1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một Số Khía Cạnh Pháp Lý Về Hđkt Trong Điều Kiện Hiện Nay.docx

56 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Khía Cạnh Pháp Lý Về Hợp Đồng Kinh Tế Trong Điều Kiện Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 48,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục Lục 1 Một số khía cạnh về pháp lệnh HĐKT trong điều kiện hiện nay Mục Lục Phần I Lời nói đầu Phần II Nội dung Chương I Sự cần thiết của pháp luật Hợp Đồng Kinh Tế ở Việt Nam I Vai trò của Hợp Đồng[.]

Trang 1

Mục Lục Phần I : Lời nói đầu.

Phần II : Nội dung

Chương I: Sự cần thiết của pháp luật Hợp Đồng Kinh Tế ở Việt Nam

I.Vai trò của Hợp Đồng Kinh Tế trong nền kinh tế Việt Nam

1 Hợp Đồng Kinh Tế trong nền kinh tế lế hoạch hoá tập trung

2 Hợp Đồng Kinh Tế trong nền kinh tế thị trường

II Sự cần thiết khách quan của sự tồn tại Pháp luật Hợp Đồng Kinh Tế bên cạnh bộ luật Dân Sự và luật Thương Mại

III Những tư tưởng chỉ đạo việc hoàn thiện pháp luật Hợp Đồng Kinh Tế

1 Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng

2 Đảm bảo các quan hệ kinh tế được thiết lập…

3 Đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật

Chương II: Pháp luật kinh tế hiện hành - Nội dung cơ bản - Những vấn đề tồn tại và những kiến nghị đề xuất

I Khái quát chung về thực trạng pháp luật Hợp Đồng Kinh Tế hiện hành

II Một số nội dung trong pháp luật Hợp Đồng Kinh Tế hiện hành - Những vấn đề tồn tại và những kiến nghị đề xuất

1 Khái niệm Hợp Đồng Kinh Tế

2 Chủ thể Hợp Đồng Kinh Tế

3 Hợp Đồng Kinh Tế vô hiệu và sử lý Hợp Đồng Kinh Tế vô hiệu

4 Thay đổi, đình chỉ, thanh lý Hợp Đồng Kinh Tế

5 Trách nhiệm tài sản do vi phạm Hợp Đồng Kinh Tế

Phần III : Kết Luận

Phần I : Lời nói đầu

Trang 2

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

Xã hội và nhà nước Việt Nam nằm trong một tổng thể chung là một bộ phận củathế giới Tất cả mọi hoạt động về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá phải đáp ứng đượcđòi hỏi của xu hướng phát triển thế giới và phải phù hợp với quy luật khách quan Trong thế giới ngày nay, toàn cầu hoá là một hiện tượng kinh tế thực tế ngày càng hiểnhiện và lan toả, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Mọi nghiên cứu dự báo về kinh tế, chínhtrị… đều coi hiện tượng này là một căn cứ quan trọng để nghiên cứu dự báo

Cùng với cuộc cách mạng khoa học – công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ

đã làm cho các quan hệ cộng đồng thế giới tiến đến một khuôn khổ toàn cầu, đặc biệt làcác quan hệ về kinh tế Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế chứađựng các cơ hội, đồng thời cũng là thách thức ghê gớm đối với mọi quốc gia, nhất là cácquốc gia đang phát triển Vậy trong điều kiện như hiện nay thì phát triển kinh tế quyếtđịnh sự tồn tại của mỗi quốc gia

Để các doanh nghiệp cố thể tự do hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước vàquốc tế trong điều kiện pháp lý cho phép ( những chuẩn mực mà doanh nghiệp phải tuântheovà áp dụng ) thì hệ thống pháp luật Hợp Đồng Kinh Tế (HĐKT) ngày càng phảihoàn thiện vì những bản HĐKT là những minh chứng cho hoạt động sản xuất – kinhdoanh của doanh nghiệp

Tháng 11/1986 ĐạI hội toàn quốc lần thứ VI đã khẳng định nội dung của côngcuộc đổi mới cơ chế quản lý Theo đó nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế hành chínhquan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng

Xã HộI Chủ Nghĩa (XHCN) Trong cơ chế kinh tế mới, các doanh nghiệp như được

“cởi trói”, tự do hoạt động sản xuất kinh doanh Nghị định 54/CP (10/3/1975) và cácvăn bản có liên quan đã được thay thế bằng pháp luật HĐKT(25/9/1989 HộI đồng nhànước ban hành) và nghị định 17/HĐBT quy định chi tiết thi hành pháp luậtHĐKT(16/1/1990ban hành), quyết định 18/HĐBT về ký kết và thực hiện HĐKT theochỉ tiêu pháp lệnh

Hơn 10 năm qua, có thể nói pháp luật HĐKT đã hoàn thành sứ mệnh của mình.Nhưng đến giai đoạn hiện nay, trước xu thế toàn cầu hoá - hội nhập vào kinh tế khu vực

Trang 3

và thế giới thì pháp lệnh HĐKT đã bộc lộ nhiều điểm không phù hợp với quy luật kháchquan, nhất là sau khi nhà nước ban hành bộ luật Dân Sự và luật Thương Mại.

Sự vướng mắc, không rõ ràng trong thi hành pháp luật HĐKT trong thời gian gầnđây cho thấy rõ ràng, bất cập của pháp luật HĐKT là quá mức không thể chấp nhậnđược Những tồn tại và bất cập đó đã và đang tác động tiêu cực, kìm hãm, cản trở cácdoanh nghiệp trong quá trình thiết lập các quan hệ kinh tế Yêu cầu đặt ra là phải sửađổi cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Đây chính là lý do tôi chọn “một sốkhía cạnh pháp lý về HĐKT trong điều kiện hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoa họccủa mình

2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

*) Mục đích: Trên cơ sở những nội dung của pháp luật HĐKT hiện hành, nghiên

cứu và chỉ ra những tồn tại, bất cập, qua đó đưa ra một số ý kiến đóng góp nhằm gópphần hoàn thiện pháp luật HĐKT trong kinh tế thị trường ở Việt Nam

*) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chế độ

HĐKThiện hành bao gồm pháp luật HĐKT và các văn bản có liên quan quy định vềkhái niệm HĐKT, chủ thể HĐKT, HĐKT vô hiệu và xử lý HĐKT vô hiệu, thay đổi,đình chỉ và thanh lý HĐKT, trách nhiệm tài sản do vi phạm HĐKT

Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, chỉ ra nhữngtồn tại, bất cập qua đó đề xuất một số ý kiến sửa đổi

3 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh từ đó rút ra kết luận, luôn lấychủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương phápluận

4 Những điểm mới của đề tài.

- Nhấn mạnh và xác định sự cần thiết khách quan phải có HĐKT bên cạnh bộ luậtDân Sự và luật Thương Mại trên cơ sở khoa học và thực tiễn

- Phân tích tư tưởng chỉ đạo của đảng và Nhà nước làm cơ sở lý luận cho việc hoànthiện HĐKT

Trang 4

- Chỉ ra một số điểm bất cập trong pháp luật HĐKT và đưa ra ý kiến nhằm hoànthiện hơn pháp luật HĐKT hiện nay.

Trang 5

Phần II: NỘI DUNG

Chương I: Sự cần thiết của pháp luật HĐKT trong nền kinh tế thị

trường ở Việt Nam.

