BÀI THU HOẠCH MÔN LỊCH SỬ VIỆT NAM CỔ TRUNG ĐẠI Họ và tên Huỳnh Thị Thu Ngân Ngày sinh 25/08/1991 Đơn vị công tác Trường THCS Lưu Văn Lang TP Sa Đéc Tỉnh Đồng Tháp Lớp Địa 1 Câu 1 Nguyên nhân tạo[.]
Trang 1BÀI THU HOẠCH MÔN LỊCH SỬ VIỆT NAM CỔ - TRUNG ĐẠI
- Họ và tên: Huỳnh Thị Thu Ngân
- Ngày sinh: 25/08/1991
- Đơn vị công tác: Trường THCS Lưu Văn Lang-TP Sa Đéc-Tỉnh Đồng Tháp
- Lớp: Địa 1
Câu 1: Nguyên nhân tạo nên sức mạnh Đại Việt trong thời kỳ nhà Trần?
Câu 2: Đánh giá đóng góp và hạn chế của vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt
Nam?
BÀI LÀM Câu 1: Nguyên nhân tạo nên sức mạnh Đại Việt trong thời kỳ nhà Trần?
Việt Nam chúng ta trải qua giai đoạn phong kiến với nhiều triều đại: từ Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc, Trịnh, Nguyễn,… Trong đó thời kỳ nhà Trần là thời kỳ được lưu danh trong sử sách với nhiều chiến công hiển hách
Có thể nói, đây là một trong những triều đại lớn mạnh, phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam Mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử Đại Việt
có rất nhiều thành công về văn hóa, tôn giáo cũng như quân sự nhưng điểm sáng nhất là việc lãnh đạo nhân dân ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông và nhiều chính sách sáng suốt, hợp lòng dân của nhà Trần cũng chính là sức mạnh tạo nên Đại Việt trong thời kỳ nhà Trần
Vương triều nhà Trần đã thực hiện nhiều chính sách sáng suốt như: tổ chức
bộ máy nhà nước chặt chẽ, chính sách về kinh tế, chính sách về quân sự, chính sách dân vận, chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, văn hóa,… đã viết nên trang sử chói lội trong trong sự nghiệp dựng nước
và giữ nước
Tổ chức bộ máy nhà nước chặt chẽ
Bộ máy nhà nước thời nhà Trần tổ chức chặt chẽ từ trung ương tới địa phương Đứng đầu nhà nước là Vua và ở thời nhà Trần thì Vua cha sẽ truyền ngôi sớm cho con và xưng là Thái Thượng hoàng cùng với vua con quản lí
Trang 2đất nước Thực hiện chế độ quân chủ trung ương tập quyền, quyền lực được tập trung trong tay nhà nước trung ương Các chức vụ quan trọng trong triều đều do các vương hầu nhà Trần nắm giữ Qúy tộc và quan lại được ban thái
ấp, cấp bổng lộc Bộ máy địa phương được chia thành lộ, phủ, châu – huyện,
xã Đứng đầu lộ là các chức chánh phó An phủ sứ, phủ do các tri phủ cai quản, huyện do các tri huyện trông coi, dưới cùng là xã do các xã quan đứng đầu Bộ máy nhà nước thời Trần thể hiện tính chất thân dân không thu thuế theo từng hộ dân mà thu theo làng, xã
Như vậy chúng ta có thấy ở vương triều nhà Trần tổ chức bộ máy nhà nước rất chặt chẽ, thực hiện chế độ Thái Thượng hoàng, cha truyền con nối và cha con cùng cai trị đất nước Các vị trí quan trọng cấp trung ương thì đều do những người cùng dòng máu nắm giữ đảm bảo sự thuần nhất của dòng họ và bảo vệ ngôi vị nhà vua vững chắc Cùng với thực hiện tốt chính sách thân dân, chế độ thái ấp và điền trang đã góp phần làm Đại Việt dưới vương triều nhà Trần trở nên vững mạnh
Chính sách về kinh tế
Nông nghiệp: đóng vai trò quan trọng không tách rời với đời sống người
dân, nghề nông là nghề chính Khuyến khích nhân dân sản xuất và khai khẩn đất hoang mở rộng ruộng đất và lãnh thổ Chia ruộng đất công cho dân cày cấy Huy động nhân dân đắp đê ngăn lũ, bảo vệ hoa màu vào mùa lũ Công tác thủy lợi cũng được chú trọng Miễn tô thuế, cho phép các tôn thất lập điền trang Cấm giết mổ trâu bò để bảo vệ sức kéo cho nông nghiệp Đích thân nhà vua làm lễ tịch điền
Năm 1248, vua Trần Thái Tông hạ lệnh cho các lộ đắp đê để phòng lụt Đặt chức quan Hà đê chánh sứ, phó sứ để trông nom và tu bổ đê điều Ruộng đất thời phong kiến thường tập trung vào nhà giàu và quý tộc Nông dân là người làm thuê nên sức sản xuất bị hạn chế Nhà Trần đã ban hành lệnh bán ruộng công cho nông dân làm ruộng tư, giảm thuế hoặc miễn thuế cho dân mỗi khi mất mùa, thiên tai.
