ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên bệnh nhi bị VTPQ, tuổi từ 02 tháng đến
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Gia đình trẻ đồng ý tham gia nghiên cứu
- Lần đầu tiên hoặc lần hai bị thở khò khè
- Đáp ứng tiêu chuẩn định nghĩa lâm sàng về VTPQ [21]
- Có đủ ít nhất 2 xét nghiệm: X quang tim phổi, công thức máu
- Bất kỳ bệnh lý có từ trước: (tiền sử xơ nang, rối loạn vận động phổi phế quản, bệnh tim bẩm sinh hoặc thận, )
- Trường hợp chẩn đoán hen phế quản
- Trẻ VTPQ, nhưng đã được điều trị bằng liệu pháp dùng các thuốc giãn cơ trơn phế quản và corticoid trước khi phập viện
2.1.3 Tiêu chuẩn đưa bệnh nhân ra khỏi nghiên cứu
- Dị ứng hoặc sốc phản vệ với bất kỳ thành phần nào của thuốc
- Bỏ hoặc không tuân thủ các liệu pháp điều trị
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Khoa Nhi tổng hợp, Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang
- Thời gian: từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018 (Tổng số bệnh nhân nghiên cứu trong 12 tháng được tính từ 0 giờ ngày 01/5/2017 đến 24 giờ ngày 30/4/2018).
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu Được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang và thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
Trong nghiên cứu này chúng tôi dùng công thức tính cỡ mẫu: n = 𝒁 𝟏−𝜶/𝟐 𝟐 𝒑(𝟏−𝒑)
: Sai lầm loại 1 = 0,05 ứng với khoảng tin cậy 95%
Z 1 / 2 = 1,96 d = 0,05 (sai số mong muốn) p: Tỷ lệ triệu chứng cơ năng của trẻ bị VTPQ
Theo Nguyễn Thị Thanh [23]: tỷ lệ trẻ VTPQ có triệu chứng ho là 94% Tính ra n1 = 86,7
Cũng theo Nguyễn Thị Thanh [23]: tỷ lệ trẻ VTPQ có triệu chứng khò khè là 91% Tính ra n2 = 125,8
Chúng tôi đã chọn cỡ mẫu lớn nhất cho nhóm trẻ VTPQ có triệu chứng khò khè, với ít nhất 126 bệnh nhân Đối với mục tiêu 2, chúng tôi sử dụng cỡ mẫu thuận tiện, bao gồm những bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu của mục tiêu 1, để đánh giá hiệu quả của khí dung Natriclorid 3%.
Kỹ thuật chọn lựa trong nghiên cứu này bao gồm việc sử dụng lá phiếu có ký hiệu A cho khí dung Natriclorid 3% (nhóm nghiên cứu) và ký hiệu B cho khí dung Natriclorid 0,9% (nhóm chứng) Mỗi bệnh nhi khi vào viện sẽ được bốc thăm ngẫu nhiên để xác định nhóm thuốc được sử dụng.
Theo số liệu thống kê từ Phòng Kế hoạch tổng hợp, hàng năm tại Khoa Nhi tổng hợp Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang, có khoảng 250 trẻ em bị viêm tai giữa phải nhập viện điều trị Do đó, chúng tôi đã tiến hành
250 lá phiếu (50% cho mỗi loại A và B)
2.2.4.1 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng; thông qua các yếu tố dịch tễ học, triệu chứng cơ năng, thực thể, X quang ngực, công thức máu, CRP
2.2.4.2 Đánh giá kết quả khí dung nước muối Natriclorid 3%;
+ Nhóm nghiên cứu (NC): Bệnh nhân được khí dung Natriclorid 3% ngay khi nhập viện (3 lần/ngày, mỗi lần 4ml trong khỏang thời gian 5 - 10 phút), thời gian khí dung 3 ngày
+ Nhóm chứng: Bệnh nhân được khí dung Natriclorid 0,9% ngay khi nhập viện (3 lần/ngày, mỗi lần 4ml trong khoảng thời gian 5 – 10 phút), thời gian khí dung 3 ngày
- Tuổi, giới tính, cân nặng khi sinh, sinh đủ tháng, non tháng, có được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu, suy dinh dưỡng
2.2.5.2 Mục tiêu 1: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng VTPQ
* Lâm sàng (phân tích, đánh giá các triệu chứng):
- Rối loạn tiêu hóa: Nôn, phân lỏng (không phải tiêu chảy cấp)
- Thở nhanh (theo phân độ tuổi)
- Co kéo cơ hô hấp phụ
- Nhiễm khuẩn: Sốt, diễn biến lâm sàng xấu dần
- Tổn thương tại phổi (ran rít, ran ngáy, ran ẩm)
- Suy hô hấp (mức độ)
* Cận lâm sàng (phân tích, đánh giá các thông số):
- X quang lồng ngực: Phổi bình thường, hình ảnh tổn thương phổi (ứ khí, thâm nhiễm)
- Xét nghiệm CTM: Hồng cầu < 3.5 triệu/mm 3 , Hemoglobin < 12g/dl,
Hematocrit < 35%, Tiểu cầu < 200.00/mm 3 , tỷ lệ tăng bạch cầu Neutrophil và Lympho)
- CRP (âm tính, dương tính)
2.2.5.3 Mục tiêu 2:Đánh giá kết quả khí dung muối Natriclorid 3% (giữa 2 nhóm nghiên cứu và nhóm chứng) với các tiêu chí:
- Đặc điểm chung 2 nhóm khi nhập viện
- Biến chứng bội nhiễm phổi
- Sử dụng thuốc kháng sinh
- Sử dụng thuốc giãn cơ phế quản
- Kết quả giảm ho, kho
- Đánh giá chỉ số lâm sàng nghiêm trọng
- Tình trạng khi ra viện
+ Salbutamol (Ventolin) 2,5mg/2,5ml (Úc)
+ Cephalosporin thế hệ III (Goldcefo) lọ1g (Italia)
+ Solumedron lọ 40mg/1ml (Bỉ)
+ Natriclorid 0,9% chai 500ml (Việt Nam)
+ Máy khí dung omron (Nhật)
+ Máy theo dõi liên tục (Monitoring) đa thông số DatexOmeda của Mỹ: theo dõi nhịp tim, SpO2, tần số thở
+ Bơm tiêm điện, máy truyền dịch
+ Hệ thống oxy khí nén
+ Cùng đầy đủ các phương tiện cấp cứu khác như: Máy thở, đèn đặt nội khí quản, ống nội khí quản, mask ambu, mask oxy, hộp thuốc chống sốc…
2.2.6.2 Can thiệp phác đồ điều trị
Nhóm nghiên cứu và nhóm chứng, đều điều trị VTPQ theo phác đồ thường quy (hút đờm dãi, thở oxy nếu có chỉ định…) [21]
+ Nhóm nghiên cứu: khí dung Natriclorid 3%
+ Nhóm chứng: khí dung Natriclorid 0,9%
Để trẻ ở tư thế thoải mái (bế ngồi hoặc nằm),
Cho 4ml (Natriclorid 3% đối với nhóm nghiên cứu, Natriclorid 0,9% đối với nhóm chứng) vào bầu khí dung
Bật máy khí dung, thấy hơi thoát ra tiến hành đeo mặt nạ cho trẻ,
Theo dõi và đánh giá các biểu hiện lâm sàng: Ho, khò khè, tần số thở, rút lõm lồng ngực, toàn trạng…
Bệnh nhi có sự cải thiện rõ rệt với triệu chứng loãng đờm và giảm phù nề Sau khi ho nhiều, trẻ nhanh chóng giảm ho, khò khè và khó thở, đồng thời giảm co kéo cơ hô hấp và rút lõm lồng ngực Tình trạng sức khỏe của trẻ dần tốt lên, do đó không cần thiết phải sử dụng thêm thuốc giãn cơ phế quản.
