1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tảo hôn của người thái ở xã nậm hăn, huyện sìn hồ, tỉnh lai châu

86 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng tảo hôn của người Thái ở xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
Tác giả Tòng Thị Tiên
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Thị Kiều Trang
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Công Tác Xã Hội
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Thực trạng tảo hôn của người dân tộc Thái tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu", bên cạnh sự nỗ lực của bản thân đã

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH

- -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP THỰC TRẠNG TẢO HÔN CỦA NGƯỜI THÁI Ở XÃ NẬM HĂN, HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI

MÃ NGÀNH: 7760101

Sinh viên thực hiện : Tòng Thị Tiên

Mã số sinh viên : 1754060168

Hà Nội, 2021

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Thực trạng tảo hôn của người dân tộc Thái tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu", bên cạnh sự nỗ lực của bản thân đã vận dụng những kiến thức tiếp thu được, em luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, cán bộ địa phương và người dân địa bàn

Trước hết, em xin bày tỏ lòng chân thành biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo trung tâm CTXH và PTCĐ khoa Khoa kinh tế & QTKD đã cung cấp cho các em kiến thức trong 4 năm học qua để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Thạc sĩ Nguyễn Thị Kiều Trang đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này

Em xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo và người dân tại Nậm Hăn, đã tạo điều kiện cho em tiến hành khảo sát và nghiên cứu tại địa bàn

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã chia sẻ ủng hộ tôi

trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đển hoàn thành khóa luận của mình

Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi sai sót, rất mong sự đóng góp

ý kiến của thầy cô và các bạn để những công trình nghiên cứu tiếp theo được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Sinh viên

Tòng Thị Tiên

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU 1

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 2

2.1 Ý nghĩa luận 2

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

3.1 Mục tiêu tổng quát 3

3.2 Mục tiêu cụ thể 3

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Đối tượng khách thể và phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

6.1 Phương pháp thu thập thông tin 4

6.2 Phương pháp thu thập thông tin bằng phỏng vấn sâu 4

6.3 Phương pháp bằng bảng hỏi Anket 4

6.4 Phương pháp xử lý phân tích số liệu 5

7 Kết cấu của khóa luận 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TẢO HÔN 6

1.1 Cơ sở lý luận của tảo hôn 6

1.1.1 Một số khái niệm 6

1.1.2 Các lý thuyết được sử dụng trong đề tài 9

1.1.3 Các chính sách pháp luật của nhà nước về tảo hôn 13

Trang 4

1.2 Cơ sở thực tiễn 16

1.2.1 Tổng quan về địa bàn xã Nậm hăn 16

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TẢO HÔN CỦA DÂN TỘC THÁI TẠI XÃ NẬM HĂN, HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU 24

2.1 Thực trạng tảo hôn của dân tộc Thái 24

2.1.1 khái quát tình hình chung của dân tộc Thái 24

2.1.2 Thực trạng tảo hôn của dân tộc Thái 25

2.2 Thực trạng tảo hôn chia theo các biến độc lập 28

2.2.1 Tỷ lệ tảo hôn theo độ tuổi: 28

2.2.2 Tỷ lệ tảo hôn theo giới tính 29

2.2.3 Tỷ lệ tảo hôn theo trình độ học vấn 31

2.3 Nguyên nhân tảo hôn của dân tộc Thái tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 33

2.3.1 Trình độ dân trí thấp 35

2.3.2 Yêu cầu về nhân lực trong phát triển kinh tế 37

2.3.3 Hủ tục lạc hậu 39

2.3.4 Do chính sách chưa hiệu quả 43

2.4 Hậu quả của tảo hôn 48

2.5 Giải pháp 52

2.5.1 Nâng cao trách nhiệm của chính quyền trong quá trình quản lý 53

2.5.2 Cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt là nhân dân miền núi, vùng sâu vùng xa 53

2.5.3 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình nói chung và những quy định về vấn đề tảo hôn nói riêng 54

2.5.4 Tăng cường giáo dục kĩ năng sống, giáo dục pháp luật trong nhà trường 57

PHẦN III: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 58

Trang 5

3.1 Kết luận 58

3.2 Kiến nghị 59

3.2.1 Đối với các cấp lãnh đạo, cán bộ tuyên truyền 59

3.2.2 Đối với người dân 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

3 VHVN, TDTT Văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao

6 HNCHT Hôn nhân cận huyết thống

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2 1: Thống kê dân số của dân tộc Thái theo bốn bản 24

từ năm 2017 - 2020 24

Bảng 2 2: Thống kê dân số theo 3 dân tộc 25

Bảng 2 3: Số người tảo hôn của dân tộc Thái được thống kê trên địa bàn xã Nậm Hăn từ năm 2017 – 2020( người) 26

Bảng 2 4: Tỷ lệ số người tảo hôn phân chia theo độ tuổi( người) 28

Bảng 2 5: Tỷ lệ tảo hôn chia theo giới tính 29

Bảng 2.6: Đặc điểm đối tượng chia theo trình độ học vấn 31

Bảng 2.7: Tỷ lệ tảo hôn chia theo trình độ học vấn 32

Bảng 2 8: Nguyên nhân từ trình độ dân trí 35

Bảng 2 9: Nguyên nhân yêu cầu về nhân lực trong phát triển kinh tế 38

Bảng 2 10: Nguyên nhân từ những hủ tục lạc hậu 40

Bảng 2 11: Nguyên nhân từ chính sách chưa hiệu quả 44

Bảng 2.12: Sự hài lòng của người dân về các hình thức tuyên truyền 47

Bảng 2 13: Hậu quả của tảo hôn 48

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

• Lý do chọn đề tài

Giảm thiểu tình trạng tảo hôn của người DTTS được xác định là một bộ phận quan trọng của đất nước Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn đánh giá cao vị trí, vai trò quan trọng của người các DTTS ở miền núi, đã ban hành nhiều chính sách, chủ trương, chiến lược nhằm để nhằm giảm thiểu tình trạng tảo hôn của các dân tộc nói chung và đối với dân tộc Thái nói riêng, Nhà nước đã khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân thực hiện các biện pháp để giảm thiểu tình trạng tảo hôn thông qua các chính sách pháp luật phòng, chống tảo hôn, đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xây dựng hệ thống an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh Thái, nhờ đó mà tình trạng tảo hôn trong những năm gần đây được cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, việc giảm thiểu tình trạng tảo hôn của các DTTS tại các vùng miền núi, đồng bào dân tộc ít người gặp rất nhiều bất cập và khó khăn như, trình độ dân trí của người dân còn hạn chế việc tiếp nhận và thực hiện các chương trình, chính sách chưa đem lại hiệu quả Người dân đã quen với lối sống cũ, do đó rất khó khăn trong việc thay đổi, tiếp nhận những cái mới từ bên ngoài

Người Thái là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam nhưng có số lượng dân cư tương đối lớn Theo kết quả điều tra dân số năm 2019 thì người Thái có dân

số 1.820.950 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam, có mặt trên tất

cả 63 tỉnh nhưng tập trung đông nhất ở khu vực Tây Bắc Khi nói tới đặc trưng văn hóa của khu vực Tây Bắc không thể không nói đến văn hóa Thái Trong quá trình cùng chung sống, văn hóa của người dân tộc Thái đã có ảnh hưởng không nhỏ tới các dân tộc khác trong khu vực Tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu

có 80% là người Thái Đây là một xã nghèo điều kiện giao thông của xã còn gặp

Trang 8

nhiều khó khăn, giao lưu giữa các tộc người trong khu vực hạn chế, vì vậy các giá trị văn hóa truyền thống còn lưu giữ khá nguyên vẹn

Tuy nhiên bên cạnh những giá trị văn hóa đó vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu không còn phù hợp với tình hình mới, thậm chí còn nguy cơ ảnh hưởng đến giống nòi và tương lai sau này của tộc người và đất nước đó là tảo hôn, sinh

đẻ sớm, phá rừng làm nương rãy, cúng tà ma cho người ốm…như vậy cần được khắc phục trong đó có tảo hôn của dân tộc Thái tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Hiện nay chính là một trong những tập tục nguy hại đó đang trở thành một vấn đề rất cấp thiết bởi đó đạt ra nhiều vấn đề nan giải có sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương Vì vậy tập tục này đang là vấn đề cấp thiết hiện nay cần nghiên cứu và tìm ra giải pháp nhằm hạn chế, ngăn chặn Tảo hôn đã

và đang trở thành vấn đề cần được giải quyết cấp thiết vì nó đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển xã hội và kìm hãm sự phát triển kinh tế của vùng Tảo hôn và tảo hôn cận huyết thống có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe sinh sản, giống nòi của dân tộc

Chính vì vậy, tảo hôn không chỉ là vấn đề quan tâm giải quyết của cán bộ quản lý các cấp mà còn là vấn đề cần nghiên cứu của các nhà khoa học để tìm ra những nguyên nhân, có những giải pháp phù hợp hạn chế tình trạng tảo hôn Tuy nhiên vấn đề tảo hôn của người DTTS và đặc biệt là tảo hôn của người Thái ở xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu lại ít được quan tâm nghiên cứu Chưa nhận thức được tầm quan trọng trong việc nghiên cứu tảo hôn của người Thái ở

xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, tôi quyết định lựa chọn đề tài“Thực trạng tảo hôn của người Thái ở xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu ”

làm đề tài nghiên cứu

• Ý nghĩa luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Trang 9

2.1 Ý nghĩa luận

Đề tài góp phần bổ sung cơ sở lý luận về tảo hôn dưới góc nhìn của Dân số học nói chung và chuyên ngành CTXH nói riêng Bước đầu làm rõ các khái niệm liên quan, các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về tảo hôn ở đồng bào dân tộc thiểu số