Nguồn : https://www.twinkl.com.vn/teaching-wiki/tom-tat-lich-su-nha-tran
Thủ công nghiệp và thương nghiệp:
Thủ công nghiệp: gồm có thủ công nghiệp nhà nước và thủ công
nghiệp tư nhân
Thủ công nghiệp nhà nước: triều đình cho xây dựng các quan xưởng
và là thành phần kinh tế quan trọng, phát triển gốm sứ, dệt tơ lụa, chế tạo vũ
Trang 3khí,…Sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu sử dụng cho cung đình và quan lại không phải là thương phẩm
“Hoàng cung giống như một hộ gia đình lớn có ruộng đất riêng lại có quan xưởng riêng”.
Nguồn: Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, 1997,
Đại Cương Lịch Sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Thủ công nghiệp tư nhân: là bộ phận quan trọng và phổ biến, phát triển gốm sứ, rèn sắt, đúc đồng, làm giấy và khắc bản in, mộc và xây dựng,
…bắt đầu xuất hiện và hình thành các làng nghề Thăng Long là trung tâm sản xuất và buôn bán lớn nhất nước ta thời nhà Trần
Thương nghiệp: buôn bán cả trong và ngoài nước đều phát triển, đặc
biệt buôn bán với nước ngoài được đẩy mạnh Gốm sứ trở thành mặt hàng xuất khẩu mạnh của Đại Việt Đây cũng là điểm mới trong phát triển thương nghiệp dưới thời nhà Trần
Chính sách về quân sự
Quân đội nhà Trần là quân đội đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt Nam lưu danh với những chiến công hiển hách trong lịch sử đã từng ba lần đánh tan các đạo quân Mông – Nguyên xâm lược nước ta và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc Nhà Trần chú trọng xây dựng lực lượng quân đội
và nổi tiếng tinh nhuệ, thiện chiến, kỉ luật cao Quân đội nhà Trần gồm: quân triều đình, quân các lộ và dân quân ở làng xã Chia thành hai bộ phận
cấm quân và quân địa phương Thực hiện chủ trương: quân lính cốt tinh
nhuệ, không cốt đông , xây dựng tinh thần đoàn kết trong quân đội và thực hiện chính sách ngụ binh ư nông Trai tráng khỏe mạnh được tuyển vào quân đội, thời bình thì ở làng sản xuất, lúc có chiến tranh thì tham gia chiến đấu Trước khi đưa quân đội vào chiến đấu, nhà Trần thường triệu tập quân về một nơi để tổng diễn tập nhằm thống nhất quân lệnh, cách đánh, hiệp đồng chiến đấu
Các thân vương là những người nắm giữ quân đội Năm 1253, giảng