Kết thúc khí dung: Lấy mặt nạ khỏi mặt trẻ, làm sạch, khử trùng máy khí dung
Trong trường hợp lâm sàng không có sự cải thiện hoặc có dấu hiệu nặng lên sau một giờ khí dung, cần chỉ định khí dung thuốc giãn cơ phế quản và thực hiện các biện pháp hỗ trợ hô hấp nếu tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng.
- Sử dụng thuốc giãn cơ phế quản: Salbutamol đường khí dung liều 0,15mg/Kg/lần (ngày khí dung chia đều 3 lần, mỗi lần khoảng 5-10 phút)
Sử dụng thuốc kháng sinh Cephalosporin thế hệ III (Goldcefo loại 1g) tiêm tĩnh mạch chậm với liều 100mg/kg/ngày, chia đều thành 2 lần cách 12 giờ, là phương pháp điều trị hiệu quả trong các trường hợp có bằng chứng bội nhiễm phổi.
Sử dụng thuốc corticoid như Solumedron với liều 2mg/kg/ngày qua đường tĩnh mạch chỉ nên áp dụng cho những bệnh nhân có dấu hiệu lâm sàng chậm cải thiện và khó loại trừ hen phế quản.
2.2.7 Phương pháp thu thập số liệu
Bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi do virus (VTPQ) khi nhập viện sẽ được lập bệnh án nghiên cứu, bao gồm các thông tin hành chính, yếu tố dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, phương pháp điều trị, diễn biến bệnh, hiệu quả điều trị và kết quả khi ra viện.
+ Hỏi người nhà bệnh nhi: Về thời gian mắc bệnh, biểu hiện bệnh và các yếu tố nguy cơ
+ Tiền sử đẻ non, cân nặng lúc sinh
* Khám lâm sàng: Toàn thân, cơ năng, thực thể, và các biến chứng nếu có + Nhiệt độ đo ở nách (không sốt, có sốt: Nhẹ, vừa, cao)
+ Ho, khò khè, khó thở
+ Nhịp thở: Để trẻ nằm yên trên giường, bộc lộ vùng ngực và bụng của trẻ và đếm nhịp thở trong 01 phút
+ Rút lõm lồng ngực: Để trẻ nằm yên trên giường, bộc lộ vùng ngực quan sát để tìm dấu hiệu rút lõm lồng ngực
+ Ran ở phổi: Đặt trẻ nằm ngửa tư thế thẳng, dùng ống nghe để nghe ran phổi + Nhịp tim: qua monitoring
+ Cân nặng: Cho trẻ mặc đồ mỏng hoặc không mặc, sử dụng cân nằm, cho trẻ nằm ngửa trên bàn cân Đọc kết quả và ghi số gam
Khi trẻ nhập viện, kỹ thuật viên khoa Nhi sẽ tiến hành lấy máu tĩnh mạch ngay lập tức Tất cả các xét nghiệm được thực hiện bằng máy xét nghiệm tự động tại khoa Huyết học của Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang, và kết quả sẽ được phân tích và trả lời bởi các bác sĩ chuyên khoa.
+ Công thức máu: Số lượng hồng cầu, huyết sắc tố, hematocrit, tiểu cầu, số lượng và công thức bạch cầu
+ Xét nghiệm CRP, bằng phương pháp định tính
Chụp X quang tim phổi được thực hiện ở tư thế đứng hoặc nằm, với sự phân tích kết quả bởi bác sĩ khoa Chẩn đoán hình ảnh tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang Quy trình này diễn ra vào thời điểm bệnh nhân nhập viện, khi ra viện và trong trường hợp bệnh diễn biến nặng.
* Điền các thông tin thu được vào bệnh án nghiên cứu
* Theo dõi diễn biến lâm sàng để đánh giá kết quả điều trị
2.2.8 Kiểm soát sai lệch lựa chọn
Kiểm soát sai lệch hệ thống
- Trong quá trình chọn mẫu vào lô nghiên cứu, các tiêu chuẩn chọn mẫu và các tiêu chuẩn loại trừ phải được tuân thủ
- Các bệnh nhi vào 2 lô nghiên cứu sẽ được ghi nhận các thông tin cần thiết đến khi xuất viện
Kiểm soát sai lệch thông tin
- Mẫu bệnh án thu thập số liệu được thiết kế khách quan, rõ ràng, dễ hiểu được tham khảo ý kiến chuyên gia
- Các biến số, định nghĩa và xác định giá trị phải rõ ràng, chính xác.
Định nghĩa các biến số
- Trẻ từ 02 tháng đến 24 tháng tuổi
- Với đợt khò khè lần đầu tiên hay lần 2
Biểu hiện lâm sàng ban đầu của bệnh thường là viêm long đường hô hấp trên với các triệu chứng như ho, hắt hơi, sổ mũi và sốt Sau đó, bệnh nhân có thể gặp khó thở kiểu tắc nghẽn, kèm theo thở nhanh và các dấu hiệu như rút lõm ngực, co kéo cơ hô hấp phụ.
- Khám phổi: Ran rít, ran ngáy, ran ẩm, có thể ngực căng, gõ vang, rì rào phế nang giảm hoặc mất
- Công thức máu: Số lượng bạch cầu bình thường hoặc tăng nhẹ (chủ yếu tăng lympho)
- X quang tim phổi: hình ảnh phổi ứ khí, thâm nhiễm lan tỏa/khu trú hoặc bình thường, có thể xẹp phổi
- Khi thân nhiệt đo ở nách ≥ 37,5 o C
- Phân chia theo mức độ sốt:
- Trẻ dưới 2 tháng ≥ 60 lần/ phút
- Trẻ từ 2 tháng đến 12 tháng ≥ 50 lần/ phút
- Trẻ từ 12 tháng đến 24 tháng tuổi ≥ 40 lần/ phút [20]
Là tiếng thở liên tục âm thanh nghe thấy từ ngực bệnh nhân, nghe rõ hơn ở thì thở ra
Là dấu hiệu 1/3 dưới của lồng ngực lõm vào (nếu chỉ biểu hiện co kéo phần liên sườn thì không đủ để gọi là rút lõm lồng ngực)
+ Không có các yếu tố nguy cơ
+ Bứt rứt, kích thích, li bì, rối loạn tri giác
+ Bỏ bú (bú < 50% lượng sữa bình thường)
+ Thở không đều (có cơn ngừng thở), thường trẻ < 3 tháng + Tím
+ Rên, rút lõm lồng ngực nặng
Bảng 2.1 Phân độ suy hô hấp [15]
Triệu chứng Độ 1 Độ 2 Độ 3
Tri giác Tỉnh Bứt rứt, lơ mơ Lơ mơ, hôn mê
Nhịp thở tăng 30- 50% so với bình thường, co kéo cơ hô hấp phụ
> 50% so với bình thường, thở chậm, không đều, ngưng thở < 20 giây
Bình thường hoặc tăng nhẹ
PaO 2 60- 80mmHg 40- < 60 mmHg < 40 mmHg Đáp ứng với oxy
Bình thường Không tím với oxy
Vẫn tím khi cho oxy Đánh giá Còn bù Còn bù Mất bù
Bảng 2.2 Đánh giá thang điểm nghiêm trọng về lâm sàng theo Wang và cộng sự
Biến nghiên cứu Điểm CS (clinical severity score)
Khò khè Không Nhẹ, cuối thì Vừa, cả chu kỳ Nặng
Không Nhẹ Rõ Phập phồng cánh mũi Toàn trạng Bình thường Mệt Kích thích Bỏ bú, ăn
* Đánh giá cân nặng lúc sinh [10]:
Suy dinh dưỡng được phân loại dựa trên cân nặng so với tuổi của trẻ Cân nặng/tuổi thấp cho thấy trẻ bị suy dinh dưỡng, không phân biệt giữa suy dinh dưỡng cấp tính hay mãn tính, và thường được gọi là trẻ nhẹ cân.
