5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu Là phương pháp thu thập thông tin dựa trên quá trình giao tiếp bằng lời nói để hướng đến mục đích đặt ra, trong cuộc phỏng vấn người phỏng vấn sẽ hỏi the
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ XÃ VINH TIỀN,
HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp là một cột mốc đánh dấu sự đột phá của mỗi sinh viên trên con đường rèn luyện và học tập bốn năm học tại Đại học Lâm nghiệp Trong quá trình thực hiện khóa luận em luôn nhận được sự giúp đỡ từ phía nhà trường, thầy cô và bạn bè
Qua đây, Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, các Thầy, Cô trong khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh đã nhiệt tình giảng daỵ tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS Bùi Thị Ngọc Thoa người đã tận tình động viên, hướng dẫn cho em những kiến thức, phương pháp khai thác vấn
đề trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Trong quá trình viết khóa luận để có được các số liệu cụ thể và chi tiết,
em xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức chuyên trách Uỷ bân nhân dân xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã quan tâm, tạo điều kiện cung cấp tài liệu cần thiết và đóng góp ý kiến để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình nghiên cứu, do một số hạn chế nhất định nên bài khóa luận của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Do đó, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, nhận xét, giúp đỡ của quý thầy cô giáo để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 06 năm 2022
Sinh viên
Triệu Văn Điêp
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ 6
1.1 Bạo lực gia đình đối với phụ nữ 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Các hình thức của bạo lực gia đình đối với phụ nữ 10
1.2 Chính sách của Nhà nước về bạo lực gia đình đối với phụ nữ 15
1.2.1 Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 15
1.2.2 Quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 16
1.2.3 Trách nhiệm của cá nhân, gia đình và các cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ 20
1.3 Các lý thuyết áp dụng 22
1.3.1 Lý thuyết nhu cầu của A.Maslow 22
1.3.2 Lý thuyết lấy thân chủ làm trọng tâm Carl Rogers 23
1.3.3 Lý thuyết nhận thức của Albert Ellis 25
1.4 Một số quy đinh của pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình 25
1.5 Vai trò và nhiệm vụ của nhân viên CTXH trong phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ XÃ VINH TIỀN, HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 29
2.1 Đặc điểm chung về xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 29
2.1.1 Vị trí địa lý 29
Trang 42.1.2 Điều kiện tự nhiên 29
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
2.2 Đặc điểm phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 31
2.2.1 Đặc điểm phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 31
2.2.2 Đặc điểm phụ nữ bị bạo hành xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 32
2.3 Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 35
2.3.1 Thực trạng số lượng bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 35
2.3.2 Nguyên nhân và hậu quả của tình trạng bạo lực trong gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền 37
2.3.3 Thực trạng phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 40
Các yếu tố ảnh hưởng đến phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 44
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN GIẢM THIỂU BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ VINH TIỀN, HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 46
3.1 Đánh giá chung về bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn xã Vinh Tiền 46
3.1.1 Đánh giá chung 46
3.1.2 Nguyên nhân dẫn tới bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 47
3.2 Một số giải góp phần giảm thiểu bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 49
3.2.1 Công tác quản lý 49
3.2.2 Công tác phòng chống bạo lực gia đình 50
3.2.3 Năng lực của người phụ nữ 51
Trang 53.3 Giải pháp của nhân viên CTXH trong phòng chống BLGĐ đói với phụ nữ
trên xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 51
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 56
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
3 CEDAW Công ước về xóa bỏ mọi hình thức
phân biệt đối xử với phụ nữ
6 HLHPN Hội liên hiệp phụ nữ
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG
Bảng 2.1 Đặc điểm phụ nữ xã Vinh Tiền 31 Bảng 2.2 Số lượng bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền 35 Bảng 2.3: Bảng số liệu về nguyên nhân và số vụ bạo lực gia đình đối với phụ
nữ 38 Bảng 2.4: Thực trạng tuyên truyền pháp luật PCBLGĐ đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 41 Bảng 2.5: Sự quan tâm của người dân đối với vấn đề PCBLGĐ đối với phụ nữ 43 Bảng 2.5 Những yếu tố ảnh hưởng trong công tác PCBLGĐ đối với phụ nữ tại
xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 44
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thực trạng tuyên truyền pháp luật PCBLGĐ đối với phụ
nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 41Biểu đồ 2.2: Biểu đồ đánh giá mức độ phù hợp của nội dung tuyên truyền 42Biểu đồ 2.3: Biểu đồ đánh giá mưc độ áp dụng các hình thức tuyên truyền qua loa phát thanh, qua họp dân, qua khẩu hiệu 42Biểu đồ 2.4: Biểu đồ thể hiện sự quan tâm của người dân đối với vấn đề PCBLGĐ đối với phụ nữ 43
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời đại ngày nay là thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá ngày càng cao, các lĩnh vực của đời sống xã hội đều rất phát triển như kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học- kỹ thuật Sự phát triển đó đều xuất phát từ việc thoả mãn nhu cầu của con người, hay nói cách khác con người là trung tâm của sự phát triển xã hội Trên thế giới hiện nay, phụ nữ chiếm gần nửa dân số, là một lực lượng lao động to lớn, góp phần rất quan trọng vào việc xây dựng gia đình và đất nước, thúc đẩy sự tiến bộ và phồn vinh trên trái đất Tuy nhiên, chưa ở nước nào phụ nữ thực sự được hoàn toàn bình đẳng, chị
em vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới và ở nhiều nơi phụ nữ vẫn còn
bị áp bức, bóc lột nặng nề Chính vì vậy, bình đẳng nam nữ một cách toàn diện, triệt để là lý tưởng mà nhân loại đã theo đuổi hàng nhiều thế kỷ
