GIAO TRINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ BỘ MÔN TÀI CHÍNH Chủ biên PGS TS NGUYỄN VĂN ĐỊNH Tham gia biên soạn TS TÔ MINH HƯƠNG TS VŨ THỊ PHƯƠNG THẢO GIÁO TRÌNH Tỉm chính IỂNTỆ NHÀ XUẤ[.]
Trang 1GIAO TRINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
Trang 4LỜI NÓI ĐÀU
Môn học Tài chính - Tiền tệ là môn học cơ sở của các ngành tài chính, kế toán
và quản trị kinh doanh Mục tiêu của môn học này nhằm trang bị các kiến thức cơ bản giúp sinh viên hiểu về hệ thống tài chính - tiền tệ và làm quen, cũng như biết và sử dụng được các dịch vụ trên thị trường tài chính, tiền tệ và ở các ngân hàng Nội dung của giáo trình được chia làm hai phần:
Phần I Những vấn đề cơ bản về tài chính, tiền tệ, ngân hàng với các kiến thức cơ bản về tài chính, tiền tệ và các dịch vụ của ngân hàng nhằm giúp cho sinh viên thuận lợi hơn khi ra trường trong việc làm quen và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng.
Phan II. Thị trường chứng khoán gồm các kiến thức liên quan đến chứng khoán
và thị trường chứng khoán giúp cho sinh viên bước đầu làm quen với thị trường chứng khoán làm cơ sở cho nghiên cứu sâu hơn thị trường này.
Tham gia biên soạn giáo trình này có các giảng viên trong và ngoài trường sau:
- PGS TS Nguyễn Văn Định, Phó Trưởng Khoa quốc tế, trường Đại học Quốc gia, nguyên Trưởng Bộ môn Tài chính, Viện Quản trị kinh doanh, trường Đại học Kinh tế quốc dân chủ biên và biên soạn các chương 1,2.
- TS Vũ Thị Phương Thảo, giảng viên Bộ môn Tài chính, Khoa Kinh tế và Quản lý, trường Đại học Thủy lợi biên soạn chương 3, 5.
- TS Tô Minh Hương, giảng viên Bộ môn Tài chính, Khoa Kinh tế và Quản lý, trường Đại học Thủy lợi biên soạn chương 4, 6, 7, 8.
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do là lần xuất bản đầu tiên, thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên cuốn sách khó tránh khỏi những khiếm khuyết Các tác giả
hy vọng nhận được các ý kiến có giá trị khoa học và mang tính xây dựng để lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.
Các ý kiến đóng góp xin gửi về Bộ môn Tài chính, Khoa Kinh tế và Quản lý, trường Đại học Thủy lợi Địa chỉ: 175, Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội.
Xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, tháng 08 năm 2022
TM TẬP THẺ TÁC GIẢ PGS TS Nguyễn Văn Định
3
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIÉT TẤT 13
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ cơ BẢN VỀ TÀI CHÍNH 14
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM Cơ BẢN 14
II Sự THAM GIA CỦA CÁC CHỦ THẾ VÀO HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 15
1 Nhà nước 15
2 Ngân hàng Trung ương 16
3 Các nhà đầu tư 17
4 Các doanh nghiệp 17
III CHỨC NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 18
1 Chức năng kinh tế 18
2 Chức năng cung cấp thông tin liên tục về giá tài sản 20
3 Chức năng xác định giá cả họp lý 21
IV CẤU TRÚC CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 21
1 Thị trường vốn và thị trường tiền 21
2 Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp 23
V THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 24
1 Sờ giao dịch chứng khoán 24
2 Hệ thống niêm yết và giao dịch điện tử 26
3 Thị trường giao dịch qua quầy (OTC) 27
4 Thị trường thứ ba và thị trường thứ tư 28
CHƯƠNG II: TIỀN, LẠM PHÁT, LÃI SUẤT, GIÁ TRỊ THỜI GIAN CỦA TIỀN VÀ TỶ GIÁ ’ ’ 30
I KHÁI NIỆM VÀ CHỨC NĂNG CỦA TIỀN 30
1 Sự ra đời và phát triến của tiền 30
2 Chức năng của tiền 32
II LẠM PHÁT 33
1 Bản chất của lạm phát 33
2 Tác động của lạm phát 34
3 Nguyên nhân và chính sách kiểm soát lạm phát 34
III LÃI SUẤT VÀ GIÁ TRỊ THỜI GIAN CỦA TIỀN 35
1 Lãi suất 35
2 Giá trị thời gian của tiền 37