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đây là một công trình khoa học nghiên cứu nhằm tìm hiểu về nạn tảo hôn tại địa bàn xã Nậm Hăn Cung cấp những vấn đề thực tiễn liên quan đến vấn đề tảo hôn Từ đó đưa ra nguyên nhân, giải pháp và một số khuyến nghị để khắc phục

và giảm thiểu tảo hôn đối với dân tộc Thái tại địa bàn xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu

• Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở đánh giá thực trạng tảo hôn từ đó đưa ra các nguyên nhân và đề xuất giải pháp để giảm thiểu tình trạng tảo hôn của người dân tộc Thái tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai châu

3.2 Mục tiêu cụ thể

• Hệ thống hóa cơ sở lý luận tảo hôn đối với người dân tại địa phương Nhằm đánh giá tảo hôn của người dân tộc Thái tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu

• Đánh giá thực trạng của tảo hôn của người dân tộc Thái tại địa bàn nghiên cứu

• Đưa ra nguyên nhân và hậu quả của tảo hôn trên cơ sở phân tích thực trạng trước đó

• Trình bày một số giải pháp khắc phục và khuyến nghị cho chính quyền địa phương để giảm thiểu tảo hôn đối với địa bàn nghiên cứu

• Nội dung nghiên cứu

Trang 10

• Cơ sở lý luận và thực tiễn của vẫn đề tảo hôn ở người dân tộc Thái tại xã

Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu

• Thực trạng tảo hôn của người dân tộc Thái tại địa phương

• Nguyên nhân dẫn tảo hôn tại địa phương

• Hậu quả của tảo hôn

• Biện pháp khắc phục để giảm thiểu tảo hôn ở địa phương

• Đối tượng khách thể và phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng tảo hôn của người dân tộc Thái tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu

+ Phạm vi về thời gian: Đề tài được nghiên cứu và các số liệu được sử dụng

là trong thời gian 5 năm từ năm 2017 đến 2021 Đề tài được nghiên cứu từ ngày 08/ 02/ 2021 đến ngày 02/ 05/ 2021

+ Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung về thực trạng tảo hôn của dân tộc Thái tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu

• Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu trong thực tiễn được sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như:

6.1 Phương pháp thu thập thông tin

• Phương pháp thu thâp dữ liệu thứ cấp: Thu thập những tài liệu, số liệu sẵn có tại cơ sở thực tập như: Báo cáo tổng kết, đặc điểm địa bàn nghiên cứu…,

Trang 11

phân tích tài liệu sử dụng những nghiên cứu có liên quan đến các lĩnh vực nghiên cứu của đề tài Đồng thời tiến hành thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan đến

đề tài nghiên cứu, các văn bản quy phạm pháp luật các nghị định, nghị quyêt và chính sách pháp luật, các nghiên cứu có liên quan đến đề tài, các báo cáo thống kê

từ UBND xã Nậm Hăn kế thừa các số liệu, tài liệu và các nguồn tài liệu khác

• Phương pháp thu thâp dữ liệu sơ cấp: Là những thông tin điều tra từ mọi

người trong xã thuộc dân tộc Thái và một số cán bộ ở UBND xã Nậm Hăn

6.2 Phương pháp thu thập thông tin bằng phỏng vấn sâu

Đây là phương pháp để xác nhận lại thông tin đã thu thập được từ người dân

về thực trạng tảo hôn của ngời Thái ở xã Nậm hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai châu

- Phỏng vấn trực tiếp, dùng băng ghi âm và gỡ băng sau đó Với 1 số trường hợp có thể ghi chép nhanh, sử dụng các kí tự khi ghi chép, chú trọng các thông tin mang tính nóng, đặc trưng, tiêu biểu của khách thể

- Đối tượng phỏng vấn sâu gồm 10 người Bao gồm: Lãnh đạo xã, hội phụ

nữ, trưởng các ban ngành liên quan, và một số hộ gia đình có người tảo hôn

6.3 Phương pháp bằng bảng hỏi Anket

Đây là phương pháp chủ yếu để thu thập thông tin về thực trạng tảo hôn của người dân tộc Thái tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Khảo sát 70 khách thể trong đó có có 50 người dân tộc Thái tại xã Nậm Hăn và 20 cán bộ xã

và chính quyền địa phương 4 bản, hình thức phát phiếu điều tra, khảo sát bằng hình thức phát phiếu tại nhà

6.4 Phương pháp xử lý phân tích số liệu

• Phân tích các dữ liệu đã thu thập được từ các phiếu khảo sát, đối chiếu lại thông tin phù hợp với đề tài và các dữ được xử lý theo chương trình Microsoft

Excel xử lý thông tin thu được từ khảo sát hoặc bảng hỏi trên thực tế

• Kết cấu của khóa luận

Trang 12

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận có kết cấu 3 phần:

Phần I: Phần mở đầu

Phần II: Phần nội dung chính, gồm 2 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của tảo hôn

Chương II: Thực trạng tảo hôn của dân tộc Thái tại xã Nậm Hăn, huyện Sìn

Hồ, tỉnh Lai Châu

Phần III: Kết luận, kiến nghị

Trang 13

Theo từ điển tiếng Việt ( 2003) – Nhà Xuấn bản Đà Nẵng: Tảo hôn là lấy

vợ, lấy chồng khi còn chưa đến tuổi thanh niên, chưa đến tuổi được pháp luật cho phép kết hôn

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Dũng ( 2014) “Thực trạng và nhận thức Thái độ về tảo hôn, kết hôn cận huyết thống của người dân một số dân tộc ít người tại 4 xã huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La” đưa ra khái niệm: Tảo hôn là hiện tượng kết hôn của hai người nam và nữ khi họ chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, luật pháp mỗi quốc gia lại quy định về điều kiện kết hôn cũng như tuổi kết hôn khác nhau Ở Pháp tuổi kết hôn được pháp luật quy định đối với nam là 18 và với nữ là 16 tuổi, đồng thời pháp luật cũng cấm những người có quan hệ họ hàng trong phạm vi 3 đời kết hôn với nhau Tại Châu Âu luật công giáo quy định tuổi kết hôn cho nữ là 14 tuổi, ở Bắc Mỹ các cô gái có thể kết hôn ở tuổi 15, ở Canada và nhiều bang của Hoa Kỳ cho phép kết hôn với trẻ em dưới sự cho phép của tòa án Còn ở Anh độ tuổi kết hôn đối với cả nam lẫn nữ theo pháp luật là qua tuổi 16 và cam kết hôn giữa những người họ hàng phạm vi

4 đời Theo Luật Hồi giáo Sharia quy định, các giáo sĩ Hồi giáo ở mọi nơi đều được kết hôn với những bé gái dưới 15 tuổi Luật Hồi giáo còn khẳng định tính hoàn toàn hợp pháp của việc kết hôn với các bé gái dưới 12 tuổi

Ở Việt Nam pháp luật coi tảo hôn là việc nam, nữ lấy nhau khi một bên hoặc cả hai bên dưới tuổi định luật Căn cứ vào sự phát triển thể chất, tâm sinh lý

và các điều kiện liên quan đến chất lượng cuộc sống như điều kiện kinh tế - xã

Trang 14

hội ở Nước Việt Nam, tại khoản 4 Điều 8 luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định “ Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật”

Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước, sự hội nhập với quốc tế Luật hôn nhân và gia đình 2014 về cơ bản vẫn tiếp tục giữ các quy định về độ tuổi kết hôn, chỉ có sự thay đổi về cách diễn đạt “ từ… tuổi trở lên” thành “ từ…đủ tuổi trở lên” nhằm tránh sự nhầm lẫn trong cách xác định về độ tuổi để đăng ký kết hôn: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”( điểm a - khoản 1 - Điều 8) Chiếu tại điểm b khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và già đình năm 2014: “ Cấm các hành vi sau đây: Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối, cán trở kết hôn”, theo quan điểm nay thì tảo hôn ở Việt Nam là hành vi pháp luật ngăn cấm và là phạm pháp

Từ một góc độ pháp luật tảo hôn là hiện tượng việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn, tảo hôn ở Việt Nam là việc vi phạm quy định tuổi kết hôn, là một trong những hành vi, vi phạm luật hôn nhân gia đình: Chiếu theo điểm a khoản 1 Điều 8 và điểm b của khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014 quy định về điều kiện kết hôn Như vậy tảo hôn là trường hợp kết hôn trong đó cô dâu và chú rể hoặc một trong hai người là trẻ em hoặc là người chưa đến độ tuổi kết hôn (thông thường là chưa đến tuổi dậy thì) Tập tục tảo hôn trước đây có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, kể cả châu Âu, nay còn tồn tại