- Theo tác giả GOMEZ: Cân nặng/ tuổi: > 80% chuẩn: trẻ bình thường
- Cân nặng/ tuổi: 71- 80% chuẩn: suy dinh dưỡng nhẹ (nằm trong khoảng
- 2SD đến -3SD độ lệch chuẩn)
- Cân nặng/ tuổi: 61- 70% chuẩn: suy dinh dưỡng vừa (nằm trong khoảng
- 3SD đến -4SD độ lệch chuẩn)
- Cân nặng/ tuổi: ≤ 60% chuẩn: suy dinh dưỡng nặng (trên -4SD độ lệch chuẩn) [30]
Bảng 2.3 Giới hạn tham khảo về đếm bạch cầu ở trẻ em
Bạch cầu (*10 3 /àL) Đa nhân trung tính x
TB Giới hạn TB Giới hạn % TB Giới hạn %
* Bằng chứng bội nhiễm: Khi có 1 trong những biểu hiện sau [20]:
- Sốt kéo dài hoặc sốt cao đột ngột
- Diễn tiến lâm sàng xấu nhanh trong vòng 24 - 48 giờ đầu
- Bạch cầu tăng, BCĐNTT chiếm ưu thế
- X- quang có thâm nhiễm đông đặc phổi
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu nghiên cứu được thu thập thông qua phiếu nghiên cứu và được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0 Các thuật toán thống kê được áp dụng trong quá trình phân tích bao gồm nhiều phương pháp khác nhau.
+ Tính trung bình X , độ lệch chuẩn (SD)
+ Giá trị p < 0.05 được coi là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với sự tôn trọng các vấn đề đạo đức trong y học và đã nhận được sự đồng ý từ Hội đồng khoa học và Hội đồng đạo đức của Trường đại học Y Dược Thái Nguyên cùng Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang Trước khi tiến hành, bệnh nhi và người nhà đã được giải thích rõ ràng về mục đích và các vấn đề liên quan đến nghiên cứu, và họ đã đồng ý tham gia một cách tự nguyện Dữ liệu thu thập trong nghiên cứu chỉ phục vụ cho mục đích khoa học, và thông tin cá nhân sẽ được bảo mật.
Người nghiên cứu đảm bảo tính trung thực trong suốt quá trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu được công bố rõ ràng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Tuổi, giới trong mẫu nghiên cứu
Tuổi/Giới Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Tỷ lệ VTPQ ở trẻ nam là 123 chiếm 65%, trẻ nữ 66 chiếm 35%, tỷ lệ này bằng 1,86/1 VTPQ gặp chủ yếu ở trẻ dưới 12 tháng tuổi (đặc biệt trẻ từ 6
- < 12 tháng chiếm 48,68%), thấp nhất ở trẻ từ 12 - 24 tháng chỉ có 24,86%
3.1.2 Đặc điểm chung của trẻ
Bảng 3.2 Đặc điểm chung của trẻ Đặc điểm chung Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Sinh non (tuổi thai < 37 tuần) 10 5,3
Trẻ không được bú mẹ hoàn toàn
Trong 4 tháng đầu sau sinh 32 17
Trong số trẻ mắc viêm phổi cấp (VTPQ), có 32 trẻ (17%) không được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu sau sinh, 18 trẻ (9,5%) bị suy dinh dưỡng, 10 trẻ (5,3%) sinh non, và 8 trẻ (4,2%) nhẹ cân lúc sinh Đặc biệt, không có trẻ nào mắc bệnh kèm theo.
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo tháng trong năm
Nhận xét: Số lượng trẻ VTPQ tăng cao nhất vào tháng 7, 8, 9, 10 là những tháng mùa mưa.
Các đặc điểm lâm sàng của VTPQ
3.2.1 Thời gian mắc bệnh trước lúc nhập viện
Bảng 3.3 Thời gian mắc bệnh trước lúc nhập viện
Thời gian bệnh trước nhập viện
Thời gian mắc bệnh trước khi nhập viện dao động từ 2 đến 10 ngày, với trung bình là 3,62 ± 1,2 ngày Phần lớn bệnh nhân có thời gian bệnh từ 2 đến 4 ngày trước khi nhập viện.
Bảng 3.4 Triệu chứng cơ năng
Triệu chứng Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Theo nhận xét, 100% trẻ em có biểu hiện ho và khò khè, 90% có triệu chứng chảy mũi, 50% gặp khó thở, 35,4% bị sốt, 31,2% có triệu chứng rối loạn tiêu hóa, và 2,1% trẻ em có dấu hiệu tím.
Bảng 3.5 Đặc điểm triệu chứng thực thể
Triệu chứng Số lượng Tỷ lệ %
Co kéo cơ hô hấp phụ 4 2,1
Rút lõm lồng ngực Không 80 42
Nhận xét: 100% trẻ VTPQ nghe phổi đều có ran, 90% trẻ có khò khè,
58% có rút lõm lồng ngực, 56% có thở nhanh, 35,4% có sốt, 2,1% co kéo cơ hô hấp phụ và tím
Biểu đồ 3.2 Phân độ VTPQ Nhận xét: Tỷ lệ VTPQ mức độ trung bình chiếm đa số (91.9 %), sau đó là mức độ nhẹ 6%, mức độ nặng chiếm 2,1%.
Các đặc điểm cận lâm sàng của VTPQ
Bảng 3.6 Đặc điểm công thức máu
Công thức máu Số lượng
Nhận xét : Trẻ có Hồng cầu < 3.5 triệu/mm 3 chiếm 12,1%, Hemoglobulin < 12g/dl chiếm 8,5%, Hct < 35% chiếm 11% Tiểu cầu <
Trong số trẻ mắc bệnh VTPQ, chỉ có 2,64% có số lượng bạch cầu dưới 150.000/mm³ Phần lớn trẻ em này có công thức bạch cầu bình thường, trong khi chỉ có 25 trường hợp (13,2%) ghi nhận tình trạng tăng bạch cầu, bao gồm 5,3% tăng bạch cầu đa nhân và 7,9% tăng lympho.
CRP Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét : Đa số các trường hợp VTPQ có xét nghiệm CRP âm tính
Bảng 3.8 Đặc điểm X quang phổi
Thâm nhiễm 10 (11,5) 15 (14,7) 25 (13,2) Ứ khí+Thâm nhiễm 23 (26,4) 28 (27,5) 51 (27,0)
Nhận xét : X quang phổi, hình ảnh ứ khí chiếm 41,3%, ứ khí và thâm nhiễm 27%, thâm nhiễm 13,2%, bình thường chiếm 18,5% không có trường hợp nào bị xẹp thùy phổi.