Võ đường được thành lập Năm 1267, quân đội- quân cấm vệ ở kinh đô và quân đồn trưở các lộ được chia thành các Quân và Đô, mỗi Quân gồm 30
Đô, mỗi Đô gồm 80 người Khi chiến tranh quân số quân đội tăng ít nhất gấp đôi, khoảng 20 vạn Trong quân đội quân lính xuất thân từ nghề đánh
cá, sống trên sông nước, hoặc ý thức được tầm quan trọng chính trị-quốc phòng của hệ thống sông nước, do đó nhà Trần rất coi trọng xây dựng thủy
Trang 4quân nên có một đội chiến thuyền hùng mạnh Qua đó ta thấy những chiến thắng lớn nhất trong cuộc chiến đấu chống quân Mông – Nguyên đều diễn
ra trên địa bàn sông nước Trong những chiến thắng lẫy lừng của quân đội Đại Việt thời Trần, có công lao to lớn của thiên tài quân sự dân tộc như Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật,
Nguồn : Lê Đình Trọng, 2021, Lịch Sử Việt Nam Cổ -Trung Đại ( Chương
trình bồi dưỡng giáo viên dạy môn Lịch sử và Địa lí ở Trung học cơ sở),Tài
liệu lưu hành nội bộ, Đồng Tháp
Nhờ những chủ trương và biện pháp trên đã xây dựng được lực lượng quân đội nhà Trần hùng mạnh, có kỉ luật nghiêm minh và có tinh thần đoàn kết Đây là cơ sở để bảo vệ đất nước, chiến thắng giặc ngoại xâm của Đại Việt dưới thời nhà Trần
Chính sách an dân
Dân có an cư lạc nghiệp thì nhà nước mới giàu mạnh và nhà Trần đã xây dựng một Đại Việt ổn định và bền vững Quyền lợi và nghĩa vụ của người dân trong xã hội được xác định một cách cụ thể và rõ ràng
Những năm mất mùa, đói kém do lũ lụt, hạn hán, chiến tranh,…nhà nước lập tức miễn tô thuế cho người dân, khi thực hiện những công trình thủy lợi, những công trình phục vụ cho nông nghiệp thì tiến hành đền bù ruộng đất thỏa đáng cho người dân khi xây dựng các công trình Việc tranh chấp ruộng đất cũng được trừng phạt thích đáng, để những kẻ gian không có cơ hội làm giàu bất chính, những người dân thấp bé không bị mất oan sự sống
Năm 1290, nạn đói kéo dài khiến nhiều người phải bán ruộng đất Vị hoàng
đế đầu tiên của nhà Trần đã xuống chiếu phát thóc cấp cho dân nghèo, miễn thuế nhân đinh Các chính sách an dân được xem là nền tảng vững chắc cho triều đại nhà Trần Mang lại cuộc sống ổn định Thực túc, binh cường, dân giàu, nước mạnh, toàn dân đoàn kết – tiền đề mọi thắng lợi Lịch sử đã khẳng định rằng : “Biết đặt quyền lợi nhân dân lên trên” Nhà Trần đã thực
sự là người đại diện xứng đáng cho dân tộc.