Đầu thế kỷ XIX, nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp S Phurie đã cho rằng: Trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ phát triển của xã hội Luận điểm này tiếp tục được khẳng định trong học thuyết Mác ngay
từ khi nó ra đời và phát triển ở trình độ mới cao hơn trong các giai đoạn tiếp theo Những quan điểm trên đã cổ vũ cho nhiều phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng giữa nam và nữ, trở thành một trong những mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới Phải nói rằng đây là một thực trạng đã và đang diễn ra mang tính toàn cầu, trong đó Việt Nam không phải là ngoại lệ
Bộ văn hoá, thể thao và du lịch Việt Nam đã chỉ ra một trong năm tồn tại yếu kém của ngành năm 2008, đó là: tình trạng bạo lực gia đình, bạo lực đối với người già, phụ nữ và trẻ em gây nhức nhối công luận (theo báo thể thao hàng ngày số ra ngày 25/12/2008) Có thể nói vấn đề đấu tranh giải phóng cho phụ nữ là một trong những vấn đề vô cùng quan trọng không những đối với xã hội mà nó còn là vấn đề bức xúc trong gia đình Việt Nam nói chung và gia đình
ở xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ nói riêng Gia đình là tế bào của
xã hội Gia đình có tốt thì xã hội mới ổn định và phát triển Chính vì vậy, muốn
Trang 9trò của gia đình và có những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn những yếu tố trực tiếp tác động đến sự bền vững của gia đình Trong đó bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một nội dung quan trọng mà chủ nghĩa xã hội cần quan tâm nghiên cứu Đặc biệt, ở Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vấn đề này phải được quan tâm, nghiên cứu để đưa ra giải pháp khắc phục triệt để tận gốc rễ sâu xa của nó Hiện nay, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở đây ngày càng được nâng cao nhưng mặt bằng dân trí vẫn còn thấp và phát triển không đều Nhiều quan niệm, tư tưởng phong kiến, nhất là tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn chưa được xoá bỏ Họ vẫn phải chịu thiệt thòi cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, vẫn phải chịu sự bất bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội và trong gia đình Đặc biệt là tình trạng bạo lực trong gia đình đối với phụ nữ đang gây nhiều bức xúc trong địa bàn xã Với những lý do nêu trên, em
đã chọn đề tài: “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ” làm khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa lý luận của nghiên cứu
Về mặt lý luận, đề tài hệ thống cơ sở lý luận về bạo lực gia đình đối với phụ nữ Bên cạnh đó, thể hiện các vai trò của công tác xã hội với phụ nữ Góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng thực hiện hoạt động công tác xã hội với phụ nữ bị bạo lực gia đình
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Về mặt thực tiễn, đề tài góp phần đánh giá bạo lực gia đình đối với phụ
nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Từ đó giúp cho cơ quan quản
lý nhận diện rõ nét hơn thực trạng thực hiện chính sách an sinh xã hội và có những điều chỉnh phù hợp về chính sách an sinh xã hội với phụ nữ
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần giảm thiểu bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trang 103.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bạo lực gia đình đối với phụ nữ;
Nghiên cứu thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
Đề xuất một số giải pháp góp phần giảm thiểu bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là bạo lực gia đình đối với phụ nữ
xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu trong phạm vi: xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Phạm vi thời gian: Số liệu được thu thập tại địa phương qua các năm 2019,
2020, 2021 và khảo sát 4 tháng kể từ tháng 3 năm 2022 đến tháng 6 năm 2022
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp khảo sát, thu thập số liệu
5.1.1 Đối với các số liệu, tài liệu thứ cấp
Kế thừa cơ sở dữ liệu tại các cơ quan quản lý trên địa bàn xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Kế thừa các báo cáo, tổng kết của xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến phụ nữ tại xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
5.1.2 Đối với các số liệu, tài liệu sơ cấp
Khảo sát thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ thông qua các phiếu phỏng vấn chuẩn bị trước Đối tượng phỏng vấn là phụ nữ bị bạo lực gia đình tại các thôm trong xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trang 115.2 Phương pháp xử lý số liệu
5.2.1 Phương pháp thống kê kinh tế
Phương pháp thống kê kinh tế bao gồm: thống kê mô tả, thống kê so sánh, phân tích thống kê để phân tích kết quả thực trạng tổ dân phố của xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Phương pháp này được dùng để phân loại, so sánh, phân tích mức độ, động thái của các thông tin, các chỉ tiêu kinh
tế như: số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tỷ trọng, tốc độ phát triển của các số liệu sử dụng trong KLTN
5.2.2 Phương pháp phân tích kinh tế
Phương pháp này được sử dụng để phân tích các nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng tới bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Là phương pháp thu thập thông tin dựa trên quá trình giao tiếp bằng lời
nói để hướng đến mục đích đặt ra, trong cuộc phỏng vấn người phỏng vấn sẽ hỏi theo một chương trình được định sẵn, phỏng vấn nhằm tìm hiểu thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, các kết quả giúp người đọc hiểu rõ hơn, là minh chứng hoạt động cụ thể của nghiên cứu
Phỏng vấn trực diện dựa trên gợi ý phỏng vấn sâu, dùng băng ghi âm
sau đó phân tích Với 1 số trường hợp nhạy cảm ta có thể ghi chép nhanh, sử dụng các kí tự khi ghi chép, chú trọng các thông tin mang tính nóng, đặc trưng, tiêu biểu của khách thể
Đối tượng phỏng vấn sâu gồm: Lãnh đạo thôn, lãnh đạo xã, cán bộ quản
Trang 12cứu của đề tài Thực hiện quan sát cuộc sống, sức khỏe của phụ nữ trên địa bàn phường nhằm thu thập thêm dữ liệu phục vụ xây dựng phiếu khảo sát
6 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Chương 2: Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Một số giải pháp góp phần giảm thiểu bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
1.1 Bạo lực gia đình đối với phụ nữ
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm gia đình
Dưới góc độ xã hội học, gia đình được coi là tế bào xã hội Không giống bất cứ nhóm xã hội nào khác, gia đình đan xen các yếu tố sinh học, kinh tế, tâm