Điều trị VTPQ
3.4.1 Đặc điểm chung của 2 nhóm khi nhập viện
Bảng 3.9 Đặc điểm chung của 2 nhóm Đặc điểm Nhóm NC
Thời gian bệnh trước nhập viện; ngày (𝑋̅ ± SD) 3,62 ± 0,98 3,62 ± 1,12
Tỷ lệ trẻ có sốt (n, %) 30 (34,5) 37 (36,3)
Trẻ không được bú sữa mẹ HT 4 th đầu (n, %) 15 (17,2) 17 (16,7) Điểm CS nhập viện (𝑋̅ ± SD) 4,36 ± 1,25 4,32 ± 1,36
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu cho thấy tuổi, giới tính, thời gian mắc bệnh, điểm số lâm sàng nghiêm trọng, mức độ VTPQ, thân nhiệt và tiền sử ở hai nhóm là tương đương nhau.
3.4.2 Biến chứng bội nhiễm phổi
Bảng 3.10 Biến chứng bội nhiễm phổi khi nhập viện
Bội nhiễm phổi Nhóm NC
Nhận xét: Tỷ lệ trẻ có biến chứng bội nhiễm phổi là 22 trường hợp chiếm 11,6%, ở nhóm nghiên cứu và nhóm chứng lần lượt là 10% và 12,7%
Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
3.4.3 Sử dụng thuốc kháng sinh
Bảng 3.11 Sử dụng thuốc kháng sinh
Kháng sinh Cefalosporin thế hệ III được áp dụng cho 22 trường hợp bội nhiễm phổi, chiếm 11,6% Sự khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê với P > 0,05 Tất cả các trường hợp đều được điều trị bằng đường tiêm tĩnh mạch chậm.
3.4.4 Sử dụng thuốc giãn cơ phế quản
Bảng 3.12 Sử dụng thuốc giãn cơ phế quản
Thuốc giãn cơ phế quản
Nhận xét: Tỷ lệ sử dụng thuốc giãn cơ phế quản ở nhóm nghiên cứu là
86,2% so với 99% ở nhóm chứng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p
< 0,05 Tất cả các trường hợp đều sử dụng đường khí dung phế quản
Bảng 3.13 Sử dụng thuốc corticoide
Trong nghiên cứu, có 28 trường hợp sử dụng corticoid, chiếm 14,8%, với tỷ lệ 11,5% ở nhóm nghiên cứu và 17,7% ở nhóm chứng Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Tất cả các trường hợp đều được sử dụng qua đường tiêm tĩnh mạch chậm.
Bảng 3.14 Hỗ trợ hô hấp
Nhận xét: Thở oxy 7 trường hợp chiếm 3,7%, trong đó nhóm nghiên cứu là 2,3%, nhóm chứng là 4,9% Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Hạ sốt 12 (13,8) 15 (14,7) 27 (14,3) P > 0,05 Nhỏ mũi Nacl
Các phương pháp điều trị chủ yếu tập trung vào việc giảm triệu chứng, trong đó hạ sốt chiếm 14,3% với 27 trường hợp, trong khi việc nhỏ mũi bằng nước muối Natriclorid 0,9% chiếm 90% với 170 trường hợp Không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm với p > 0,05.
Kết quả điều trị
3.5.1 Kết quả giảm ho, khò khè
Bảng 3.16 Kết quả giảm ho sau 3 ngày điều trị
Nhận xét: Kết quả giảm ho, khò khè ở nhóm nghiên cứu là 40%, cao hơn nhóm chứng (chỉ là 20%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
3.5.2 Điểm số lâm sàng sau 72 giờ điều trị
Bảng 3.17 Cải thiện điểm số lâm sàng nghiêm trọng
Biến nghiên cứu (Mean ± SD) Nhóm NC
Cải thiện lâm sàng theo thang điểm CS 2,19 ± 1,21 3,68 ± 1,32 < 0,05
Số ngày nằm viện trung bình
Kết quả sau 72 giờ điều trị cho thấy sự cải thiện rõ rệt về điểm số lâm sàng (theo thang điểm CS; Clinical Severity scores), với sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với P < 0,05.
Số ngày nằm viện trung bình của trẻ ở nhóm nghiên cứu là 5,35 ± 1,6 ngày, ở nhóm chứng là 6,81 ± 2,4 ngày Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Bảng 3.18 Nhóm ngày nằm viện
Nhận xét: Số bệnh nhi nằm viện từ 1 - 4 ngày chiếm 23,8%, giữa 2 nhóm sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 0,01 Số bệnh nhi nằm viện từ
Trong nghiên cứu, 53% trẻ em nằm viện từ 5 đến 7 ngày, cho thấy không có sự khác biệt thống kê giữa hai nhóm với P > 0,05 Ngược lại, 23,2% trẻ em nằm viện từ 8 ngày trở lên cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 0,05.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Từ tháng 5/2017 đến tháng 4/2018, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu trên 189 bệnh nhi nhập viện tại khoa Nhi tổng hợp Bệnh viện Sản-Nhi Bắc Giang.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ nam/nữ bị VTPQ là 1,86/1, tương đồng với các nghiên cứu trước đây: Phạm Thị Minh Hồng (1,8/1), Đặng Thị Kim Huyên (2,0/1), Kabir ML, Haq N, Hoque M (1,9/1), và Gupta et al (2/1) Tất cả đều chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ bị VTPQ ở nam cao hơn ở nữ Tuy nhiên, chưa có cơ chế rõ ràng nào giải thích cho sự khác biệt này, có thể do sự hiện diện của hai nhiễm sắc thể X tạo ra sự đa dạng di truyền lớn hơn trong khả năng bảo vệ miễn dịch của nữ giới.
Nghiên cứu của chúng tôi có 189 trẻ, trong đó: Nhóm < 6 tháng tuổi có
50 trẻ chiếm 26,46%, nhóm từ 6 - < 12 tháng tuổi có 92 trẻ chiếm 48,67%, thấp nhất ở nhóm từ 12 - 24 tháng có 47 trẻ chỉ chiếm 24,86%
Nghiên cứu của Phạm Thị Minh Hồng tại bệnh viện Nhi Đồng II cho thấy nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi chiếm 53,9%, trong khi nhóm trẻ từ 6 - 12 tháng tuổi chiếm 32,3% và nhóm trẻ từ 12 - 24 tháng tuổi là 13,8% Đặng Thị Kim Huyên cũng ghi nhận tỷ lệ cao nhất ở nhóm trẻ dưới 12 tháng tuổi, chiếm 90%, chủ yếu tập trung ở trẻ từ 1 - 7 tháng tuổi Các nghiên cứu khác như của Kabir ML, Haq N, Hoque M cho thấy nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi chiếm 82,7%, và Gupta et al báo cáo rằng nhóm trẻ trong 6 tháng đầu chiếm 65,7%.
Nghiên cứu cho thấy VTPQ thường gặp ở trẻ dưới 12 tháng tuổi, đặc biệt là từ 1 đến 6 tháng Trẻ nhập viện do VTPQ chủ yếu dưới 6 tháng tuổi do tiểu phế quản nhỏ dễ bị tắc nghẽn bởi đờm và phù nề khi viêm Hơn nữa, lượng kháng thể từ mẹ chỉ bảo vệ trong 2 tháng đầu sau sinh và giảm dần sau đó Từ 2 tháng đến 1 năm tuổi, hệ miễn dịch của trẻ, đặc biệt là kháng thể IgA trong dịch tiết niêm mạc phế quản, còn chưa hoàn chỉnh và rất thấp, dẫn đến nguy cơ nhiễm RSV cao hơn.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, 75,13% trẻ em nhập viện chủ yếu là dưới 12 tháng tuổi, trong đó trẻ từ 6 đến 12 tháng chiếm 48,67%.