ở một số vùng thuộc châu Phi, châu Á, châu Đại Dương và Nam Mỹ Nó thường

đi kèm với một phong tục khác là hôn nhân sắp đặt trong nhiều trường hợp, chỉ một trong hai bên là trẻ em, thường phụ nữ, vì lý do trinh tiết hoặc vì lý do người phụ nữ ở một cộng đồng xã hội nhất định không được coi có khả năng kiếm tiền

và vì khả năng sinh sản của phụ nữ mau kết thúc hơn so với nam giới Trước tình

Trang 15

hình nữ quyền và quyền trẻ em ngày càng được coi trọng, tập tục tảo hôn đang dần dần biến mất ở nhiều khu vực trên thế giới

và lực lượng lao động cũng được nghiên cứu Có rất nhiều khía cạnh khác nhau trong hành vi của con người trong lĩnh vực dân số được nghiên cứu như trong xã hội học, kinh tế học và địa lý Các nghiên cứu về dân số hầu hết thường theo những quy luật của xác suất, và sự kết luận của các nghiên cứu này do đó có thể không thể sử dụng cho một vài các cá thể riêng biệt Số người trên Trái Đất không ngừng tăng lên và tăng nhanh nhất khi bước sang giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, trong

đó các nước trên thế giới đang phát triển có tốc độ gia tăng dân số tự nhiên đến chóng mặt Đây là một trong những vấn đề toàn cầu của xã hội hiện nay Xem sự bùng nổ dân số

• Kế hoạch hóa gia đình

Kế hoạch hoá gia đình là việc lập kế hoạch khi nào có trẻ em và việc sử dụng kiểm soát sinh sản và các kỹ thuật khác để thực hiện các kế hoạch đó Các

kỹ thuật khác thường được sử dụng gồm giáo dục giới tính, ngăn chặn và quản lý các bệnh lây truyền qua đường tình dục, tư vấn trước khi mang thai, quản lý mang

Trang 16

thai, và quản lý vô sinh Kế hoạch hoá gia đình thỉnh thoảng được sử dụng như một thuật ngữ đồng nghĩa với kiểm soát sinh sản, dù nó thường có nội hàm lớn hơn Nó chủ yếu được áp dụng với một người nữ – nam muốn hạn chế số lượng trẻ em họ có và/hay kiểm soát thời gian mang thai (cũng được gọi là giãn cách sinh sản) Các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình được định nghĩa là "giáo dục, y tế toàn diện hay các hoạt động xã hội cho phép các cá nhân, gồm cả người chưa thành niên, tự do quyết định số lượng và thời gian giãn cách giữa những đứa trẻ và lựa chọn các biện pháp để thực hiện điều đó."

• Chất lượng dân số

“Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần

của toàn bộ dân số” (tại điều 3 mục 6 – Pháp lệnh dân số của Việt Nam 2003)

Từ đầu những năm 1980 các nhà nghiên cứu dân số và phát triển đã quan tâm tới vấn đề phát triển con người và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của nên kinh tế của các quốc gia Thuật ngữ “Chất lượng dân số” cũng xuất hiện nhiều từ đấy Cho đến nay, có ba luồng quan niệm cơ bản về chất lượng dân số

Quan niệm thứ nhất cho rằng chất lượng dân số là tập hợp các đặc trưng

xã hội và con người của cộng đồng dân cư Các đặc trưng này bao gồm thể lực, sức lực chịu đựng, trí thông minh, đạo đức, khả năng tư duy và trình độ học vấn hoặc tay nghề của cư dân cộng đồng

Quan niệm thứ hai cho rằng chất lượng dân số chính là tập hợp các cấu

trúc khác nhau của dân số mà theo C.Mar các cấu trúc này được quyết định bởi

phương thức sản xuất cũng như chất lượng lao động xã hội Các cấu trúc này bao gồm cấu trúc giai cấp, cấu trúc xã hội, sức khỏe, giáo dục, nghề nghiệp, hôn nhân, giới tính, đổ tuổi, dân tộc…

Quan niệm thứ ba cho là chất lượng dân số cần phảo được xem xét trên

góc độ lý thuyết về vốn con người (human capital) Những người theo chủ thuyết

Trang 17

này cho rằng có một tập hợp các đặc trưng cơ bản tạo nên chất lượng dân số Các đặc trưng này bao gồm sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp và kinh nghiệp sản xuất ra của cải vật chất…Luồng quan niệm này rất gần với khái niệm

“ Phát triển con người”

1.1.2 Các lý thuyết được sử dụng trong đề tài

1.1.2.1 Thuyết nhu cầu của Maslow

Maslow là nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu con người vào những năm 1950 Lý thuyết ông nhằm giải thích những nhu cầu của con người cần được đáp ứng như thế nào để một các nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần Lý thuyết của ông giúp cho

sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống các thứ bậc nhu cầu, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao

Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản nhu cầu này bao gồm những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của con người nhằm đảm bảo mục đích sinh tồn như

ăn, uống, ngủ, thở, tình dục, và các nhu cầu về sự thoải mái như chỗ ở, quần áo

Sở dĩ tình dục được xếp vào nhóm nhu cầu này vì nó giúp con người duy trì được nòi giống Đây đều là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh mẽ nhất của con người Những nhu cầu thuộc mức độ cao hơn phía trên sẽ không thể xuất hiện nếu nhu cầu cơ bản này chưa được thỏa mãn Chúng sẽ chế ngự, thúc giục, sai khiến một người phải hành động để đạt được nhu cơ bản này

Nhu cầu được an toàn: Khi các nhu cầu ở mức độ sinh lý đã được thỏa mãn, con người hướng tới những nhu cầu về sự an toàn của bản thân Họ mong muốn được bảo vệ tính mạng khỏi các nguy hiểm và sự an toàn, ổn định trong đời sống

Trang 18

Nhu cầu được an toàn ở đây không chỉ là an toàn về thể chất và sức khỏe, nó còn

là mong muốn được an toàn về mặt tinh thần về điều kiện tài chính của bản thân

Một số nhu cầu an toàn của con người như:

+ An toàn khi gặp tai nạn, sự cố chấn thương

+ An toàn về sức khỏe

+ An toàn về tài chính

Nhu cầu về xã hội: Con người sẽ xuất hiện những nhu cầu về xã hội khi đã

được đáp ứng đầy đủ những nhu cầu căn bản về sinh lý và sự an toàn Nhóm nhu cầu xã hội bao gồm: nhu cầu yêu và được yêu, được chấp nhận và thuộc về một cộng đồng nào đó Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc kết giao bạn bè, tìm người yêu, tham gia hoạt động xã hội, câu lạc bộ… Ở cấp độ này, những nhu cầu thuộc về tình cảm chình là yếu tố tác động và chi phối hành vi của con người

Vai trò của nhóm nhu cầu này rất quan trọng, Maslow cũng đã nhấn mạnh rằng, mặc dù đây không phải là nhu cầu ở cấp bậc cao nhất nhưng nếu nó không được thỏa mãn và đáp ứng, con người có thể mắc phải những bệnh trầm trọng về tinh thần, tâm lý

Nhu cầu được quý trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng và được xếp vào loại nhu cầu bậc cao con người Nó được thể hiện qua hai khía cạnh: việc được nể trọng, kính mến thông qua sự thành công của bản thân và lòng tự trong, cảm nhận, trân quý chính mình Khi nhu cầu này được thỏa mãn, con người

có xu hướng trở nên tự tin hơn vào năng lực của bản thân và mong muốn được cống hiến nhiều hơn

Nhu cầu được thể hiện mình: Đây chính là mức độ nhu cầu cao nhất mà Maslow đề cập đến: khẳng định bản thân Khi tất cả những bậc nhu cầu ở dưới đã được đáp ứng, con người tiến tới một tầm cao mới, mong muốn khai phá những

Trang 19

tiềm năng còn ẩn chứa và thể hiện đúng con người mình Đó là khả năng tận dụng tối ưu và khai thác tối đa tài năng nhằm mục đích hoàn thiện bản thân

Qua đây áp dụng cho đề tài nghiên cứu ta có thể thấy trong cuộc sống của một con người đều có những mức nhu cầu nhất định được đề ra, họ có những mong muốn được đáp ứng, để hạn chế những mặt còn yếu kém trong chất lượng sống của con người trước tiên cần xác định những mong muốn, nguyện vọng của họ từ

đó mới đưa ra được những giải pháp phù hợp với từng đối tượng

Các quan điểm về hành vi và nhận thức xuất phát từ hai dòng tác phẩm tâm

lý học có liên quan Về mặt lịch sử, lý thuyết học hỏi xuất hiện đầu tiên và phát triển trong tâm lý học lâm sang sử dụng trị liệu hành vi dựa trên nghiên cứu của Tâm lý học Sheldon (1975) biểu đạt bản chất của lý thuyết này là việc tách biệt ý thức và hành vi Các quan điểm tâm động học và quan điểm truyền thống lại cho rằng hành vi xuất phát từ một quá trình thực hiện theo ý thức của chúng ta, điều này có nghĩa là hành vi của con người xuất hiện dựa trên ý thức của họ Nhưng lý thuyết học hỏi cho rằng chúng ta không thể biết được điều gì đang xảy ra trong ý thức của ai đó Do đó, chúng ta chỉ có thể trị liệu tập trung đến việc giải quyết các vấn đề làm thay đổi hành vi mà không quan tâm đến những vấn đề biến đổi nào

có thể xảy ra trong ý thức của chúng ta trong quá trình này

Lý thuyết học hỏi xã hội của Bandura (1977) mở rộng thêm quan điểm này

và cho rằng hầu hết các lý thuyết học hỏi đạt được qua nhận thức của con người

và suy nghĩ về những điều mà họ đã trải nghiệm qua Họ có thể học hỏi qua việc xem xét các ví dụ của người khác và điều này có thể áp dụng vào việc trị liệu

