưng thông thường, các DN sử dụng những tiêu thức sau để phân loại NVL:
* Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu quản lý trong DN, chi phí NVL được chia thành các loại sau:
- Chi phí NVL chính: Là giá mua và chi phí mua của những NVL cấu
thành nên thực thể vật chất của sản phẩm, chi phí NVL chính phát sinh trong sản xuất hình thành nên chi phí NVL trực tiếp Chi phí NVL chính cũng bao gồm cả bán thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hàng hóa
- Chi phí NVL phụ: Là giá mua và chi phí mua của những loại vật liệu
khi tham gia vào quá trình sản xuất không cấu thành nên thực thể vật chất sản phẩm mà có thể kết hợp với NVL chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình
Trang 1816
dáng bên ngoài, làm tăng thêm chất lượng hoặc giá trị của sản phẩm Chi phí NVL phụ cũng có thể là chi phí của những NVL được sử dụng để tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghệ, kỹ thuật phục vụ cho quá trình lao động
- Chi phí nhiên liệu: Là giá mua và chi phí mua của những loại vật liệu
phụ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất, ví dụ như chi phí xăng, dầu, than đá, khí ga…
- Chi phí phụ tùng thay thế: Là giá mua và chi phí mua của những vật tư,
sản phẩm dùng để thay thế, sửa chữa máy móc, thiết bị, tài sản cố định, phương tiện vận tải…
- Chi phí vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là giá mua và chi phí mua
của những loại vật liệu, thiết bị (cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ, vật kết cấu…) mà doanh nghiệp mua vào nhằm mục đích đầu tư xây dựng cơ bản
- Chi phí NVL khác: Bao gồm giá mua và chi phí mua của các loại vật
liệu như vật liệu đặc chủng, các loại vật liệu tạo ra trong quá trình sản xuất sản phẩm, vật liệu thu nhặt được, phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định
* Căn cứ vào nguồn cung cấp kế toán có thể phân loại chi phí NVL thành các nhóm khác nhau như:
- Chi phí NVL mua ngoài;
- Chi phí NVL tự chế biến;
- Chi phí NVL thuê ngoài gia công;
- Chi phí NVL nhận góp vốn liên doanh;
- Chi phí NVL được đơn vị cấp trên cấp theo quy định
* Căn cứ vào mục đích, công dụng của NVL thì chi phí NVL được chia thành:
- Chi phí NVL trực tiếp dùng vào sản xuất xây dựng;
Trang 1917
- Chi phí NVL dùng cho các nhu cầu khác như: quản lý phân xưởng, quản lý DN, tiêu thụ sản phẩm
➢ Các phương pháp tính giá nguyên vật liệu
Đánh giá nguyên vật liệu là dùng thước đo tiền tệ để xác định giá trị của chúng theo nguyên tắc nhất định Việc đánh giá NVL nhập xuất tồn kho có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc tính đúng, tính đủ chi phí NVL vào giá thành sản phẩm
* Tính giá nguyên vật liệu nhập kho
Việc tính giá NVL nhập kho được căn cứ vào nguồn nhập để xác định giá trị thực tế của chúng
- Đối với NVL mua ngoài: ( CT1.1)
++
Thuế nhậpkhẩu(nếu có)
++
Các khoản chi phí thu mua thực tế
Các khoản giảm giá, chiết khấu
Tùy theo từng DN tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hay phương pháp khấu trừ mà giá thực tế có thuế GTGT hay không có thuế GTGT nếu:
+ Nếu DN tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì giá thực tế có thuế GTGT
+ Nếu DN tính thuế theo phương pháp khấu trừ thì giá thực tế là giá chưa có thuế GTGT
- Đối với NVL thuê ngoài gia công, chế biến: (CT 1.2)
+
Chi phí vận chuyển
+ Tiền công trả người chế biến
- Đối với NVL nhận vốn góp liên doanh: Giá thực tế NVL nhập kho là
giá thực tế được các bên tham gia góp vốn chấp nhận
Trang 2018
- Đối với số vốn thu hồi: Giá thực tế NVL nhập kho là giá thực tế có thể
sử dụng, có thể bán tại thời điểm nhập
* Tính giá NVL xuất kho
Nguyên tắc tính giá đối với NVL xuất kho là: Xuất theo giá thực tế và
nhập giá nào thì xuất giá đó
Trên thực tế, giá của NVL xuất kho được tính theo nhiều phương pháp
khác nhau
- Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)