4.1.3 Đặc điểm chung của trẻ
Nghiên cứu 189 trẻ bị viêm phổi (VTPQ) cho thấy một số đặc điểm quan trọng: 32 trẻ (17%) không được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu, 18 trẻ (9,52%) bị suy dinh dưỡng, 10 trẻ (5,29%) sinh non dưới 37 tuần, và 8 trẻ (4,23%) có cân nặng lúc sinh dưới 2500g Theo Tsolia M.N (2003), 26% trẻ đẻ non có nguy cơ tử vong gấp đôi Weigl J A (2001) chỉ ra rằng trẻ có cân nặng thấp khi sinh có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 17,8 lần Phạm Thị Minh Hồng cũng nhấn mạnh rằng trẻ đẻ non và có cân nặng thấp là yếu tố nguy cơ cao Nguyễn Thị Cúc Nhung cho biết tình trạng dinh dưỡng liên quan mật thiết đến mức độ nặng của bệnh VTPQ, với trẻ suy dinh dưỡng có nguy cơ mắc bệnh nặng hơn theo phân loại của WHO và NSW.
Cân nặng trung bình thấp làm tăng nguy cơ mắc bệnh nặng ở trẻ, đặc biệt là trẻ bị suy dinh dưỡng nặng, do suy giảm miễn dịch và mất hàng rào bảo vệ cơ thể Lượng IgA trên bề mặt đường hô hấp giảm, dẫn đến khả năng chống lại virus, như RSV, kém hơn Trẻ sinh non và có cân nặng khi sinh thấp dễ mắc viêm phổi và thường phải nằm viện lâu hơn Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh nhi thuộc nhóm này rất ít, nên không thể đưa ra kết luận rõ ràng.
Qua 12 tháng nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận trẻ mắc bệnh VTPQ rải rác ở tất cả các tháng trong năm Tuy nhiên, số lượng trẻ VTPQ tăng cao vào các tháng 7, 8, 9, 10 (là những tháng mùa mưa) Kết quả này cũng tương đương với nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Minh Hồng [6] Khi thời tiết thay đổi, bộ phận tiếp xúc trực tiếp với khí hậu là da và đường hô hấp Nhiệt lượng bên trong cơ thể dễ dàng thoát ra ngoài qua da Không khí lạnh thu mất nhiệt của cơ thể (vì da trẻ mỏng, diện tích da / trọng lượng cơ thể ở trẻ lớn hơn ở người lớn) nên trẻ rất dễ bị nhiễm lạnh Từ đó làm giảm khả năng điều hòa thân nhiệt và sự chống đỡ của trẻ khi thời tiết thay đổi Khi trời lạnh, không khí vào đường thở của trẻ không được sưởi ấm (do đường hô hấp của trẻ ngắn), trẻ dễ bị nhiễm lạnh đường hô hấp, dẫn đến dễ bị nhiễm virus hơn.
Các đặc điểm lâm sàng của VTPQ
4.2.1 Thời gian mắc bệnh trước khi nhập viện
Nghiên cứu trên 189 trẻ cho thấy thời gian bệnh trước khi nhập viện dao động từ 2 đến 10 ngày, với trung bình là 3,62 ± 1,2 ngày Phần lớn các trường hợp có thời gian bệnh trước nhập viện từ 2 đến 4 ngày.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy số ngày bệnh trước nhập viện trung bình là 3,62 ± 1,2 ngày, thấp hơn so với 4,76 ngày trong nghiên cứu của Đặng Thị Kim Huyên năm 2004 tại Bệnh viện Nhi Đồng II với cỡ mẫu 1114 trẻ bị VTPQ Sự khác biệt về số ngày bệnh trước nhập viện giữa hai nghiên cứu có thể do cỡ mẫu của chúng tôi nhỏ hơn nhiều Tuy nhiên, sự chênh lệch này không lớn và vẫn phù hợp với thời gian khởi phát bệnh theo các tài liệu y văn.
4.2.2 Các triệu chứng lâm sàng VTPQ
Triệu chứng cơ năng ở trẻ em cho thấy 100% trẻ có biểu hiện ho và khò khè, 90% có chảy mũi, 50% gặp khó thở, 35,4% có sốt, 31,2% có triệu chứng rối loạn tiêu hóa kèm theo, và 2,1% trẻ có dấu hiệu tím.
Triệu chứng thực thể của trẻ VTPQ rất đa dạng, với 100% trẻ có ran khi nghe phổi, 90% có khò khè, 58% có hiện tượng rút lõm lồng ngực, 56% có thở nhanh, 35,4% có sốt, và 2,1% có dấu hiệu tím và co kéo cơ hô hấp phụ.
* Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả tương đương với các Tác giả:
- Kabir ML, Haq N, Hoque M (2003), (cỡ mẫu 429) Triệu chứng lâm sàng chủ yếu: Ho 99,0%, thở khò khè 100%, có ran phổi 96,0%, sốt 33,0% [43]
Phạm Thị Minh Hồng (2000) đã tiến hành khảo sát 643 bệnh nhi mắc viêm phổi tại Bệnh viện Nhi Đồng II, cho thấy các biểu hiện lâm sàng chủ yếu: 68,2% không sốt, 25,2% sốt nhẹ, 50,6% thở nhanh và 64,0% có hiện tượng rút lõm lồng ngực.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh và Lê Thị Minh Hồng (2009 - 2010) tại Bệnh viện Nhi Đồng II đã khảo sát 360 trẻ em, cho thấy triệu chứng chủ yếu bao gồm ho (94,1%), khò khè (90,8%), ran ngáy (78,5%), ran ẩm (85,0%), dấu hiệu rút lõm lồng ngực (53,0%) và tím (5,0%).
Nghiên cứu của Đặng Thị Kim Huyên (2004) trên 1114 trẻ VTPQ cho thấy tỷ lệ khò khè đạt 90,7%, thở nhanh 38,0%, rút lõm lồng ngực 57,9%, trong khi tỷ lệ tím chỉ là 1,2% Các âm thanh phổi được ghi nhận với tỷ lệ 98,6%, trong đó ran ngáy chiếm 82,0% và ran ẩm 67,0%.
Nghiên cứu của Võ Công Binh (2012) tại Bệnh viện Nhi Trung Ương Huế với mẫu 90 bệnh nhân cho thấy triệu chứng cơ năng như ho 100%, chảy nước mũi > 85%, khò khè > 78%, và sốt < 70% Về triệu chứng thực thể, tỷ lệ thở nhanh > 84%, ran rít > 90%, ran ngáy > 78%, trong khi ran ẩm ít gặp < 35% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ bệnh nhân sốt và thở nhanh thấp hơn so với tác giả, có thể do Bệnh viện Nhi Trung Ương Huế tiếp nhận nhiều bệnh nhân nặng hơn, và đối tượng nghiên cứu của tác giả bao gồm cả trẻ dưới 2 tháng tuổi.
* Sau khi phân tích kết quả của các nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy:
Ho là một cơ chế bảo vệ tự nhiên của đường hô hấp, chiếm 100% vai trò trong việc giúp cơ thể loại bỏ dị vật và các chất viêm, xuất tiết ra khỏi đường thở Phản xạ này không chỉ có lợi mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe hô hấp.