Như vậy lý thuyết nhận thức – hành vi là một phần của quá trình phát triển

lý thuyết hành vi và trị liệu, gần đây lại được xây dựng trên lý thuyết học hỏi xã hội Nó cũng phát triển vượt qua khỏi hình thức về trị liệu của lý thuyết trị liệu

Trang 20

thực tế (Glasser- 1965) được các tác giả như Beck (1989) và Ellis (1962) đưa ra

Lý thuyết nhận thức - hành vi đánh giá rằng: hành vi bị ảnh hưởng thông qua nhận thức hoặc các lý giải về môi trường trong quá trình học hỏi Như vậy, rõ ràng là hành vi không phù hợp phải xuất hiện từ việc hiểu sai và lý giải sai Quá trình trị liệu phải cố gắng sửa chữa việc hiểu sai đó, do đó, hành vi chúng ta cũng tác động một cách phù hợp trở lại môi trường Theo Scott (1989), có nhiều cách tiếp cận khác nhau như theo quan điểm của Beck là đề cập tới cách tư duy lệch lạc về bản thân (mình là đồ bỏ đi…) về cuộc sống của chúng ta, về tương lai của chúng ta đang hướng đến những nỗi lo âu và căng thẳng; quan điểm của Ellis có trọng tâm về những niềm tin không hợp lý về thế giới và quan điểm trọng tâm của Meincheanbeum (1977) về những mối đe dọa mà chúng ta trải qua

Thuyết trị liệu nhận thức – hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức (behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc là trị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội Thuyết này cho rằng: chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi

Mô hình: S -> C -> R -> B

Trong đó: S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là kết quả hành vi

Giải thích mô hình: Theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và về kết quả hành vi mới dẫn đến phản ứng R

Có 2 quan điểm về nhận thức và hành vi: Một là, theo các nhà lý thuyết gia

nhận thức- hành vi thì các vấn đề nhân cách hành vi của con người được tạo tác

Trang 21

bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên

ngoài (Aron T Beck và David Burns có lý thuyết về tư duy méo mó) Con người

nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài,

do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ

không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại; Hai là, hầu hết

hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành

vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, Thái độ thích nghi và củng cố nhận thức

Như vậy, lý thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con người không phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận vấn đề Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suy nghĩ

và quan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm Vì vậy, muốn đẩy lùi

tỷ lệ tảo hôn của người dân tộc Thái tại Xã Nậm Hăn, cần nghiên cứu bắt nguồn

từ sự nhận thức hành vi của người dân tộc Thái về vấn đề tảo hôn, từ đó sẽ giải quyết được triệt để vấn đề

1.1.3 Các chính sách pháp luật của nhà nước về tảo hôn

Như đã phân tích ở trên, có thể thấy tảo hôn là một việc làm mang lại những

hệ lụy vô cùng lớn cho bản thân những người tảo hôn, cho gia đình và cho cả xã hội Do đó, nhận thấy rõ những hậu quả của việc tảo hôn này, pháp luật nước ta

đã chính thức ghi nhận hành vi tảo hôn là một hành vi vi phạm pháp luật quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các văn bản pháp luật khác có liên quan

Theo khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“2 Cấm các hành vi sau đây:

Trang 22

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; …”Theo quy định này, rõ ràng tảo hôn là hành vi trái pháp luật và bị pháp luật cấm Và hành vi này sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

Thứ nhất: Hủy kết hôn trái pháp luật

Hậu quả của việc tảo hôn có thể tác động tiêu cực đến đời sống xã hội nên cần có biện pháp xử lý phù hợp Với trường hợp tảo hôn có đăng ký kết hôn thì việc kết hôn đó là trái pháp luật và có thể bị hủy khi có yêu cầu của những người

có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật Và theo thủ tục Bộ luật tố tụng dân sự quy định, Tòa án có thẩm quyền xem xét về điều kiện độ tuổi khi kết hôn để xử lý Việc kết hôn sẽ bị hủy nếu như tại thời điểm xem xét yêu cầu hủy kết hôn, một trong hai bên không đủ điều kiện về độ tuổi hoặc một trong hai bên không yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân đó Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó

Trang 23

2 Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó

Như vậy, về hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn bị xử phạt vi phạm hành chính trong 2 trường hợp:

• Tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn

• Hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó

Như vậy, có thể bị xử phạt về hành vi tảo hôn khi Toà án có thẩm quyền đã ra quyết định buộc bên tảo hôn phải chấm dứt quan hệ vợ chồng với người chưa đủ tuổi kết hôn nhưng vẫn cố ý tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật

Thứ ba: Truy cứu trách nhiệm hình sự

Truy cứu trách nhiệm hình sự là chế tài áp dụng với hành vi tảo hôn, để lại hậu quả nghiêm trọng và có cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015

Điều 183 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội tổ chức tảo hôn như sau:

“Người nào tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đến tuổi kết hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.”

Theo quy định này, trường hợp tảo hôn bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người thực hiện hành vi tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đủ điều kiện về độ tuổi để kết hôn đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn tiếp tục vi phạm Theo đó, mức xử phạt được quy định là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm Tảo hôn không đơn thuần là không đủ điều kiện để kết hôn mà là hành vi bị cấm theo quy

Trang 24

định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hành vi cưỡng ép kết hôn bị xử phạt vi phạm hành chính, tổ chức tảo hôn bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi pham hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Cụ thể, theo Điều 58 Nghị định 82/2020/NĐ-

CP quy định xử phạt về hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn như sau:

“Điều 58 Hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn

1 Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn

2 Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án.”

Như vậy, theo quy hiện hiện hành, hành vi liên quan đến tảo hôn có thể bị

xử phạt tối đa lên đến 5.000.000 đồng

bên cạnh việc xử lý hành chính, đối với một số tường hợp, hành vi này còn

bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 Cụ thể, tại Điều 183 quy định về tội tổ chức tảo hôn như sau:

“Người nào tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đến tuổi kết hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.”

Như vậy, quy định pháp luật về tảo hôn nêu rõ hành vi tổ chức tảo hôn khi

bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện sẽ tiến hành lập biên bản và xử lý

vi phạm hành chính, một số trường hợp khi đủ yếu tố cấu thành sẽ truy cứu về trách nhiệm hình sự

1.1.4 Nguyên nhân của tảo hôn

Trang 25

Vấn đề tảo hôn trên địa bàn các dân tộc bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, tập tục, hủ tục lạc hậu nay vẫn còn tồn tại và ngày càng có xu hướng tăng lên Ngày nay cũng với sự phát triển xã hội hóa hiện đại, cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa xã hội, tình trạng này đã phần nào được hạn chế tuy nhiên ở số vùng dân tộc miền núi, một số vùng dân cư vẫn còn tồn tại tình trạng tảo hôn với những nguyên nhân:

Các chuyên gia phân tích, có nhiều nguyên nhân khác nhau và khá phực tạp ở các cộng đồng, dẫn đến vấn đề tảo hôn ngày càng tăng Tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu là tập tục truyền thống và sự thiếu hiểu biết của người phụ nữ ở các nước đang phát triển do quy định của pháp luật về xử lý đối với các hành vi tảo hôn còn chưa nghiêm khắc, chưa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa Như vậy, hành vi tảo hôn có thể bị xử phạt hành chính đến 3.000.000 đồng hoặc bị xử lý hình sự đến 03 năm tù nếu tiếp tục vi phạm cưỡng ép kết hôn; hành vi tổ chức tảo hôn có thể bị xử phạt hành chính đến 1.000.000 đồng, nếu tiếp tục vi phạm

có thể bị xử lý hình sự cải tạo không giam giữ đến 02 năm Nhìn chung, mức xử phạt đối với hành vi tảo hôn khá thấp, chỉ từ 500.000 đến 1.000.000 đồng, luật chỉ dự liệu khung tăng nặng đối với những trường hợp tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật

Hiện nay nhà nước ta mới chỉ ban hành nghị định (Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015) xử phạt hành chính đối với các hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn và đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn Theo Nghị định này thì đối tượng bị xử lý cũng chỉ dừng ở những người đã thành niên (người tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa thành niên; người cố ý duy trì quan hệ vợ chồng với người chưa thành niên) Trong khi thực tế hiện nay nhiều trường hợp tảo hôn là do chính bản thân các em (cả bên nam và nữ chưa đủ tuổi kết hôn) tự xác lập quan hệ vợ chồng từ khi còn đang học cấp 2, cấp 3 để đến khi có thai và

Trang 26

đặt các bậc phụ huynh vào tình thế phải làm theo các em Trong những trường hợp này, nếu có xử lý hành chính đối với các bậc cha mẹ vì để các con tảo hôn và duy trì tảo hôn thì hậu quả đã xảy ra