Theo phương pháp này, giả thiết số NVL nào nhập kho trước thì xuất
kho trước và lấy trị giá mua thực tế của lần nhập đó để tính giá trị NVL xuất
kho.Giá trị tồn kho cuối kỳ được tính theo số lượng tồn kho và đơn giá của
những lô hàng nhập sau cùng
- Phương pháp đơn giá thực tế bình quân
Theo phương pháp này, sau mỗi lần nhập kho, giá vốn thực tế bình quân
của đơn vị vật tư hàng hóa (Đơn giá thực tế bình quân) được xác định theo
Số lượng NVL tồn kho đầu
Số lượng NVL nhập trong
kỳ Trị giá vốn thực tế của hàng xuất kho theo từng lần xuất được tính: (CT
NVL xuất kho cho đến khi nhập lô hàng khác cần tính toán lại đơn giá thực tế
bình quân để tính giá vốn thực tế của NVL xuất kho tiếp theo
- Phương pháp đích danh
Trang 2119
Theo phương pháp này, NVL xuất kho thuộc lô hàng nào thì lấy đúng đơn giá nhập kho của chính lô hàng đó để tính giá vốn thực tế của NVL xuất kho Giá vốn thực tế của NVL hiện còn trong kho được tính bằng số lượng từng lô hàng hiện còn nhân với đơn giá nhập kho của chính lô hàng đó, rồi tổng hợp lại
- Phương pháp dùng giá hạch toán
Theo phương pháp này, DN sử dụng giá hạch toán để theo dõi chi tiết tình hình nhập xuất vật liệu hàng ngày, giá hạch toán có thể dùng để ghi sổ chi tiết vật tư Cuối tháng kế toán phải điều chỉnh theo giá thực tế của vật liệu xuất kho
Giá thực tế
Giá hạch toán của NVL
1.1.3 Nội dung cơ bản của KTQT chi phí NVL trong doanh nghiệp
Nội dung của KTQT NVL t doanh nghiệm thể hiện qua giai đoạn:
Trong khâu thu mua: Các doanh nghiệp phải tiến hành cung ứng thường xuyên nguồn NVL đầu vào, đáp ứng kịp thời yêu cầu của sản xuất Muốn vậy, trong khâu thu mua cần quản lý tốt về mặt khối lượng, quy cách, chủng loại vật liệu sao cho phù hợp với nhu cầu sản xuất, ngoài ra cần phải tìm được nguồn thu mua NVL với giá hợp lý, chi phí mua thấp Điều này góp phần tối thiểu chi phí, hạ thấp giá thành
Trang 2220
Trong khâu dự trữ và bảo quản: để quá trình sản xuất được liên tục phải
dự trữ NVL đầy đủ, không gây gián đoạn sản xuất nhưng cũng không được
dự trữ quá nhiều dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, tốn chi phí lưu kho, bảo quản Đồng thời phải thực hiện đầy đủ chế độ bảo quản theo tính chất lý hóa học của vật liệu Bên cạnh đó, Doanh nghiệp phải xây dựng định mức dự trữ cần thiết với mức tối đa và tối thiểu cho sản xuất, xây dựng định mức tiêu hao NVL trong sử dụng cũng như định mức hao hụt hợp lý trong vận chuyển và bảo quản
Trong khâu sử dụng: Doanh nghiệp cần cung cấp NVL kịp thời về số lương, chất lượng cho quá trình sản xuất, không những vậy, doanh nghiệp còn phải tính toán đầy đủ, chính xác, kịp thời giá NVL có trong giá vốn của thành phẩm Do vậy, trong khâu sử dụng phải tổ chức tốt việc ghi chép phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng NLV trong sản xuất kinh doanh, đảm bảo sử dụng tiết kiệm, hiệu quả
Trong khâu thu hồi phế liệu: Tại bất cứ một doanh nghiệp nào, số phế liệu và phế phẩm luôn tồn tại để tái sử dụng hoặc thanh lý Do vậy việc thu hồi phế liệu, phế phẩm cần phải được tổ chức tốt và chặt chẽ nhằm tiết kiệm chi phí NVL đồng thời giảm giá thành
Quy trình kế toán quản trị NVL trong doanh nghiệm thể hiện qua sơ đồ:
Trang 2321
➢ Xây dựng định mức chi phí NVL trong sản xuất
Mức tiêu dùng NVL là lượng NVL tiêu dùng lớn nhất cho phép để sản xuất một đơn vị sản phẩm hoặc để hoàn thiện một công việc nào đó trong điều kiện tổ chức và điều kiện kỹ thuật nhất định
Lập kế hoạch mua sắm, sử dụng, dự trữ NVL
Tiếp nhận NVL
Xây dựng định mức tiêu dùng
Phân tích khả năng cung ứng, sử dụng NVL
Quản lý, bảo quản NVL
Cấp phát, sử dụng
Hạch toán, kế toán NLV
Thu hồi phế liệu
Trang 2422
Việc xây dựng định mức tiêu dùng NVL chính xác và đưa mức đó vào áp dụng trong sản xuất là biện pháp quan trọng nhất để thực hiện tiết kiệm vật liệu
có cơ sở quản lý chặt chẽ việc sử dụng NVL Mức tiêu dùng NVL còn là căn
