CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO
Cơ sở lí luận về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người nghèo
Hội nghị ESCAP năm 2003 tại Băng Cốc đã định nghĩa đói nghèo bao gồm cả nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối, một khái niệm quan trọng trong khu vực châu Á Thái Bình Dương.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không đáp ứng được những nhu cầu cơ bản đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục địa phương.
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng UNDP đã đưa ra các định nghĩa về nghèo trong báo cáo năm 1998 nhan đề "khắc phục sự nghèo khổ của con người".
Nghèo đói là tình trạng thiếu hụt các quyền cơ bản của con người, bao gồm khả năng đọc viết, tham gia vào các quyết định cộng đồng và đảm bảo dinh dưỡng tối thiểu.
Nghèo đói tiền tệ là tình trạng thiếu hụt thu nhập và khả năng chi tiêu tối thiểu, trong khi nghèo đói cực độ là sự khốn cùng, không thể đáp ứng các nhu cầu cơ bản nhất của cuộc sống.
Nghèo khổ chung được định nghĩa là mức độ nghèo ít nghiêm trọng hơn, khi một người không thể đáp ứng các nhu cầu lương thực và chi phí lương thực cơ bản Định nghĩa về các nhu cầu này có thể khác nhau giữa các quốc gia Tại Việt Nam, đói và nghèo thường được xem là hai khái niệm riêng biệt.
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản và có mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng Người nghèo vật lộn với mưu sinh hàng ngày, kinh tế vật chất, và thường không thể đáp ứng các nhu cầu văn hóa-tinh thần Nghèo là khi thu nhập thực tế của người dân hầu như chỉ dành cho nhu cầu ăn uống, không có tích lũy Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
Nghèo đói biểu hiện ở tình trạng thiếu ăn, không đủ dinh dưỡng tối thiểu để duy trì sự sống và lao động Thiếu đói được định nghĩa khi mức năng lượng tiêu thụ dưới 1500 calo/ngày, dẫn đến tình trạng hộ gia đình thiếu ăn, đứt bữa kéo dài Các hộ nghèo thường có giá trị tài sản thấp, nhà ở tạm bợ, con cái thất học và thu nhập bình quân rất thấp Đói nghèo ở Việt Nam mang những đặc điểm kinh tế và xã hội riêng biệt.
Đói nghèo là tình trạng thiếu thốn các điều kiện sống cơ bản như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục và đi lại, đồng thời hạn chế quyền tham gia vào các quyết định của cộng đồng.
Theo định nghĩa từ Hội nghị thượng đỉnh thế giới năm 1995 tại Copenhagen, người nghèo là những cá nhân có thu nhập dưới 1 USD mỗi ngày, mức thu nhập được xem là tối thiểu để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nghèo được định nghĩa dựa trên thu nhập, khi người có thu nhập hàng năm thấp hơn một nửa mức thu nhập bình quân đầu người (PCI) của quốc gia được xem là nghèo.
Tiêu chí xác định chuẩn nghèo rất đa dạng, bao gồm chỉ số chất lượng cuộc sống (PQLI), chỉ số phát triển con người (HDI), nhu cầu dinh dưỡng và thu nhập quốc dân bình quân đầu người Sự kết hợp giữa thu nhập quốc dân bình quân, chỉ số chất lượng cuộc sống và chỉ số phát triển con người giúp đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia một cách chính xác và khách quan hơn.
Người nghèo là những người có thu nhập thấp hơn mức trung bình xã hội và mức sống dưới mức trung bình, không đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu Họ hạn chế tiếp cận các dịch vụ công cộng thiết yếu và ít có khả năng tự bảo vệ mình trước các tác động tiêu cực của xã hội và tự nhiên Thường là đối tượng chịu tác động trực tiếp từ mặt trái của xã hội, sự phát triển kinh tế và bất ổn chính trị.
1.1.1.3 Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội tại Việt Nam không chỉ là từ thiện, mà cần được hiểu một cách toàn diện hơn với nhiều định nghĩa khác nhau.
Công tác xã hội, theo định nghĩa của Hội đồng Đào tạo công tác xã hội Mỹ, là một nghề tăng cường chức năng xã hội của cá nhân và nhóm, tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập tương tác hiệu quả giữa con người và môi trường Hoạt động này bao gồm phục hồi năng lực, cung cấp nguồn lực, và phòng ngừa suy giảm chức năng xã hội.