Ngoài những nguyên nhân trên, còn một số nguyên nhân khách quan khác tác động đến tảo hôn Sự khác biệt về vị trí địa lý, giữa vùng nông thôn và thành thị đã tạo ra những khác biệt lớn về điều kiện kinh tế, trình độ dân trí giữa người dân, phần nào tác động đến tảo hôn

trình độ dân trí chưa cao, ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế, không chấp hành các quy định của pháp luật về điều kiện độ tuổi kết hôn, cố tình vi phạm quy định về kết hôn Việc được học tập, giáo dục sẽ phần nào làm giảm tỷ lệ tảo hôn ở trẻ, ngược lại, trẻ em bỏ học sớm sẽ có nguy cơ tảo hôn cao hơn những trẻ

em thông thường Thống kê cho thấy, trẻ em gái không được học tập có nguy cơ kết hôn trước tuổi 13 cao gấp 03 lần so với những trẻ em được học tập

công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương còn hạn chế do nhiều yếu tố: rào cản về ngôn ngữ như nhiều người dân không biết nói tiếng phổ thông (tiếng Kinh), trình độ dân trí thấp (mù chữ, học vấn thấp), thiếu kinh phí triển khai, đối tượng được tuyên truyền ít tham gia (thanh thiếu niên)… dẫn đến hiệu quả không cao Chính sách đầu tư cho miền núi, nông thôn và vùng khó khăn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội của tỉnh còn nhiều yếu kém, dân số ít và sống phân tán Sự thiếu hiểu biết do trình độ học vấn thấp kết hợp với phong tục tập quán và nhiều yếu tố khác đã làm gia tăng tình trạng tảo hôn [24]

Ở nước ta, do trình độ nhận thức chưa cao dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm tảo hôn, nhiều trường hợp không có ý thức chấp hành pháp luật, cố tình vi phạm

Do quan niệm truyền thống khiến mọi người ít cởi mở về giáo dục giới tính Trên ghế nhà trường, trẻ chỉ được biết sơ lược về giáo dục giới tính thông qua bài học ngắn trong chương trình lớp 5 và chương trình lớp 9 Một giáo viên đã nhận xét

Trang 27

“Nội dung giáo dục giới tính chưa được tách bạch thành môn học hoặc chương trình chuyên biệt mà vẫn còn lồng ghép vào các bộ môn khác như “sức khỏe” hay

“sinh học” Thời điểm bắt đầu học khá trễ (đầu năm lớp 5) và không liên tục (lớp

5, lớp 8, lớp 11)… Số tiết/ bài quá ít, chỉ khoảng 8 tiết (lớp 5), 5 bài ở lớp 9, còn bậc THPT thì lồng ghép Nội dung mang tính giới thiệu, phân tích sơ bộ hơn là giáo dục cả về mặt tâm lý lẫn kỹ năng cho học sinh”

Pháp luật của Việt Nam chưa nghiêm và vấn đề thực thi pháp luật hôn nhân

và gia đình chưa nghiêm túc Người Kdong và người B’râu ở xã Bờ Y luôn xem chuyện kết hôn của người dân nơi đây là do tổ tiên truyền con nối cháu, chứ không theo luật pháp Do vậy những người phụ nữ và nam giới ở đây cứ đến tuổi dậy thì

là kết hôn

việc quản lý con em của phụ huynh chưa được quan tâm chú trọng, nhiều gia đình có sự buông lỏng con cái Bên cạnh đó, công tác quản lý học sinh tại các trường Trung học phổ thông, Phổ thông dân tộc nội trú giữa nhà trường và gia đình chưa chặt chẽ; sự phát triển của công nghệ thông tin, mạng xã hội, sự du nhập của văn hóa ngoại lai, lối sống thử, thiếu kinh nghiệm giới tính…đã ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh, nên xảy ra những trường hợp mang thai ngoài ý muốn phải nghỉ học, dẫn đến tảo hôn Do nhận thức chưa đầy đủ, chưa đúng đắn của bậc cha

mẹ và chính bản thân các chủ thể tảo hôn trong việc tạo điều kiện, tổ chức, xác lập quan hệ vợ chồng của đôi trẻ Ngoài những trường hợp do quan niệm, do phong tục, tập quán, nhiều bậc cha mẹ biết rõ là vi phạm pháp luật nhưng lại chưa nhìn nhận đến hệ lụy của tảo hôn nên vẫn tạo điều kiện để các em được làm vợ, làm chồng của nhau khi chưa đủ tuổi

1.1.5 Hậu quả của tảo hôn

Tảo hôn là một tập tục (hủ tục) tồn tại lâu đời ở nhiều nhóm cộng đồng và các dân tộc Tảo hôn không chỉ gây hại sức khoẻ cho sức khoẻ, sự trưởng thành

Trang 28

của trẻ em mà còn tước đoạt nhiều quyền con người của các em, ảnh hưởng đến

sự tồn vong và phát triển của nhóm cộng đồng và dân tộc

Tình trạng tảo hôn diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi và tập trung chủ yếu là ở các làng quê, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Tảo hôn đã mang đến sự nghèo đói, thất học, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và các mối quan hệ xã hội như:

Về sức khỏe: Tảo hôn sẽ làm cho sức khỏe của trẻ em bị ảnh hưởng đặc biệt

là trẻ em gái dưới độ tuổi 15 mang thai sẽ có nguy cơ chết do mang thai và sinh

đẻ cao so với phụ nữ trên 20 tuổi Những đứa trẻ có mẹ dưới 18 tuổi có nhiều khả năng nhẹ cân hoặc chết non hơn những đứa trẻ khác Đây chính là sự cảnh báo thầm lặng về sức khỏe, bởi các nguyên nhân cốt lõi của tử vong và bệnh tật của người mẹ không được quan tâm đúng mức

Về môi trường giáo dục: Trẻ em buộc phải kết hôn sớm ít khi được tiếp tục việc học hành, cản trở họ có hy vọng về sự độc lập, cản trở họ được tiếp thu những nền giáo dục tiên tiến, hiện đại nhằm phát triển tối đa nhân cách, tài năng, các khả năng về trí tuệ và thể chất của trẻ em;

Về kinh tế: Tảo hôn khiến khả năng kiếm sống hoặc đóng góp về kinh tế cho gia đình là rất thấp dẫn đến tỷ lệ đói nghèo ngày càng tăng cao

Về tinh thần: Khi kết hôn sớm trẻ em sẽ không được nghỉ ngơi và thư giãn, không được tham gia vui chơi, tham gia những hoạt động giải trí và được tự do tham gia các sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi…

Về mặt xã hội: Tảo hôn có nguy cơ gây hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển xã hội do ảnh hưởng của chất lượng dân số, một xã hội mà tỷ lệ người thiểu năng về thể chất, thiểu năng về trí tuệ, người tàn tật, khuyết tật lớn sẽ là gánh nặng cho xã hội Mặt khác, phần lớn các cặp vợ chồng tảo hôn khi tuổi đời còn ít, phải nghỉ học, mất cơ hội học tập, thiếu kiến thức xã hội, thường rơi vào cảnh nghèo

Trang 29

túng, nhiều cặp đi đến phá vỡ hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của trẻ em

Đây chính là những ảnh hưởng lớn đối với trẻ em không chỉ hiện tại mà cả tương lai Vì một tương lai tươi sáng cho các em, để cho các em có được sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần cũng như tâm sinh lý, được tham gia học tập, giao tiếp với với cộng đồng và xã hội mỗi chúng ta cần phải có những hành động thiết thực như tuyên truyền, vận động cùng với các biện pháp xử lý nghiêm theo các quy định của pháp luật mới có tác dụng vừa giáo dục, vừa dăn đe đối với những trường hợp vi phạm Có như vậy mới hạn chế thấp nhất tình trạng tảo hôn đang diễn ra hiện nay

• 1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan về địa bàn xã Nậm hăn

1.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của xã

Nậm Hăn là xã xa nhất của huyện Sìn Hồ, cách trung tâm huyện hơn 100km Đây là xã đặc biệt khó khăn của huyện với 56% hộ dân thuộc diện nghèo, lao động sản xuất thô sơ và dựa chủ yếu vào tự nhiên, mặt bằng dân trí thấp, giá cả hàng hóa thuộc vào tốp đắt đỏ nhất của huyện… Toàn xã có 15 bản, 5.457 nhân khẩu

và 3 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó chiếm số đông là đồng bào dân tộc Dao Xã Nậm Hăn, là xã xa nhất của huyện Sìn Hồ, đường giao thông đi đại khó khăn địa bàn rộng đồi núi cao, nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tuyên truyền

về phát triển kinh tế của nhân dân Hiện nay xã có 15, có 3 dân tộc anh em cùng sinh sống, bản có 1.147 hộ với 5.457 khẩu, Dân tộc Thái 413 hộ = 2030 khẩu chiếm 37,2%, Dân tộc Dao 557 hộ = 2.653 khẩu chiếm 48,6%, Dân tộc Khơ Mú

177 hộ = 774 khẩu chiếm 14,2% Tổng số hộ nghèo cả xã là 413 hộ chiếm 36,9%,

hộ cần nghèo 72 hộ chiếm 6,40%, trong đó có 07 bản theo tôn giáo, nhân dân sống rải rác, không tập trung nên làm ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền của, xã có

5 bản cách xa trung tâm xã nên khó khăn trong việc tuyên truyền Hội viên phụ

Trang 30

nữ, cính sách phòng chống tảo hôn, tệ nạn xã hội, chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình… việc phát triển kinh tế - xã hội cũng như việc nắm bắt tình hình của người dân trên địa bàn