cứ để tiến hành kế hoạch hóa cung ứng và sử dụng NVL tạo điều kiện cho hạch toán kinh tế và thúc đẩy phong trào thi đua và thực hành tiết kiệm trong DN
- Phương pháp thống kê: Dựa vào số liệu thống kê về NVL dùng cho sản
xuất một đơn vị sản phẩm ở những năm trước để xây dựng định mức tiêu hao NVL cho những năm sau Phương pháp này dựa trên chuỗi số liệu của những năm trước đó nên việc xây dựng định mức tương đối chính xác trong điều kiện sản xuất duy trì ổn định, ít biến động
- Phương pháp thí nghiệm: Với phương pháp này, DN sẽ tiến hành sản
xuất thử một đơn vị sản phẩm trong điều kiện phòng thí nghiệm để xác định mức tiêu hao NVL Người ta thường áp dụng phương pháp này trong điều kiện sản phẩm được sản xuất lần đầu, chưa có số liệu thống kê.Trong quá trình sản xuất sẽ tiến hành điều chỉnh định mức tiêu hao cho phù hợp
- Phương pháp phân tích – tính toán: Sử dụng kỹ thuật phân tích để xác
định các yếu tố cấu thành nên định mức tiêu hao NVL cho một đơn vị sản phẩm, tính toán từng yếu tố, thiết lập công thức tính định mức tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm Theo nguyên tắc chung, định mức tiêu hao NVL cho một đơn vị sản phẩm bao gồm: Lượng NVL cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm, phần hao hụt cho phép trong quá trình sản xuất và lượng NVL tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm hỏng
Trang 25+
Lượng hao hụt NVL cho phép
+
Lượng NVL tiêu hao cho 1 đơn vị sản phẩm hỏng
- Phương pháp thử nghiệm sản xuất: Tiến hành các hoạt động sản xuất
thử trong điều kiện môi trường làm việc thực tế để xác định định mức tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm Phương pháp này cũng cho kết quả khá chính xác.Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất có những vấn đề phát sinh thì DN sẽ dựa vào điều kiện sản xuất thực tế để xây dựng định mức tiêu hao NVL cho phù hợp
➢ Lập kế hoạch mua sắm NVL
*Dự toán lượng NVL cần cho sản xuất
Việc lập dự toán khối lượng NVL cần cho sản xuất sản phẩm trong kế hoạch dựa vào nhu cầu sản phẩm cần sản xuất trong kỳ theo dự toán sản lượng sản xuất và định mức lượng NVL tiêu hao cho một sản phẩm ( CT 1.8)
*Dự toán lượng NVL cần mua vào trong kỳ
Từ dự toán NVL cần cho sản xuất sẽ chi phối việc dự kiến lượng NVL mua vào trong kỳ để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất Dự toán NVL mua vào trong kỳ không chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất trong kỳ mà còn dự trữ một phần cho nhu cầu sản xuất kỳ sau, đồng thời lượng NVL mua vào trong kỳ kế hoạch cũng đã được đáp ứng một phần do tồn kho cuối kỳ trước chuyển sang ( CT 1.9)
+
Lượng NVL cần cho tồn kho cuối kỳ
-
Lượng NVL tồn kho đầu
kỳ
Trang 2624
+ Lượng NVL cần cho tồn kho cuối kỳ là lượng NVL dự tính sẽ phải dự trữ để đáp ứng một phần nhu cầu về NVL của kỳ sau, có thể dự tính theo một
tỷ lệ nhất định dựa vào thực tế qua các kỳ thực hiện
+ Lượng NVL tồn đầu kỳ chính là lượng NVL tồn cuối kỳ trước chuyển sang
*Dự toán giá trị NVL cần mua vào trong kỳ: ( CT 1.10)
Dự toán NVL mua vào đúng đắn và hợp lý có tác dụng cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chất lượng, dự trữ hợp lý cho nhu cầu sản xuất, giúp cho quá trình sản xuất thực hiện đúng kế hoạch, nhịp nhàng
* Xây dựng kế hoạch mua sắm NVL
Sau khi đã xác định lượng NVL cần mua và giá trị NVL dự kiến sẽ mua trong kỳ, DN cần xây dựng kế hoạch về tiến độ mua sắm NVL, xác định thời điểm mua với từng loại NVL theo từng giai đoạn của quá trình sản xuất Kế hoạch về tiến độ mua sắm phải đảm bảo không bị ứ đọng vốn ở khâu dự trữ, đảm bảo lượng dự trữ hợp lý về số lượng, chất lượng, quy cách, tính toán về tiến độ mua sắm phải xác định riêng cho từng loại NVL… Xây dựng kế hoạch
về tiến độ mua sắm NVL cần căn cứ vào: kế hoạch tiến độ sản xuất sản phẩm khả năng tài chính của đơn vị, tình hình bố trí kho tàng, bến bãi dự trữ NVL,