Khò khè với tỷ lệ 100% trong viêm tiểu phế quản (VTPQ) ở trẻ nhỏ là do các tiểu phế quản có đường kính nhỏ hơn 2mm Khi bị viêm tắc do phù nề, tăng tiết và thâm nhiễm tế bào viêm, các tiểu phế quản này sẽ bị chít hẹp hoặc bít tắc hoàn toàn, cản trở lưu thông không khí và gây ra tiếng khò khè.
Nghe phổi có ran chiếm tỷ lệ 100%, chủ yếu là ran rít và ran ngáy, trong khi ran ẩm đơn thuần rất ít Theo tác giả Trần Quỵ và Trần Thị Hồng Vân, khi thông khí phổi giảm và rì rào phế nang mất, đây là biểu hiện nặng của viêm phế quản phổi (VTPQ) do tắc nghẽn hoàn toàn các tiểu phế quản Do đó, cần áp dụng các biện pháp thông khí cơ học như đặt nội khí quản, hút dịch qua ống nội khí quản và thông khí nhân tạo sớm để hạn chế tỷ lệ tử vong.
Thở nhanh là dấu hiệu đầu tiên của tình trạng thiếu oxy, và trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ thở nhanh chiếm 56% Mặc dù con số này không cao, nhưng phần lớn trẻ em được đánh giá có mức độ viêm phổi trung bình.
Rút lõm lồng ngực là biểu hiện của tình trạng gắng sức do khó thở ở trẻ nhỏ, đặc biệt khi các cơ hô hấp phụ chưa phát triển hoàn thiện, khiến trẻ chủ yếu thở bằng bụng Tình trạng này được ghi nhận với tỷ lệ 58%, tương đương với các nghiên cứu trước đây.
- Các dấu hiệu, tím và co kéo cơ hô hấp phụ chỉ chiếm 2,1% là do số trẻ mắc VTPQ nặng trong nghiên cứu của chúng tôi thấp
Các triệu chứng phổ biến của viêm long đường hô hấp bao gồm sốt, chảy mũi và rối loạn tiêu hóa Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những triệu chứng này tương đồng với các nghiên cứu khác và phù hợp với tài liệu y khoa hiện có.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi qua đánh giá 189 trẻ VTPQ: Mức độ trung bình chiếm đa số với 91,9%, mức độ nhẹ 6%, mức độ nặng 2,1%
Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2013, VTPQ được phân loại thành hai mức độ nặng và nhẹ, trong đó phần lớn trẻ em được chẩn đoán là thể nhẹ và có thể điều trị tại nhà Tuy nhiên, một số trẻ có dấu hiệu nặng cần phải nhập viện để được chăm sóc y tế kịp thời Bên cạnh đó, theo Y tế tiểu bang New South Wales - Úc, bệnh VTPQ còn được phân độ thành ba mức: nhẹ, trung bình và nặng.
Các đặc điểm cận lâm sàng của VTPQ
- Công thức máu: Trẻ có Hồng cầu < 3.5 triệu/mm 3 chiếm 12,1%,
Hemoglobulin < 12g/dl chiếm 8,5%, Hematocrit < 35% chiếm 11% Tiểu cầu
< 150.000/mm 3 chiếm 2,64% Đa số trẻ VTPQ có công thức bạch cầu bình thường, chỉ có 25 trường hợp (13%) tăng bạch cầu; trong đó tăng bạch cầu đa nhân 5,3%, tăng lympho 7,9%
Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ trẻ em bị thiếu máu nhẹ chỉ khoảng 10%, với công thức bạch cầu gần như bình thường, phù hợp với tình trạng nhiễm virus, điều này tương đồng với các kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Minh Hồng (2000) và Võ Công Bình (2012).
Kết quả X quang phổi cho thấy 41,3% trẻ có hình ảnh ứ khí, 27% có ứ khí và thâm nhiễm, 13,2% chỉ thâm nhiễm, và 18,5% có hình ảnh bình thường, không có trường hợp nào bị xẹp thùy phổi Điều này cho thấy đa phần trẻ VTPQ đều có ứ khí phổi, với các trường hợp nặng có biểu hiện thâm nhiễm phế quản, trong khi các trường hợp nhẹ có hình ảnh X quang bình thường Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Phạm Thị Minh Hồng (2000) và nghiên cứu của Võ Công Bình (2012) cho thấy điểm RDAI trung bình ở nhóm trẻ có biểu hiện ứ khí trên X quang ngực cao hơn so với nhóm không có biểu hiện ứ khí (P < 0,01).
Kết quả từ Bảng 3.7 cho thấy tỷ lệ CRP âm tính đạt 85,8%, phù hợp với bệnh cảnh nhiễm virus Kết quả này tương đồng với nhiều nghiên cứu khác, tuy nhiên, chúng tôi áp dụng phương pháp định tính, trong khi Phạm Thị Minh Hồng [6] và Võ Công Bình [18] sử dụng phương pháp định lượng với ngưỡng 20mg/L để đánh giá sự tăng của CRP.
Xét nghiệm tìm virus bao gồm việc sử dụng test nhanh để phát hiện kháng nguyên trong dịch rửa mũi và dịch tị hầu, cũng như xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp để tìm kháng thể trong máu Bên cạnh đó, xét nghiệm phản ứng chuỗi cũng có thể được thực hiện.
Phương pháp PCR được sử dụng để xác định virus, với tỷ lệ dương tính phụ thuộc vào kỹ thuật xét nghiệm và chất lượng mẫu bệnh phẩm Nguyên nhân chính thường gặp là virus RSV.
Nghiên cứu của Võ Công Binh (2012) cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm RSV(+) và RSV(-) với P > 0,05 Do đó, chúng tôi đã quyết định không áp dụng các kỹ thuật này trong mục tiêu nghiên cứu.
Điều trị VTPQ
4.4.1 Đặc điểm chung của 2 nhóm khi nhập viện
Kết quả từ bảng 3.9 cho thấy rằng bệnh nhi trong nhóm nghiên cứu và nhóm chứng có sự tương đồng về độ tuổi trung bình, giới tính, thời gian mắc bệnh trước nhập viện, mức phân độ của bệnh, tình trạng nhiễm trùng, điểm số lâm sàng CS khi nhập viện và tiền sử các yếu tố liên quan, với sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) Điều này phản ánh tính khách quan của nghiên cứu, đáp ứng các tiêu chí và tránh các tác nhân gây nhiễu Để đạt được điều này, chúng tôi đã thực hiện nghiêm ngặt các tiêu chuẩn chọn bệnh nhân, tiêu chuẩn loại trừ và tiến hành bốc thăm, phân nhóm một cách ngẫu nhiên và trung thực ngay từ đầu.
4.4.2 Biến chứng bội nhiễm phổi
Sau khi khảo sát 189 trẻ mắc viêm phổi do virus, chúng tôi ghi nhận tỷ lệ trẻ có biến chứng bội nhiễm phổi là 22 trẻ, chiếm 11,6% Tỷ lệ này ở nhóm nghiên cứu và nhóm chứng lần lượt là 10% và 12,7%, và sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Tỷ lệ VTPQ bội nhiễm trong nghiên cứu của chúng tôi là 15,0%, thấp hơn so với nghiên cứu của Kabir ML, Haq N, Hoque M (2003) nhưng cao hơn so với Phạm Thị Minh Hồng (2000) với 4,4% Sự khác biệt này có thể do yếu tố vùng miền, địa lý, khả năng và kiến thức phòng ngừa lây nhiễm, cũng như vấn đề vệ sinh của cha mẹ trẻ chưa cao, bên cạnh đó còn có thể do sự khác biệt về cỡ mẫu trong các nghiên cứu.