I Vai trò của HĐKT trong nền kinh tế Việt Nam

1 HĐKT trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung

Với quan niệm đơn giản về Chủ Nghĩa Xã Hội (CNXH), Việt Nam cũng như cácnước XHCN khác đã chú trọng thực hiện cách mạng quan hệ sản xuất, xoá bỏ hình thức

sở hữu phi XHCN, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu XHCN dưới hai hinh thức: sở hữutoàn dân và sở hữu tập thể Thậm chí, sở hữu tập thể cũng được coi là sở hữu toàn dân

Do vậy nền kinh tế quốc dân không phải là một nền kinh tế hàng hoá mà là nền kinh tếhiện vật, xã hội hoá trực tiếp trên cơ sở kế hoạch hoá tập trung cao độ Trong cơ chế đó,nhà nước tổ chức mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở tất cả mọi lĩnh vực củanền kinh tế Quản lý vi mô và vĩ mô được hoà vào làm một và được thực hiện bởi mộtchủ thể duy nhất là Nhà nước Việc sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, bán cho ai, bánnhư thế nào là do nhà nước quyết định theo một kế hoạch định trước HĐKT thực sự trởthành công cụ điều chỉnh và củng cố các quan hệ kinh tế XHCN, HĐKT đã trở thànhmột công cụ pháp lý chủ yếu của Nhà nước để quản lý nền kinh tế kế hoạch XHCN Hay nói một cách khác, nhà nước đã đặt ra một dấu bằng giữa HĐKT và kế hoạch KýHĐKT là xây dựng kế hoạch, thực hiện HĐKT là thực hiện kế hoạch, vi phạm HĐKT là

vi phạm kế hoạch Với khẩu hiệu tất cả để thực hiện thắng lợi kế hoạch, thì các quan

hệ kinh tế được thiết lập theo chiều dọc, quan hệ ngang bị xem nhẹ, HĐKT bị biến dạng

và trở thành công cụ để Nhà nước thực hiện sự can thiệp vào hoạt động sản xuất kinhdoanh của các đơn vị kinh tế Hai văn bản của nhà nước điều chỉnh quan hệ HĐKTtrong thời kỳ này là nghị định 04/TTg (4/1/1960) và nghị định 54/CP (10/3/1975) đềuthể hiện rõ quan điểm nói trên

Trang 6

Điều 2 nghị định 04/TTg ghi rõ “… Cơ sở ký kết HĐKT là chỉ tiêu kế hoạch củanhà nước”

Điều 1 nghị định 54/CP cũng khẳng định “HĐKT là công cụ pháp lý của Nhànước trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế XHCN Nó góp phần quan trọngtrong việc kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân, củng cố chế độ hạch toán kinh tế và tăngcường quản lý kinh tế Nó xác lập và thắt chặt mối quan hệ hợp tác XHCN giữa các bên

có liên quan đến việc ký kết HĐKTvà thực hiện HĐKT đã ký, quy định rõ nghĩa vụ vàtrách nhiệm cụ thể của từng bên đối với nhau, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên kýkết, giúp đỡ các bên chuẩn bị kế hoạch, xây dựng kế hoạch một cách vững chắc, thựchiện thắng lợi kế hoạch của nhà nước với hiệu quả kinh tế cao nhất”

Do vậy, các cơ quan cấp trên có quyền kỷ luật hành chính đối với những đơn vị

từ chối, trì hoãn ký HĐKT mà không có lý do chính đáng, các cơ quan nhà nước chỉđược ký HĐKT trong phạm vi chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước và HĐKT chỉ được thayđổi, đình chỉ, huỷ bỏ khi chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước thay đổi, đình chỉ hoặc huỷ bỏ HĐKT trong giai đoạn này được coi là loại Hợp Đồng đặc biệt vì nó chứa đựng ý chícủa nhà nước là chủ yếu: ý chí các bên lệ thuộc ý chí nhà nước, yếu tố kế hoạch lấn átyếu tố tài sản và sự thoả thuận của các bên bị khống chế bằng các mệnh lệnh phục tùng HĐKT đã mất đi giá trị đích thực của nó với tính chất là một thoả thuận hoàn toàn tựnguyện Tuy nhiên, trong giai đoạn này HĐKT đã hoàn thành sứ mệnh của nó, vừa là

cơ sở để xây dựng kế hoạch, vừa cụ thể hoá kế hoạch, vừa là căn cứ tiến hành các hoạtđộng kinh tế nhằm thực hiện thắng lợi kế hoạch của nhà nước, góp phần vào thắng lợicủa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta

2 HĐKT trong nền kinh tế thị trường

Tất cả chúng ta đều biết có một mối quan hệ phụ thuộc giữa pháp luật HĐKT với

cơ chế kinh tế Khi cơ chế kinh tế thay đổi thì tính chất các quan hệ kinh tế cũng thayđổi, dẫn đến pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật HĐKT cũng thay đổi – đó có thểcoi là một tất yếu khách quan

Kinh tế thị trường xuất hiện và phát triển như một quy luật ở giai đoạn phát triểncao của sản xuất hàng hoá, là thành quả chung của văn minh nhân loại, cho đến nay

Trang 7

người ta vẫn chưa tìm được công cụ nào hữu ích hơn kinh tế thị trường Trong kinh tếthị trường, quan hệ kinh tế của các bên chủ thể kinh doanh đều biểu hiện qua mua bánhàng hoá, dịch vụ trên thị trường Mục đích của các chủ thể kinh doanh hướng tới làtìm kiếm lợi nhuận cho chính mình theo sự dẫn dắt của các quy luật kinh tế khách quan Trong các quan hệ đó các chủ thể phải tự tính toán bù đắp chi phí, phải có lợi nhuận vàphải tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

Do vậy kinh tế thị trường đặt ra nhiều yêu cầu mới: đó là việc phải đảm bảo dânchủ trong các quan hệ kinh tế, đảm bảo sự bình đẳng cùng có lợi giữa các chủ thể kinhdoanh thuộc mọi thành phần kinh tế Pháp luật phải thừa nhận và bảo hộ quyền sở hữu,quyền tự do kinh doanh của công dân và đặc biệt nhà nước không được can thiệp mộtcách “quá sâu” và “thô bạo” vào các hoạt động kinh doanh Nhà nước quản lý bằngpháp luật, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh để các quan hệ kinh tế giữa các chủ thểdiễn ra tự do, bình đẳng, có lợi cho các chủ thể kinh doanh, có lợi cho nhà nước và xãhội

Bản thân kinh tế thị trường là một hiện tượng kinh tế xã hội hết sức phức tạp Kinh tế thị trường ở các nước Tư Bản đầy rẫy mâu thuẫn, còn kinh tế thị trường XHCNhay định hướng XHCN là cái mới đang được tìm tòi thể nghiệm Trong bối cảnh thếgiới hiện nay, tất cả các nước đều thừa nhận kinh tế thị trường Tuy nhiên, do nhữngđiều kiện thực tế khác nhau nên mỗi nước có thể chọn cho mình một mô hình kinh tế thịtrường phù hợp

Đối với một số nước mới bước vào kinh tế thị trường như Trung Quốc, ViệtNam, thì việc nhận thức đúng và sâu sắc kinh tế thị trường ngày càng trở thành một nhucầu vừa cơ bản, vừa cấp bách Vì chúng ta không thể chấp nhận kiểu thị trường tự do,kiểu thị trường không người điều khiển hoặc được điều khiển bởi một bàn tay “vôhình” Mô hình kinh tế thị trường ở Việt Nam nổi bật những nét đặc trưng sau đây:

*) Trước hết đó là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường

Trong cơ chế thịh trường các hình thức sở hữu khác nhau được tồn tại, được tự

do vận động và được pháp luật bảo hộ Các chủ thể được quyền tự do kinh doanh theopháp luật, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác Xuất phát từ nhu cầu thị trường mà các nhà kinh

Trang 8

doanh lúa chọn phương án kinh doanh cho mình ( kinh doanh cái gì, khối lượng baonhiêu, phương thức kinh doanh như thế nào…) và lợi nhuận tối đa là mục tiêu mà họhướng tới.

Và sau khi nghiên cứu, sau nhiều công cuộc đổi mới chúng ta đã thu được nhiềukết quả quan trọng Chúng ta đã có một bước tiến khá dài trong nhận thức về kinh tế thịtrường, sự vận hành và những tác động hai mặt của nó Như cơ chế tập trung quan liêu,bao cấp về căn bản đã được xoá bỏ, cơ chế mới đã được thiết lập khá đồng bộ, quyền tự

do kinh doanh của công dân, quyền bình đẳng giữa các thành phần kinh tế đã được quantâm đúng mức… có thể nói cơ chế thị trường của Việt Nam đang dần hoàn thiện

*) Cơ chế thi trường của Việt nam có sự quản lý vĩ mô của nhà nước

Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của sản xuất hàng hoá Do có động

cơ vì lợi nhuận nên nó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, mở mang nghành nghề,thu hút lao động, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, mở rộng thị trường, thúc đẩy hợptác trong và ngoài nước đảm bảo cho các nhà sản xuất - kinh doanh và người tiêu dùngđược tự do lựa chọn và quyết định việc sản xuất-kinh doanh và tiêu dùng của họ Tuynhiên, kinh tế thị trường có những mâu thuẫn với bản chất của XHCN, đó là xu thế phânhoá giàu nghèo quá mức dẫn tới phân cực xã hội, tâm lý sùng bái đồng tiền, vì đồng tiền

mà chà đạp lên đạo đức, nhân phẩm, huỷ hoại môi trường, lãng phí nguồn lực một cáchkhông cần thiết…, đó là những khuyết tật cố hữu của kinh tế thị trường