Cơ sở thực tiễn về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người nghèo
1.2.1 Các chính sách của Nhà nước trong việc giảm nghèo
* Nhóm chính sách giảm nghèo cơ bản:
Chính sách tín dụng cho người nghèo là một công cụ quan trọng để hỗ trợ những người có sức lao động và nhu cầu vốn phát triển sản xuất, từ đó tăng thu nhập và tự thoát nghèo.
Chính sách hỗ trợ sản xuất, đất sản xuất và trồng rừng
Chính sách khuyến nông, lâm, ngư nghiệp kết hợp chuyển giao kỹ thuật giúp người nghèo nâng cao kiến thức và kỹ năng Hỗ trợ xây dựng kế hoạch sản xuất hợp lý, áp dụng khoa học kỹ thuật để tăng thu nhập bền vững, đồng thời cải thiện tổ chức sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm.
Chính sách hỗ trợ đất đai và tư liệu sản xuất giúp người nghèo có cơ hội sản xuất, kết hợp dạy nghề và tạo việc làm, chuyển đổi ngành nghề Hỗ trợ này giúp hộ nghèo ổn định cuộc sống và thoát nghèo bền vững Đồng thời, trợ giúp người nghèo có tay nghề thông qua các khóa dạy nghề ngắn hạn để tăng thu nhập, tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm.
Chính sách dạy nghề và tạo việc làm tập trung vào việc thực hiện đào tạo nghề theo Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn" (Quyết định số 1956/QĐ-TTg và 46/2015/QĐ-TTg), ưu tiên các đối tượng lao động nông thôn, người có công, người khuyết tật, hộ nghèo, và các đối tượng đặc biệt khác Đồng thời, chính sách này hỗ trợ đào tạo nghề cho người nghèo thông qua các khoản vay ưu đãi không cần thế chấp, nhằm nâng cao kỹ năng, phát triển sản xuất và mở rộng cơ hội xuất khẩu lao động.
Khuyến khích các doanh nghiệp và tổ chức dạy nghề cho lao động thuộc hộ nghèo, gắn liền với việc tạo việc làm bền vững Ưu tiên các nghề phù hợp với cơ cấu lao động địa phương, có khả năng tự tạo việc làm và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong nước và quốc tế.
Nhà nước ưu đãi doanh nghiệp mở rộng hoạt động ở xã khó khăn hoặc thu hút lao động nghèo thông qua chính sách thuế và tiền thuê đất, nhằm phát triển nghề thu nhập cao và tạo việc làm mới Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, làng nghề, cơ sở dân doanh ổn định sản xuất, duy trì việc làm và tạo thêm việc làm tại chỗ.
Hỗ trợ chi phí học nghề và vay vốn cho người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo để tạo điều kiện xuất khẩu lao động, mở ra cơ hội việc làm mới Đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ, bao gồm các chương trình và dự án vay vốn, giúp hộ nghèo và người nghèo tự tạo việc làm bền vững, góp phần giảm nghèo hiệu quả.
Chính phủ thực hiện các chính sách việc làm theo Nghị định số 61/2015/NĐ-CP để tạo việc làm tại chỗ cho người lao động, đặc biệt là lao động thời vụ nông nhàn và lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, giúp họ tiếp cận thị trường lao động.
Hỗ trợ học phí học nghề cho lao động thuộc hộ nông dân bị thu hồi đất là một chính sách quan trọng, được quy định tại Quyết định 63/2015/QĐ-TTg, nhằm tạo điều kiện cho người dân bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển kinh tế Chính sách này giúp người lao động có cơ hội học nghề, nâng cao kỹ năng, và tìm kiếm việc làm mới, ổn định cuộc sống sau khi mất đất canh tác.
Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ nhà ở và nước sinh hoạt cho người nghèo, bao gồm Chương trình 134 (Quyết định 134/2004) và Quyết định 167/2008/QĐ-TTg, nhằm cải thiện điều kiện sống cho các hộ gia đình khó khăn Quyết định số 716/QĐ-TTg tiếp tục thí điểm các giải pháp hỗ trợ nâng cao an toàn chỗ ở, đặc biệt tại các vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi lũ lụt ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung Bên cạnh đó, Quyết định 67/2010/QĐ-TTg sửa đổi và bổ sung một số điều của Quyết định 167/2008/QĐ-TTg, tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo.