lý, văn hóa…những mối liên hệ cơ bản của gia đình bao gồm vợ chồng, cha mẹvà con, ông bà và cháu, những mối liên hệ khác: cô, dì, chú, bác với cháu, cha
mẹ chồng và con dâu, cha mẹ vợ và con rể…Mối quan hệ gia đình được thể hiện
ở khía cạnh như: có đời sống tình dục, sinh con và nuôi dạy con cái, lao động tạo
ra của cái vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp cho xã hội
Mối liên hệ này có thể dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên những căn cứ thực tế một cách tự nhiên, tự phát Theo đó gia đình được định nghĩa “là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội thu nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con người bởi tính cộng đồng về sinh hoạt trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của thành viên cũng như để thể hiện tính tất yếu của xã hội về phát triển sản xuất con người”
Dưới góc độ pháp lý, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh nghĩa
vụ vàquyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này (Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Tuy nhiên, trong thực tế đời sống cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm gia đình: gia đình là tập hợp những người cùng có tên trong sổ hộ khẩu; gia đình là tập hợp những người cùng chung sống với nhau dưới một mái nhà…
Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, gia đình được chia tách thành nhiều dạng thức khác nhau: gia đình hiện đại và gia đình truyền thống, gia đình
Trang 141.1.1.2 Khái niệm bạo lực gia đình
Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là “sức mạnh dùng để cưỡng bức, lấn áp hoặc lật đổ” Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt độngchính trị, nhưng trên thực tế bạo lực được coi như một phương thức hành
xử trong quan hệ xã hội nói chung Các mối quan hệ xã hội vốn rất phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thành nhiều dạng khác nhau, tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với trẻ em…
Còn theo chủ nghĩa cộng sản khoa học: “Bạo lực là một giai cấp (các nhóm chính trị- xã hội) nào đó áp dụng những hình thức cưỡng bức khác nhau,
kể cả sự tác động bằng vũ trang, đối với giai cấp (các nhóm chính trị- xã hội) khác nhau nhằm mục đích giành lấy hoặc duy trì sự thống trị về kinh tế, chính trị những quyền hay đặc quyền khác nhau” Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý của các thành viên gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại với các thành viên khác trong gia đình” (Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình) Nói cách khác, đó là việc “các thành viên trong gia đình vân dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề gia đình”
Theo định nghĩa của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1993 được các tổ chức cũng như các nhà khoa học trên thế giới chấp nhận rộng rãi Theo đó, bạo lực gia đình bao gồm bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ
sở một giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tuỳ tiện sự tự
do, dù xảy ra nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư
1.1.1.3 Khái niệm bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Tuyên bố của Liên hợp quốc về việc loại bỏ bạo lực đối với phụ nữ, ngày 20/12/1993, đã định nghĩa: “Bạo lực đối với phụ nữ là bất kỳ hành động bạo lực nào dựa trên cơ sở giới gây ra hậu quả hoặc có thể gây ra hậu quả, làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tình dục hay tâm lý, kể cả những
Trang 15lời đe doạ hay độc đoán tước quyền tự do, dù xảy ra ở nơi công cộng hay trong đời sống riêng tư” Theo định nghĩa trên, bạo lực gia đình đối với phụ nữ bao gồm: các hành vi bạo lực trên cơ sở giới gây ra hậu quả hoặc có thể gây ra hậu quả, làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tình dục và tâm lý xảy ra trong gia đình Bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình: Quan hệ giới trong gia đình là một trong những quan hệ cơ bản tạo nên sự tồn tại của một gia đình Về thực chất nó là mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới trong gia đình
mà trung tâm là mốiquan hệ vợ chồng Trong mối quan hệ về giới, mặc dù thủ phạm của hành vi bạo lực gia đình có thể bao gồm cả phụ nữ và nạn nhân của
nó có thể bao gồm cả đàn ông
Tuy nhiên, các nghiên cứu về vấn đề này cho phép kết luận rằng, bạo lực gia đình về cơ bản là bạo lực chống lại phụ nữ và thủ phạm cơ bản là đàn ông Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xảy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực gần như luôn luôn là nam giới, thường là chồng, người tình, hoặc chồng cũ, người tình cũ, hay những người đàn ông quen biết của phụ nữ."Bạo lực trên cơ
sở giới là bạo lực giữa nam giới và phụ nữ, trong đó phụ nữ thường là nạn nhân
và điều này bắt nguồn từ các mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ Bạo lực thường nhằm vào phụ nữ vì họ là phái yếu hoặc ảnh hưởng lớn đến phụ nữ Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm những tổn hại về thân thể, tình dục và tâm lý (bao gồm cả sự đe doạ, gây đau khổ, cưỡng bức, hoặc tước đoạt sự tự do xảy ra trong gia đình hoặc trong cộng đồng, nhưng nó không hạn chế chỉ ở những dạng này Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm cả bạo lực do Nhà nước gây ra hoặc bỏ qua "
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ngoài những đặc điểm của bạo lực gia đình nói chung còn mang một đặc điểm rất quan trọng để chúng ta nhận biết và phân biệt với bạo lực gia đình nói chung, đó là, nạn nhân của bạo lực gia đình đối vớiphụ nữ chỉ là nữ giới (nạn nhân của bạo lực gia đình có thể là tất cả đối tượng: nữ giới, nam giới, trẻ em, người già, người tàn tật ) Chủ thể thực hiện hành vi bạolực gia đình đối với phụ nữ thường là nam giới và thường là người chồng trong hônnhân, chồng cũ hay bạn tình
Trang 161.1.1.4 Khái niệm phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình, giúp cho người phụ nữ tránh được bạo lực gia đình, bảo đảm các quyền con người và
có cuộc sống hạnh phúc Phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một công việc khó khăn và lâu dài Để bảo vệ người phụ nữ, bảo vệ quyền và vị trí của người phụ nữ trong xã hội, việc phòng chống bạo lực gia đình đối với người phụ nữ cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật Việc PCBLGĐ đối với người phụ nữ chỉ đạt được hiệu quả khi nó được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật
và phù hợp với pháp luật, phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Cho đến nay, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống pháp luật về PCBLGĐ đặc biệt, lần đầu tiên, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã ra đời Đây chính là cơ sở pháp lý để bảo vệ con người trong đó có người phụ nữ trước bạo hành gia đình Chính phủ Việt Nam đã tham gia rất mạnh mẽ phong trào quốc tế trong việc bảo vệ người phụ nữ và đẩy lùi bạo lực gia đình Việt Nam
đã phê chuẩn Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ
nữ (CEDAW) năm 1981 và cam kết với kế hoạch hành động của Hội nghị quốc
tế về Dân số và Phát triển tại Cai-rô năm 1994 và Cương lĩnh hành động của Hội nghị quốc tế về phụ nữ tại Bắc Kinh năm 1995 Với tư cách là quốc gia thành viên của công ước CEDAW, Việt Nam đã có những tiếp cận theo đúng cách tiếp cận của công ước đối với bình đẳngvà bình đẳng giới Điều này được thể hiện trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, từ đạo luật gốc là Hiến pháp đến các đạo luật và các văn bản pháp luật khác đều khẳng định một nguyên tắc bình đẳng nam nữ và không có bất kỳ sự phân biệt nào trên cơ sở giới trên mọi lĩnh vực
Từ những phân tích trên, phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ được hiểu là phòng ngừa những hành vi trái pháp luật phòng, chống bạo lựcgia đình, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ trong lĩnh vực PCBLGĐ mà nạn nhân
Trang 17của bạo hành gia đình là người phụ nữ Như vậy, PCBLGĐ đối với phụ nữ là phòng ngừa các hành vi bạo hành gia đình đối với phụ nữ mà trong đó nạn nhân
là người phụ nữ, người gây ra bạo hành chủ yếu là nam giới Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, trong xu thế gia đình ở Việt Nam là gia đình mở, người phụ
nữ không chỉ bị bạo hành từ phía người chồng mà còn bị bạo hành từ phía gia đình nhà chồng, bố, mẹ chồng, anh em của chồng Mặt khác, trong thực tế cũng
có nhiều người chồng cũng phải chịu bạo lực gia đình như phụ nữ
1.1.2 Các hình thức của bạo lực gia đình đối với phụ nữ
1.1.2.1 Bạo lực thể xác
Người phụ nữ đã phải chịu đựng nhiều hình thức bạo lực gia đình Bạo lực thân thể là hình thức khá phổ biến trong các dạng bạo lực gia đình trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng Bạo lực thể chất là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra thương tích cho phụ nữ Người phụ nữ là nạn nhân của bạo hành gia đình dưới hình thức bạo lực thân thể, họ phải chịu sự đánh đập của người chồng, người bạn tình ở nhiều mức độ khác nhau, có trường hợp người chồng đấm, đá, tát, xô ngã vợ; có trường hợp dùng cả vũ khí để hành hung vợ để lại những hậu quả nghiêm trọng như để lại thương tích trên thân thể, xảy thai,thậm chí tử vong Theo luật mẫu của Liên hợp quốc bạo lực thể xác bao gồm bất cứ hành vi nào gây ra thương tích về mặt thể chất hoặc tổn thương thân thể ở bất kỳ mức độ nào.Theo tài liệu của Viện Khoa học xã hội: Bạo lực thể xác là hành vi cưỡng bức thân thể, đánh đập nhằm gây thương tích cho nạn nhân hoặc ngăn cấm phụ nữ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như ngăn ngừa họ không đượctiếp cận các nhu cầu vật chất thiết yếu như:
ăn uống, nghĩ ngơi, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 của Việt Nam cũng đã nêu: Hành vi “hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sứckhỏe, tính mạng” được xem là hành vi bạo lực gia đình
về mặt thể xác.Những hành vi bạo lực về thể xác thường sử dụng sức mạnh cơ bắp hoặccông cụ (thậm chí cả vũ khí ) để gây ra sự đau đớn về thân thể đối với nạn nhân và mức độ có thể từ nhẹ tới nặng: thờ ơ; đánh đau, gây thương tích ở
Trang 18khu vựckhó phát hiện; đấm đá; gây thương tích nặng không cho nạn nhân đi chữa trị; dùng phương tiện có dự định( dao, súng ) ;giết
Phụ nữ bị tát, xô, đẩy (không có những hành vi nghiêm trọng hơn) được xếp vào nhóm bị bạo lực ở mức độ nhẹ và những người bị đấm đá kéo lê hoặc
đe dọa dùng vũ khí được coi là bị bạo lực ở mức độ nghiêm trọng Thường thì phụ nữ phải gánh chịu nhiều hành vi bạo lực thể xác chứ không phải đơn thuần một hành vi
Trên thực tế không chỉ có những người trình độ văn hóa thấp mà cả những người có trình độ văn hóa tương đối cao, có địa vị trong xã hội cũng là nạn nhân của bạo lực trong gia đình Trong đó bạo lực thể xác đối với người phụ nữ là rõ nhất Mặt khác, bạo lực về thể xác đối với phụ nữ ở nông thôn cao hơn so với thành thị và phần lớn là tập trung vào các gia đình có chồng trình độ học vấn thấp, làm nông nghiệp Bạo lực thể xác để lại hậu quả rất nghiêm trọng,
nó không chỉ tác động trực tiếp đến sức khỏe, tinh thần của người phụ nữ mà còn gây ảnh hưởng đến sự phát triển tình cảm của trẻ con trong gia đình Gia đình không hòa thuận, cha mẹ đánh đập nhau sẽ tác động không không tốt đến
tư tưởng, làm mất niềm tin của con trẻ vào cha mẹ của mình
Như vậy, có thể thấy rằng bạo lực thể xác là một trong những nguyên nhân chính của tình trạng ly hôn hiện nay, đẩy nhiều gia đình đến bờ vực khủng hoảng và tan vỡ, trẻ em thì xa vào con đường tội phạm
1.1.2.2 Bạo lực tinh thần
Bạo lực về tinh thần đối với phụ nữ là loại hình bạo lực không sử dụng đến vũ lực để tác động lên thể xác của nạn nhân mà chỉ tác động lên tinh thần của nạn nhân như: chì chiết, mắng chửi, lăng mạ, xỉ nhục, tỏ thái độ lạnh lùng, không nói chuyện, không quan tâm Cùng với bạo lực về thân thể, bạo lực về tinh thần đối với phụ nữ là hình thức bạo lực đối với phụ nữ ngày càng phổ biến
ở nước ta Những vết thương về thân thể của người phụ nữ, với thời gian có thể lành lại nhưng những vết thương về tinh thần do bạo lực gia đình gây ra cho người phụ nữ sẽ rất khó lành Bạo lực về tinh thần đã gây cho người phụ nữ
Trang 19những chấn động mạnh và lâu dài về tâm lý, họ phải chịu đựng những chấn thương tâm lý mà không dễ gì chữa khỏi Nạn nhân bị bạo lực tinh thần thường
tự dằn vặt mình, trầm cảm và sợ sệt, ăn không ngon, ngủ không yên, nóng giận
vô cớ, luôn bị ám ảnh về bạo lực, có trường hợp bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, thần kinh suốt đời, có trường hợp thì tự tử Bạo lực về tinh thần cũng là một loại hình bạo lực không kém phần nghiêm trọng so với bạo lực về thể xác, số động phụ nữ đếu cho rằng: ảnh hưởng của bạo lực tinh thần thường nặng nề hơn bạo lực thể xác
Liên quan đến vấn đề này thì Luật Phòng, chống bạo lực gia đình có nêu lên một số hành vi bạo lực tinh thần như: “Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý và gây hậu quả nghiêm trọng; lăng mạ hoặc hành vi cố
ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm ”
Một số những hành vi bạo lực tinh thần:
- Dùng lời nói để mắng nhiếc nạn nhân
- Chửi mắng, lăng mạ, chì chiết;
- Xúc phạm nhân phẩm, hạ thấp uy tín (tiết lộ đời tư, phát tán tờ rơi làm ảnh hưởng đến danh dự, cưỡng ép lột bỏ quần áo trước mặt người khác )
- Cấm đoán (quyền được chăm sóc con cái, người thân, dược làm việc, được tham gia vào công tác xã hội, quyền được giao tiếp, quyền được quyết định )
- Xua đuổi, quấy rối hoặc gây áp lực thường xuyên về mặt tâm lý gây hậuquả nghiêm trọng
- Buộc tội, nghi ngờ, theo dõi
- Phớt lờ cảm xúc của người khác, không quan tâm, đối xử lạnh nhạt
- Chê bai, chế nhạo, hạ thấp giá trị trước mặt người khác…
Với bạo lực thể xác, nỗi đau đớn thể hiện rõ ràng trên cơ thể người phụ
nữ nhưng với bạo lực về tinh thần thì vết thương ấy nông sâu như thế nào không
ai có thể đo đếm được Bạo lực tinh thần từng ngày từng giờ gặm nhấm ý chí, tâm can của người phụ nữ khiến những nạn nhân này luôn trong tình trạng căng
Trang 20thẳng dẫn đến “stress”, tâm thần ở thể nhẹ hoặc thần kinh và hậu quả đau lòngnhất là nhiều người do quá bế tắc đã phải tìm đến cái chết để giải tỏa Bạo lực tinh thần đối với phụ nữ đang dần làm mai một đi bản chất tốt đẹpvốn có của mỗi một thành viên trong gia đình, gây tan vỡ hạnh phúc lứa đôi củacác cặp vợ chồng, gây đỗ vỡ cuộc sống gia đình Bạo lực tinh thần đối với phụ nữ trong gia đình là hình thức bạo lực không nhìn thấy được Trong nhiều trường hợp, nó là nguyên nhân trực tiếp cướp đi sinh mạng của người phụ nữ Rất nhiều phụ nữ không chịu nổi bạo hành tinh thần đã tìm đến với cái chết
Một trường hợp vi phạm pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ dưới hình thức bạo hành tinh thần đăng trên báoVnExpress ngày 23/10/2008 đã nói lên nỗi đau của mà người phụ nữ phải chịu đựng khi bị bạo lực tinh thần: Một người chồng đã không đánh đập vợ khi bắt gặp vợ ngoại tình
và chỉ xin 10 nghìn của người tình vợ, sau đó, cứ mỗi lần đến bữa ăn, người chồng lại đặt 10 nghìn lên mâm cơm và giải thích với con đó là số tiền mà mẹ khó nhọc kiếm được Ba tháng sau, không chịu nổi áp lực về mặt tâm lý, người
vợ đã tự vẫn chết
Có rất nhiều lý do dẫn đến bạo lực tinh thần đối với phụ nữ, một trong những lý do khá nổi bật là ngoại tình Phần lớn những người chồng khi ngoạitình về thường bỏ rơi, chửi mắng, ngược đãi vợ con Cùng với sự tra tấn
dã man đó là mục đích mong cho vợ chết mòn, chết dần Trong những hoàn cảnh như vậy, người phụ nữ thật đau khổ và nhiều khi họ đã không làm chủ được bản thân mình nữa, mắc phải những sang chấn tâm lý ám ảnh suốt cuộc đời họ
1.1.2.3 Bạo lực tình dục
Một hình thức bạo lực gia đình đối với người phụ nữ hiện nay làm ảnhhưởng rất lớn đến tâm lý của người phụ nữ là bạo lực tình dục Hình thức bạo lực này rất khó phát hiện bởi tất cả các nạn nhân rất ít khi nói ra Theo Tổ chức Y tế thế giới, bạo lực tình dục được xem là vấn đề ưu tiên trong các vấn
đề sức khoẻ cộng đồng và quyền con người bởi vì vấn đề này tồn tại ở nhiều
Trang 21nước trên thế giới và gây ảnh hưởng đến sức khoẻ phụ nữ Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân là một hình thức bạo lực đối với phụ nữ, là hành vi vi phạm pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, đây là điều mà bấy lâu nay nhiều người không nhận thức được Ở nước ta, theo quan niệm truyền thống, việc người vợ đáp ứng nhu cầu tình dục của chồng là việc bình thường như là một bổn phận của người vợ để giữ gìn hạnh phúc gia đình Nhiều người chồng coi đó là trách nhiệm đương nhiên của người vợ, người vợ không có quyền kháng cự và đã có rất nhiều người được hỏi đã khẳng định rằng đây không phải là việc bạo hành vợ, vì thế không phải là vi phạm pháp luật Chính
vì vậy mà hình thức bạo lực này bị xem nhẹ Điều này dẫn đến tình trạng bạo lực tình dục trong gia đình đối với vợ còn xảy ra nhiều với con số khá cao mà trong thực tế, con số đó còn nhiều hơn rất nhiều
Quan hệ tình dục giữa vợ và chồng là quan hệ tình dục đồng thuận, nhưng không phải lúc nào cũng là quan hệ tình dục được mong muốn Vì vậy, khôngphải cứ là vợ chồng thì đương nhiên chồng được quan hệ và vợ phải chiều chồng, mà cần có sự mong muốn và đồng thuận của đôi bên Hành vi ép buộctình dục có thể xảy ra trong hôn nhân giữa vợ và chồng, kể cả khi ly thân,
ly hôn và ngay cả trong tình yêu giữa bạn tình với nhau Bạo lực tình dục được định nghĩa là: hành vi sử dụng vũ lực, cưỡng bức hoặc chấn áp về tâm lý nhằm
ép buộc một người phụ nữ quan hệ tình dục ngoài ý muốn cho dù có đạt mục đích hay không Bạo lực tình dục bao gồm hiếp dâm,quấy rối tình dục và các hình thức bạo lực tình dục khác trong hôn nhân mà đối tượng gây ra là các thành viên trong gia đình, người quen, cưỡng ép kết hôn,cưỡng ép làm nghề mại dâm, chủ thể của hành vi bạo lực tình dục thường xửdụng vũ lực để ép buộc người kia có quan hệ tình dục, hoặc hành vi cố lôi kéohọ vào hoạt động tình dục ngay cả khi họ không có khả năng tử chối bởi các lýdo như: sức khỏe,
bị ảnh hưởng của chất kích thích, chưa đủ năng lực để hiểu biết về hậu quả của quan hệ tình dục đó, hoặc sự hăm doa, quấy rối tình dục.Trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 của Việt Nam cũng có nêu rõ “ cưỡng ép
Trang 22quan hệ tình dục” cũng là một trong những hành vi bạo lựcgia đình Chúng ta
có thể xác định bạo lực tinh dục qua một số hành vi cụ thể sau:
- Đùa cợt về phụ nữ và về tình dục trước mặt nạn nhân
- Xem phụ nữ như một đồ vật để thỏa mãn
- Làm mất cảm xúc và nhu cầu sinh lý của nạn nhân
- Sờ mó bộ phận sinh dục của nạn nhân khi nạn nhân không đồng ý
- Sử dụng những hình thức quan hệ tình dục gây đau đớn
- Sử dụng những lời lẽ liên quan tới dục tính gây khó chịu về tâm lý
- Cưỡng ép thực hiện hành vi khiêu dâm, các thuốc kích dục
- Ép buộc quan hệ tình để làm nhục, gây đau
- Buộc cởi bỏ y phục trước mặt con cái, công chúng
1.1.2.4 Bạo lực về tài chính
Chiếm đoạt, huỷ hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong GĐ hoặc tài sản chung của các thành viên GĐ Cưỡng ép thành viên GĐ lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ Kiểm soát thu nhập của thành viên GĐ nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên GĐ ra khỏi chỗ ở
1.2 Chính sách của Nhà nước về bạo lực gia đình đối với phụ nữ
1.2.1 Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, gồm:
1 Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
2 Hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật
3 Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; ưu tiên bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ
Trang 234 Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình
Ngoài quy định các nguyên tắc nêu trên, còn quy định thêm một số các nguyên tắc: Đảm bảo các nguyên tắc bình đẳng giới và quyền con người trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ; Phối hợp liên ngành để tổ chức thực hiện các biện pháp có hiệu quả trong phòng, chống bạo lực gia đìnhđối với phụ nữ và bảo vệ hỗ trợ người bị bạo lực gia đình; Người có hành vi bạo lực gia đình với nhiều người; có hành vi bạo lực với phụ nữ đang mang thai, người tàn tật, người cao tuổi; có hành vi bạo lực trong tình trạng đã sử dụng rượu, bia được xác định là tình tiết tăng nặng trong xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và Người làm công tác phòng, chống bạo lực gia đình trong các ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Công an, Tòa án, Kiểm sát phải được đào tạo bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng tâm lý, gia đình và nhạy cảm giới
1.2.2 Quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
1.2.2.1 Quyền, nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình
Quyền, nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình được quy định cụ thể tại
Điều 5 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, bao gồm:
1 Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;
b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;
c) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;
d) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;
đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật
2 Nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi
có yêu cầu
Trang 24Nạn nhân bạo lực gia đình, những người bị chính người thân của mình gây ra những tổn thương nhất định, rất cần được sự giúp đỡ của cộng đồng và
xã hội Khi hành vi bạo lực đã xảy ra trong gia đình thì những thành viên gia đình vì những mối quan hệ với người thực hiện hành vi bạo lực sẽ rất khó có
sự can thiệp mạnh mẽ, dứt khoát cần thiết để bảo vệ nạn nhân Do đó, nạn nhân cần sự giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ, sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc quy định đây
là quyền của nạn nhân, tức là nghĩa vụ của các chủ thể khác phải thực hiện là hoàn toàn đúng đắn
Bên cạnh đó, rất nhiều trường hợp, nạn nhân bạo lực gia đình cần sự giúp
đỡ về y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật Những tổn thương về thể chất có thể chữa lành bằng sự chăm sóc y tế, nhưng với tổn thương về tâm lý, nạn nhân không
dễ dàng vượt qua được.Những sợ hãi, hoang mang, khủng hoảng…có thể theo
họ một thời gian dài, khiến họ không lấy lại sự cân bằng trong cuộc sống Họ rất cần được tư vấn tâm lý để vượt qua những nỗi ám ảnh này, họ cần được biết rằng họ không có lỗi trong việc để hành vi bạo lực gia đình xảy ra, được hướng dẫn phải xử sự như thế nào khi những hành vi này tiếp diễn Đặc biệt, họ cần biết những quy định của pháp luật về vấn đề này để nâng cao khả năng tự bảo
vệ trong những trường hợp tương tự
Ngoài ra, nạn nhân cũng cần có một nơi để tạm lánh để có thời gian cách li nhất định với người thực hiện hành vi bạo lực Điều này có tác dụng làm cho cả hai bên có thời gian, cơ hội để nhìn nhận sự việc một rõ ràng hơn, bình tĩnh hơn Với những kẻ thực hiện hành vi bạo lực một cách côn đồ, hung hãn, không có điểm dừng thì nơi tạm lánh này là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ nạn nhân
Tuy nhiên, bên cạnh những quyền lợi như vậy, nạn nhân bạo lực gia đình cũng phải thực hiện nghĩa vụ nhất định, đó là: cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu Do tính chất nhạy cảm của tội phạm, cũng như mối quan hệ đặc biệt của các chủ thể, pháp luật không đặt ra nghĩa vụ của nạn nhân trong việc phòng chống bạo
Trang 25lực gia đình hay tố giác người có hành vi bạo lực – điều này hoàn toàn hợp lý Vậy tại sao lại quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin của nạn nhân? Bởi vì bạo lực dù diễn ra trong gia đình nhưng lại ảnh hưởng tới sự phát triển chung của toàn xã hội, do đó cần phải được xử lý kịp thời; nạn nhân cả bạo lực cần được bảo vệ, nhưng họ cũng cần tự bảo vệ mình trong giới hạn nhất định, và đó có thể coi là trách nhiệm của họ với cộng đồng, xã hội
1.2.2.2 Nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình
- Người có hành vi bạo lực gia đình là người đã gây ra những tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại cho thành viên khác trong gia đình Tại Điều 4 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định rõ nghĩa vụ của họ, bao gồm:
1 Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành
vi bạo lực
2 Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
3 Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối
4 Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của háp luật
Trước hết, khi thực hiện hành vi bạo lực và bị phát hiện, người có hành
vi bạo lực gia đình phải tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực Tôn trọng sự can thiệp có nghĩa là người có hành vi bạo lực gia đình phải lắng nghe, thực hiện theo những yêu cầu chính đáng của cộng đồng, không được có thái độ hung hãn, chống đối hay có ý định trả thù sự can thiệp đó Quy định này tưởng chừng như chung chung nhưng lại rất cụ thể
và sâu sắc Người có hành vi bạo lực gia đình không chỉ thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của cộng đồng mà còn phải tôn trọng sự can thiệp đó, nghĩa là bản thân họ phần nào nhận biết được tính đúng đắn của việc can thiệp, cũng như phải có thái độ đúng mực với những người can thiệp
Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cũng là nghĩa
vụ của người có hành vi bạo lực Trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình,
Trang 26những chủ thể có thẩm quyền có thể đưa ra những chế tài như: góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn…Việc bị xử lý hành vi bạo lực gia đình vốn không quen thuộc với người Việt, vì rất nhiều nghĩ đó là quyền của họ Do đó, quy định người có hành vi bạo lực có nghĩa vụ chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
là cần thiết để tạo ra cơ sở pháp lý mạnh mẽ, buộc chủ thể phải thực hiện, bảo đảm hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực gia đình