dự toán biến động giá cả NVL,…
➢Tổ chức việc thực hiện quản lý NVL
*Công tác thu mua, tiếp nhận NVL
Sau khi đặt mua NVL hay được bên gia công giao NVL, công ty tổ chức tiếp nhận NVL Công tác tiếp nhận cần chính xác về số lượng, chất lượng, chủng loại NVL theo đúng quy định trong hợp đồng, phiếu giao hàng, phiếu vận chuyển Sau đó, chuyển nhanh NVL từ địa điểm tiếp nhận đến kho tránh
Trang 2725
hư hỏng, mất mát Tổ chức tiếp nhận tốt tạo điều kiện cho thủ kho nắm chắc
số lượng, chất lượng và chủng loại NVL, kịp thời phát hiện tình trạng thiếu hụt NVL, hạn chế sự nhầm lẫn thiếu trách nhiệm có thể xảy ra
* Công tác quản lý NVL lưu kho
Muốn bảo quản NVL được tốt thì cần phải có một hệ thống kho bãi hợp
lý, mỗi kho bãi phải phù hợp với từng loại NVL, vì vậy, phải phân loại NVL
và sắp xếp NVL: theo từng kho có điều kiện tác động ngoại cảnh hợp lý
* Công tác cấp phát, sử dụng NVL
Cần phải tổ chức cấp phát NVL theo đúng các chương trình của từng khâu sản xuất, từng khâu thi công Khi cấp phát phải làm các thủ tục xuất kho theo đúng chuẩn mực, định mức và phải lập các biên bản các giấy tờ liên quan của công ty vào từng nội dung cấp phát
* Tổ chức thu hồi phế liệu
Việc thu hồi phế liệu tụy không quan trọng nhưng cũng rất cần thiết Vì sau khi vật liệu được sử dụng thì vẫn còn một số NVL trong quá trình sử dụng chưa hết giá trị thì DN có thể sử dụng cho các khâu sản xuất khác hoặc bán phế liệu thu hồi vốn
➢ Tổ chức ghi chép, phản ánh các khoản chi phí NVL
Cũng giống như KTTC, khi phát sinh các nghiệp vụ kinh tế liên quan đến NVL, KTQT tiến hành phản ánh các khoản chi phí vào sổ sách có liên quan một cách đầy đủ, kịp thời và chi tiết cho từng loại sản phẩm, công việc khác nhau Thông qua những con số đã được phản ánh, các nhà quản trị có được hình dung về tình hình thực tế của DN để có biện pháp kết hợp các nguồn lực, đồng thời có cơ sở phát hiện những sai sót, những chi phí bất hợp
lý để điều chỉnh kịp thời
➢ Tổ chức kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện về chi phí NVL
Để cho việc quản trị được hiệu quả, sau khi lập kế hoạch đầy đủ và tổ chức thực hiện hợp lý, đòi hỏi nhà quản trị phải tiến hành kiểm tra và đánh giá
Trang 2826
việc thực hiện với số liệu của kế hoạch và dự toán, xác định những sai biệt giữa kết quả đạt được với mục tiêu đề ra Do đó, KTQT có vai trò cung cấp thông tin thực hiện từng bộ phận, giúp cho nhà quản lý nhận diện và đánh giá kết quả thực hiện đồng thời phục vụ cho việc lập kế hoạch trong các kỳ sau Kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện về NVL có thể được thể hiện thông qua việc đánh giá, phân tích một số chỉ tiêu sau:
* Kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện định mức tiêu hao chi phí NVL
Nhà quản trị cần tiến hành công tác kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện định mức tiêu hao NVL trong sản xuất tại từng phân xưởng, bộ phận để kiểm soát việc sử dụng NVL trong sản xuất và chi phí về NVL thực tế tại mỗi
bộ phận, phân xưởng, và có biện pháp điều chỉnh kịp thời trong công tác xây dựng định mức về NVL phù hợp hơn với điều kiện thực tế của đơn vị
Có thể đánh giá tình hình thực hiện định mức tiêu hao về NVL thông qua chỉ số phản ánh mức hoàn thành về định mức tiêu hao NVL trên một đơn vị sản phẩm (Im): ( CT 1.11)
a0 Chênh lệch tuyệt đối: (a1 – a0)
Trong đó: Im là chỉ số hoàn thành mức tiêu hao NVL trên một đơn vị sản phẩm
a1 là mức tiêu hao NVL cho một đơn vị sản phẩm thực tế
a0 là mức tiêu hao NVL cho một đơn vị sản phẩm kế hoạch
Ý nghĩa: Chỉ số Im cho biết tình hình thực hiện định mức tiêu hao một loại NVL trên một đơn vị sản phẩm thực tế tăng hay giảm bao nhiêu % so với
kế hoạch
* Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi phí NVL
Quản lý NVL nhằm tiết kiệm chi phí NVL là mục tiêu mà công tác quản
lý luôn hướng tới Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chi phí NVL và xác