Chính sách miễn, giảm học phí ưu tiên học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và cận nghèo, cũng như người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng kinh tế - xã hội khó khăn Mức giảm 70% áp dụng cho trẻ em mẫu giáo và học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn Trẻ em mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc hộ cận nghèo được giảm 50% học phí Ngoài ra, trẻ em mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo còn được hỗ trợ chi phí học tập.
Chính sách y tế ưu tiên người nghèo thông qua việc cấp thẻ BHYT miễn phí cho các đối tượng như hộ nghèo, dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn, và người dân sinh sống tại các xã đảo, huyện đảo Hộ gia đình cận nghèo cũng được hỗ trợ mức đóng BHYT, tạo điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế.
Chính sách trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo người nghèo tiếp cận được các văn bản pháp luật và dịch vụ hỗ trợ pháp lý Điều này giúp họ hiểu rõ và thụ hưởng các chính sách công của nhà nước, đồng thời phát huy vai trò của mình trong cộng đồng.
* Nhóm chính sách giảm nghèo đặc thù:
Chính sách giảm nghèo đặc thù được triển khai qua Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững và các chương trình riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là giai đoạn 2016-2020.
Mục tiêu tổng quát là giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, góp phần tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội Cải thiện đời sống và tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt ở các địa bàn nghèo, tạo điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và thông tin Mục tiêu này hướng đến hoàn thành giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2016-2020 theo Nghị quyết Quốc hội.
1.2.2 Một số nghiên cứu về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người nghèo trong nước
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO
Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu Đặc điểm tự nhiên
Xã Nậm Khao, thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, nằm ở vùng núi Tây Bắc với tổng diện tích tự nhiên 10.782,41 ha, cách trung tâm huyện 25,5km Vị trí địa lý của xã giáp với các xã Mường Tè, Kan Hồ, Bum Tở và Tà Tổng ở các hướng Bắc, Nam, Đông và Tây Diện tích đất tự nhiên của xã là 10.780,50 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 2,88% và đất rừng chiếm phần lớn với 5.037,36 ha, bao gồm cả rừng phòng hộ.
Đất chủ yếu được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, nhưng đang ngày càng bị ô nhiễm do hoạt động sản xuất nông nghiệp và chất thải sinh hoạt.
Địa hình đồi núi cao trung bình (300-1000m) do kiến tạo địa chất, thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp (cao su, quế, mắc ca) và cây ăn quả.
Nậm Khao mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới núi cao Tây Bắc, với hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, ít mưa và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều, ít chịu ảnh hưởng của bão.
Mùa mưa ở vùng núi cao này kéo dài từ cuối tháng 4 đến tháng 10, với lượng mưa lớn dao động từ 1500-1800mm, trong khi mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 có lượng mưa ít và thường xuyên có sương mù.
Chế độ nhiệt: Do chịu ảnh hưởng của địa hình nên nhiệt độ trung bình đạt
Chế độ gió ở khu vực này thay đổi theo mùa, với gió mùa Tây Nam từ tháng 3 đến tháng 7, gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10, và gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế xã hội.
Xã có 415 hộ với 1671 nhân khẩu tính đến tháng 12 năm 2021, bao gồm hai dân tộc chính là Cống (61,79%) và La Hủ.
Vùng đất rộng lớn với mật độ dân cư thưa thớt gây khó khăn cho giao thông và đi lại, đồng thời trình độ dân trí không đồng đều và đời sống của một bộ phận dân cư còn thấp Tỷ lệ hộ nghèo cao và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản còn hạn chế là những thách thức đáng kể.
Hoạt động lao động sản xuất tại địa phương chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp, do đó phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên như thời tiết và địa hình Lực lượng lao động trong độ tuổi là 1429 người.
Xã được trang bị đầy đủ các công trình công cộng thiết yếu như trạm y tế, trường học từ mẫu giáo đến trung học cơ sở và trụ sở ủy ban nhân dân xã, đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân Hệ thống điện được đảm bảo, trong khi nguồn nước sinh hoạt chủ yếu được khai thác từ các khe suối tự nhiên.
