luận văn từ bái toán giải phương trình tới bài toán quỹ tích
Trang 1-
NGUYỄN VĂN CHÍNH
TỪ BÀI TOÁN GIẢI PHƯƠNG TRÌNH
TỚI BÀI TOÁN QUỸ TÍCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ:PHƯƠNG PHÁP TOÁN SƠ CẤP
Thái nguyên – năm 2010
Trang 2-
NGUYỄN VĂN CHÍNH
TỪ BÀI TOÁN GIẢI PHƯƠNG TRÌNH
TỚI BÀI TOÁN QUỸ TÍCH
Chuyên ngành:phương pháp toán sơ cấp
Mã số: 604640
LUẬN VĂN THẠC SĨ:PHƯƠNG PHÁP TOÁN SƠ CẤP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS.Nguyễn Minh Hà
Trang 3-
NGUYỄN VĂN CHÍNH
TỪ BÀI TOÁN GIẢI PHƯƠNG TRÌNH
TỚI BÀI TOÁN QUỸ TÍCH
Chuyên ngành:phương pháp toán sơ cấp
Mã số: 604640
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ PHƯƠNG PHÁP TOÁN SƠ CẤP
Thái nguyên – năm 2010
Trang 4Người hướng dẫn khoa học:TS.Nguyễn Minh Hà
Phản biện 1: ……… Phản biện 2: ………
Luận văn được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn họp tại :
Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên Vào hồi ……giờ … ngày … tháng … năm 2010
Có thể tìm hiểu luận văn tại trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên
và thư viện trường Đại học Khoa học
Trang 5Lời nói đầu 01
Chương 1 Hai bài toán một bản chất 03
1.1 Bài toán tìm đối tượng thoả mãn điều kiện 03
1.2 Phương trình và bài toán giải phương trình 05
1.2.3 Ba phương pháp giải phương trình 06 1.2.4 Phương trình hệ quả, phương trình tương đương 09 1.3 Quỹ tích và bài toán tìm quỹ tích 12
1.3.2 Thuận-đảo, biến đổi hệ quả và thử lại 13 1.3.3 Thuận đảo đồng thời ,biến đổi tương đương 21 1.3.4 Đảo-phản đảo, đoán nhận và khẳng định 26
Chương 2 Dự đoán quỹ tích và giới hạn quỹ tích 32 2.1 Suy luận toán học và suy luận có lí 32
Trang 6
Bản luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS.Nguyễn Minh Hà.Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy về công tác giảng dạy cùng với sự hướng dẫn tận tình trong thời gian tác giả học cao học và hoàn thành luận văn
Trong quá trình học tập, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và giảng dạy nhiệt tình của GS.TSKH.Hà Huy Khoái, GS.TSKH.Nguyễn Văn Mậu, PGS.TS Nông Quốc Chinh, PGS.TS.Lê Thị Thanh Nhàn, TS.Nguyễn Thị Thu Thuỷ, cùng nhiều thầy cô công tác tại các trường Đại học Thái Nguyên
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo Trường ĐH Khoa học - Đại học Thái Nguyên
Tác giả xin chân thành cảm ơn BGH trường THPT Yên Dũng số I, tỉnh Bắc Giang,đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tác giả học cao học
Tác giả xin chân thành cảm ơn các anh chị, các bạn học viên cao học, bạn
bè, đồng nghiệp,đã giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Luận văn này sẽ không được hoàn thành nếu thiếu sự thông cảm, chia sẻ và
sự động viên kịp thời của gia đình Xin gửi tới gia đình lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 09 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Văn Chính
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Bài toán tìm quỹ tích có nguồn gốc từ bài toán tìm quỹ đạo chuyển động của một điểm trong vật lí Nó là một trong ba bài toán tìm đối tượng thoả mãn
điều kiện cơ bản của chương trình toán phổ thông: bài toán giải phương trình,
bài toán quỹ tích, bài toán dựng hình Dạy cho học sinh hiểu được bản chất logic