Trang 2927
định mức tiết kiệm chi phí NVL trong kỳ sẽ giúp đánh giá hiệu quả công tác quản lý NVL trong việc giảm chi phí NVL trong sản xuất, góp phần hạ giá thành sản phẩm và các nhà quản lý sẽ có biện pháp điều chỉnh trong quản lý NVL để lập kế hoạch NVL cho kỳ tiếp theo tốt hơn và quản lý hiệu quả hơn Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chi phí NVL thông qua chỉ tiêu:
- Tỷ lệ thực hiện chi phí NVL so với kế hoạch: ( CT 1.12)
Tỷ lệ thực hiện chi phí so với
Chi phí NVL thực tế
x 1 Chi phí
NVL kế hoạch
tế
-
Chi phí NVL kế hoạch
➢ Thực hiện việc ra quyết định
Mục đích của KTQT không chỉ dừng lại ở việc chi tiết hóa các khoản mục mà quan trọng hơn nữa đó là giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định SXKD.Đó là cả một quá trình xuyên suốt các khâu quản trị doanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch cho đến việc tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá
KTQT có vai trò cung cấp thông tin, lập các báo cáo quản trị để phân tích việc thực hiện các phương án, tư vấn cho các nhà quản trị lựa chọn phương án tối ưu nhất và đưa ra quyết định phù hợp nhất
Trang 3028
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến KTQT chi phí NVL
KTQT là một công cụ quan trọng đáp ứng yêu cầu quản trị doanh nghiệp.Tổ chức công tác KTQT khoa học và hợp lý là điều kiện cần thiết để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và vai trò cũng như đảm bảo được chất lượng và hiệu quả của công tác KTQT trong doanh nghiệp.Không phải tất cả các doanh nghiệp đều tiến hành tổ chức công tác KTQT như nhau, mà tùy mỗi đơn vị, mỗi doanh nghiệp mà công tác tổ chức KTQT khác nhau Tuy nhiên, có thể khái quát những nhân tố ảnh hưởng đến công tác KTQT trong doanh nghiệp như sau:
➢ Các nhân tố khách quan
* Chế độ, thể lệ về quản lý kinh tế, tài chính của nhà nước
* Quy mô và phạm vi hoạt động của doanh nghiệp Chẳng hạn, với một doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, KTQT chi phí chỉ cần cụ thể tới từng sản phẩm, từng phân xưởng, nhưng đối với doanh nghiệp lớn, đặc biệt là tập đoàn thì phải chi tiết đến từng khu vực, từng địa bàn hay từng chi nhánh
* Môi trường kinh doanh: Trong điều kiện hội nhập kinh tế như hiện nay, môi trường kinh doanh thay đổi sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới tổ chức KTQT
Trang 3129
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm tổ chức KTQT chi phí ở một số nước trên thế giới và rút kinh nghiệm cho Việt Nam
➢ Kinh nghiệm tổ chức KTQT chi phí ở Mỹ
Tổ chức KTQT chi phí của Mỹ thường tồn tại một bộ phận độc lập với KTTC và chịu sự quản lý trực tiếp của lãnh đạo doanh nghiệp Điều này xuất phát từ việc KTQT chi phí của Mỹ được gắn kết chặt chẽ với nền tảng hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế cạnh tranh cao của Mỹ, các doanh nghiệp có nhu cầu thông tin KTQT chi phí rất cao về cả mức độ chính xác, đối tượng thông tin và tính cập nhật của thông tin, chính vì thế, KTQT phát triển và tách biệt thành bộ phận độc lập với KTTC
➢ Kinh nghiệm tổ chức KTQT chi phí ở các nước châu Âu
Nền kinh tế thị trường của các nước châu Âu ít nhiều chịu sự can thiệp của chính phủ, đây là lý do KTQT ở khu vực này có sự gắn kết chặt chẽ với KTTC, đề cao thông tin kiểm soát nội bộ Ở châu Âu, KTQT chi phí có mô hình cơ bản, đại diện cho các mô hình này là các nước Anh, Đức và Pháp.Các
mô hình KTQT chi phí này đại diện cho các nhóm nước có những nét tương đồng về đặc điểm lịch sử, địa lý, kinh tế
Tại Anh, KTQT chi phí rất phát triển, việc ứng dụng KTQT chi phí rất phổ biến Cách xây dựng hệ thống KTQT của các doanh nghiệp Anh thường