Trong sản xuất nông nghiệp lúa nước, hệ thống mương dẫn nước đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước tưới tiêu Tuy nhiên, chất lượng của hệ thống kênh mương hiện tại còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
Đường giao thông nông thôn được bê tông hóa tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của người dân Tuy nhiên, do người dân tự huy động và thi công, chất lượng đường xá còn hạn chế do thiếu kỹ thuật và chuyên môn.
Sản xuất nông lâm thủy sản đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng của xã Nậm Khao năm 2021, theo báo cáo của UBND xã.
Năm 2021, tổng diện tích gieo trồng cây lương thực là 277 ha, trong đó diện tích thu hoạch đạt 261,1 ha do 15,9 ha bị thiệt hại Diện tích thu hoạch lúa đạt 189,1 ha với sản lượng 800,68 tấn, và diện tích thu hoạch ngô đạt 72 ha với sản lượng 512,3 tấn Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2021 đạt 1016 tấn.
Năm 2021, tình hình dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi được kiểm soát tốt, tạo điều kiện cho chăn nuôi gia súc phát triển ổn định Công tác tiêm phòng và khử trùng được chú trọng, giúp giảm thiểu nguy cơ dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn Châu Phi Tính đến tháng 12/2021, tổng đàn gia súc đạt 1265 con và gia cầm là 4700 con, cho thấy sự tăng trưởng trong lĩnh vực chăn nuôi.
Thực trạng nghèo đói tại xã Nậm Khao
2.2.1 Số hộ nghèo trên địa bàn xã
Bảng 2.2: Tổng hợp số hộ nghèo xã Nậm Khao
STT Bản Tổng số hộ trên địa bàn
Tổng số khẩu trên địa bàn Số hộ nghèo
(Nguồn báo cáo kết quả quyết định hộ nghèo của UBND xã Nậm Khao) 2.2.2 Thu nhập
Thu nhập thấp và không ổn định là thực trạng của phần lớn người nghèo tại xã, chủ yếu do phụ thuộc vào trồng cây hoa màu trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và thời tiết bất thường, dẫn đến năng suất lao động thấp Thêm vào đó, vị trí địa lý khó khăn, giao thông hạn chế và thị trường tiêu thụ nông sản kém phát triển càng làm trầm trọng thêm tình trạng này.
Sinh kế của những người dân ở xã Nậm Khao chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp Họ sống phụ thuộc vào việc làm ruộng, làm nương rẫy
Do trình độ học vấn thấp, người nghèo khó tiếp cận việc làm tại các thành phố lớn, khiến việc trồng lúa, ngô, khoai trở thành phương kế sinh nhai quan trọng để cải thiện cuộc sống hàng ngày.
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người nghèo tại xã Nậm Khao, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu
2.3.1 Thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người nghèo tại xã Nậm Khao, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu
Để thực hiện hiệu quả các vai trò, chức năng và nhiệm vụ của một cán bộ công tác xã hội, địa phương hiện đang đối mặt với nhiều khó khăn do thiếu nhân viên chuyên trách, chủ yếu chỉ có cán bộ lao động thương binh xã hội.
Cán bộ lao động xã hội địa phương thiếu kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tế, gây khó khăn cho hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực công tác xã hội.
Cán bộ lao động xã hội có xu hướng chuyển đổi từ các chuyên ngành khác, như kế toán, sang công tác xã hội, hoặc tham gia các khóa đào tạo tại chức để nâng cao nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu công việc.
Nhiều vai trò hỗ trợ người nghèo đang được triển khai, tuy nhiên, bài báo cáo này tập trung vào 5 vai trò thiết yếu nhất liên quan trực tiếp đến nghiên cứu tại xã Nậm Khao.
2.3.2 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người nghèo tại xã Nậm Khao, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu
2.3.2.1 Vai trò là người kết nối, vận động nguồn lực
Vận động kết nối nguồn lực đóng vai trò then chốt trong chính sách giảm nghèo, bao gồm cả nguồn nội lực địa phương và tiềm năng của chính người nghèo Nhân viên công tác xã hội đóng vai trò kết nối người nghèo với các nguồn lực hỗ trợ, giúp họ phát huy khả năng và vươn lên thoát nghèo bền vững.