2.1 Định giá niên kim 39
5
Trang 62.2 Định giá dòng tiền hỗn hợp 42
2.3 Định giá dòng tiền khi tính gộp lãi nhiều lần trong năm 43
IV MỘT SỐ VẤN ĐỀ Cơ BẢN VỀ TỶ GIÁ 44
1 Các khái niệm liên quan tới tỷ giá 44
1.1 Tỷ giá 44
1.2 Cách niêm yết tỷ giá 45
1.3 Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái 45
2 Vai trò của tỷ giá 46
3 Lịch sử của các chế độ tỷ giá (hệ thống tiền quốc tế) 47
3.1 Chế độ song bản vị 47
3.2 Chế độ bản vị vàng 48
3.3 Chế độ bản vị vàng và đô la Mỹ 48
3.4 Chế độ tỷ giá thả nổi 48
3.5 Chế độ tỷ giá thả nối có quản lý 49
4 Các yếu tố của tỷ giá 49
5 Can thiệp của Ngân hàng Trung uơng đối với tỳ giá 52
CHƯƠNG III: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 53
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC NGÂN HÀNG 53
1 Sụ hình thành và phát triển của ngân hàng trên thế giới 53
1.1 Thời kỳ sơ khai 53
1.2 Thời kỳ hình thành các nghiệp vụ ngân hàng 53
1.3 Thời kỳ hình thành ngân hàng phát hành và Ngân hàng Trung ương 54
2 Lịch sử ra đời và phát triển ngân hàng ở Việt Nam 54
II NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 56
1 Khái niệm ngân hàng thương mại 56
2 Các loại hình ngân hàng thương mại 57
2.1 Căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động 57
2.2 Căn cứ vào hình thức sờ hữu 57
2.3 Căn cứ vào chiến lược kinh doanh 58
3 Chức năng của ngân hàng thương mại 58
3.1 Chức năng trung gian tín dụng 58
3.2 Chức năng trung gian thanh toán 58
3.3 Chức năng tạo tiền 59
4 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại 61
4.1 Hoạt động huy động vốn 61
4.2 Hoạt động cấp tín dụng 61
6
Trang 74.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ 62
4.4 Các hoạt động khác 63
5 Nguyên lý chung về quản lý ngân hàng thuơng mại 66
5.1 Quản lý thanh khoản 66
5.2 Quản lý tài sản Có 69
5.3 Quản lý tài sản Nợ 69
5.4 Quản lý vốn chủ sở hữu 70
CHƯƠNG IV: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 74
I GIÓI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 74
1 Các giai đoạn phát triển của Ngân hàng Trung uơng 74
2 Bản chất của Ngân hàng Trung ương 76
II MỒ HÌNH TỔ CHỨC NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 76
1 Ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ (ngân hàng trung ương trực thuộc Quốc hội) 76
2 Ngân hàng Trung ương trực thuộc Chính phủ 77
3 Hệ thống tố chức Ngân hàng Trung ương 77
III CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 78
1 Ngân hàng Trung ương là ngân hàng phát hành và điều tiết lưu thông tiền tệ 78
2 Ngân hàng Trung ương là ngân hàng của các ngân hàng 82
2.1 Ngân hàng Trung ương mờ tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian 82
2.2 Ngân hàng Trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian 83
2.3 Ngân hàng Trung ương là trung tâm thanh toán của các ngân hàng 84
2.4 Ngân hàng Trung ương thực hiện việc quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng 84
3 Ngân hàng Trung ương là ngân hàng của Nhà nước 85
3.1 Làm thủ quỹ cho Kho bạc Nhà nước thông qua quản lý tài khoản cùa kho bạc 85
3.2 Quản lý dự trữ quốc gia 86
3.3 Làm đại lý, đại diện và tư vấn cho chính phủ 86
3.4 Chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng 87
3.5 Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng 88
3.6 Bảo vệ khách hàng 90
IV VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 90
1 Vai trò điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông 90
2 Vai trò thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế 90
3 Vai trò on định sức mua của đồng tiền quốc gia 91
4 Vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng 91
V CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 91
1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 92