Đi vào cơ chế thị trường cần phải kiên quyết đấu tranh khắc phục những khuynhhướng tiêu cực đó, do vậy, sự quản lý vĩ mô của nhà nước đối với kinh tế thị trường làmột đòi hỏi tất yếu “ Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phải đi đôi với tăngcường vai trò quản lý của Nhà nước” Trong thời đại ngày nay, Nhà nước không thểquản lý bằng cách can thiệp quá sâu vào các hoạt động của các đơn vị cơ sở mà phảiquản lý ở tầm vĩ mô - phải đổi mới cơ chế quản lý ở tầm vĩ mô của Nhà nước để đápứng yêu cầu mới, để thành công trong sự nghiệp phát triển kinh tế, đưa đất nước đi lên.Nhà nước phải điều chỉnh hoạt động của các xí nghiệp và đơn vị sản xuất, kinh doanhthuộc mọi thành phần kinh tế bằng pháp luật, chính sách kinh tế: chính sách đánh thuế,thanh toán chuyển giao, cung cấp các hàng hoá và dịch vụ như: lực lượng quốc phòng,

Trang 9

an ninh và chính sách tiến bộ kỹ thuật… thay cho sự can thiệp sâu vào hoạt động sảnxuất, kinh doanh của các đơn vị cơ sở

*) Kinh tế thị trường Việt Nam theo điịng hướng XHCN

Khác với hầu hết các nước trên thế giới, ở Việt nam, nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần mà Đảng ta chủ trường là nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN

Đây là mô hình hoàn toàn mới chưa có tiền lệ trong lịch sử phát triển của kinh tếthế giới Mô hình này đòi hỏi các quan hệ kinh tế phải tồn tại, phát triển cân đối hài hoà,kết hợp tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với công bằng và tiến bộ xã hội Giải phóng mọinăng lực sản xuất, phát triển kinh tế nhưng phải đảm bảo các yêu cầu xã hội: hạn chếbóc lột, phân hoá xã hội và các tiêu cực xã hội

Như vậy, nền kinh tế Việt nam một mặt phải đảm bảo quyền tự do kinh doanhcủa công dân mặt khác phải đảm bảo lợi ích xã hội, không để tình trạng các doanhnghiệp làm kinh tế và kiếm lợi nhuận bằng bất cứ giá nào

Về nguyên tắc, các quan hệ kinh doanh giữa các doanh nghiệp, các chủ thể kinhdoanh với nhau thể hịên thông qua hợp đồng kinh tế, vì vậy phải đặc biệt đề cao vai tròcủa hợp đồng kinh tế, để đảm bảo cho hoạt động kinh đoanh diễn ra có hiệu quả và theođịnh hướng Nhà nước đề ra

Trong kinh tế thị trường - hợp đồng kinh tế có những vai trò sau:

- Hợp đồng kinh tế là phương tiện pháp lý đảm bảo các quan hệ kinh tếđược thiếtlập một cách bình đẳng, tự chủ giữa các đơn vị

Với nguyên tắc ký kết HĐKT là quyền của các đơn vị kinh tế thì HĐKT trong cơché thị trường phải trả lại giá trị đích thực của nó HĐKT thực sự là sự cam kết giữacác chủ thể, là mong muốn thiết lập quan hệ của cả hai bên Ký kết HĐKT trở thànhnhu cầu nội tại của các bên, các chủ thể lựa chọn đối tác ký kết theo ý mình và vì cácchủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng như nhau nên khi thiết lập quan hệ hợp đồng mọivấn đề đều được giải quyết trên cơ sở tự nguyện, thoả thuận và mọi sự áp đặt của chủthể khác lên những nội dung trong hợp đồng là không thể chấp nhận được

- HĐKT là công cụ pháp lý để xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch của cácdoanh nghiệp Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi mọi doanh nghiệp

Trang 10

phải xây dựng cho mình một kế hoạch phù hợp với chức năng hoạt động, nhu cầu thịtrường và định hướng kế hoạch chung của nhà nước.

Qua việc ký kết các HĐKT doanh nghiệp có thể nắm bắt được nhu cầu thịtrường, biết được thị trường cần gì từ đó đề ra và thực hiện các kế hoạch sản xuất, kếhoạch cung ứng hàng hoá Một khi kế hoạch kinh doanh được xây dựng trên cơ sở cácHĐKT đã ký thì việc thực hiện kế hoạch là việc nằm trong tầm tay của doanh nghiệp vànhư vậy kế hoach sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới phù hợp với nhu cầu thịtrường

Hơn nữa, chỉ dựa vào HĐKT, các sai sót khiếm khuyết tong kế hoạch sản xuấtcủa doanh nghiệp mới dễ phát hiện và có như vậy kế hoạch của doanh nghiệp mới đượchoàn thiện

- HĐKT là công cụ để doanh nghiệp thức hiện chế độ hạch toán kinh tế

Trong kinh tế thị trường việc tính toán tìm ra phương án tối ưu trong mỗi hoạtđộng kinh doanh là đòi hỏi bắt buộc để doanh nghiệp tồn tại và phát triển Phương ántối ưu ấy chỉ có thể được phát hiện và thực hiện trong quá trình các chủ thể bàn bạc,giao kết và thực hiện HĐKT Với nguyên tắc tự định đoạt, cùng có lợi ( lợi luận là cáiđích, là mục tiêu mà mọi doanh nghiệp hướng tới ), các chủ thể đưa ra nhiều phương án– mà hiệu quả của mỗi phương án và kế hoạch tìm được phương án tối ưu thì HĐKTđược thiết lập Vì trong HĐKT quy định việc bồi thường vật chất khi vi phạm nên lợiích hạch toán của mỗi bên luôn được tôn trọng và bảo đảm

- HĐKT là công cụ để nhà nước quản lý kinh tế

Kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhà nước không thể can thiệp quá sâu vàohoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưng cũng không cho phép Nhà nước buônglỏng quản lý đối với hoạt động của doanh nghiệp Mọi sự “sao nhãng” ở đây đều có thể

là nguyên nhân trực tiếp đưa các doanh nghiệp đi chệch với định hướng đặt ra và đóchính là hậu quả tất yếu của tính tự phát của kinh tế thị trường

ĐốI với các doanh nghiệp, HĐKT là hình thức pháp lý ghi nhận mọi giao dịchphát sinh trong sản xuất kinh doanh Vì vậy, quản lý hoạt động kinh tế của các doanhnghiệp chính là quản lý các HĐKT mà các đơn vị tham gia Thông qua HĐKT, các cơ

Trang 11

quan nhà nước kiểm tra được tính hợp pháp của hoạt động sản xuất kinh doanh, tínhhiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, và tiến độ thực hiện kế hoạch của doanhnghiệp cũng có thể được đánh giá qua HĐKT Thông qua HĐKT các cơ quan nắm bắtđược nhu cầu thị trường, xu hướng phát triển của nền kinh tế, qua đó có những chínhsách điều tiết thích hợp đối với thị trường, đảm bảo tính định hướng XHCN của cả nềnkinh tế

Do vậy, pháp luật về HĐKT càng đầy đủ, toàn diện thì sự quản lý của nhà nướcđối với doanh nghiệp, đối với nền kinh ttế càng chặt chẽ, càng có hiệu quả

II Sự cần thiết khách quan của tồn tại pháp luật HĐKT bên cạnh

bộ luật Dân Sự và luật Thương Mại

Trong sự phát triển của cơ chế mới – cơ chế thị trường, không những làm thayđổi yếu tố chủ thể của HĐKT mà còn làm cho tính chất quan hệ HĐKT có những thayđổi căn bản HĐKT giờ đây mới thực sự đúng nghĩa của Hợp Đồng Khi các quan hệhàng hoá, tiền tệ bao trùm lên toàn bộ các quan hệ kinh tế thì ranh giới giữa HĐKT vàhợp đồng Dân Sự không còn tách bạch rõ ràng như thời bao cấp

Với sự thay đổi đó, hiện nay có rất nhiều quan điểm cho rằng trong kinh tế thịtrường, không cần có khái niệm HĐKT và do đó không cần pháp luật về HĐKT nữa Như vậy, một khi đã có bộ luật Dân Sự quy định một cách chi tiết và đỳ đủ về HợpĐồng Dân Sự, có luật Thương Mại quy định về Hợp Đồng Thương Mại, thì pháp luật vềHĐKT đã mất vai trò lịch sử Vì vậy nghiên cứu để trả lời một câu hỏi lớn: cần haykhông pháp luật HĐKT trong điều kiện kinh tế thị trường Việt Nam khi đã có bộ luậtDân Sự và luật Thương Mại là một vấn đề hoàn toàn logic và có tính thời sự hiện nay