Bảng 2.3: Thể hiện mức độ hài lòng về việc kết nối nguồn lực của NVCTXH
STT Mức độ Số người Tỷ lệ %
(Nguồn phiếu khảo sát tháng 4 năm 2022)
Kết quả khảo sát cho thấy đa số người nghèo (51,67%) rất hài lòng với vai trò kết nối nguồn lực của nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) Bên cạnh đó, 30,83% đánh giá ở mức bình thường và 17,5% không hài lòng Điều này cho thấy NVCTXH nhận thức rõ vai trò kết nối nguồn lực, phù hợp với nguyên tắc nghề nghiệp nhằm giúp người nghèo tự vươn lên giải quyết vấn đề một cách bền vững.
Vai trò kết nối nguồn lực: gồm kết nối nguồn lực nội lực và kết nối nguồn lực ngoại lực: Đối với việc kết nối nguồn lực nội lực:
Khơi dậy sức mạnh nội tại của người nghèo thông qua tương tác cộng đồng, tập trung vào việc phát huy điểm mạnh và khắc phục hạn chế, từ đó kiến tạo sức mạnh tự thân bền vững.
Kết nối sự trợ giúp từ những người thân, gia đình, họ hàng để chung tay giúp người nghèo vượt qua khó khăn
Kết nối với các hội, đoàn thể và cán bộ địa phương để huy động nguồn lực hỗ trợ người nghèo là một giải pháp quan trọng Bên cạnh việc tiếp cận vốn vay ưu đãi từ ngân hàng chính sách, việc phối hợp với các tổ chức đoàn thể địa phương và phòng nông nghiệp huyện giúp tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi Điều này góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho các hộ nghèo một cách hiệu quả.
Các chương trình tín dụng ưu đãi của xã phát huy hiệu quả tích cực, tác động mạnh mẽ đến đời sống người nghèo và đối tượng chính sách Đồng thời, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, tạo niềm tin cho người dân vào Đảng và Nhà nước.
Ngân hàng chính sách xã hội huyện Mường Tè đã trở thành địa chỉ tin cậy, giúp người nghèo và các đối tượng chính sách vươn lên thoát nghèo, làm giàu Thông qua việc vay vốn, người dân tiếp cận phương thức sản xuất mới, đầu tư phát triển kinh tế, cải thiện chất lượng cuộc sống, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội Ngân hàng kết nối nguồn vốn vay và các chương trình dự án giảm nghèo.
Kết nối nguồn vốn vay hiệu quả, với 89,16% người tham gia khảo sát (107/120 người) cho biết họ đã tiếp cận được các nguồn vốn vay thông qua chương trình, cho thấy sự thành công trong việc kết nối nguồn lực tài chính.
Khi phân bổ vốn vay, UBND huyện ưu tiên các bản có số hộ nghèo lớn, chỉ tiêu giảm nghèo cao, các xã chuyển đổi đất nông nghiệp và mô hình sản xuất năng suất cao, chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang kinh doanh dịch vụ, và các hộ có nhu cầu vay vốn tạo việc làm, theo chỉ đạo phối hợp giữa ngân hàng chính sách xã hội và phòng LĐTB&XH.
Thực hiện giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, các chương trình mục tiêu quốc gia góp phần tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và cải thiện đời sống người dân, đặc biệt ở các địa bàn nghèo Người nghèo và hộ nghèo được tạo điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và thông tin, nhằm hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2021-2025 Tuy nhiên, số người được kết nối với các chương trình, dự án trợ giúp người nghèo còn rất hạn chế, chỉ chiếm tỉ lệ 0,2%.
2.3.2.2 Vai trò là người giáo dục Để thực hiện một cách hiệu quả bất kỳ một công việc gì đều phải xuất phát từ nhận thức đúng đắn Nhận thức đúng sẽ có hướng đi và hành động đúng NVCTXH cần nhận thức rõ vai trò là người giáo dục, hướng dẫn người nghèo nâng cao nhận thức để có thể tự mình vươn lên thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèo nàn Vai trò là người giáo dục của NVCTXH được thể hiện qua việc cung cấp kiến thức kỹ năng nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng nghèo thông qua các tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có thể nắm bắt được các chính sách liên quan đến chính sách giảm nghèo, đồng thời giúp họ nhận ra khả năng của chính mình Từ đó có sự tự tin để có thể chủ động nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết
Để giảm nghèo hiệu quả, nhận thức đúng đắn và tích cực của người nghèo đóng vai trò then chốt Giáo dục và nâng cao nhận thức cho người nghèo là nhiệm vụ quan trọng của nhân viên công tác xã hội Điều này giúp người nghèo nhìn nhận vấn đề một cách đúng đắn, nắm bắt thông tin chính sách, và chủ động phân tích vấn đề theo hướng tích cực.