Nguồn : https://www.twinkl.com.vn/teaching-wiki/tom-tat-lich-su-nha-tran
Chính sách đại đoàn kết dân tộc
Nhà Trần là một trong những triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Việt Nam ba lần đánh đuổi được quân Mông – Nguyên Sự lẫy lừng và sức mạnh của triều đại nhà Trần đến từ khối đại đoàn kết giữa vua – tôi, quân – dân, sức mạnh này không chỉ thể hiện trong thời kỳ kháng chiến chống
Trang 5ngoại xâm, mà còn thể hiện trong quá trình xây dựng đất nước của nhà Trần Nó chính là tinh thần đoàn kết của mỗi người dân với vận mệnh đất nước, sự anh minh và dũng khí của các vị vua và dũng tướng, sự lỗi lạc của những bậc danh Nho dưới thời nhà Trần và sự đồng lòng của toàn dân
Vương triều nhà Trần đã đề ra những chính sách và hành động thiết thực để chăm lo cho dân, khoan thư sức dân, tạo sự gắn bó đồng cam cộng khổ giữa tướng lĩnh với binh sĩ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc cao hơn lợi ích cá nhân, luôn coi nhân dân là sức mạnh để giữ nước mọi chủ trương, đường lối của triều đình phải căn cứ vào lòng dân, chăm lo cho sức dân, bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân
Nhà Trần đã áp dụng hàng loạt biện pháp thúc đẩy nông nghiệp và thủ công nghiệp, quan tâm chú trọng tổ chức khai khẩn đất hoang phát triển sản xuất, miễm giảm tô thuế, lo cho dân cuộc sống ấm no
Trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm quân đội luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng và dưới thời nhà Trần việc quan tâm và chăm lo cho binh sỹ luôn được chú trọng Tạo dựng tinh thần đồng cam cộng khổ, chia sẻ khó khăn, giúp đỡ nhau trên chiến trường Từ đó khơi dậy lòng yêu nước,
chống giặc ngoại xâm.“Trong quân có người ốm, tướng phải thân hành đem
thuốc điều trị; quân có người chết, tướng phải khóc thương; quân đi thú xa, thì sai vợ con đến nhà thăm hỏi; phàm có khao thưởng thì chia đều cho quan và quân; khi có hành động thì phải họp cả tướng tá để bàn; mưu đã định rồi sau mới đánh Cho nên tướng với binh có cái ơn hòa rượu và hút máu”
Nguồn:https://sti.vista.gov.vn/tw/Lists/TaiLieuKHCN/Attachments/271946/
CVv355S2832018044.pdf
Bên cạnh đó nhà Trần còn xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc anh em và tạo sự hòa thuận, tinh thần đoàn kết trong nội bộ triều đình luôn được xem như yếu tố then chốt góp phần tạo nên sức mạnh chiến thắng giặc ngoại xâm
Chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số
Để xây dựng được một Đại Việt ổn định vững chắc và phát triển phồn vinh thì bên cạnh việc chăm lo xây dựng kinh tế, phát triển quân sự còn cần phải chính sách đúng đắn đối với các đồng bào dân tộc ít người Do đó vấn đề về dân tộc thiểu số ở thời nhà Trần luôn rất được quan tâm Ban thưởng bổng
Trang 6lộc, phong chức tước cho các tộc trưởng Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông còn lắng nghe ý kiến của các bô lão, tộc trưởng
Các vị bô lão tay lấm chân bùn, được triều đình mời vào hoàng cung để bàn quốc gia đại sự nên ai nấy đều phấn chấn tinh thần Đại Việt Sử ký toàn thư chỉ nghi lại ngắn gọn: “Thượng hoàng cho gọi các bô lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng, cho ăn và hỏi kế Các bô lão đều nói là nên đánh, muôn người cùng lời như một” Hội nghị gây được tiếng vang lớn các bô lão đã thay lời của nhân dân đồng lòng đứng lên chống trả ngoại xâm.
Nguồn:https://baophapluat.vn/hoi-nghi-dien-hong-vang-mai-hao-khi-non-song-post415412.html
Nhà Trần gả hoàng thân quốc thích của Nhà Lý cho các tù trưởng miền núi
Cử những quý tộc, quan lại am hiểu phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số đem quân lên trấn áp các vùng biên giới và vận động các tù trưởng, nhân dân miền núi ra sức chống giặc ngoại xâm Đối với các tù trưởng có công đánh giặc hoặc quy thuận triều đình thì được thưởng công xứng đáng Tuy nhiên, nếu trường hợp mà hàng giặc hay có mưu đồ làm phản thì cương quyết trị tội
Do chính sách với các dân tộc thiểu số đúng đắn nên trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông nhà Trần không những tập hợp đông đảo nhân dân mà còn đoàn kết được đại bộ phận các dân tộc thiểu số và góp công to lớn vào cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm
Như vậy chúng ta thấy nhờ vào những chính sách sáng suốt trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của vương triều nhà Trần đã tạo nên sức mạnh đưa Đại Việt trở thành một quốc gia văn minh, thịnh vượng
Câu 2: Đánh giá đóng góp và hạn chế của vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt
Nam?