Pháp luật do kinh tế quyết định, sự tồn tại hay mất đi của chế định pháp luậtkhông xuất phát từ ý muốn chủ quan của người làm luật, mà do thực tế đòi hỏi Sự tồntại một cách khách quan của pháp luật HĐKT không nằm ngoài quy luật chung đó

Như đã nói, kinh tế thị trường làm cho các quan hệ kinh tế có nhiều biến đổi sâusắc Tuy nhiên, HĐKT vẫn chưa mất đi vai trò lịch sử trong sự biến đổi đó Khẳng địnhnày dựa trên một số cơ sở sau :

*) Thứ nhất, về mặt học thuật

Trang 12

Theo tôi, rất cần khái niệm HĐKT vì nó có nội hàm độc lập và hiện tại chưa cókhái niệm nào, kể cả khái niêm Hợp Đồng Thương Mại, có thể thay thế được khái niệmHĐKT

Theo luật Thương Mại ở Việt Nam:

Điều 1: “ Luật Thương Mại điều chỉnh các hành vi Thương Mại, xác định địa vịpháp lý của thương nhân và quy định những nguyên tắc, chuẩn mực trong hoạt độngthương mại tại nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam”

Điều 45: “ Các hành vi thương mại”

Hành vi thương mại quy định của luật này bao gồm các hành vi sau:

1 Mua bán hàng hoá

2 Đại diện cho thương nhân

3 Môi giới thương mại

4 Uỷ thác mua bán hàng hoá

5 Đại lý mua bán hàng hoá

6 Gia công thương mại

7 Đấu giá hàng hoá

8 Đấu thầu hàng hoá

9 Dịch vụ giao nhận hàng hoá

10 Dịch vụ giám định hàng hoá

11 Khuyến mại

12 Quảng cáo thương mại

13 Trưng bày giới thiệu hàng hoá

14 Hội thảo, triển lãm thương mại

Điều 5, phần 2: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vithương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng các dịch vụthương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằmmục đích thực hiện các chính sách kinh tế xã hội”

Theo quy định trên vì thương mại là mua bán, do đó các hoạt động sau đây (vàtương ứng các hợp đồng ) không được coi là có tính chất thương mại:

Trang 13

- Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

Như vậy, khái niệm thương mại theo luật Thuương Mại Việt Nam có nội hàm rấthẹp: Thương mại là một lĩnh vực hoạt động kinh tế, Hợp Đồng Thương Mại là một dạngcủa HĐKT, cũng tương tự như Hợp Đồng tín dụng, Hợp Đồng giao nhận thầu trong xâydựng cơ bản, Hợp Đồng trong liên kết kinh tế, Hợp đồng hợp tác và liên doanh với nướcngoài…

Nói tóm lại, chỉ khi nào chúng ta quan niệm thương mại là một khái niệm rộngnhư các nước trên thế giới ( thương mại được hiểu là kinh doanh ) thì mới có thể từ bỏkhái niệm HĐKT

Theo điều 1 - luật mẫu về trọng tài ( uncitral model taw ) thì thuật ngữ “thươngmại” bao gồm các hoạt động sau đây:

- Buôn bán giữa các thương nhân nhằm cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo hợp đồng,

có đại diện hoặc không có đại diện

- Hoạt động sản xuất ra hàng hoá để trao đổi

- Hoạt động thuê mướn

- Mọi hoạt động liên quan đến xây dựng công trình, kể cả công trình kết cấu hạ tầng

cơ sở

- Mọi hoạt động tư vấn có thù lao

Trang 14

- Mọi hoạt động mua bán licence, chuyển giao công nghệ, đầu tư trong nước vàgngoài nước, mọi hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khai thác bất động sản,chuyển nhưọng tài sản.

- Mọi hoạt động của doanh nghiệp liên doanh theo các hình thức khác nhau

- Mọi hoạt động liên quan đến vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sông,đường biển, đường hàng không, đường sắt, đường bộ

Mặt khác, mặc dù trong luật Dân Sự đã có những quy định rõ ràng và khá đầy đủtrong lĩnh vực kinh tế nhưng luật Dân Sự vẫn chỉ là cái chung,cái gốc khi áp dụng sangquan hệ HĐKTcòn có nhiều hạn chế

*) Thứ hai, xét về lợi ích của việc điều chỉnh pháp luật riêng với quan hệ HĐKT Chuyên môn hoá trở thành xu hướng có tính quy luật của sự phát triển, của sự vậthiện tượng xã hội Và lĩnh vực pháp lý cũng không nằm ngoài sự vận động của quy luậtchung đó Muốn nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hộikhông còn cách nào khác là phải tách các quan hệ xã hội thành những nhóm riêng cónhững đặc trưng, đặc thù và xây dựng những quy phạm điều chỉnh chung một cách đầy

đủ, có hiệu quả

Hợp Đồng Dân Sự xuất hiện trong giao lưu dân sự, chủ yếu từ các hoạt động nhằmthoả mãn nhu cầu tiêu dùng, do đó yếu tố tài sản trong hợp đồng thường có giá trị lớn vànói chung chúng không có tính kế hoạch HĐKT xuất phát từ lĩnh vực sản xuất kinhdoanh, nó được hình thành do nhu cầu hoạt đọng sản xuất kinh doanh và vì mục đích lợinhuận, vì thế chỉ có những chủ thể có đủ điều kiện thoả mãn của luật định mới có thểtham gia vào HĐKT Giá trị tài sản trong HĐKT thường lớn, ở một mức độ nào đóHĐKT cũng có tính kế hoạch và tính dây truyền Khi xảy ra tranh chấp cần giải quyếtnhanh, gọn, bí mật không cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động kinh doanh

là một hoạt đọng đặc thù vì vậy cần tách khỏi luật Dân Sự để điều chỉnh

Trong cơ chế thị trường đã đưa HĐKT đến “gần” Hợp Đồng Dân Sự nhưng HĐKTvẫn có nét đặc trưng riêng bộ luật Dân Sự thực tếkhông tính hết được những nét đặcthù đó Thế nên HĐKT nhất định phải tồn tại bên cạnh Hợp Đồng Dân Sự và pháp địnhHĐKT phải tồn tại bên cạnh bộ luật Dân Sự và luật Thương Mại

Trang 15

*) Thứ ba, xét về khía cạnh nhu cầu quản lý của nhà nước đối với hoạt động kinhdoanh

Ở tất cả các quốc gia, vấn đề có tính chất quyết định cho tăng trưởng kinh tế củađất nước là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hiệu quả ấy phụ thuộc rấtlớn vào môi trường pháp lý mà doanh nghiệp hoạt động và pháp luật HĐKT là mộtphần không thể thiếu cấu thành nên môi trường pháp lý đó HĐKT chính là hình thứcpháp lý thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp

Ở Việt Nam, chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN,nhà nước thừa nhận quyền tự do kinh doanh của các chủ thể nhưng tự do không phải là

tự do hoàn toàn, tự do vô giới hạn và pháp lệnh HĐKT chính là giới hạn tự do của hợpđồng Sự tồn tại của pháp lệnh HĐKT không những không xâm phạm đến nguyên tắc

tự do hợp đồng mà còn đảm bảo sự bình đẳng thực sự cho các chủ thể Sự tồn tại củapháp luật HĐKT tạo ra trật tự kỷ cương trong các hệ giữa các doanh nghiệp, kiềm chếtính tự phát của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường, đưa tự do hợp đồng của doanhnghiệp vào một giới hạn có lợi cho doanh nghiệp, cho nhà nước và xã hội

Vì vậy, trong giai hiện nay sự tồn tại của pháp luật HĐKT không chỉ là đòi hỏi củachính bản thân các doanh nghiệp mà còn là đòi hỏi của nhà nước để quản lý kinh tế