189 trẻ, Phạm Thị Minh Hồng 643 trẻ, Kabir ML, Haq N, Hoque M 429 trẻ)
Tỷ lệ biến chứng bội nhiễm phổi rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến việc sử dụng kháng sinh, có thể dẫn đến diễn biến bệnh nặng hơn và kéo dài thời gian nằm viện.
4.4.3 Sử dụng thuốc kháng sinh
Tỷ lệ sử dụng kháng sinh trong nghiên cứu của chúng tôi là 11,6%, và kháng sinh chỉ được chỉ định trong các trường hợp có bằng chứng bội nhiễm phổi Chúng tôi đã sử dụng Cephalosporine thế hệ III qua đường tĩnh mạch.
Tỷ lệ sử dụng kháng sinh trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu khác, như nghiên cứu của Kabir ML và Haq N (2003) với tỷ lệ 99,0%, Phạm Thị Minh Hồng (2000) đạt 90,0%, và Đặng Thị Kim Huyên với 77%.
Kháng sinh là loại thuốc không được khuyến cáo trong điều trị VTPQ
Mặc dù trẻ mắc viêm phổi có sốt, tỷ lệ bội nhiễm vi khuẩn thứ phát vẫn thấp Việc sử dụng kháng sinh có thể gây ra tác dụng phụ, tốn kém và làm tăng nguy cơ kháng thuốc Đối với trẻ không thở máy, chỉ nên chỉ định kháng sinh khi có dấu hiệu bội nhiễm vi khuẩn như tổn thương nhu mô phổi trên phim X quang, CRP tăng, hoặc tăng bạch cầu đa nhân trung tính.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo rằng ở các nước đang phát triển, tình trạng bội nhiễm rất phổ biến Do đó, trẻ em mắc viêm phổi do virus (VTPQ) có biểu hiện thở nhanh hoặc bất kỳ dấu hiệu suy hô hấp nào khác cần được điều trị bằng kháng sinh, tương tự như cách xử trí viêm phổi.
Trẻ em mắc viêm phổi do virus (VTPQ) cần thở máy có tỷ lệ đồng nhiễm vi khuẩn cao, chiếm từ 21-26% Do đó, việc chỉ định kháng sinh là cần thiết trong trường hợp VTPQ nặng phải nhập khoa hồi sức Tuy nhiên, cần ngừng kháng sinh nếu kết quả cấy trước khi điều trị âm tính để giảm nguy cơ kháng thuốc.
Gần đây, một số nghiên cứu đã chỉ ra việc sử dụng Macrolide trong điều trị VTPQ Tuy nhiên, do số lượng nghiên cứu còn hạn chế và cỡ mẫu nhỏ, kết quả thu được đôi khi không đồng nhất, vì vậy chưa có khuyến cáo chính thức về việc sử dụng Macrolide thường quy trong điều trị VTPQ.
4.4.4 Sử dụng thuốc giãn cơ phế quản
Trong nghiên cứu của chúng tôi, Salbutamol được sử dụng làm thuốc giãn cơ phế quản, chiếm 93,2% với 176 trường hợp Tất cả các trường hợp đều được điều trị qua đường khí dung phế quản.
Sử dụng thuốc giãn cơ phế quản trong nghiên cứu của Phạm Thị Minh
Nghiên cứu của Hồng (2000) cho thấy tỷ lệ sử dụng thuốc giãn cơ phế quản ở trẻ em là 100%, trong khi các tác giả khác như Kabir ML, Haq N, Hoque M (2003) ghi nhận tỷ lệ này là 76,0% và Đặng Thị Kim Huyên (2004) là 78,0% Mặc dù có sự khác biệt, tất cả các nghiên cứu đều chỉ ra tỷ lệ cao trong việc sử dụng thuốc giãn cơ phế quản, nhưng hiệu quả của chúng trong điều trị viêm phế quản phổi (VTPQ) vẫn chưa được xác nhận rõ ràng Hướng dẫn mới nhất từ AAP khuyến cáo không nên sử dụng thuốc giãn cơ phế quản, vì chúng không làm giảm tỷ lệ nhập viện hay thời gian nằm viện của trẻ mắc VTPQ Trước đây, việc sử dụng thuốc này được coi là cần thiết, nhưng cập nhật vào tháng 11 năm 2014 đã chỉ ra rằng thuốc giãn cơ phế quản không có tác dụng trong việc thay đổi diễn biến lâm sàng của VTPQ Tuy nhiên, AAP cũng đã giới thiệu biện pháp khí dung nước muối ưu trương Natriclorid 3%, một phương pháp chưa được đề cập trong hướng dẫn trước đó, nhưng đã cho thấy tiềm năng trong điều trị các bệnh hô hấp Mặc dù một số nghiên cứu cho rằng khí dung nước muối Natriclorid 3% không làm giảm nguy cơ nhập viện, nhưng nó có thể giúp rút ngắn thời gian nằm viện bằng cách giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Nghiên cứu của chúng tôi đánh giá hiệu quả của khí dung nước muối ưu trương ở trẻ mắc viêm phổi phải điều trị nội trú Chúng tôi so sánh sự thay đổi các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị giữa nhóm sử dụng khí dung Natriclorid 3% và nhóm chứng sử dụng Natriclorid 0,9%.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ sử dụng thuốc giãn cơ phế quản ở nhóm nghiên cứu là 86,2%, thấp hơn so với 99% ở nhóm chứng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả này chứng tỏ hiệu quả của việc sử dụng khí dung nước muối.
Natriclorid 3%, có tác dụng làm giảm tỷ lệ trẻ phải dùng thuốc giãn cơ phế quản và những tác dụng phụ của thuốc ở nhóm nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy corticoide được sử dụng trong 28 trường hợp, chiếm 14,8% tổng số Tất cả các trường hợp đều được tiêm tĩnh mạch với liều 2mg/kg/ngày và thời gian sử dụng trung bình là 2,76 ngày, thường là 3 ngày Nhóm nghiên cứu có tỷ lệ sử dụng corticoide là 11,5%, so với 17,7% ở nhóm chứng, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Kết quả điều trị
4.5.1 Kết quả giảm ho, khò khè
Kết quả giảm ho, khò khè sau 3 ngày điều trị ở nhóm nghiên cứu là 40%, cao hơn gấp đôi nhóm chứng (20%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <
Natriclorid 3% có tác dụng loãng đờm và giảm phù nề, giúp trẻ ho tăng để đẩy dịch tiết ra ngoài sau khi khí dung Hiện tượng ho sẽ giảm dần, cải thiện tình trạng lâm sàng và thông thoáng đường thở Điều này mang lại cảm giác dễ chịu cho trẻ, giúp gia đình an tâm và nâng cao hiệu quả điều trị.
4.5.2 Điểm số lâm sàng sau 72 giờ điều trị
Bảng điểm CS (Clinical Severity Score) của Wang và cộng sự (1992) là công cụ hữu ích để đánh giá mức độ nặng của bệnh VTPQ dựa trên các dấu hiệu lâm sàng So với RDAI (1987) của Lowell và MCBS (2004) của Conway, bảng điểm CS dễ tiếp cận và phù hợp hơn Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng CS để đánh giá điểm số lâm sàng, dựa trên tác dụng của khí dung Natriclorid 3% so với Natriclorid 0,9% trong điều trị bệnh nhi VTPQ.