là xây dựng một hệ thống kế toán chung cho tất cả các mục đích ra quyết định, đánh giá hàng tồn kho và xác định lợi nhuận Hệ thống KTQT chi phí phức tạp của Anh giúp KTQT cung cấp các thông tin tốt hơn cho quản trị Đối với các nước nói tiếng Đức, hệ thống KTQT chi phí là hệ thống chi phí tiêu chuẩn linh hoạt.Đặc trưng cơ bản nhất của hệ thống KTQT chi phí của Đức là phân chia doanh nghiệp thành rất nhiều trung tâm chi phí Tuy nhiên, KTQT chi phí Đức đang có xu hướng được vận dụng đơn giản hóa do
Trang 3230
các doanh nghiệp thấy mô hình hiện tại tốn kém quá nhiều chi phí để vận hành so với lợi ích mà nó mang lại
➢ Kinh nghiệm tổ chức KTQT chi phí ở Nhật Bản
Kinh tế Nhật Bản được thế giới ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ từ những năm 1980.Một trong những đóng góp quan trọng vào sự thành công của các
DN Nhật Bản là hệ thống quản lý và KTQT chi phí.Mặc dù không có một bề dày phát triển như ở các nước Anh, Mỹ nhưng KTQT chi phí ở Nhật Bản đã
có sự vươn dậy mạnh mẽ.Hệ thống KTQT chi phí trong các doanh nghiệp Nhật Bản thường được xây dựng tách rời với hệ thống KTTC Tại Nhật Bản, các nguyên tắc kế toán chi phí được ban hành một cách chính thống, mặc dù các nguyên tắc này không mang tính pháp lý nhưng nó tạo ra sự thống nhất trong KTQT của các doanh nghiệp trong nền kinh tế
➢ Kinh nghiệm tổ chức KTQT chi phí tại các nước đang phát triển châu Á
Hầu hết các nước ở châu Á, KTQT chi phí xuất hiện vào những thập niên gần đây cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường Những doanh nghiệp của các quốc gia này gồm hai loại chính: các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước Các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài có nguồn gốc từ nhiều quốc gia khác nhau, vì thế KTQT chi phí của các doanh nghiệp này cũng rất khác nhau, nhưng bình diện chung là đều khá mạnh, hiện đại Bên cạnh đó, KTQT chi phí của các doanh nghiệp trong nước thường mới ở dạng đang học hỏi, manh mún, phương pháp, kỹ thuật còn lạc hậu…
➢ Rút ra kinh nghiệm tổ chức KTQT chi phí cho các DN tại Việt Nam
Từ việc nghiên cứu tổ chức KTQT chi phí ở một số nước trên thế giới giúp cho việc học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm quý báu để vận dụng vào các DN Việt Nam Trên cơ sở phân tích thực trạng của hệ thống kế toán của các DN Việt Nam, sự biểu hiện của kế toán quản trị, vận dụng kinh nghiệm của các nước, để tổ chức tốt KTQT trong các doanh nghiệp hiện nay trước hết
Trang 331.2.2 Một số văn bản pháp quy liên quan đến đề tài nghiên cứu
* Luật Kế toán Việt Nam ban hành ngày 17/06/2003, điều 3 khoản 4 đã chính thức ghi nhận thuật ngữ “Kế toán quản trị”
Theo Luật Kế toán Việt Nam, “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”
* Thông tư của Bộ tài chính số 53/2006/TT – BTC ngày 12/06/2006 hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Thông tư gồm 5 phần và các phụ lục (một số mẫu báo cáo KTQT chủ yếu):
- Phần I: Quy định chung về KTQT trong DN, bao gồm: Khái niệm, đối tượng áp dụng, nhiệm vụ, phạm vi áp dụng KTQT trong DN
Trang 3432
- Phần II: Tổ chức thực hiện KTQT, gồm các nội dung: Tổ chức vậndụng chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán; Tổ chức lập báo cáo
kế toán quản trị và tổ chức phân tích thông tin kinh tế, tài chính
- Phần III: Một số nội dung KTQT chủ yếu: KTQT chi phí và giá thành sản phẩm; KTQT bán hàng và kết quả kinh doanh; Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận; Lập dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh; KTQT một số khoản mục khác (TSCĐ, hàng tồn kho, lao động tiền lương và KTQT các khoản nợ)
- Phần IV: Tổ chức bộ máy kế toán và người làm KTQT
- Phần V: Điều khoản thi hành
Đề tài nghiên cứu kế toán quản trị nguyên vật liệu thuộc phạm vi nội dung của kế toán quản trị chi phí sản xuất