*) Thứ tư, xét về truyền thống xây dựng pháp luật Việt Nam

Trong lịch sử phát triển xã hội Việt Nam, đã từ lâu tồn tại hai lĩnh vực hoạt độngtách bạch là hoạt động dân sự ( có tính chất tiêu dùng cá nhân ) và hoạt động kinh tế(nhằm sản xuất ra của cải vật chất để trao đổi, mua bán trên thị trường ) Kể từ thời phápthuộc người Pháp đã sử dụng bộ luật Thương Mại của Pháp để điều chỉnh hành vi kinhdoanh trên lãnh thổ Việt Nam Đến khi giành thắng lợi trng cuộc kháng chiến chốngPháp, trong giai đoạn đầu xây dựng XHCN ở miền bắc nhà nước đã ban hành nghị định735/TTg (10/4/1957), kèm theo nghị định này là bản điều lệ tạm thời về hoạt động kinhdoanh Ngày 4/1/1960, nghị định 004 ban hành điều lệ tạm thời về chế độ HĐKT giữacác xí nghiệp quốc doanh và cơ quan nhà nước Ngày 10/3/1975 Hội đồng chính phủban hành nghị định 54/CP quy định điều lệ về chế độ HĐKT Trong một thời gian dàipháp lệnh HĐKT (25/9/1989) tồn tại song song với pháp lệnh Hợp Đồng Dân Sự Như

Trang 16

vậy, luật kinh tế chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật ViệtNam, nó có một lịch sử phát triển lâu dài bên cạnh pháp luật Dân sự như một truyềnthống đã ăn sâu vào nhận thức của nhân ta Truyền thống này tuy không phải nlà yếu tốquyết định, song đã ảnh hưởng không nhỏ đến quan niệm ngày nay là duy trì tiếp tục hai

hệ thống pháp luật về hợp đồng: pháp luật HĐKT và pháp luật Hợp Đồng Dân Sự

*)Thứ năm, xét về thông lệ quốc tế

Thông lệ quốc tế là yếu tố không thể không tính đến khi hoàn thiện pháp luật (nhất

là luật kinh tế ) trong điều kiện “đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ đối ngoại, hợptác nhiều mặt, song phương, đa phương với các nước” đã trở thành chính sách đối ngoạicủa nhà nước ta (văn kiện Đại Hội Đảng VIII )

Qua nghiên cứu cho thấy rất nhiều nước có nền kinh tế thị trưòng phát triển vẫnduy trì và phát triển luật Thương Mại ( luật kinh doanh ) bên cạnh luật Dân Sự Vì vậy,

sự tồn tại của pháp luật HĐKT bên cạnh pháp luật Hợp Đồng dân Sự là điều không tráivới xu hướng của thời đại

Ở Việt Nam hiện nay, các văn bản pháp luật cơ bản điều chỉnh quan hệ hợp đồnggồm có:

- Bộ luật Dân Sự điều chỉnh quan hệ Hợp Đồng Dân Sự

- Luật Thương Mại điều chỉnh quan hệ Hợp Đồng Thương Mại

- Pháp luật HĐKT điều chỉnh quan hệ HĐKT

Vậy vị trí của pháp luật HĐKT trong hệ thống các văn bản nói trên là gì?

Trước hết phải khẳng định pháp luật HĐKT và bộ luật Dân Sự có mỗi quan hệkhăng khít Dưới góc độ lịch sử, bộ luật Dân Sự là ngành luật có từ lâu nhất, quan trọngnhất của xã hội loài người Luật Dân Sự điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội: Quan hệtài sản, quan hệ lao động, quan hệ kinh tế, quan hệ hôn nhân…

Luật kinh tế ra đời sau, nó chứng tỏ hạn chế của luật Dân Sự trước những sự thayđổi trong các quan hệ kinh tế khi nền kinh tế phát triển Luật Dân Sự là cái chung, là cáigốc còn luật kinh tế là cái riêng, cái đặc thù Nên thực chất HĐKT là hợp đồng Dân Sựđược giao kết trong lĩnh vực kinh doanh, nhằm mục đích sinh lợi và trong giới hạn củanhóm các chủ thể nhất định

Trang 17

Mối quan hệ với luật Thương Mại:

Như đã nói ở trên, khác với hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển,luật Thương Mại Việt Nam không điều chỉnh tất cả hợp đồng có tính chất kinh doanh(HĐKT) mà chỉ điều chỉnh một bộ phận của nó - Hợp đồng có tính chất thương mại.Vậy có thể hiểu HĐKT bao gồm cả những hợp đồng Thương Mại khi các chủ thể củahợp đồng Thương Mại là pháp nhân hoặc giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinhdoanh theo quy định của pháp luật Tức là ở một khía cạnh nào đó có thể coi HĐKT làcái chung, hợp đồng Thương Mại là cái đặc thù trong cái chung đó

Tóm lại, trong kinh tế thị trường hiện nay vẫn nhất thiết phải tồn tại pháp luậtHĐKT bên cạnh bộ luật Dân Sự và luật Thương Mại Và việc sửa đổi, hoàn thiện phápluật HĐKT là việc hết sức cấp bách, có tính thời sự trong giai đoạn hiện nay

III Những quan điểm chỉ đạo việc hoàn thiện pháp luật HĐKT.

1 Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng.

Đường lối chính sách của Đảng là linh hồn của pháp luật nói chung Trong quátrình đổi mới và phát triển kinh tế đướng lối đổi mới kinh tế của Đảng trong lĩnh vựcHĐKT là phương hướng trong việc xây dựng, hoàn thiện chế độ HĐKT Đảng chủtrương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước theo định hướng XHCN Chính sách đổi mới kinh tế của Đảng được thểchế hóa trong các nguyên tắc Hiến Pháp 1992, đó là:

- Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật

- Xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, pháthuy các tiềm năng của các thành phần kinh tế

- Các thành phần kinh tế bình đẳng với nhau trước pháp lụât, nhưng thành phần kinh

tế Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

Việc hoàn thiện chế độ HĐKT, phải thể hiện được những nguyên tắc Hiến địnhnày nhằm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới kinh tế của Đảng

2 Đảm bảo các quan hệ kinh tế được thiết lập và thực hiện trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh (đẩy mạnh sản xuất và lưu thông hàng hóa), tự

do hợp đồng.

Trang 18

Tự do kinh doanh là đòi hỏi tất yếu của thị trường, trong Hiến Pháp 1992 thì tự dokinh doanh là một trong những quyền của công dân Để có quyền tự do kinh doanh, phải

có quyền tự do đầu tư, tự do thâm nhập thị trường, tự do quyết định giá, tự do thiết lậpcác quan hệ HĐKT…, điều đó có nghĩa tự do hợp đồng là một nội dung quan trọng của

tự do kinh doanh

Để chế định HĐKT thực sự phù hợp với cơ chế thị trường thì tự do kinh doanh, tự

do hợp đồng phải là nguyên tắc xưyên suốt trong quá trình hoàn thiện pháp luật HĐKT.Tuy nhiên, mọi sự tự do chỉ giới hạn trong khuôn khổ pháp luật, pháp luật HĐKT vừathể hiện nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do hợp đồng, vừa trở thành giới hạn hợp lý cho

sự tự do ấy

3 Đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật (bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp) của các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, đề cao trách nhiệm của các bên tham gia HĐKT, giữ vững trật tự, kỷ cương góp phần đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trong thời kỳ bao cấp, do sự bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế XHCN

và phi XHCN, nó đã kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước đẩy người dân vàocuộc sống khổ cực và vất vả trong một thời gian khá dài

Ngày nay, trước đòi hỏi của xu thế phát triển thời đại các thành phần kinh tế làbình đẳng với nhau trước pháp luật Bình đẳng về tổ chức, về hoạt động sản xuất kinhdoanh, về các quyền và nghĩa vụ trước pháp luật, về khả năng và cơ hội bảo vệ trước cơquan tài phán Vì vậy, pháp luật HĐKT được hoàn thiện phải triệt để thể chế hoánguyên tắc này, đó là một trong những nhân tố góp phần quyết định cho sự thành côngcủa kinh tế thị trường ở Việt Nam

Pháp luật HĐKT phải thể hiện được những yêu cầu hội nhập của đời sống kinh tếquốc tế Xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế là nội dung trọng tâm của các tiến trìnhquốc tế, để cho bầu không khí hoà bình, hợp tác và phát triển được coi là điều kiện cho

sự phát triển kinh tế và các quan hệ quốc tế, các quốc gia lần lượt điều chỉnh chiến lượccủa mình theo các quan hệ đối tác, ổn định và cân bằng Vấn đề mở rộng hoạt động kinh

tế đối ngoại đã trở thanh quy luật có tính tất yếu khách quan đối với tất cả các nước

Trang 19

Nhiều nước trên thế giới đã trở thành thành viên của các hiệp định quốc tế về mua bánquốc tế, vận tải biển, hàng không, đường sắt, các quan hệ tín dụng thanh toán quốc tế.Công nhận và thực hiện các điều ước quốc tế đã tham gia, các quốc gia phải tự hoànthiện pháp luật HĐKT của mình để nó không mâu thuẫn với pháp luật quốc tế.