Vương triều nhà Nguyễn là triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam Mặc dù để mất nước vào tay thực dân Pháp, nhưng vương triều nhà Nguyễn cũng đã có đóng góp nhiều cho sự phát triển của dân tộc ta Những đóng góp to lớn của vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam mà chúng ta phải kể đến đó là: Nhà Nguyễn xác lập được chủ quyền của Việt Nam từ trên biển và cả trên đất liền, đặc biệt là xác lập được chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thống nhất đất nước nối liền một dải từ Bắc vào Nam, mở mang bờ cõi
Trang 7khai phá vùng đất Nam Bộ Bên cạnh đó vương triều Nguyễn còn để lại cho nền văn hóa nhân loại nhiều công trình kiến trúc và di sản lịch sử, những thành tựu khoa học kĩ thuật về lịch sử và địa lí Đồng thời cũng thực hiện cải cách hành chính xóa bỏ cơ quan tổng Trấn ở phía Bắc và phía Nam
Dưới vương triều nhà Nguyễn, khu vực biển, đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam đã được xác lập từ bắc chí nam, tương đương với khu vực biển, đảo của chúng ta hiện nay, đó là vùng biển từ Quảng Yên (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) với các đảo ven bờ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa, Trường Sa
Việc thực thi chủ quyền quốc gia đối với các hải đảo là hoạt động được triều Nguyễn tiến hành thường xuyên và liên tục, là kế tục sự nghiệp của các triều đại trước Triều Nguyễn là triều đại đã vẽ nên một hình thể lãnh thổ đất nước thống nhất từ đất liền đến biển, đảo để có một nước Việt Nam hoàn chỉnh hiện nay Năm
1816, việc Vua Gia Long cử thủy quân ra cắm cờ ở quần đảo Hoàng Sa là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam, khẳng định chủ quyền biển đảo về phương diện nhà nước của triều đình nhà Nguyễn Triều đình nhà Nguyễn xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được thiết lập
và thực thi một cách đầy đủ và toàn vẹn, không có tranh chấp Bằng chứng là nhà Nguyễn bằng việc huy động một lực lượng lớn bao gồm quan chức của các cơ quan Trung ương Nội các, Bộ Công, Bộ Hộ, Bộ Binh, Bộ Hình, Giám thành Khâm thiên giám, thuỷ sư phối hợp với quan chức địa phương và ngư dân các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định hàng năm thực thi công vụ Hoàng Sa như vẽ bản đồ, kiểm
kê tài nguyên trên đảo, đo đạc hải trình, cắm cọc tiêu, trồng cây, dựng miếu, cắm bia chủ quyền, xây dựng hệ thống kho tàng, đồn luỹ, đặt trạm thu thuế, quan trắc thiên văn và dự báo thời tiết.
Nguồn:https://www.camau.gov.vn/wps/portal/?
1dmy&page=trangchitiet&urile=wcm%3Apath%3A/camaulibrary/camauofsite/ gioithieu/chuyende/biendaoquehuong/tulieuvanban/dfhdfh457457
Tiếp tục thành tựu của phong trào Tây Sơn đã xóa bỏ tình trạng phân chia Đàng Trong- Đàng Ngoài, đặt cơ sở cho sự khôi phục nền thống nhất, Nguyễn Ánh
và triều Nguyễn đã hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước trên lãnh thổ rộng lớn bao gồm cả Đàng Trong và Đàng Ngoài nối liền một dải từ Bắc vào Nam Hình
Trang 8hài của nước Việt Nam với hình chữ S như ngày nay có sự góp sức rất nhiều của
các Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn
Vương triều Nguyễn cũng có công lao to lớn trong việc mở mang bờ cõi, mở rộng lãnh thổ về phía Nam đến tận đồng bằng sông Cửu Long và xác lập chủ quyền
vững chắc trên vùng đất mới Nhà nước đã bỏ tiền đào kênh thoát nước Thụy Hà
và sông Vĩnh Tế tạo thuận lợi cho việc khẩn hoang
Nhà Nguyễn mở rộng diện tích ruộng đất bằng cách lập đồn điền khẩn hoang và khuyến khích người dân khai hoang, phục hóa, nhất là trong tình hình ruộng đất bị
bỏ hoang hóa ngày càng nhiều Đợt khai phá đồn điền lớn nhất là vào các năm 1853-1854 dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Tri Phương lập được 21 cơ, 124 ấp ở 6 tỉnh Nam Kì.