của bài toán tìm quỹ tích là vấn đề khó và càng khó hơn khi mà trong lời giải bài toán quỹ tích này, trong tài liệu liên quan tới quỹ tích kia xuất hiện hai khái
niệm: dự đoán quỹ tích, giới hạn quỹ tích, hai khái niệm mà cho đến nay vẫn là
chủ đề tranh cãi cho cả những người làm toán sơ cấp chuyên nghiệp
Làm thế nào để học sinh phổ thông có thể hiểu được bản chất logic của bài toán tìm quỹ tích? Làm thế nào để học sinh hiểu được vai trò của các công đoạn
dự đoán quỹ tích, giới hạn quỹ tích trong lời giải bài toán tìm quỹ tích Đó là những câu hỏi mà tôi đã trăn trở tìm kiếm câu trả lời trong nhiều năm qua Những câu hỏi này chính là lí do để tôi chọn cho luận văn thạc sĩ của mình đề tài:
“Từ bài toán giải phương tới bài toán quỹ tích”
Luận văn này bao gồm hai chương:
Chương 1 Hai bài toán, một bản chất
Tác giả trực tiếp khẳng định rằng bài toán giải phương trình và bài toán tìm quỹ tích có cùng bản chất logic Trên cơ sở đó đề xuất phương án dạy bài toán quỹ tích trong sự so sánh với bài toán giải phương trình, bài toán quen thuộc hơn và dễ hiểu hơn đối với học sinh
Chương 2 Dự đoán quỹ tích và giới hạn quỹ tích
Bằng cách hiểu đúng vai trò của công đoạn dự đoán quỹ tích và công đoạn giới hạn quỹ tích, tác giả gián tiếp khẳng định rằng bài toán giải phương trình và bài toán tìm quỹ tích có cùng bản chất logic
Trang 8Dự đoán quỹ tích là công đoạn quan trọng trong quá trình giải bài toán tìm quỹ tích Trong công đoạn dự đoán quỹ tích người làm toán không chỉ sử dụng các phép suy luận toán học mà còn có thể sử dụng các phép suy luận có lí Do đó công đoạn dự đoán quỹ tích chỉ được thực hiện trên giấy nháp của người làm toán
Công đoạn giới hạn quỹ tích xét cho cùng chỉ là một bộ phận của phần thuận mà ở đó lẽ ra phải sử dụng các phép suy luận toán học thì không ít người làm toán lại sử dụng các phép suy luận có lí Nói cách khác, không có công đoạn giới hạn quỹ tích
Trang 9CHƯƠNG 1
HAI BÀI TOÁN, MỘT BẢN CHẤT 1.1 Bài toán tìm đối tượng thoả mãn điều kiện
Bài toán tìm đối tượng thoả mãn điều kiện là bài toán quen thuộc với tất cả
chúng ta Về hình thức, nó được phát biểu như sau
Tìm tất cả các đối tượng A( ) a
Kí hiệu A( ) a biểu thị đối tượng A có tính chất a
Cùng với kí hiệu A( ), a ta còn dùng kí hiệu A( ) a để biểu thị đối tượng A không có tính chất a
Các kí hiệu A( ) a và A( ) a có hiệu lực trong toàn bộ luận văn này
Trong bài toán tìm đối tượng thoả mãn điều kiện, thuật ngữ “tìm” cần phải hiểu là “tìm hết” chứ không phải là “tìm được” Nói một cách chính xác, tìm tập hợp {A A( ) a }
Bài toán tìm đối tượng thoả mãn điều kiện chỉ có ba phương pháp giải,
được mô hình hoá như sau
Phương pháp 1, biến đổi hệ quả và thử lại*
Bước 1, biến đổi hệ quả* A( ) a Þ A Î T
Bước 2, thử lại* A Î T Þ A( ) a
Phương pháp 2, biến đổi tương đương* A( ) a Û A Î T
Chú ý:
Về phương diện logic, phương pháp biến đổi tương đương cũng chính là
phương pháp biến đổi hệ quả và thử lại Tuy nhiên, trong lời giải mỗi bài toán tìm
kiếm đối tượng thoả mãn điều kiện cụ thể, sử dụng phương pháp nào trong hai
phương pháp trên là vấn đề không đơn giản đòi hỏi người giải toán phải có kĩ năng