Việt Nam cũng thế, nhất là khi chúng ta đã tham gia tổ chức ASEAN, tổ chứcthương mại quốc tế WTO Hội nhập thì hoàn thiện pháp luật HĐKT phải tính đến xu thếphát triển cơ bản của pháp luật hợp đồng trong giai đoạn hiện nay, đó là sự quốc tế hoápháp luật hợp đồng, tăng ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài đến sự phát triển của hợpđồng trong nước, làm cho pháp luật hợp đồng Việt Nam có sự tương đồng với pháp luậthợp đồng các nước, tạo sự thuận tiện trong giao dịch quốc tế Đặc biệt trong việc sửdụng pháp luật HĐKT để điều chỉnh những quan hệ HĐKT có yếu tố nước ngoài

Chương II: Pháp lệnh HĐKT hiện hành - Nội dung cơ bản - Những

vấn đề còn tồn tại và những kiến nghị đề xuất.

I Khái quát chung về thực trạng pháp luật HĐKT hiện hành.

Xu thế phát triển kinh tế hiện nay là toàn cầu hóa Toàn cầu hoá là sản phẩm củavăn minh nhân loại, nó là cơ hội để mọi quốc gia tự nguyện đón nhận, tự nguyện hộinhập và góp sức mình thúc đẩy toàn cầu hoá Toàn cầu hoá kinh tế là những mối quan

hệ kinh tế vượt qua biên giới quốc gia, vượt tới quy mô toàn thế giới, đạt trình độ vàchất lượng mới

Kinh tế thị trường hiện nay với nhiều hình thức, nhiều mức độ khác nhau lan trànkhắp toàn cầu, kéo theo nó là sự tăng cường tự do hoá kinh tế và xu thế vừa hợp tác vừacạnh tranh, trong một nền kinh tế thế giới đang hướng tới kinh tế tri thức Các mối quan

hệ kinh tế ngày càng mở rộng và vươn đến toàn diện chứ không chỉ hạn chế trong lĩnhvực thương mại - xuất nhập khẩu

Kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ kéo theo sự tồn tại và phát triển của nhiềuthành phần kinh tế khác nhau Sự vận động của các thành phần kinh tế với nguyên tắc tự

do kinh doanh đã tạo ra thành phần chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế hết sức đa

Trang 20

dạng và phong phú Đó là những doanh nghiệp cực lớn, lớn, vừa, nhỏ và cực nhỏ (đếntừng cá nhân), từ doanh nghiệp tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp đầu tư, doanh nghiệpsản xuất đến doanh nghiệp xây dựng, doanh nghiệp vận tải, doanh nghiệp thương mại,doanh nghiệp dịch vụ các loại Chính vì vậy, quan hệ HĐKT trong kinh tế thị trườngcũng trở nên rất đa dạng Ở Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nước, các hợp tác xã, các

tổ chức kinh tế XHCN đã nhường chỗ cho sự đa dạng của các chủ thể kinh doanh thuộcmọi thành phần kinh tế Tinh đa chủ thể làm nảy sinh tính đa lợi ích trong quan hệ hợpđồng Các chủ thể trong hợp đồng đại diện cho những lợi ích khác nhau cùng cạnhtranh, cùng hợp tác với nhau và lợi nhuận là mục đích mà họ cùng tìm kiếm

Kinh tế thị trường không những làm thay đổi yếu tố chủ thể của HĐKT mà cònlàm cho tính chất quan hệ HĐKT có những thay đổi cơ bản:

Thay cho các mệnh lệnh từ cơ quan quản lý cấp trên, ngày nay nhu cầu thịtrường trở thành yếu tố quyết định việc hình thành quan hệ hợp đồng

Nghĩa vụ ký kết HĐKT được thay bằng quyền tự do ký kết của các chủthể

Tính kế hoách không còn là đặc trưng cơ bản của HĐKT nữa, HĐKTđược hình thành căn cứ vào nhu cầu nội tại của bản thân các chủ thể kinh doanh

HĐKT bây giờ mới thực sự đúng nghĩa hợp đồng

Sau hơn mười năm đổi mới, khi nền kinh tế thị trường được hình thành và pháttriển một cách mạnh mẽ thì pháp luật HĐKT đã bộc lộ những hạn chế của nó:

- Nhiều quy phạm trong pháp luật HĐKT không rõ ràng, độ chính xác thấp dẫn đếnkhó thực hiện một cách đồng nhất

- Nhiều quy phạm trong pháp luật mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với thực tế, mâuthuẫn với các văn bản khác, làm giảm đáng kể hiệu lực điều chỉnh của pháp lệnhHĐKT

- Pháp luật HĐKT ban hành trước pháp luật hợp đồng Dân Sự (1991), như vậy, phápluật HĐKT không được xây dựng trên nền tảng của pháp luật Dân Sự Điều đó tráivới logic khoa học (pháp luật Dân Sự luôn là nền tảng, là cái gốc của pháp luật

Trang 21

kinh tế) Vì vậy, khi bộ luật Dân Sự được ban hành và có hiệu lực (1/7/1996) thìtồn tại của pháp luật HĐKT càng bộc lộ rõ nét.

Khi các quan hệ hàng hoá – tiền tệ bao trùm lên toàn bộ các quan hệ kinh tế thìranh giới giữa HĐKT và hợp đồng Dân Sự nay không còn tách bạch, rõ ràng như thời

kỳ bao cấp Với sự thay đổi đó, hiện nay có nhiều quan điểm chưa thống nhất trong việcquyết định để tồn tại hay không tồn tại pháp luật HĐKT:

Quan điểm 1: Sửa đổi pháp lệnh HĐKT

Quan điểm 2: Bỏ pháp luật HĐKT, mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật ThươngMại để thay thế pháp luật HĐKT

Quan điểm 3: Bỏ pháp luật HĐKT và sử dụng bộ luật Dân Sự và luật ThươngMại để điều chỉnh các quan hệ HĐKT

Từ những phần phân tích ở trên cho thấy:

Quan điểm 3 là không thể được vì luật Thương Mại có phạm vi điều chỉnhrất hẹp, bộ luật Dân Sự lại quy định quá chung chung trong khi các quan hệ HĐKT lại

vô cùng phức tạp, nhất là trong thời gian gần đây khi xu thế phát triển kinh tế mới làtoàn cầu hoá và hội nhập

Quan điểm 2 có thể là một hướng đi có triển vọng, mở rộng phạm vi điềuchỉnh của luật Thương Mại (có nghĩa phải hiểu thương mại là kinh doanh) sang điềuchỉnh cả các quan hệ HĐKT Nhưng việc điều chỉnh luật Thương Mại phải có thời gian,phải có sự nghiên cứu tỉ mỉ và chi tiết trong khi đó pháp luật HĐKT cần sửa đổi để đápứng nhu cầu trước mắt

Vậy theo tôi, quan điểm 1 là hợp lý, cần sửa đổi những hạn chế trong pháp luậtHĐKT để đáp ứng nhu cầu thực tiễn Mặt khác trong bộ luật Dân Sự đã quy định kháđầy đủ và hợp lý về hợp đồng Dân Sự, thì việc hoàn thiện pháp luật HĐKT không thểkhông tính đến sự loại trừ các mâu thuẫn với bộ luật Dân Sự

II Một số nội dung trong pháp luật HĐKT hiện hành – Những vấn đề tồn tại và những kiến nghị đề xuất.

1 Khái niệm về HĐKT.

Trang 22

Điều 1 pháp lệnh HĐKT ghi rõ “ HĐKT là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệugiao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá,dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mụcđích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng vàthực hiện kế hoạch của mình”

Một điều dễ nhận thấy, là khái niệm HĐKT quy định trong điều 1 nghị định54/CP (10/3/1975) vẫn còn nhiều hạn chế về kỹ thuật lập pháp và nội dung của kháiniệm:

+) Xét về mặt lập pháp: Khái niệm trên xây dựng không đáp ứng được yêu cầucủa một khái niệm khoa học, không có tính khái quát, dài dòng nhưng không chính xác

và đầy đủ

+) Xét về mặt nội dung: Theo khái niệm trên thì HĐKT có những đặc trưng cơbản:

- HĐKT là sự thoả thuận tự nguyện giữa các bên chủ thể

- Việc ký kết hợp đồng là nhằm mục đích kinh doanh

- Hình thức pháp lý của HĐKT là văn bản tài liệu giao dịch

a HĐKT là sự thoả thuận tự nguyện giữa các bên chủ thể.