7
Trang 81.1 Kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả, ổn định sức mua của đồng tiền 92
1.2 Tăng trưởng kinh tế 94
1.3 Tạo công ăn việc làm 94
2 Công cụ đế thực thi chính sách tiền tệ 96
2.1 Công cụ trực tiếp 96
2.2 Công cụ gián tiếp 98
CHƯƠNG V: NGHIỆP vụ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÃ THựC HIỆN THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 104
I NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 104
1 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại 104
1.1 Vốn chủ sờ hữu 104
1.2 Nhận tiền gửi 105
1.3 Phát hành giấy tờ có giá 107
1.4 Vay vốn của các tổ chức tín dụng và ngân hàng trung ương 108
1.5 Các nguồn vốn khác 108
2 Nghiệp vụ cho vay 109
2.1 Khái niệm nghiệp vụ cho vay 109
2.2 Vai trò của nghiệp vụ cho vay và các loại cho vay 109
2.3 Nguyên tắc cho vay 111
2.4 Quy trình cho vay 112
2.5 Bảo đảm tiền vay 114
3 Nghiệp vụ thanh toán 115
4 Nghiệp vụ đầu tư 116
5 Nghiệp vụ bảo lãnh 116
5.1 Những vấn đề chung về bảo lãnh 116
5.2 Phân loại bảo lãnh 117
5.3 Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng 117
II THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 120
1 Những vấn đế cơ bản về thanh toán qua ngân hàng 120
2 Các hình thức thanh toán qua ngân hàng 121
2.1 Nộp và rút tiền mặt tại ngân hàng 121
2.2 Thanh toán không dùng tiền mặt 123
2.3 Thanh toán giữa các ngân hàng 134
CHƯƠNG VI: TỐNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN 136
I Sự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN 136
1 Sự hình thành thị trường chứng khoán 136
8
Trang 92 Khái niệm, đặc điểm thị trường chứng khoán 138
2.1 Khái niệm 138
2.2 Đặc điểm 139
3 Chức năng của thị trường chứng khoán 139
II CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 141
1 Nhà phát hành 141
2 Nhà đầu tư 142
2.1 Các nhà đầu tư cá nhân 142
2.2 Nhà đầu tư tổ chức 143
3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán 143
4 Các tố chức quản lý và giám sát hoạt động thị trường chứng khoán 144
III Cơ CẤU, NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỦNG KHOÁN 147
1 Co cấu thị trường chứng khoán 147
1.1 Căn cứ vào tính chất các chứng khoán được giao dịch 147
1.2 Căn cứ vào quá trình luân chuyển các nguồn vốn 147
1.3 Căn cứ vào hình thức tố chức của thị trường 148
1.4 Căn cứ phương thức giao dịch của thị trường 150
2 Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 150
IV Cơ CHẾ ĐIỀU HÀNH VÀ GIÁM SÁT THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 152
1 Sự cần thiết phải điều hành và giám sát thị trường chứng khoán 152
2 Cơ chế điều hành và giám sát thị trường chứng khoán 153
3 Tổ chức và hoạt động của sở giao dịch chứng khoán 155
CHƯƠNG VII: HÀNG HÓA TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 161
I CHÚNG KHOÁN - CÔNG cụ CỦA THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN 161
1 Khái niệm và đặc trưng của chứng khoán 161
1.1 Khái niệm 161
1.2 Đặc trưng của chứng khoán 161
2 Phân loại chứng khoán 162
2.1 Phân loại theo chủ thể phát hành 162
2.2 Phân loại theo tính chất huy động vốn 163
2.3 Phân loại theo lợi tức của chứng khoán 163
2.4 Phân loại theo hình thức chứng khoán 165
2.5 Phân loại theo thị trường giao dịch chứng khoán 165
II CỔ PHIẾU VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU 166
1 Khái niệm công ty cố phần và cố phiếu 166
2 Phân loại cổ phiếu 169
9
Trang 102.1 Dựa vào hình thức cổ phiếu 169
2.2 Dựa vào hình thức góp vốn vào công ty 169
2.3 Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho nguời nắm giữ 169
2.4 Phân loại dựa trên tình trạng luu hành 173
2.5 Phân loại theo tình trạng niêm yết 174
3 Định giá cổ phiếu và các nhân tố ảnh hưởng đến giá thị trường của cổ phiếu 174