Trang 10Cần phải nói thêm rằng, để giải bài toán tìm đối tượng thoả mãn điều kiện,
về phương diện lôgic, song hành với các phương pháp 1, 3 còn có hai phương pháp giải khác, được mô hình hoá như sau
Phương pháp 1‟, bao gồm hai bước
Trang 111.2 Phương trình và bài toán giải phương trình
1.2.1 Đẳng thức
Hai biểu thức nối với nhau bởi một dấu bằng được gọi là đẳng thức
Mỗi một biểu thức nói trong định nghĩa trên được gọi là một vế của đẳng thức
Dưới đây là một vài ví dụ
2 =2 (đẳng thức đúng)
1 = 2 (đẳng thức sai)
5x + 1 = 5 (đẳng thức, có thể đúng hoặc sai tuỳ theo giá trị của biến x) 3x2 +xy3 = 5zy +z4 (đẳng thức có thể đúng hoặc sai tuỳ theo giá trị của biến x,y,z)
Dưới đây là một vài ví dụ
2 = 2 (phương trình nhận mọi giá trị của ẩn làm nghiệm)
1 = 2 (phương trình vô nghiệm)
5x + 1 = 5 (phương trình (ẩn x) có duy nhất nghiệm x = 4
5)
3x2 +xy3 = 5zy +z4 (phương trình ba ẩn x, y, z phương trình này có nhiều nghiệm, (x,y,z)=(0,0,0) là một nghiệm của nó)
Trang 12Trừ một số loại phương trình đã được giới thiệu trong chương trình toán phổ thông, nhìn chung việc tìm các nghiệm của một phương trình là không đơn giản
1.2.3 Ba phương pháp giải phương trình
Giải phương trình là tìm tất cả các giá trị của ẩn sao cho với các giá trị đó phương trình trở thành đẳng thức đúng
Theo định nghĩa trên bài toán giải phương trình là một bài toán tìm đối tượng thoả mãn điều kiện Do đó để giải một phương trình chỉ có thể sử dụng
một trong ba phương pháp sau: biến đổi hệ quả và thử lại, biến đối tương đương,
đoán nhận và khẳng định
Dưới đây là một vài ví dụ
Ví dụ 1, biến đổi hệ quả và thử lại
Giải phương trình sau
x x
Lời giải
Bước 1, biến đổi hệ quả
Giả sử x0 là nghiệm của phương trình, ta có
0
5 x 3
é = ê ê
ê = êë
là hai đẳng thúc đúng
Bước 2, thử lại
Vì 1 - 2 = ¹ - = 1 1 2.1 - 3 nên x 0 = 1 không phải là nghiệm của phương
Trang 13Ví dụ 2, biến đổi tương đương
Giải phương trình sau
Trang 14Kết luận Phương trình có nghiệm 3 2
Trang 15Dựa vào bảng biến thiên ta nhận thấy phương trình f(x) = 0 có nhiều nhất
hai nghiệm trên ( 1; )
1.2.4 Phương trình hệ quả, phương trình tương đương
Cách trình bày lời giải các ví dụ 1, ví dụ 2 trong mục 1.2.3 là cách trình bày chuẩn khi giải phương trình bằng các phương pháp biến đổi hệ quả và thử lại, phương pháp biến đổi tương đương Nhưng cách trình bày đó quá rườm rà
Trang 16Để khắc phục tình trạng này, người ta đưa ra hai khái niệm: phương trình hệ quả, phương trình tương đương
Để cho đơn giản, ta chỉ giới thiệu khái niệm phương trình hệ quả, phương trình tương đương đối với phương trình một ẩn Đối với phương trình nhiều ẩn,
ta có định nghĩa tương tự
Định nghĩa 1 Nếu tập hợp nghiệm của phương trình f(x) = g(x) nằm trong tập hợp nghiệm của phương trình f1(x) = g1(x) thì phương trình f1(x) = g1(x) được gọi là phương trình hệ quả của phương trình f(x) = g(x), kí hiệu f(x) = g(x)
Lời giải đơn giản cho ví dụ 1
Giải phương trình sau
Trang 17x 1 5 x 3
é = ê ê
ê = êë
+ Khi giải phương trình bằng phương pháp biến đổi hệ quả và thử lại chỉ
được dùng dấu hệ quả (Þ )
+ Phương pháp biến đổi hệ quả và thử lại thực sự ưu việt khi giải những phương trình vô nghiệm (không có nghiệm nên không có bước thử lại)
Lời giải đơn giản cho ví dụ 2