Trong cơ chế mới – cơ chế thị trường HĐKT trở về với đúng bản chất của nó – là

sư thoả thuận tư nguyện , là sự thống nhất ý chí dự định “ký kết hơp đồng kinh tế làquyền của các đơn vị kinh tế”, ”Hợp đồng kinh tế được kí kết theo nguyên tắc tựnguyện, bình đẳng, cùng có lợi, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ…” Thoả thuận giữacác chủ thể hợp đồng đạt được dựa vào cơ sơ bàn bạc, thương lượng, phù hợp với phápluật và đạo đức XHCN

Việt Nam phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, Nhà nước khôngcan thiệp “thô bạo” vào hợp đồng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng không

vì thế mà hợp đồng sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp không có sự quản lý củaNhà nước Yếu tố kế hoạch không phải là yếu tố trọng tâm, nhưng cũng không thể thiếutrong quan hệ HĐKT Tuy nhiên, về cơ bản thì HĐKT vẫn là sự thoả thuận tự nguyệngiữa các chủ thể kinh doanh

Trang 23

b Về mục đích của HĐKT.

Điều 1: Pháp luật HĐKT nêu: Thoả thuận trong HĐKT về công việc sản xuất,trao đổi, hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu những tiến bộ KHKT và các thoả thuận khác cómục đích kinh doanh, kiếm tìm lợi nhuận Mục đích này là đòi hỏi tất yếu của kinh tế thịtrường, vì lẽ đó mà có một số quan điểm cho rằng trong kinh tế thị trường HĐKT nênđược thay bằng hợp hợp đồng kinh doanh Tuy vậy, vấn đề cần bàn là mục đích kinhdoanh trong HĐKT cần phải có ở một bên hay phải có cả hai bên chủ thể trong hợpđồng? Câu hỏi này không tìm thấy một lời giải đáp chính xác qua khái niệm HĐKT nêutại điều 1 pháp lệnh HĐKT Và vì sự “mập mờ” này, cho đến nay nhiều hợp đồng được

kí kết giữa các chủ thể kinh doanh, nhưng khó xác định được nó là HĐKT hay hợp đồngDân Sự nên khó xác định luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng nhất là khi xảy ra tranhchấp

c Về hình thức của HĐKT

Hình thức của HĐKT là phương thức biểu hiện nội dung của hợp đồng theo điều

1 và điều 11 của pháp lệnh HĐKT thì “HĐKT được kí kết bằng văn bản, tài liệu giaodịch, công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng”

Như vậy do nhận thức được tầm quan trọng của các giao dịch kinh tế, pháp lệnhHĐKT không thừa nhận bất cứ hình thức nào của hợp đồng ngoài những thoả thuậnbằng văn bản vì:

Văn bản HĐKT là hình thức pháp lý ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên chủthể tham gia một cách rõ ràng nhất, tránh mọi tranh chấp sau này về quyền và nghĩa vụgiữa các bên

Văn bản HĐKT là cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp

Văn bản HĐ là hình thức pháp lý để cơ quan nhà nước tiến hành kiểm tra tínhhợp lệ, hợp pháp của HĐKT

Nói tóm lại, dấu hiệu cơ bản để phân biệt 2 ngành luật là HĐKT và hợp đồngDân Sự là: Hình thức và mục đích của hợp đồng

HĐKT là những sự thoả thuận bằng văn bản, nhằm mục đích kinh doanh

Trang 24

Hợp đồng Dõn Sự là sự thoả thuận bằng lời núi, nhằm mục đớch sinh hoạt và tiờudựng.

Tuy nhiờn, cho đến nay khi mà kinh tế hàng hoỏ phỏt triển mạnh, hoạt động kinhdoanh của cỏc chủ thể đũi hỏi phải năng động, linh hoạt, nhanh chúng, chớp thời cơ khi

mà cỏc phương tiện truyền tin cú những bước phỏt triển mạnh, nhanh và rất xa so vớithời kỳ trước (fax, tel, internet, …) thỡ cỏc quy định hỡnh thức HĐKT như trờn là quỏcứng nhắc, khú thực hiện, thậm chớ cũn gõy cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp

Bờn cạnh đú,thực tiễn cho thấy việc phõn định HĐKT và hợp đồng dõn Sự dựavào 2 dấu hiệu trờn bộc lộ nhiều nhược điểm, rất khú cú thể phõn định rạch rũi Mặtkhỏc, đối với mọi văn bản phỏp luật, việc xỏc định về quan niệm xó hội thuộc đối tượngđiều chỉnh của văn bản đú bao giờ cũng là vấn đề quan trọng bậc nhất Vỡ vậy, xỏc địnhranh giới điều chỉnh của phỏp lệnh HĐKT đối với một số loại hợp đồng ( trong số nhiềuhợp đồng khỏc đang tồn tại ở nước ta) là vấn đề quan trọng Hoàn thiện phỏp lệnhHĐKT cú thành cụng hay khụng trước hết là phải xỏc định được 1 khỏi niệm HĐKTkhoa học và phự hợp

Để xõy dựng khỏi niệm này, theo tụi cần giải quyết 3 vấn đề:

- Hỡnh thức của HĐKT là như thế nào?

- Chủ thể được phộp tham gia ký kết HĐKT?

- Mục đớch kinh doanh trong hợp đồng cần phải cú ở một bờn hay phải cú ở hai bờnchủ thể trong hợp đồng?

Thứ nhất, hỡnh thức HĐKT

Nói tóm lại, dấu hiệu cơ bản để phân biệt 2 ng nh luật HĐKT và h p ành luật HĐKT và hợp đồng ợp đồng đồngngDõn S là: Hình thức và mục đích của hợp đồng.ự là: Hình thức và mục đích của hợp đồng

HĐKT là sự thoả thuận bằng văn bản, nhằm mục đích kinh doanh

H p ợp đồng đồngng Dõn S là sự thoả thuận bằng lời nói, nhằm mục đích sinh hoạt và tiêuự là: Hình thức và mục đích của hợp đồng.dùng

Tuy nhiên, cho đến nay, khi mà kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, hợp đồng kinhdoanh của các chủ thể đòi hỏi phải năng động, linh hoạt, nhanh chóng chớp thời cơ, khi

mà phơng tiện truyền thông tin có bớc phát triển mạnh, nhanh và r t xa so với thời kỳ trất xa so với thời kỳ tr

Trang 25

-ớc (fax, tel, internet ) thì các quy định hình thức HĐKT nh trên là quá cứng nhắc, khóthực hiện, thậm chí còn gây cản trở cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, thực tiễn cho thấy việc phân định HĐKT và h p ợp đồng đồngng Dõn S dựaự là: Hình thức và mục đích của hợp đồng.vào 2 dấu hiệu trên còn bộc lộ nhiều nhợc điểm, rất khó có thể phân định rạch ròi Mặtkhác, đối với mọi văn bản pháp luật, việc xác định khái niệm về quan hệ xã hội thuộc

đối tợng điều chỉnh của văn bản đó bao giờ cũng l vấn đề quan trọng bậc nhất Vỡ vậy,ành luật HĐKT và hợp đồngxác định ranh giới điều chỉnh của pháp lệnh HĐKT đối với một số loại hợp đồng (trong

số nhiều hợp đồng khác tồn tại ở nớc ta) là vấn đề quan trọng Hoàn thiện pháp luậtHĐKT thành công hay không trước hết là phải xác định đc hết l phải xác định đành luật HĐKT và hợp đồng ợc một khái niệm HĐKTkhoa học và phù hợp

Để xác định đợc khái niệm này, theo tôi cần giải quyết ba vấn đề sau:

Trong ký kết HĐKT cú những trường hợp xảy ra như sau: 2 doanh nghiệp là bạnhàng lõu năm của nhau thoả thuận với nhau về một hợp đồng hoàn toàn hợp phỏp,nhưng chỉ thoả thuận với nhau bằng lời núi và họ đó thực hiện tốt mọi cam kết HĐKTkết thỳc, khụng ai vi phạm, cú lợi cho cả 2 bờn và cú lợi cho Nhà nướ , xó hội