Với những trường hợp nạn nhân bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cần tới sự can thiệp của y tế thì người thực hiện hành vi bạo lực phải kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối Đây tưởng chừng như điều hiển nhiên, là ứng xử bắt buộc của các thành viên gia đình đối với nhau, nhưng lại là điều rất khó thực hiện khi một bên là chủ thể, một bên là nạn nhân của hành vi bạo lực Người có hành vi bạo lực khi đã nhẫn tâm ra tay thì rất khó có chuyện thương xót, lo lắng cho nạn nhân mà đưa họ đi chữa trị, chăm sóc; hoặc có khi họ nhận thấy sai lầm của mình nhưng do sợ bị phát hiện, sợ phải gánh trách nhiệm nên không dám đưa nạn nhân tới cơ sở chữa trị
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình không nhắc tới quyền mà chỉ quy định nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình Điều này trước hết có lẽ bởi vì những người này đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nên họ phải chịu những trách nhiệm nhất định và không được hưởng sự bảo vệ của pháp luật trong lĩnh vực này Tuy nhiên, nếu nhìn nhận theo một khía cạnh thì có thể thấy: nghĩa vụ mà Luật nêu lên cũng đã hàm chứa một số quyền của họ: quyền nhận được sự can thiệp hợp pháp, quyền được thực hiện các hành động nhằm khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra Nếu nhìn nhận một cách tổng quát, có thể thấy rằng những hành vi bạo lực gia đình xuất phát từ sự nhẫn tâm, tàn ác, đê hèn không nhiều mà do những quan niệm sai lầm, do thiếu hiểu biết,
do không được trang bị kỹ năng giải quyết tranh chấp hoặc do nóng giận Do
đó, pháp luật cũng cần phải cho họ những cơ hội để giác ngộ, sửa chữa sai lầm, cũng là tạo cơ hội cho gia đình của họ được hàn gắn
Trang 271.2.3 Trách nhiệm của cá nhân, gia đình và các cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình có quy định về trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ Trong đó, trách nhiệm của cá nhân và gia đình được quy định rất cụ thể tại Điều 31 và Điều 32
Về trách nhiệm của cá nhân, Luật quy định: Mọi người có trách nhiệm thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, về hôn nhân
và gia đình, về bình đẳng giới, về phòng, chống ma túy, mại dâm và pháp luật
về phòng, chống các tệ nạn xã hội khác; kịp thời ngăn chặn và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Về trách nhiệm của gia đình, Luật quy định: Gia đình có trách nhiệm giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình; can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình; phối hợp với
cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình; thực hiện các biện pháp khác về phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của Luật này
Về các cơ quan, tổ chức:
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã nêu lên trách nhiệm của rất nhiều
cơ quan, tổ chức, trong đó có thể kể tới trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, cụ thể:
Điều 33 Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
“1 Tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích, động viên hội viên và nhân dân chấp hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác
Trang 282 Kiến nghị những biện pháp cần thiết với cơ quan nhà nước có liên quan để thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác; tham gia phòng, chống bạo lực gia đình, chăm sóc, hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình
3 Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình.”
Bên cạnh đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam – Một thành viên của Mặt trận Tổ quốc cũng được giao một số trách nhiệm, như:
Điều 34 Trách nhiệm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
“1 Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 33 của Luật này
2 Tổ chức cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình
3 Tổ chức các hoạt động dạy nghề, tín dụng, tiết kiệm để hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình
4 Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình”
Ngoài ra, Luật cũng quy định:
(1) Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình
(2) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình
(3) Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quản
lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình
(4) Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương” Trách nhiệm của một số Bộ, ngành cũng được cụ thể tại các Điều từ 36 đến Điều 41)
Trang 291.3 Các lý thuyết áp dụng
1.3.1 Lý thuyết nhu cầu của A.Maslow
Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần
Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao
Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là với trẻ em
vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu
cơ bản này Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu
cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự
Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được Do đó chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi người căm ghét
vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác
Trang 30Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận):
Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với
sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại
Nhu cầu được tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng
- Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện
- Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách
để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người
Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó
Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân
1.3.2 Lý thuyết lấy thân chủ làm trọng tâm Carl Rogers
Liệu pháp Thân chủ trọng tâm (client-centered psychotherapy), hoặc theo cách gọi tên với nghĩa rộng hơn như hiện nay là Nhân vị trọng tâm (person-centered psychotherapy), là thuật ngữ được chọn để gọi tên cho một nhóm những phương
Trang 31pháp tham vấn tâm lý dựa trên quan điểm lý thuyết về bản chất con người và các tương tác xã hội được phát triển bởi Carl Rogers vào hai thập niên 1940 và 1950 (Brodley; 1988) Rogers là người đầu tiên dùng tên gọi ấy để chỉ phương pháp trị liệu của mình Sau đó, nhiều tác giả khác đã phát triển thêm các “phân nhánh” cho loại liệu pháp này; trong đó phải kể đến Eugene Gendlin với “liệu pháp kinh nghiệm” (experiential psychotherapy; 1979) và các tác giả Leslie Greenberg, Laura Rice, Robert Eliott với “liệu pháp tiến trình – kinh nghiệm” (process-eperiential psychotherapy; 1993)