1.2.1.2 Đặc điểm văn hóa

Trải qua quá trình xây dựng và phát triển lâu dài, cộng đồng dân tộc Thái

đã tạo dựng cho mình một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Trong nền văn hóa ấy trước tiên là kho tàng văn học dân gian phong phú với nhiều nét tinh hoa Người dân Thái đã sáng tạo nên cả một kho tàng thần thoại, truyền thuyết truyền

kể về những địa danh linh thiêng, kì bí Đó là cả một hệ thống các truyền thuyết

kể về thuở khai thiên, lập địa, sinh ra loài người Truyền thuyết Tẩu Pung hay quả bầu mẹ sinh ra các tộc người; truyền thuyết Ải Lậc Cậc được vua trời cử xuống trần gian khai phá đất Mường Thanh… Hay các hình thức diễn xướng dân gian đặc sắc của dân tộc, những bài then cổ, âm nhạc, dân ca, dân vũ truyền thống Sự phong phú, độc đáo trong văn hóa dân tộc Thái còn được biểu đạt trong mọi mặt của đời sống hàng ngày từ trang phục, nhà ở, ẩm thực đến lao động sản xuất và các nghi thức lễ hội Trang phục truyền thống của người Thái vô cùng đặc sắc và tinh tế: nam giới mặc quần áo thổ cẩm màu chàm xanh hoặc chàm đen, phụ nữ mặc áo cóm bó sát với hàng khuy bạc, váy dài đen quấn suông hoặc được thêu viền hoa văn ở gấu Cùng với váy, áo, phụ nữ Thái đen còn có chiếc khăn Piêu thêu hoa văn bằng nhiều loại chỉ màu rất sặc sỡ và đẹp mắt Nói đến bản sắc văn hóa của người Thái không thể không kể đến những nếp nhà sàn truyền thống Người Thái ở nhà sàn, kết cấu bằng gỗ, với những cột gỗ vuông hoặc tròn được

kê đá, sàn cao, lợp ngói Mỗi nhà tùy theo gia cảnh mà dựng 3 gian hoặc 5 gian Người Thái rất yêu văn nghệ, thích ca múa, họ thường tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ gắn với sinh hoạt đời sống và tín ngưỡng như: mừng nhà mới; mừng cơm mới; xên bản xên mường Ngày nay mỗi bản người Thái đều có đội văn nghệ riêng Họ thường biểu diễn trong các lễ hội của bản và được huy động

Trang 31

tham gia các sự kiện của địa phương Vùng lòng chảo Mường Thanh hiện có nhiều đội văn nghệ thường xuyên duy trì tổ chức múa quạt, múa xòe hoa, múa khăn piêu

do chính đồng bào Thái sáng tạo, gìn giữ và phát triển phục vụ mỗi khi có khách đến thăm

1.2.1.3 Đặc điểm về kinh tế

Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ – “mương, phai, lái, lịn” (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng, thung lũng Sự đa dạng và giàu có của tự nhiên là một trong những nguồn sống quan trọng tạo nên các điểm dân cư của người Thái Từ đó, người Thái hình thành các hoạt động kinh tế chủ yếu sau: Đầu tiên phải kể đến đó

là nghề trồng trọt, với hệ thống nông nghiệp của người Thái bao gồm 2 loại chính: Trồng lúa nước và trồng trọt trên nương Trồng lúa nước là hoạt động kinh tế chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tế của người Thái, mỗi năm người Thái làm 2 vụ: Vụ chiêm thường gieo cấy vào cuối tháng 12 đầu tháng 01 dương lịch,

vụ mùa thường vào tháng 6 đến tháng 9, gieo trồng thường ở nơi có địa hình thung lũng, bằng phẳng, gần khe suối để cung cấp nước cho ruộng, giống thóc chủ yếu là: tám thơm, bao thai, sáu tư… Các khâu chăm sóc ruộng nước chủ yếu bằng thủ công, dùng sức trâu, bò để kéo, cày bừa đất, bằng sức người để chăm sóc lúa Ngoài trồng lúa nước người Thái còn canh tác nương rẫy, trồng lúa xen kẽ các cây hoa màu như: Đậu tương, ngô, khoai, sắn… mỗi năm 01 mùa vụ, trồng vào cuối tháng 01 đến đầu tháng 3 âm lịch Hoạt động nông nghiệp trồng trọt, nương rẫy là hoạt động canh tác truyền thống có tác động lớn đến đời sống kinh tế – văn hóa của người Thái Tiếp đến, nghề chăn nuôi là hoạt động kinh tế không thể thiếu đối với người Thái, chăn nuôi bổ trợ cho trồng trọt, cung cấp sức kéo cho nông nghiệp,

Trang 32

cải thiện bữa ăn hàng ngày, là sản phẩm dùng để trao đổi buôn bán Trước đây chăn nuôi không đem lại nhiều sản phẩm, chủ yếu chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như: lợn, gà, vịt để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng Người Thái thường thả rông trâu, bò trên nương, trên các sườn đồi Ngày nay, chăn nuôi đã phát triển hơn trước rất nhiều, họ đã làm trang trại, dùng trâu, bò để cày, kéo, chăn nuôi gia cầm để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, tâm linh trong đời sống hàng ngày Nghề thủ công là hoạt động kinh tế bổ trợ, trong hoạt động thủ công của người Thái đáng chú ý là nghề đan lát Đan lát là nghề thủ công truyền thống của người Thái dựa trên nguyên liệu có sẵn trong địa bàn sinh sống là: Tre, mây, nứa, giang… Người Thái

có kỹ thuật đan lát rất độc đáo, mỗi loại sản phẩm đều có kỹ thuật đan khác nhau,

có công dụng riêng, dùng trong vận chuyển và sinh hoạt hằng ngày: rổ, rá, bung, ếp…Đàn ông người Thái còn đan chài lưới để đánh bắt cá Đối với người Thái, đan lát là công việc gắn liền với người đàn ông, còn phụ nữ quan tâm nhiều hơn đến việc trồng bông, chế biến sợi, dệt và thêu các hoa văn Trước đây, người Thái trồng bông dệt vải, ngày nay họ mua vải để may vá, thêu, tạo ra các sản phẩm như: khăn, túi, áo, mũ… dùng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, để trao đổi, buôn bán Hoạt động săn bắt, hái lượm đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của người Thái do trước đây cuộc sống của họ phụ thuộc vào thiên nhiên là chính Nếu hái lượm là công việc chính của phụ nữ và trẻ em nhằm cung cấp thực phẩm như: rau, măng, rêu… cho các bữa ăn hàng ngày, săn bắn là công việc gắn liền với đàn ông, săn bắn không chỉ cung cấp thực phẩm cải thiện đời sống mà còn bảo vệ mùa màng Ngày nay do nền kinh tế phát triển, rừng bị thu hẹp dần vai trò săn bắt ngày càng ít Cho nên họ tự chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm vườn, trồng rau để đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm trong gia đình Hiện nay các hoạt động trao đổi buôn bán của người Thái được đánh giá là hoạt động phát triển ở vùng Tây Bắc

Trang 33

Do chịu ảnh hưởng lớn của hoạt động kiến tạo địa chất nên có địa hình rất phức tạp, núi cao, độ dốc lớn, mức độ chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, phổ biến là kiểu địa hình núi cao và núi trung bình xen lẫn thung lũng với độ cao trung bình từ 500 - 800m so với mực nước biển, là vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp như Cao su, Quế và phát triển sản xuất nông nghiệp

Qua đặc điểm tình hình chung của xã Nậm Hăn cho thấy đa số người dân nơi đây là đồng bào dân tộc thái đời sống của người dân nơi đây chủ yếu là làm nông nghiệp nên với khí hậu thây đổi thất thường dẫn đến đời sống của người dân nơi đây gặp khó khăn

1.2.1.4 Một số nghi thức trong hôn nhân

Hôn nhân của người Thái: từ nhận thức đến hành vi ứng xử: Ở Việt Nam, dân tộc người Thái có phong tục, tập quán phong phú và đa dạng Hôn nhân của người Thái trong xã hội truyền thống chứa đựng nhiều giá trị văn hóa; gồm nhiều nguyên tắc, nghi thức và nghi lễ độc đáo đánh dấu mốc lớn trong chu kỳ đời người Các nghi lễ cưới xin hàm chứa nhiều giá trị về đạo đức, tâm lý, tình cảm, hành vi ứng xử xã hội; là dịp để các thành viên trong cộng đồng thắt chặt mối quan hệ họ hàng, láng giềng Điều đó được minh chứng qua những tục lệ tốt đẹp, mang tính nhân bản Từ khóa: Người Thái; hôn nhân; nhận thức; ứng xử Mở đầu Người Thái

ở Việt Nam là một trong những tộc người thiểu số có truyền thống văn hóa độc đáo, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Tây Bắc và miền tây tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An Người Thái tập trung đông nhất ở ba tỉnh Sơn La, Thanh Hóa và Nghệ An (70,5%) Trong quá trình phát triển lịch sử, người Thái ở nhiều nơi trên đất nước ta đã hình thành đời sống văn hóa phong phú, tạo ra những sự khác biệt ở các nhóm địa phương nhận thức và hành vi ứng xử của người Thái về các vấn đề liên quan đến đời sống hôn nhân Nhận thức của người Thái về hôn nhân Cũng như các tộc