Bảng 2.4: Đánh giá tầm quan trọnv ng về vai trò giáo dục của NVCTXH
STT Mức độ Số người Tỷ lệ %
(Nguồn phiếu khảo sát tháng 4 năm 2022)
Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người nghèo tại xã Nậm Khao
Hoàn cảnh khó khăn của cặp vợ chồng già, với chồng là thanh niên xung phong, sống trong căn nhà rột nát và chỉ có một mảnh ruộng, trở nên đặc biệt cần sự trợ giúp khi tuổi đã cao và các con đều lập gia đình riêng Sự hỗ trợ từ cộng đồng và các nhà hảo tâm là vô cùng quan trọng để giúp ông bà giảm bớt gánh nặng cuộc sống, đặc biệt khi không có người thân nương tựa lúc ốm đau.
Công tác biện hộ hiện nay được thực hiện ở nhiều cấp độ, nhưng vai trò của nó chưa nhận được sự quan tâm đúng mức trong phát triển và các hoạt động xã hội, dẫn đến những hạn chế trong việc đáp ứng yêu cầu của nhân viên công tác xã hội và xã hội nói chung.
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người nghèo tại xã Nậm Khao
Mặc dù tầm quan trọng của công tác xã hội trong thực hiện chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo đã được nhận thức, nhưng vẫn thiếu quy định pháp lý cụ thể về chức năng, nhiệm vụ cho nhân viên xã hội ở cấp cơ sở Việc thiếu hành lang pháp lý này gây khó khăn cho chính quyền và cán bộ chính sách trong việc thực hiện vai trò của nhân viên công tác xã hội một cách hiệu quả.
Bảng 2.7 : Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến vai trò của NVCTXH
STT Mức độ Số người Tỷ lệ %
(Nguồn phiếu khảo sát tháng 4 năm 2022)
Đa số người dân (43.33%) cho rằng yếu tố khách quan ảnh hưởng đến vai trò của nhân viên công tác xã hội, thể hiện qua số liệu 52 người được khảo sát Bên cạnh đó, có 30% (36 người) nhận định yếu tố này ít ảnh hưởng, và 26.67% (32 người) cho rằng không ảnh hưởng.
Để công tác xã hội phát huy hiệu quả trong giảm nghèo, cần có quy định pháp lý và chính sách cụ thể, công khai về hoạt động nghề nghiệp Điều này giúp người dân, đặc biệt là người nghèo, hiểu rõ vai trò của công tác xã hội và nhân viên xã hội, từ đó đưa công tác xã hội vào đời sống, giúp an sinh xã hội bền vững Năng lực của cán bộ thương binh xã hội tại địa phương ảnh hưởng đến vai trò của công tác xã hội trong thực hiện chính sách giảm nghèo.
Nhân viên công tác xã hội (CTXH) thường thiếu kiến thức chuyên môn do đào tạo trái ngành và khối lượng công việc lớn, gây khó khăn trong việc đảm nhiệm vai trò Cán bộ CTXH xã Nậm Khao chủ yếu xuất thân từ các ngành như kế toán, nông nghiệp, dẫn đến việc phải học lại từ đầu khi làm việc trong lĩnh vực này.
Nhân viên công tác xã hội (CTXH) thiếu kiến thức cơ bản sẽ khó nhận diện giá trị nghề nghiệp, dẫn đến việc triển khai CTXH sai lệch mục đích và trở thành hoạt động chính sách đơn thuần Điều này làm sai lệch mục tiêu mà CTXH hướng đến.
Bảng 2.8: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến vai trò của NVCTXH
STT Mức độ Số người Tỷ lệ %
(Nguồn phiếu khảo sát tháng 4 năm 2022)
Đa số người nghèo (43,33%) nhận thấy yếu tố từ nhân viên CTXH có ảnh hưởng đến kết quả hỗ trợ Một bộ phận cán bộ CTXH chưa thực sự tập trung và tiếp thu kiến thức trong các buổi tập huấn, dẫn đến giảm hiệu quả của chương trình Cần chấn chỉnh thái độ này để nâng cao chất lượng tập huấn và hỗ trợ người nghèo hiệu quả hơn.