Doanh nghiệp căn cứ vào đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý để tổ chức tập hợp chi phí theo từng trung tâm phát sinh chi phí, như: Tổ, đội, phân xưởng hoặc cho từng công việc, từng sản phẩm, từng công đoạn sản xuất hoặc cho cả quá trình sản xuất và xác định các loại chi phí của doanh nghiệp theo các nội dung: phân loại chi phí, xác định phương pháp tập hợp chi phí và trung tâm chi phí Trong đó, việc phân loại chi phí của doanh nghiệp là nhằm mục đích phục vụ cho quản trị hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, do đó tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu quản trị của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, từng hoàn cảnh để lựa chọn tiêu thức phân loại phù hợp
* Thông tư 123/2012/TT-BTC,ngày 27/7/2012,quy định về xây dựng, quản lý định mức tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa sử dụng vào sản xuất kinh doanh
- DN tự xây dựng, quản lý định mức tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá sử dụng vào sản xuất, kinh doanh Định mức này được xây dựng từ đầu năm hoặc đầu kỳ sản xuất sản phẩm và lưu tại doanh nghiệp đồng thời xuất trình đầy đủ với cơ quan thuế khi cơ quan thuế yêu cầu
Trang 3533
- Riêng định mức chính của những sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp trong thời hạn 3 tháng đầu năm hoặc 3 tháng kể từ khi bắt đầu đi vào sản xuất, kinh doanh (đối với doanh nghiệp mới thành lập hoặc trường hợp doanh nghiệp có bổ sung sản xuất những sản phẩm mới mà sản phẩm này thuộc diện phải thông báo định mức nhưng chưa được thông báo) Danh mục định mức chính của những sản phẩm chủ yếu do doanh nghiệp tự quyết định
Trang 362.1 Khái quát chung về Công ty TNHH Xây dựng An Bình
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng
và nền văn hóa lâu đời Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có các hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như quốc lộ 1A nối
Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn; Đường cao tốc 18 nối sân bay Quốc tế Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long; Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng; Trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc Ninh đi Lạng Sơn và Trung Quốc; Mạng đường thủy sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình rất thuận lợi nối Bắc Ninh với hệ thống cảng sông và cảng biển của vùng tạo cho Bắc Ninh
là địa bàn mở gắn với phát triển của thủ đô Hà Nội, theo định hướng xây dựng các thành phố vệ tinh và sự phân bố công nghiệp của Hà Nội Đây là những yếu tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và giao lưu của Bắc Ninh với bên ngoài Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng và là một trong 8 tỉnh thuộc vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh của cả nước, tạo cho Bắc Ninh nhiều lợi thế về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Là cửa ngõ phía Đông Bắc và là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung
du miền núi phía Bắc và trên hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà
Trang 3735
Nội – Hải Phòng - Hạ Long và có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng Thành phố Bắc Ninh chỉ cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 30 km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 45 km, cách Hải Phòng 110 km Vị trí địa kinh tế liền kề với thủ đô Hà Nội, trung tâm kinh tế lớn, một thị trường rộng lớn hàng thứ hai trong cả nước, có sức cuốn hút toàn diện về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, giá trị lịch sử văn hoá, đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước Hà Nội sẽ là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh về nông - lâm - thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ
Bắc Ninh cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố
vệ tinh, là mạng lưới gia công cho các xí nghiệp của thủ đô trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Với vị trí địa kinh tế thuận lợi sẽ là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong những tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy quá trình đô thị hoá của tỉnh Bắc Ninh Xét trên khía cạnh cấu trúc hệ thống đô thị và các điểm dân cư của tỉnh thì các đô thị Bắc Ninh sẽ dễ trở thành một hệ thống hoà nhập trong vùng ảnh hưởng của thủ đô Hà Nội và có vị trí tương tác nhất định với hệ thống đô thị chung toàn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
- Về khí hậu Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa
đông lạnh và không khác biệt nhiều so với các tỉnh lân cận của đồng bằng sông Hồng
- Về địa hình - địa chất Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, có
hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3 - 7
m, địa hình trung du đồi núi có độ cao phổ biến 300 - 400 m Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố
Trang 38Với đặc điểm này địa chất của tỉnh Bắc Ninh có tính ổn định hơn so với
Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng Bắc Bộ khác trong việc xây dựng công trình Bên cạnh đó có một số vùng trũng nếu biết khai thác có thể tạo ra cảnh quan sinh thái đầm nước vào mùa mưa để phục vụ cho các hoạt động văn hoá
và du lịch
- Về đặc điểm thuỷ văn Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc,
mật độ lưới sông khá cao, trung bình 1,0 - 1,2 km/km2, có 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình Sông Đuống: Có chiều dài 42 km nằm trên đất Bắc Ninh, tổng lượng nước bình quân 31,6 tỷ
m3 Mực nước cao nhất tại bến Hồ tháng 8/1945 là 9,64m, cao hơn so với mặt ruộng là 3 - 4 m Sông Đuống có hàm lượng phù sa cao, vào mùa mưa trung bình cứ 1 m3 nước có 2,8 kg phù sa Sông Cầu: Tổng chiều dài sông Cầu là
290 km với đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 70 km, lưu lượng nước hàng năm khoảng 5 tỷ m3 Sông Cầu có mực nước trong mùa lũ cao từ 3 - 6 m, cao nhất là 8 m, trên mặt ruộng 1 - 2 m, trong mùa cạn mức nước sông lại xuống quá thấp ( 0,5 - 0,8 m ) Sông Thái Bình: thuộc vào loại sông lớn của miền Bắc có chiều dài 385 km, đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 17 km Do phần lớn lưu vực sông bắt nguồn từ các vùng đồi trọc miền Đông Bắc, đất đai bị sói mòn nhiều nên nước sông rất đục, hàm lượng phù sa lớn Do đặc điểm lòng sông rộng, ít dốc, đáy nông nên sông Thái Bình là một trong những sông bị bồi lấp nhiều nhất Theo tài liệu thực đo thì mức nước lũ lụt lịch sử sông Thái Bình đo được tại Phả Lại năm 1971 đạt tới 7,21 m với lưu lượng lớn nhất tại Cát Khê là 5000 m3/s Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các hệ thống sông
Trang 39Hiện nay, nền kinh tế của đất nước nói chung của tỉnh Bắc Ninh nói riêng ngày càng phát triển nên đòi hỏi có càng nhiều cơ sở hạ tầng, các công trình giao thông, thủy lợi kiên cố để đáp ứng cho nhu cầu phát triển của đất nước và phục vụ cho nhu cầu của con người trong xã hội Xuất phát từ yêu cầu đó nên Công ty TNHH xây dựng An Bình ra đời
Công ty được thành lập theo giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số
2300498608 do Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 12 tháng 10 năm 2009, đến tháng 10 năm 2016 chuyển trụ sở ra Phường Võ Cường, T.P Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh hiện tại
Tên công ty: CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG AN BÌNH
Tên giao dịch : AN BINH BUILDING COMPANY LIMITED
Địa chỉ: : Lô 3, N9 đường Ngọc Hân Công Chúa, Phường Võ Cường, Thành phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh
MST : 2300498608
Giám đốc: Nguyễn Thị Mỹ
Điện thoại: 0222.3862.647 Fax: 0222.3862.647
E-mail: anbinhnh@gmail.com
Trang 40Công ty sau một thời gian hoạt động chưa lâu nhưng đã tạo ra được niềm tin, sự tín nhiệm của đối tác Ngoài ra, công ty còn tham gia xây dựng các công trình giao thông phục vụ cho việc đi lại của người dân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Bắc Giang, và một số địa phương khác
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của công ty