Trang 34

người khác, người Thái quan niệm hôn nhân là quy luật của đời sống xã hội để tái sản xuất sức lao động và nối dõi dòng giống Ngoài ra, kết hôn còn để sinh con - điểm tựa cho bố mẹ khi về già, và đặc biệt để tăng thêm thế lực cho dòng họ Bởi quan niệm truyền thống như vậy nên gia đình của họ thường có nhiều con Hôn nhân ở người Thái dựa trên tình yêu của đôi trai gái, đặc biệt dựa trên sự đồng thuận giữa hai gia đình Điều này còn vượt lên trên cả sự đồng thuận của đôi nam

nữ, bởi đó không chỉ là việc riêng của đôi trẻ mà còn liên quan mật thiết đến cả gia đình, dòng họ, đặc biệt đến chuyện “nối dõi tông đường”, thờ cúng tổ tiên Như vậy, hôn nhân của người Thái dựa trên tình yêu của đôi lứa, nhưng có sự đồng ý của bố mẹ hai bên gia đình và được đôi

Lễ ăn hỏi của dân tộc Thái là dịp để nhà trai sang xin phép nhà gái cho

chàng trai được ở rể và làm việc ở nhà bố mẹ vợ, từ đó con rể có thời gian hiểu kỹ

và thân hơn với họ hàng nhà gái Lễ ăn hỏi là dịp thông báo cho họ hàng hai bên được biết và hứa gả con cho nhau, qua lễ này cô gái được hỏi đã chính thức trở thành vợ sắp cưới của chàng trai đi hỏi, chàng trai tập làm quen với cách gọi bố

sự trong công việc, có tài ăn nói ứng đối nhanh đến nhà gái xin cưới hỏi cho đôi trai gái) cùng với chàng trai, bố mẹ và một số thanh niên đi cùng giúp việc Mang theo một số lễ vật đã thỏa thuận trước như: trầu cau, một con gà trống, một con

Trang 35

gà, rượu và một số thực phẩm đủ để làm cơm mời nhà gái Lễ ăn hỏi được tổ chức

to hay nhỏ tùy thuộc vào khả năng điều kiện của nhà trai và yêu cầu của nhà gái, nhưng phải tuân theo phong tục truyền thống Lễ vật mang đến được giao cho nhà gái, họ cùng nhau chế biến từ việc giết gà đến việc bày mâm cúng Giết gà bằng cách treo cổ hai con gà vào một dây cho đến khi chết Họ cùng nói chuyện trong lúc đợi chế biến, ông mai, bà mối ngồi uống nước, hỏi thăm tình hình sức khỏe, chuyện bản, chuyện Mường, chuyện trai gái yêu nhau đến tuổi xây dựng gia đình Khi bày mâm gà xong, hai đầu gà và bốn chân gà được xếp vào một đĩa, họ cùng vào mâm, khi đã ổn định chỗ ngồi cùng nhau xem chân gà (bói); xem đôi trẻ có mặn mà cương quyết đến với nhau, duyên số họ có hợp nhau, bố mẹ hai bên có đồng tình ủng hộ hay có điều gì vướng mắc hay không Tất cả sẽ thể hiện trên đầu gà, chân gà Trong mâm lễ cúng bao giờ cũng có hai chén rượu để mời tổ tiên đến dự cuộc vui cùng gia, chứng giám cho tình yêu đôi lứa, cầu mong những điều tốt đẹp cho cả chủ nhà và khách Trong lễ ăn hỏi nhà trai rót rượu tiếp nhà gái và ông mối, bà mối hai bên, sau 3 lần nâng chén, đại diện bên nhà trai tuyên bố lý do

và xin phép bàn về nội dung chính của buổi lễ

Nhận lễ ǎn hỏi rồi, nhà gái hẹn ngày lành, tháng tốt cho chàng trai đến ở rể Đến lần đầu, anh chàng chỉ được phép mang theo một con dao để làm việc Lúc này chưa được làm chàng rể chính thức, anh ta chỉ được phép nằm ở gian đầu nhà sàn dành cho khách nam giới Sau ba tháng "thử thách", nếu được bố mẹ vợ tương lai ưng ý anh ta mới được đem chǎn đệm của nhà mình đến, và vẫn nằm gian đầu nhà Từ đấy, anh phải đảm đương mọi việc trong gia đình nhà vợ Cứ thế trong ba nǎm trời Hết hạn đó xem chừng "đạt yêu cầu", nhà gái mới cho chính thức làm lễ thành hôn Trước khi làm lễ, nhà trai phải đem trầu, rượu, vòng tay, hoa tai, trâm cài đầu và một đôi độn tóc giả để cô dâu làm lễ búi tóc lên giữa đỉnh đầu Búi tóc giữa đỉnh đầu là dấu hiệu người đàn bà đã có chồng Khi bị ép duyên, cô gái phản

Trang 36

kháng bằng cách cắt trụi tóc mình giữa lúc làm lễ "tẳng cẩu" Sau nghi lễ quan trọng này, nhà gái dành cho đôi vợ chồng mới một phòng hoặc một gian riêng ở nhà sàn, có chǎn màn, gối, đệm mới nguyên Người chồng tiếp tục ở nhà vợ, cùng nhau làm ǎn, sinh con đẻ cái Từ một nǎm đến tám nǎm - có khi mười nǎm - sau

lễ thành hôn ở nhà vợ người chồng mới được phép đưa vợ về nhà bố mẹ mình sau một nghi lễ đưa dâu long trọng Bố mẹ vợ cho đôi vợ chồng đủ các thứ cần dùng trong một gia đình như nồi đồ xôi, chǎn đệm, gia súc, các hạt giống

Về nhà chồng, nàng dâu chuẩn bị: một tấm áo khoác thật đẹp biếu mẹ chồng, một bộ quần áo thật đẹp biếu bố chồng những tấm khǎn piêu (khǎn đội đầu) biếu

cô bác bên nhà chồng những chiếc khǎn mặt bằng vải Thái để biếu những người

dự tiệc Các quà biếu đó vừa để bày tỏ tình cảm của nàng dâu mới đối với nhà chồng, vừa tự giới thiệu nếp đảm đang, tài khéo léo của nàng Người con gái về nhà chồng nếu chǎm chỉ và nết na thì sống tự do thoải mái hơn người con trai rể nhà vợ Có lẽ đó cũng là một tàn dư của chế độ mẫu hệ chǎng? Việc hôn nhân của dân tộc Thái chủ yếu theo chế độ một vợ một chồng Thời trước, khi kết hôn, nhà trai phải đem đến nhà trưởng bản mấy chục đồng bạc, và cũng phải đem tiền đến cho cha mẹ cô gái, đồng thời cũng phải mang cả tiền đến biếu "người chị cả" trong bản nữa Sau khi làm lễ cưới, người con trai phải đến nhà gái ở rể ba năm Trong

ba năm ấy chàng rể phải gánh vác mọi việc trong nhà Tục ngữ của người Thái có câu: "Được một chàng rể, là được một người làm" Nếu đi ở rể chưa hết thời hạn,

mà người con trai muốn trở lại nhà mình, bên nhà trai phải nộp cho cha mẹ cô dâu mấy chục gánh thóc (mỗi gánh chừng 40 kg) và trên 100 chiếc chiếu Không những khi cưới vợ phải mất tiền mà ngay khi ly hôn cũng mất tiền Nếu bên nam đòi ly hôn, thì bên nữ được tiền bồi thường, nếu như bên nữ đòi ly hôn thì ngược lại Nếu chưa bồi thường đủ, bên nữ còn chưa được đi lấy chồng mới, phải chờ đến khi nào chàng rể bồi thường đủ số tiền quy định, mới được đi bước nữa Nếu cô gái đi lấy

Trang 37

chồng lần thứ hai thì nói chung tiền cưới cũng đã nhẹ đi rất nhiều, với lý do mà người Thái vẫn thường nói: "Bát nước đổ, không bốc đầy lại được"