Bảng 3.9 và bảng 3.17 cho thấy, sự sụt giảm điểm số CS một cách rõ rệt ở cả
Sau 72 giờ điều trị tại viện, nhóm nghiên cứu sử dụng khí dung Natriclorid 3% cho thấy mức độ sụt giảm điểm CS cao hơn so với nhóm chứng sử dụng Natriclorid 0,9% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0,05.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các nghiên cứu trước đây của Sarrell (2002), Mandelberg (2003), Tal (2006) và Luo (2010), tất cả đều áp dụng phương pháp mù đôi có đối chứng giữa nhóm sử dụng khí dung Natriclorid 3% và nhóm sử dụng Natriclorid 0.9% Để giảm thiểu nguy cơ tác dụng phụ gây co thắt phế quản khi sử dụng khí dung nước muối ưu trương, các nghiên cứu đã kết hợp với thuốc giãn cơ phế quản Cụ thể, Mandelberg (52 trẻ) và Tal (41 trẻ) đã sử dụng Epinephrine, trong khi Luo (93 trẻ) sử dụng Salbutamol, và Sarrell (2002) sử dụng Terbutaline Những bằng chứng về độ an toàn từ các nghiên cứu trước, đặc biệt là nghiên cứu gần đây, đã củng cố kết luận này.
Shawn Ralston và đồng nghiệp (2010) không sử dụng thuốc giãn cơ phế quản trong nghiên cứu của họ để tránh tác dụng phụ của biện pháp khí dung nước muối ưu trương Mặc dù các nghiên cứu không hoàn toàn giống nhau, tất cả đều ghi nhận hiệu quả điều trị của phối hợp khí dung Natriclorid 3% trong việc cải thiện triệu chứng lâm sàng ở trẻ mắc VTPQ phải điều trị nội trú Điều này được chứng minh qua sự sụt giảm điểm số lâm sàng và sự biến mất nhanh chóng của các triệu chứng như ho, khò khè, và ran ở phổi, được theo dõi sau đó.
Trong nghiên cứu của Luo, ở nhóm bệnh nhân được khí dung
Natriclorid 3% đã chứng minh hiệu quả vượt trội so với Natriclorid 0.9% trong việc giảm mức độ nặng của bệnh và cải thiện triệu chứng lâm sàng nhanh chóng Biện pháp này không chỉ giúp rút ngắn thời gian nằm viện mà còn giảm gánh nặng tinh thần và chi phí kinh tế cho gia đình và xã hội, phù hợp với các kết quả nghiên cứu của Mandelberg.
Cơ chế bệnh sinh của viêm phế quản phổi (VTPQ) liên quan đến việc tăng tiết chất nhầy, dẫn đến tắc nghẽn đường thở Chất nhầy bình thường được gọi là niêm dịch, nhưng trong quá trình viêm, chất nhầy chứa sản phẩm viêm và vi khuẩn, làm tăng số lượng và độ nhớt, hình thành các nút nhầy cản trở lưu thông không khí Việc giải phóng chất nhầy ra khỏi cơ thể, được gọi là đờm, là biện pháp điều trị quan trọng Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nước muối ưu trương có tác dụng như một thuốc hoạt hóa chất nhầy Do đó, việc sử dụng khí dung nước muối ưu trương Natriclorid 3% là phù hợp để hỗ trợ điều trị VTPQ ở trẻ nhỏ.
Trong nghiên cứu với 87 bệnh nhân được khí dung Natriclorid 3% trong 3 ngày, mỗi ngày 3 lần, tổng cộng có 783 lần khí dung mà không ghi nhận tác dụng phụ nào Mặc dù bệnh nhân có thể quấy khóc trong quá trình khí dung, nhưng không có hiện tượng tím tái và tất cả đều trở về trạng thái bình thường mà không cần hỗ trợ oxy Mặc dù y văn đã chỉ ra rằng khí dung nước muối ưu trương và một số thuốc long đờm khác có thể gây co thắt phế quản, nhưng nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận tác dụng phụ này Nhận xét này phù hợp với nhiều nghiên cứu khác, cho thấy sự an toàn khi sử dụng khí dung nước muối ưu trương Natriclorid 3%, dù được sử dụng đơn độc hay phối hợp với thuốc giãn cơ phế quản.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ em trong nhóm nghiên cứu có số ngày nằm viện trung bình là 5,35 ± 1,6 ngày, trong khi nhóm chứng là 6,81 ± 2,4 ngày, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả này không giống với nghiên cứu của Kabir ML, Haq N, Hoque M (2003), khi thời gian nằm viện trung bình chỉ là 4 ngày Tương tự, tác giả Đặng Thị Kim Huyên cũng có những kết quả tương đồng.
(2004), thời gian nằm viện trung bình là 6,79 ngày, ngắn nhất 2 ngày, dài nhất
22 ngày [9] Sự khác biệt này có thể là do sự khác nhau về khả năng của y tế trong chăm sóc và điều trị giữa 2 quốc gia
Nghiên cứu của chúng tôi phân loại số ngày nằm viện thành 3 nhóm: nhóm trẻ nằm viện từ 1 - 4 ngày chiếm 23,8%, trong đó nhóm nghiên cứu có tỷ lệ 36,7% so với 12,7% ở nhóm chứng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) Nhóm nằm viện từ 5 - 7 ngày chiếm 53%, không có sự khác biệt thống kê giữa hai nhóm (P > 0,05) Số trẻ nằm viện từ 8 ngày trở lên chiếm 23,2%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) Thời gian nằm viện phản ánh mức độ bệnh và hiệu quả điều trị; nhóm trẻ nằm viện từ 1 - 4 ngày và nhóm từ 8 ngày trở lên cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, chứng minh rằng phương pháp điều trị bằng khí dung nước muối Natriclorid 3% đã rút ngắn thời gian nằm viện so với nhóm điều trị bằng Natriclorid 0,9% Tuy nhiên, đối với nhóm trẻ nằm viện từ 5 - 7 ngày, không thể đánh giá sự khác biệt giữa hai nhóm nghiên cứu.
4.5.4 Tình trạng bệnh nhi khi ra viện
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, trong số 189 trẻ em nhập viện vì viêm tai giữa (VTPQ), 100% trẻ đều có sự cải thiện rõ rệt về lâm sàng và cận lâm sàng khi ra viện, không có trường hợp nào phải chuyển tuyến hoặc tử vong.
Nghiên cứu của Phạm Thị Minh Hồng (2004) với cỡ mẫu 1117 ghi nhận có 8 trường hợp tử vong chiếm tỷ lệ 0,7% [8]
Sau 12 tháng (365 ngày) nghiên cứu chúng tôi ghi nhận: Có 189 trẻ VTPQ nhập viện đáp ứng được tiêu chuẩn chọn bệnh nhân, bằng phương pháp chọn ngẫu nhiên chúng tôi bốc thăm được Nhóm nghiên cứu có 87 trẻ chiếm 46%, nhóm chứng 102 chiếm 54% Đặc điểm chung về các phương diện nghiên cứu của 2 nhóm là tương đồng nhau, phác đồ điều trị như nhau Tuy nhiên, điểm khác biệt là: Nhóm nghiên cứu khí dung bằng nước muối Natriclorid 3%, nhóm đối chứng khí dung bằng nước muối Natriclorid 0,9% Kết quả cho thấy: Nhóm nghiên cứu, tỷ lệ trẻ sử dụng thuốc giãn cơ phế quản thấp hơn, kết quả giảm ho, khò khè tốt hơn, cải thiện điểm số lâm sàng nhanh hơn, rút ngắn thời gian nằm viện hơn so với nhóm chứng.