Giải phương trình sau
Û ìï
ïî
Trang 18x 2
í ³ ïï
ïï é
Û ì ê ïï êï = +
= ê
-ï ë î
Û ê
íê ³ ïïê ìêï = -ïîë
Khi giải phương trình bằng phương pháp biến đổi tương đương chỉ được
dùng dấu tương đương (Û )
1.3 Quỹ tích và bài toán tìm quỹ tích
1.3.1 Cái nhìn tổng quan
Quỹ tích của các điểm M( ) là hình (H) = M( )
Tìm quỹ tích của những điểm M( ) là tìm hình (H) gồm những điểm
Theo thói quen, với bài toán quỹ tích, thay cho các thuật ngữ biến đổi hệ
quả và thử lại, biến đối tương đương, đoán nhận và khẳng định người ta dùng
các thuật ngữ thuận-đảo, thuận đảo đồng thời, đảo-phản đảo
Trang 19Những lập luận tưởng chừng rất đơn giản trên đây thực ra không hề đơn giản đối với học sinh phổ thông Do đó, cách tốt nhất để học sinh phổ thông hiểu được bản chất logic của bài toán tìm quỹ tích là so sánh các phương pháp giải bài toán tìm quỹ tích với các phương pháp giải bài toán giải phương trình, bài toán có cùng bản chất logic với bài toán tìm quỹ tích nhưng đơn giản và quen thuộc hơn
1.3.2 Thuận-đảo, biến đối hệ quả và thử lại
Phương pháp thuận-đảo là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong khi giải bài toán tìm quỹ tích Với phương pháp thuận-đảo, lời giải bài toán tìm quỹ tích gồm hai phần: thuận, đảo
Thuận: M( ) M (H).
Đảo: M (H) M( )
Về phương diện logic, phần thuận trong lời giải bài toán tìm quỹ tích và bước biến đổi hệ quả trong bài toán giải phương trình có cùng bản chất Khi ta bắt đầu phần thuận với câu „„ giả sử M có tính chất ‟‟ và kết thúc phần thuận với câu „„ vậy M thuộc hình (H) ‟‟ cũng giống như khi ta bắt đầu bước biến đổi hệ quả với câu „„ giả sử x0 là nghiệm của phương trình ‟‟ và kết thúc bước biến đổi hệ quả với câu „„ vậy x0 thuộc tập hợp a , a , 1 2 ‟‟
Tương tự, phần đảo của bài toán tìm quỹ tích và bước thử lại của bài toán giải phương trình có cùng bản chất logic
Tuy nhiên, cũng có những điểm khác biệt trong quá trình thực hành
Khi ta bắt đầu phần đảo với câu „„giả sử M thuộc hình (H) ‟‟ cũng là lúc ta tin chắc rằng kết thúc phần đảo sẽ là câu „„ vậy M có tính chất ‟‟ Ngược lại, khi ta bắt đầu bước thử lại với câu „„ giả sử x0 thuộc tập hợp a , a , 1 2 ‟‟ ta không thể tin chắc rằng kết thúc bước thử lại sẽ là câu „„ vậy x0 là nghiệm của phương trình ‟‟ Nói cách khác, khi giải bài toán quỹ tích bằng phương pháp thuận đảo,
Trang 20người giải toán phải thực hiện phần thuận hoàn chỉnh tới mức hình (H), tập hợp chứa các điểm M có tính chất , chính là tập hợp các điểm M có tính chất Với những người bắt đầu làm quen với bài toán tìm quỹ tích, hiện tượng „„ đáng
ngờ ‟‟ trên thường đem lại cảm giác không cần phải có phần đảo
Cần nói thêm một chút về vần đề không cần phải có phần đảo
Vì bên cạnh phép biến hình f bao giờ cũng có phép biến hình nghịch đảo
f – 1 nên trong những bài toán quỹ tích được giải bằng phương pháp thuận-đảo và
sử dụng công cụ biến hình phần đảo thường được thực hiện khá đơn giản Xin
chú ý phần đảo được thực hiện đơn giản chứ không phải là không cần phải có
phần đảo, sai lầm của khá nhiều người
Các ví dụ dưới đây sẽ là sáng tỏ những nhận định trên
Ví dụ 1 Cho tam giác ABC Các điểm M, N theo thứ tự chạy trên các cạnh AB, AC sao cho AM AN 1.