Lễ cưới: Tiệc cưới được bắt đầu! Nhà trai đã chuẩn bị các mâm cơm để tiếp

đón nhà gái và khách khứa Trong đám cưới của dân tộc Thái, bên nhà trai có nhiệm vụ thực hiện tất cả các món ăn mà nhà gái yêu cầu Thiếu món gì thì đích thân chú rể phải tự phục vụ theo đúng yêu cầu của nhà gái Lúc này, chú rể đưa cô dâu đi chúc rượu từng người trong gia đình hai bên và các quan khách Trong đám cưới, các đôi nam nữ hai bên hát, hát đối đáp giao duyên Lời ca, tiếng hát, tiếng nhạc hòa quyện vào nhau Và từ đây, đã có biết bao nhiêu đôi trai gái phải lòng nhau và đi đến hạnh phúc Sau khi đám cưới kết thúc, phụ nữ cả hai bên nội, ngoại

có nhiệm vụ vào phòng tân hôn để mắc màn, trải chiếu, nệm cho cô dâu, chú rể Một phụ nữ khéo léo được chọn ngồi trên giường tân hôn, ôm một chiếc gối làm động tác ru con, với ý nghĩa mong hai vợ chồng sau này con đàn cháu đống, mãi mãi được hạnh phúc… Mọi việc đã xong xuôi, họ nhà gái trở về, chỉ có cô dâu và một phụ dâu qua đêm ở nhà trai Một đặc trưng riêng trong hôn nhân của người Thái là ngay trong đêm đầu tiên ở nhà trai thì cô dâu chưa được ngủ cùng chú rể,

mà phụ dâu ngủ cùng cô dâu Phụ dâu sẽ ở lại nhà trai chờ cho đến khi chú rể cùng

cô dâu lại mặt nhà ngoại thì phụ dâu mới được đi theo về Trong ngày lại mặt nhà ngoại, cả chú rể và cô dâu phải trở về nhà trai trong ngày, không được ở lại qua đêm bên nhà ngoại “Trước đây, người Thái còn có tục trộm vợ Tục lệ này cho phép đôi trai gái nào yêu nhau mà cha mẹ bên gái không đồng ý cuộc hôn nhân này, thì chàng trai có thể tổ chức “trộm” vợ về nhà và bỏ sẵn lễ vật gồm rượu, cơi trầu… trên đầu giường nơi cô gái nằm, để khi bố mẹ nhà gái thấy sẽ biết con gái mình đã có chàng trai đến bắt đi Ngày hôm sau, bố mẹ nhà trai sẽ chủ động sang nhà gái báo cáo về việc con trai mình đã bắt con gái của họ và xin phép cho đôi trẻ được chọn ngày lành, tháng tốt tổ chức lễ cưới

Trang 38

Tuy nhiên, tục lệ trộm vợ cho đến ngày nay không còn nữa Lễ cưới hỏi của người Thái chúng tôi hiện nay tuy đã giảm thiểu những thủ tục rườm rà, phức tạp như không còn tục thăm tháng, tát nước bẩn, tục rửa chân… cho phù hợp với thời đại mới, nhưng vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa cưới hỏi của đồng bào Thái Chính những nghi lễ mang đậm dấu ấn văn hóa và tín ngưỡng trong việc cưới hỏi của người Thái đã có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống vợ chồng Họ sống rất chung thủy với nền tảng gia đình bền chặt Đó cũng là những nét đẹp trong đời sống văn hóa - xã hội hôm nay mà chúng ta cần giữ gìn, phát huy và trân trọng

1.2.2 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc giảm thiểu tảo hôn của người dân tộc ở vùng núi và của xã Nậm Hăn

Nhân viên công tác xã hội có vai trò kết nối các nguồn lực về các biện pháp giảm thiểu tảo hôn và các chính sách tuyên tuyền tảo hôn để tuyên ruyền tới người dân

Vai trò truyền thông, nâng cao nhận thức đẩy mạnh, đổi mới công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình; các chuẩn mực, giá trị văn hóa gia đình; kiến thức NVCTXH thực hiện vai trò truyền thông nâng cao nhận thức qua việc cung cấp các kiến thức, các kỹ năng, bên cạnh

đó tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng

NVXH cần ứng dụng những chương trình “hành vi tích cực” thúc đẩy việc xây dựng và duy trì môi trường thân thiện, tăng cường sự tôn trọng NVXH các cá nhân xây dựng giá trị bản thân và phát triển những kỹ năng như nhận diện

và quản lý cảm xúc, biết quan tâm đến người khác, đi đến những quyết định có trách nhiệm, xây dựng được những mối quan hệ tích cực, và giải quyết một cách hiệu quả những thách thức của cuộc sống

Trang 39

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TẢO HÔN CỦA DÂN TỘC THÁI TẠI XÃ NẬM HĂN,

HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU 2.1 Thực trạng tảo hôn của dân tộc Thái

2.1.1 Khái quát tình hình chung của dân tộc Thái

Dân tộc Thái là một trong 54 dân tộc có mặt, sinh sống trên đất nước Việt Nam

từ hơn 1000 năm trước trong các cuộc thiên di trong lịch sử Dân tộc Thái ở Việt Nam

có số dân đứng thứ 3 cả nước sau người Kinh và người Tày với số dân hơn 1,3 triệu người, chủ yếu sống ở vùng núi phía Tây Bắc và các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An trải qua hàng trăm năm sinh sống và lao động sản xuất, người dân tộc Thái đã tạo dựng nên được những nét văn hóa độc đáo và đặc sắc cho dân tộc và vùng miền, với những nét đặc sắc về bản sắc văn hóa kiến trúc nhà ở, trang phục thổ cẩm, văn hóa ẩm thực, phong tục tập quán riêng biệt, ngôn ngữ chữ viết và truyền thống lao động sản xuất vật chất tất cả đã làm nên một nền văn hóa cho dân tộc Việt Nam thêm phong phú và

đa dạng Nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại một số hủ tục lạc hậu Xã Nậm Hăn hiện nay

có 15 bản có 3 dân tộc anh em cùng sinh sống tổng số hộ có 1.147 hộ với 5.457 nhân khẩu trong đó dân tộc Thái 37,2% với số hộ là 413 hộ và 2030 khẩu

Dân cư phân bố khá rải rác qua từng bản, 2 bản nằm trong trung tâm xã còn lại xã trung tâm

Bảng 2.1 Thống kê dân số của dân tộc Thái theo bốn bản từ năm

Trang 40

Nhìn vào bảng ta có thể thấy số dân của người dân tộc Thái

Toàn xã có 15 bản trong đó có 5 bản dân tộc Thái có 3 dân tộc cùng sinh sống phần lớn trong xã là người dân tộc Dao

Bảng 2.2 Thống kê dân số theo 3 dân tộc

(Nguồn: Ủy Ban xã Nậm Hăn, huện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu)

Tỷ lệ dân số chia theo dân tộc trên địa bàn xã Nậm Hăn Năm 2017 – 2021

Xã Nậm Hăn có 3 dân tộc cùng sinh sống và làm việc, mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa, lối sinh hoạt và canh tác riêng, trong đó dân tộc Thái chiếm 37,3% dân số toàn xã và mỗi dân tộc sẽ có một nét đặc trưng riêng như: dân tộc Dao chiếm 44.3% dân số, Khơ Mú chiếm 18.4% Là nơi sinh sống của nhiều dân tộc do đó văn hóa cũng như lối canh tác luôn được giao lưu trao đổi không ngừng

để phù hợp với điều kiện cũng như bản sắc của từng dân tộc, nhờ đó đã tô màu và làm nên nét riêng cho vùng mà ít nơi đâu có được

2.1.2 Thực trạng tảo hôn của dân tộc Thái

Theo thống kê Ủy ban nhân dân xã Nậm Hăn - Tư pháp & Hộ tịch trong 4 năm của dân tộc Thái từ năm 2017 - 2020 toàn xã thống kê kết hôn là: 62 người

vợ chồng đăng ký kết hôn trong đó có 34 người tảo hôn Bảng dưới đây thống kê

số người tảo hôn của dân tộc Thái trên địa bàn xã Nậm Hăn từ năm 2017 – 2020

Ngày đăng: 19/07/2023, 22:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Bính ( 2004), “Văn hóa các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra”, Nxb. Chính trị - Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb. Chính trị - Quốc gia
Năm: 2004
2. Nguyễn Văn Dũng ( 2014) “Thực trạng và nhận thức Thái độ về tảo hôn, kết hôn cận huyết thống của người dân một số dân tộc ít người của người dân một số dân tộc ít người tại 4 xã huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc sỹ Luật học, chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 2014
3. Chính phủ ( 2013), nghị định số 110/2013/NĐ- CP ngày 24/09/2013 của Chính phủ quy định xủ phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghị định số 110/2013/NĐ- CP ngày 24/09/2013 của Chính phủ quy định xủ phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
4. Chính phủ ( 2015), Nghị định 67/2015/NĐ- CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp , hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 67/2015/NĐ- CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp , hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
5. Chính phủ (2015), Quyết định số 498/QĐ-TTg, ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vùng dân tộc thiểu giai đoạn 2015-2025” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 498/QĐ-TTg, ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vùng dân tộc thiểu giai đoạn 2015-2025”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
6. Chính phủ (2015), Quyết định số 498/QĐ-TTg, ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vùng dân tộc thiểu giai đoạn 2015-2025” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 498/QĐ-TTg, ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vùng dân tộc thiểu giai đoạn 2015-2025”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
7. Luận văn Ths. Cà Bình Minh ( 2018), “Thực trạng vấn đề tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La”, Luận văn Thạc sỹ Y tế cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng vấn đề tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La
Tác giả: Cà Bình Minh
Năm: 2018
11. Quốc hội CHXHCNVN ( 2000), Luật hôn nhân và gia đình ; 12. Quốc hội CHXHCNVN (2014), Luật Hôn nhân và Gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia đình
Tác giả: Quốc hội CHXHCNVN
Năm: 2000
14. Ủy Ban Dân tộc (2015), Quyết định số 439/QĐ – UBDT ngày 13 tháng 08 năm 2015 thực hiện Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiếu số giai đoạn 2015 – 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 439/QĐ – UBDT ngày 13 tháng 08 năm 2015 thực hiện Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiếu số giai đoạn 2015 – 2020”
Tác giả: Ủy Ban Dân tộc
Năm: 2015
15. PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh - Trường ĐH Khoa học Huế (2017), “Tảo hôn và kết hôn cận huyết thống ở các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị”, Tạp chí Thông tin khoa học và công nghệ Quảng Bình - Số 2/2017 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w