Nguồn : Lê Đình Trọng, 2021, Lịch Sử Việt Nam Cổ -Trung Đại ( Chương trình bồi dưỡng giáo viên dạy môn Lịch sử và Địa lí ở Trung học cơ sở),Tài liệu lưu
hành nội bộ, Đồng Tháp
Vương triều Nguyễn đã để lại cho nền văn hóa nhân loại nhiều công trình kiến trúc và di sản lịch sử, những thành tựu khoa học kĩ thuật về lịch sử và địa lí Nhà Nguyễn được ghi nhận là một trong những triều đại có thành tích về Sử học
Năm 1820 Minh Mạng cho lập Quốc sử quán, thu thập sách thời xưa, in lại quốc
sử thời Lê, biên soạn lại các bộ sử mới Về Địa lí học và Địa lí lịch sử có An Nam
tứ chí lộ đồ thư, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Nam Hà tiệp lục và bộ Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn.
Nguồn : Lê Đình Trọng, 2021, Lịch Sử Việt Nam Cổ -Trung Đại ( Chương trình
bồi dưỡng giáo viên dạy môn Lịch sử và Địa lí ở Trung học cơ sở),Tài liệu lưu
hành nội bộ, Đồng Tháp
Bên cạnh đó vương triều Nguyễn còn để lại cho dân tộc ta một khối di sản
văn hóa đồ sộ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới như Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình, phố cổ Hội An
Trong những đóng góp của vương triều Nguyễn thì chúng ta thấy còn có những thành tựu về cải cách hành chính của vua Minh Mạng đó là xóa bỏ các cơ
Trang 9quan tổng Trấn ở phía Bắc và phía Nam làm cho bộ máy quan lại nhà Nguyễn khá gọn, không quá cồng kềnh và đông đảo
Năm 1831-1832, Minh Mạng cải cách hành chính, xóa bỏ tổng Trấn, đổi các Trấn thành Tỉnh, một số Trấn lớn bị chia nhỏ, cả nước gồm 30 tỉnh và 1 phủ thừa thiên Đứng đầu các tỉnh là quan Tổng Đốc và Tuần Phủ Với việc xóa bỏ các tổng Trấn, nhất thể hóa các Tỉnh, Minh Mạng đã chính thức xây dựng được Huế trở thành trung tâm chính trị thực sự của cả nước.
Nguồn : Lê Đình Trọng, 2021, Lịch Sử Việt Nam Cổ -Trung Đại ( Chương trình
bồi dưỡng giáo viên dạy môn Lịch sử và Địa lí ở Trung học cơ sở),Tài liệu lưu
hành nội bộ, Đồng Tháp
Như bao triều đại phong kiến khác vương triều Nguyễn cũng đã được thành lập, phát triển và lụi tàn theo dòng chảy của lịch sử dân tộc Bên cạnh những đóng góp cho lịch sử nhân loại thì vương triều Nguyễn còn có những hạn chế đó là
để mất nước vào tay thực dân Pháp, cắt sáu tỉnh Nam Kì giao cho thực dân Pháp, bảo thủ bỏ qua các tư tưởng đổi mới không tiếp thu những tinh hoa tiến bộ của thế giới, đường lối quân sự yếu kém và khi vương triều Nguyễn lên ngôi được sự ủng
hộ của nhân dân Nam Hà nhưng nhân dân Bắc Hà không ủng hộ nên dẫn tới trả thù Tây Sơn chém giết chu di cửu tộc tàn bạo
Vương triều nhà Nguyễn đã để mất nước vào tay thực dân Pháp vào giữa thế
kỷ XIX do trách nhiệm chủ quan của triều đình nhà Nguyễn lúc này không phải chỉ có những ông vua mà là cả cái bộ máy quần thần quan liêu, bảo thủ nặng nề
Từ khi bắt đầu xâm lược nước ta khả năng đánh bại Pháp dưới sự lãnh đạo của triều đình không phải là không có, mà do chính sách sai lầm của triều đình đã làm cho các khả năng đề kháng và chiến thắng của quân ta ngày càng hao mòn, khiến địch ngày càng lấn lướt, từng bước thôn tính nước ta, cắt sáu tỉnh Nam Kì giao cho thực dân Pháp, cùng với thực dân Pháp đàn áp các cuộc kháng của nhân dân.Quân đội không có tinh thần chiến đấu, không có chủ nghĩa yêu nước, do quân đội của triều đình nhà Nguyễn không phải là quân đội của quốc gia dân tộc, mà là quân đội của nhà vua
Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây ở Việt Nam, uy hiếp cửa ngõ phía Nam của kinh đô Huế, đe dọa sự tồn vong của triều đình nhà Nguyễn.