AB AC Tìm quỹ tích trung điểm I của MN Lời giải
Thuận Giả sử I thoả mãn điều kiện đề bài (h.1)
Lấy P thuộc cạnh BC sao cho MP // AC (1)
Trang 21Lấy M, N thuộc AB, AC sao cho MP // AC ; NP // AB (h.1)
Vì I thuộc đoạn EF nên P thuộc đoạn BC
Do đó M, N theo thứ tự thuộc các đoạn AB, AC (3)
Vì I thuộc đoạn EF nên I là trung điểm của đoạn AP
Từ đó, chú ý rằng AMPN là hình bình hành, suy ra I là trung điểm của đoạn MN (4)
Từ (3) và (4) suy ra I thoả mãn điều kiện đề bài
Kết luận Quỹ tích trung điểm I của MN là đoạn EF
Nhận xét
+ Lời giải trên và lời giải ví dụ 1 trong mục 1.2.3 có cùng bản chất logic + Nếu trong phần thuận không có câu „„Giả sử I thoả mãn điều kiện đề bài ‟‟, lỗi này rất nhiều người mắc, thì học sinh không thể thấy được phương pháp thuận-đảo trong lời giải bài toán tìm quỹ tích và phương pháp biến đổi hệ quả và thử lại trong lời giải bài toán giải phương trình có cùng bản chất logic
Ví dụ 2 Cho đường tròn (O) và hai điểm B, C nằm ngoài (O) Điểm A chạy trên (O) Tìm quỹ tích trọng tâm G của tam giác ABC
Trang 22Lời giải
Gọi M là trung điểm của đoạn BC
Kí hiệu
1 3 3
V , V , e lần lượt là các phép vị tự tâm M tỉ số 1, 3
3 và phép đồng nhất
Gọi (O‟) là ảnh của (O) qua
1 3 M
Đảo Giả sử G thuộc (O) (h.2)
Trang 23Nhận xét
+ Lời giải trên và lời giải ví dụ 1 trong mục 1.2.3 có cùng bản chất logic + Trong phần đảo, nhờ phép vị tự
1 1
(O) sao cho G là trọng tâm tam giác ABC
Ví dụ 3 Cho đường tròn (O) và điểm A nằm trong (O) và khác O Các điểm B,C chạy trên (O) sao cho BAC 90 Tìm quỹ tích trung điểm M của đoạn
BC
Lời giải
Gọi R là bán kính của (O), gọi I là trung điểm của OA (h.3)
Thuận Giả sử M là trung điểm của BC
)
Trang 24
I
M
C O
A
B
(Hình 3)
Đảo Giả sử M thuộc đường tròn (I,
Qua M dựng đường thẳng vuông góc với OM, cắt (O) tại B, C
Theo công thức tính độ dài trung tuyến của tam giác, chú ý rằng
Trang 25Do đó BAC 90
Vậy M thoả mãn điều kiện đề bài
Kết luận Quỹ tích của M là đường tròn (I,
2R OA 2
) nằm trong đường tròn (O) thì không thể chỉ ra sự tồn tại của các điểm B, C, lỗi này rất nhiều người mắc
Ví dụ 4 Cho đường trong (O) Các điểm A, B, C thay đổi trên (O) sao cho tam giác ABC nhọn, tìm quỹ tích trọng tâm của tam giác ABC
Lời giải
Trước hết xin phát biểu không chứng minh một bổ đề quen thuộc