Phương pháp tham vấn thân chủ trọng tâm lúc đầu được gọi là liệu pháp thân chủ trọng tâm (Carl Rogers, 1951) và sau đó được gọi là phương pháp tham vấn tập trung vào cá nhân (Person – Centered counseling), hướng tiếp cận của Carl Rogers không chỉ được coi là có ý nghĩa lớn lao trong công việc trợ giúp TC mà còn được xem là cách sống của con người Rogers tin rằng bản chất con người là thiện với những khuynh hướng tiến đến phát triển tiềm năng và xã hội hoá mà nếu đặt trong môi trường thuận lợi sẽ phát triển nhận thức và hiện thực hoá tiềm năng đầy đủ
Rogers giả thiết rằng mỗi người đều sở hữu những tiềm năng cho sự lớn lên, tiềm năng cho những hành vi có hiệu quả và có khuynh hướng tự hiện thực hoá những tiềm năng của mình Sở dĩ một cá nhân nào đó (TC) phát triển những hành
vi kém thích nghi là do sự tập nhiễm những mẫu ứng xử sai lệch Bởi vì mỗi cá nhân đều có nhu cầu mạnh mẽ được người khác chấp nhận, coi trọng nên anh ta hoặc cô ta có thể hành động một cách không tự nhiên, không thực tế và phát triển những cảm giác sai lệch về bản thân, về những điều mình mong muốn
Sự lo âu và những không thích nghi về tâm lý ít nhiều để lại hậu quả của sự mất ăn khớp giữa cái mình hiện thực và những trải nghiệm cuộc sống một bên và bên kia giữ cái mình hiện thực và hình ảnh lý tưởng mà bản thân con người đó có Mục đích của phương pháp tham vấn tập trung vào cá nhân không phải là chữa trị cho TC hoặc tìm kiếm những nguyên nhân từ quá khứ mà cái chính là khuyến khích
TC sự tự hiện thực hoá những tiềm năng của bản thân, tạo điều kiện dễ dàng cho sự phát triển tâm lý lành mạnh ở thân chủ TC được xem như là một chủ thể có hiểu
Trang 32biết, họ phải được hiểu, được chấp nhận để NTV có thể cung cấp những loại hình giúp được tốt hơn
1.3.3 Lý thuyết nhận thức của Albert Ellis
Thuyết trị liệu nhận thức – hành vi hay còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức (behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc là
trị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội
Nội dung của thuyết: Thuyết này cho rằng: chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải do tác nhân kích thích quyết định Sở dĩ chúng ta có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có nhữngsuy nghĩ không phù hợp Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi
1.4 Một số quy đinh của pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình
Hiện nay, Việt Nam đã có một hệ thống các văn bản khá đầy đủ về công tác phòng, chống BLGĐ, đặc biệt là có một đạo luật riêng về vấn đề phòng, chống BLGĐ (Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2007) Có thể thống kê các văn bản liên quan đến công tác phòng, chống bạo lực gia đình như sau:
- Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017;
- Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2007;
- Luật Bình đẳng giới năm 2006;
- Luật Trẻ em;
- Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống bạo lực gia đình;
Trang 33Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống BLGĐ
Thông tư số 23/2011/TT-BVHTTDL quy định thu thập, xử lý thông tin
về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình;
Thông tư 24/2011/TT-BVHTTDL quy định về tiêu chuẩn, điều kiện khen thưởng cá nhân, tập thể tham gia phòng, chống bạo lực gia đình; đối tượng, điều kiện, cơ quan hoàn trả thiệt hại về giá trị tài sản cho người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình;
Thông tư liên tịch số BCA hướng dẫn thực hiện giáo dục chuyển đổi hành vi về xây dựng gia đình
13/2016/TTLT-BGDĐT-BVHTTDL-BLĐTBXH-và phòng, chống bạo lực gia đình trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
Thông tư 02/2010/TT-BVHTTDL Quy định chi tiết về thủ tục đăng ký hoạt động, giải thể cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; tiêu chuẩn của nhân viên tư vấn; cấp thẻ nhân viên tư vấn, chứng nhận nghiệp vụ chăm sóc, tư vấn và tập huấn phòng, chống bạo lực gia đình;
Thông tư 23/2014/TT-BVHTTDL sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông
tư số 02/2010/TT-BVHTTDL ngày 16 tháng 3 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về thủ tục đăng ký hoạt động, giải thể
cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; tiêu chuẩn của nhân viên tư vấn; cấp thẻ nhân viên tư vấn; chứng nhận nghiệp vụ chăm sóc, tư vấn và tập huấn phòng, chống bạo lực gia đình;
Thông tư liên tịch 143/2011/TTLT-BTC-BVHTTDL Quy định chế độ quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình; kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ các cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình ngoài công lập;
Trang 34Thông tư 16/2009/TT-BYT ngày 22/9/2009 của Bộ Y tế hướng dẫn việc tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
Quyết định số 21/2016/QĐ-TTg ngày 17/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế phối hợp liên ngành về phòng, chống BLGĐ
1.5 Vai trò và nhiệm vụ của nhân viên CTXH trong phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn xã Vinh Tiền, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
1.5.1 Vai trò và nhiệm vụ của nhân viên CTXH
Với quan điểm “CTXH thúc đẩy sự phát triển xã hội, giải quyết các vấn
đề trong các mối quan hệ, tạo khả năng và giải phóng con người nhằm thúc đẩy phúc lợi Sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những thời điểm khi con người tương tác với các môi trường của mình Nhân quyền và công lý trong xã hội là những nguyên tắc nền tảng của công tác xã hội” Đối với nạn nhân của BLGĐ, đặc biệt là phụ
nữ, nhân viên CTXH có thể cung cấp một số dịch vụ xã hội để hỗ trợ nạn nhân như: Lập kế hoạch trợ giúp, điều phối các dịch vụ hỗ trợ dựa trên nguyên tắc
ưu tiên và đáp ứng nhu cầu của họ, đảm bảo giải quyết tất cả những vấn đề khó khăn mà thân chủ đang gặp phải Đánh giá mức độ tổn thương tâm lý, xác định phương pháp tham vấn và trị liệu, cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý để phục hồi sang chấn cho nạn nhân Những trường hợp có vấn đề về tâm lý quá lớn, nhân viên xã hội không đủ khả năng giải quyết thì sẽ đựơc kết nối, chuyển giao đến các cơ quan và tổ chức có khả năng, đủ thẩm quyền Lập kế hoạch trợ giúp cho nạn nhân và điều phối các dịch vụ hỗ trợ cho nạn nhân dựa trên nguyên tắc ưu tiên và đáp ứng nhu cầu của họ Đảm bảo giải quyết tất cả những vấn đề khó khăn mà thân chủ đang gặp phải Trong quá trình tìm hiều và phân tích vấn đề của nạn nhân, nhân viên xã hội sẽ là cầu nối giữa nạn nhân với Ngôi nhà bình yên; TW Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Các trung tâm bảo trợ xã hội, các nhà xã hội… để đảm bảo nạn nhân có được chỗ ở an toàn trong suốt thời gian