Trang 10Triều đình nhà Nguyễn (vua Tự Đức) một mặt đưa quân vào Đà Nẵng chống đỡ, một mặt tích cực tiến hành công tác tổ chức phòng thủ các cửa ải, cửa biển trên đất Thừa Thiên và kinh đô Huế, tổ chức tập trận nhằm đảm bảo sức chống đỡ của kinh đô một khi quân Pháp tiến đánh Sau 18 tháng tiến công vào Đà Nẵng nhưng không đạt mục tiêu tiến sâu vào nội địa, ngày 23/3/1860, liên quân Pháp - Tây Ban Nha phải rút hết lực lượng đưa quân vào tiến đánh phía Nam.
Tuy đuổi được quân Pháp - Tây Ban Nha ra khỏi Đà Nẵng, nhưng sau đó quan quân triều đình không phát huy được sức mạnh giữ nước ở mặt trận phía Nam, nên từ năm 1860 đến 1862, các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường và Vĩnh Long lần lượt thất thủ Trước sức ép của quân Pháp, triều đình Huế đã đồng ý ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862) với 12 khoản, cắt ba tỉnh miền Đông Nam kỳ (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường) và quần đảo Côn Lôn cho Pháp Sau Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), triều đình Huế lại tiếp tiếp tục sai lầm khi dùng chính sách ngoại giao nhằm lấy lại ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, thái độ ôn hòa của triều Nguyễn trong vấn đề giữ nước là một trong những nguyên nhân thúc đẩy thực dân Pháp mở rộng chiếm đóng lãnh thổ Năm 1867, thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên mà triều đình Huế gần như không có phản ứng quân sự nào.
Nguồn:https://thuathienhue.gov.vn/desktopmodules/DNNTinBai/PrintTinBai.aspx?
newsid=029EC23A-C93E-4898-9239-EA734D148ABA
Nói đến những hạn chế của vương triều Nguyễn không thể không nhắc đến một việc làm cực kỳ mất lòng dân đó chính là việc trả thù tàn khốc của nhà
Nguyễn đối với gia đình vua Quang Trung và những người theo Tây Sơn
Năm 1802, trước khi hành hình vua Quang Toản, Gia Long bắt ông phải chứng kiến quân lính đào mộ Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và vợ chính, lấy hài cốt giả nhỏ,
bỏ vào một cái bồ lớn rồi đái vào,…; xương đầu thì bỏ vào ngục tối giam lâu dài Gia Long cho voi xé xác Quang Toản, chặt làm 5 khúc, bêu ở 5 chợ Các con của Quang Trung đều bị voi giày Trần Quang Diệu bị chém làm trăm mảnh, vợ là Bùi Thị Xuân và con gái cũng bị voi xé xác và bị quân lính moi tim gan ăn Tới Minh Mạng, tiếp tục cho lùng sục bắt được hơn 100 con cháu nhà Tây Sơn đem xử tử hoặc bắt làm nô tì.