Bổ đề Nếu O, H, G theo thứ tự là tâm đường tròn ngoại tiếp, trực tâm, trọng tâm của tam giác ABC thì G thuộc đoạn OH và OH = 3OG
Trở lại giải ví dụ 4
Gọi R là bán kính của (O)
Thuận Giả sử G là trọng tâm của tam giác ABC (h.4)
G H O A
(Hình 4)
Trang 26Gọi H là trực tâm của tam giác ABC
Vì tam giác ABC nhọn nên H nằm trong tam giác
Từ đó, chú ý rằng A, B, C thuộc (O, R), suy ra H nằm trong (O, R)
Gọi A là giao của tia OG với đường tròn (O, R)
Trên tia AG lấy điểm M sao cho AM 3AG (1).
M
O
(Hình 5)
Do đó đường thẳng qua M vuông góc với OM cắt (O, R) tại hai điểm, kí hiệu là B, C
Trang 27Đương nhiên M là trung điểm của BC (2)
Từ (1) và (2) suy ra G là trọng tâm của tam giác ABC (3)
Do đó O thuộc đoạn AM
Vậy O thuộc tam giác ABC
Điều đó có nghĩa là tam giác ABC nhọn (4)
Từ (3) và (4) suy ra G thoả mãn điều kiện đề bài
Kết luận Quỹ tích trọng tâm tam giác ABC là hình tròn (O,R).
3
Nhận xét
Lời giải trên và lời giải ví dụ 1 trong mục 1.2.3 có cùng bản chất logic
1.3.3 Thuận đảo đồng thời, biến đổi tương đương
M( ) M (H), đó chính là phương pháp thuận đảo đồng thời
Phương pháp thuận đảo đồng thời trong lời giải bài toán tìm quỹ tích và phương pháp biến đổi tương đương trong lời giải bài toán giải phương trình có cùng bản chất logic
Vì việc giải thích các phép biến đổi tương đương trong đại số thường đơn giản hơn việc giải thích các phép biến đổi tương đương trong hình học nên phương pháp biến đổi tương đương thường xuyên được sử dụng trong các bài toán giải phương trình còn phương pháp thuận đảo đồng thời ít khi được sử dụng trong các bài toán tìm quỹ tích
Trang 28Các ví dụ dưới đây sẽ làm sáng tỏ những nhận định trên
Ví dụ 1 Cho hình chữ nhật ABCD Tìm quỹ tích những điểm M nằm trong hình chữ nhật và thoả mãn điều kiện MA.MC < MB.MD
(Hình 6) Với mỗi điểm M thuộc ABCD, gọi X, Y, Z, T theo thứ tự là hình chiếu của M trên AB, BC, CD, DA
Theo định lí Pythagoras, chú ý rằng KJ là trung trực của các đoạn BC, DA
và HI là trung trực của các đoạn AB, CD, ta thấy
Trang 29Lời giải trên và lời giải ví dụ 2 trong mục 1.2.3 có cùng bản chất logic
Ví dụ 2 Cho tam giác không đều ABC nội tiếp đường tròn (O) Điểm M nằm trong (O) AM, BM, CM lại cắt (O) tại A‟, B‟, C‟ Tìm tập hợp các điểm M sao cho
1.
MA ' MB' MC ' Lời giải
Gọi R là bán kính của (O), G là trọng tâm của tam giác ABC, (OG) là đường tròn đường kính OG (h.7)