Vậy hợp đồng trờn là hợp đồng gỡ? Nú khụng phải là hợp đồng dõn Sự vỡ mụccủa 2 chủ thể là kinh doanh, khụng phải là HĐKT vỡ khụng thoả món hỡnh thức ký kết làvăn bản Nhung trong điều 8 phỏp lệnh HĐKT, HĐKT khụng ký dưới hỡnh thức văn bản

là HĐKT vụ hiệu, vậy HĐKT trờn mặc dự đạt được thoả thuận hợp phỏp, nội dung đóthực hiện xong lại bị xỏc nhận là HĐKT vụ hiệu và sử lý

Trờn thực tế, những hợp đồng vỡ mục đớch kinh doanh nhưng lại thoả thuận bằngmiệng đều được thừa nhận là hợp đồnh Dõn Sự cú hiệu lực và nếu cú tranh chấp thỡ giải

Trang 26

quyết tại toà dân sự Như vậy, chúng ta đơn thuần lấy hình thức để quy định một vấn đề

có tính bản chất, lấy hình thức của hợp đồng để quyết định là HĐKT hay hợp đồng Dân

Sự, đó là điều thiếu khoa học

Mặt khác, chúng ta thừa nhận những thoả thuận về kinh doanh giữa các doanhnghiệp có giá trị pháp lý thực hiện nhưng khi có tranh chấp lại lựa chọn cơ quan xét xửkhông đúng với đặc thù của hoạt động sản xuất kinh doanh nên không thể bảo vệ quyềnlợi tốt nhất cho các chủ thể kinh doanh trong hợp đồng

Vì vậy, để mọi người kinh doanh áp dụng pháp luật một cách dễ dàng thì HĐKTsửa đổi cần quy định hình thức trong HĐKT một cách mềm dẻo hơn HĐKT có thểđược ký bằng văn bản (văn bản, tài liệu giao dịch) và thoả thuận bằng lời Tuy nhiên, đểtránh tuỳ tiện, pháp luật cần quy định một số loại HĐKT phải giao kết bằng văn bản, cóxác định của cơ quan công chứng Nhà nước (nếu không sẽ vô hiệu)

Thứ hai, chủ thể được phép tham gia ký kết hợp đồng Các chủ thể kinh doanhcần được tham gia ký kết hợp đồng, nếu một bên không phải là chủ thể kinh doanh phải

có tư cách pháp nhân

Thứ ba, mục đích của HĐKT Một trong những nhược điểm trầm trọng trongkhái niệm HĐKT được nêu trong điều 1 của pháp lệnh là không xác định được một cáchdứt khoát về mục đích kinh doanh trong hợp đồng cần có ở một bên hay phải có ở cả haibên chủ thể trong hợp đồng Sự không rõ ràng này tất yếu dẫn đến tranh cãi giữa haiquan điểm sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng trong HĐKT chỉ cần có một chủ thể có mụcđích kinh doanh là đủ

Quan điểm thứ hai cho rằng mục đích kinh doanh phải xuất hiện ở cả haibên chủ thể thì hợp đồng đó mới được gọi là HDKT

Ngày 21/4/1991 Nhà nước ban hành pháp lệnh HĐKT Tại đtều 1 pháp lệnh chỉ

rõ “Hợp đồng Dân Sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứtquyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, tặng, cho, làm hoặc không làm

Trang 27

việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên đáp ứng nhu cầusinh hoạt tiêu dùng.

Vậy pháp luật hợp đồng Dân Sự đã nêu rõ khi có ít nhất một bên trong hợp đồng

ký kết hợp đồng có mục đích kinh doanh, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thì hợp đồng đó làhợp đồng Dân Sự Vậy, đương nhiên ta có thể suy rằng một hợp đồng được coi làHĐKT thì mục đích kinh doanh phải xuất hiện ở hai bên chủ thể của hợp đồng

Tuy nhiên việc dựa vào mục đích của các chủ thể kinh doanh để xác định HĐKThay hợp đồng Dân Sự thực tế có rất nhiều vấn đề phức tạp và cần phải giải quyết rõràng, triệt để Ví dụ như: Một công ty xây dựng A ký hợp đồng với công ty may B vềviệc xây dựng cho công ty B một ngôi nhà phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của công nhân

họ Hay công ty xe buyt Hà Nội ký hợp đồng đưa đón công nhân công ty C (đó từ lúc 7h

và đưa về lúc 17h)

Qua hai ví dụ trên ta thấy công ty A và công ty xe buýt Hà Nội ký hợp đồngnhằm mục đích kinh doanh còn công ty B, C ký hợp đồng nhằm mục đích phục vụ côngnhân của họ Vậy, hai hợp đồng trên là hợp đồng Dân Sự hay HĐKT Có hai quan điểmtrái ngược nhau về hai hợp đồng trên:

Quan điểm 1: Vì chỉ có một công ty có mục đích kinh doanh (một bên chủ thể kýhợp đồng có mục đích kinh doanh) nên hai hợp đồng trên là hợp đồng Dân Sự

Quan điểm 2: Mặc dù công ty B ký hợp đồng để xây dựng nhà cho công nhân sửdụng, công ty may C ký hợp đồng để đưa đón công nhân này, nhưng vì hai công ty kinhdoanh B và công ty may C là những chủ thể kinh doanh nên mọi hợp đồng họ ký nhằmphục vụ cho hoạt động kinh doanh (công ty B: công nhân có nhà ở, họ yên tâm trongcuộc sống vì vậy họ sẽ làm việc với năng suất lao động cao, còn công ty may C: côngnhân đi làm đúng giờ và an toàn, nó sẽ ảnh hưởng đến năng suất lao động), dù là trựctiếp hay gián tiếp đều phải được suy đoán là có mục đích kinh doanh và hai hợp đồngtrên gọi là hai HĐKT

Vậy qua phân tích ở trên, tôi rút ra kết luận khi xây dựng khái niệm HĐKT cầnlưu ý mấy vấn đề sau:

Trang 28

- Về chủ thể: Mọi chủ thể có đăng ký kinh doanh (nếu một bên chủ thể hợp đồngkhông là chủ thể kinh doanh) thì phải là pháp nhân (đảm bảo tính ổn định của quan hệhợp đồng).

- Về mục đích: Chủ thể là cá nhân, tổ chức được phép kinh doanh nên mọi hoạtđộng ký kết nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ hoạt động của chúng, đều phải đượcsuy đoán là có mục đích kinh doanh và coi hợp đồng đã ký là HĐKT

- Việc ký kết HĐKT giữa các chủ thể kinh doanh không nhất thiết phải bằng văn bản (có thể bằng lời nói), trừ một trừ một số trường hợp đặc biệt – pháp luật sẽ quy địnhriêng

Với tinh thần đó, HĐKT có thể được khái niệm như sau:

HĐKT là sự thoả thuận giữa các chủ thể kinh doanh hoặc ít nhất một bên chủ thểkinh doanh với một bên chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân về việc xác lập, thayđổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ trong các hoạt động với mục đích kinh doanh (trựctiếp hoặc gián tiếp)

2 Chủ thể của HĐKT.

Điều 2 pháp lệnh HĐKT quy định HĐKT được ký kết giữa các bên sauđây:

- Pháp nhân với pháp nhân

- Pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.Theo quy định trên, chủ thể của HĐKT một bên bao giờ cũng phải là pháp nhân

và bên kia có thể là pháp nhân hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh Điều 94 bộ luậtDân Sự quy định - Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiệnsau đây:

- Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng

Ngày đăng: 19/07/2023, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Pháp lệnh HĐKT (ban hanh 15/9/1989).2. Bộ luật Dân Sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân Sự
Năm: 1989
5. Nghị định 17/HĐBT (16/1/1990) của hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết ban hành pháp lệnh HĐKT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 17/HĐBT
Năm: 1990
6. Quyết định 18/HĐBT (16/1/1990) của hội đồng bộ trưởng về việc ký kết và thực hiện HĐKT theo chỉ tiêu pháp lệnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 18/HĐBT
Nhà XB: Hội đồng Bộ trưởng
Năm: 1990
7. Giáo trình luật kinh tế - trường Đại Học Luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật kinh tế
Nhà XB: trường Đại Học Luật
8. Luận án thạc sỹ luật học của cô Trịnh thị Sâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án thạc sỹ luật học
Tác giả: Trịnh thị Sâm
9. Dự thảo pháp lệnh HĐKT sửa đổi lần VI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo pháp lệnh HĐKT sửa đổi lần VI
10. Tài liệu “Xu hướng phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w