3.1 Định giá cổ phiếu ưu đãi 174
3.2 Định giá cổ phiếu thường 174
III TRÁI PHIẾU VÀ ĐỊNH GIÁ TRÁI PHIẾU 179
1 Trái phiếu 179
2 Phân loại trái phiếu 181
2.1 Phân loại theo người phát hành 181
2.2 Phân loại lợi tức trái phiếu 181
2.3 Phân loại theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành 181
2.4 Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu 182
2.5 Phân loại dựa vào tính chất trái phiếu 182
3 Định giá trái phiếu 182
3.1 Định giá trái phiếu vĩnh cửu 182
3.2 Định giá trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi 183
3.3 Định giá trái phiếu có kỳ hạn không hưởng lãi 183
3.4 Định giá trái phiếu trả lãi nửa năm 183
3.5 Phân tích sự biến động giá trái phiếu 183
3.6 Lãi suất đầu tư trái phiếu 184
IV CHỬNG KHOÁN PHÁI SINH 185
1 Khái niệm chứng khoán phái sinh 185
2 Phân loại chứng khoán phái sinh 187
3 Các loại họp đồng phái sinh 187
3.1 Họp đồng kỳ hạn (Forwards) 187
3.2 Họp đồng tưong lai (Futures) 188
3.3 Họp đồng quyền chọn (Options) 193
3.4 Chứng khế (Warrants) 195
3.5 Chứng quyền (Rights) 196
3.6 Hợp đồng hoán đổi (Swaps) 198
4 Vai trò của thị trường chứng khoán phái sinh 202
CHƯƠNG VIII: PHÁT HÀNH VÀ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 205
I PHÁT HÀNH CHÚNG KHOÁN 205
10
Trang 111 Chủ thể và mục đích phát hành 205
2 Các phương thức phát hành chứng khoán 206
3 Chào bán chứng khoán ra công chúng 207
3.1 Điều kiện phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng 207
3.2 Thủ tục chủ yếu chào bán chứng khoán ra công chúng 210
3.3 Các phương pháp phân phối chứng khoán ra công chúng 213
4 Phát hành cố phiếu và trái phiếu 215
4.1 Phát hành cổ phiếu 215
4.2 Phát hành trái phiếu 217
II GIAO DỊCH TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 218
1 Niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán 218
2 Giao dịch chứng khoán trên Sờ giao dịch chứng khoán 221
2.1 Kỹ thuật giao dịch 221
2.2 Quy trình giao dịch 222
2.3 Phương thức giao dịch 225
2.4 Các loại lệnh giao dịch 227
3 Đơn vị giao dịch, đơn vị yết giá, biên độ dao động giá 232
III GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG (OTC) 237
1 Giao dịch trên thị trường OTC 237
2 Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC 237
3 Cơ chế lập giá trên thị trường OTC 238
4 Hệ thống các nhà tạo lập thị trường 238
5 Các tổ chức quản lý 238
6 Cơ chế thanh toán trên thị trường OTC 239
IV CÁC GIAO DỊCH ĐẶC BIỆT 242
1 Giao dịch cố phiếu quỹ 242
2 Giao dịch thâu tóm công ty 242
3 Giao dịch ký quỹ 243
4 Tách, gộp cố phiếu 244
HỆ THỐNG CÁC BÀI TẬP 245
PHẦN I: GIÁ TRỊ THỜI GIAN CỦA TIỀN 245
PHẦN II: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 251
PHẦN III: CHÚNG KHOÁN, ĐỊNH GIÁ CHÚNG KHOÁN 255
TÀI LIỆU THAM KHẢO 263
11
Trang 1212
Trang 13DANH MỤC THUẬT NGỮ VÀ CÁC TỪ VIÉT TẮT
UBCKNN ủy ban Chứng khoán Nhà nước
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
TTTTBT Trung tâm thanh toán bù trừ
TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
IPO Phát hành lần đầu ra công chúng
DPO Chào bán công khai trực tiếp
ATO Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh
P/E Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
ROA Tỉ suất sinh lời trên tài sản Có
ROE Tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
13
Trang 14Chương I NHŨNG VẤN ĐÈ Cơ BẢN VÈ TÀI CHÍNH
Tài chính là thuật ngữ chuyên môn được dùng phổ biến trong đời sống và trong quản lý Tuy nhiên, khái niệm ngắn gọn về tài chính lại chưa được trình bày với mức
độ thống nhất cao và phổ biến Theo đặc điểm, tính chất của quản lý tài chính bao gồm, có thể xem xét tài chính ở khía cạnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong phạm
vi xem xét Tài chính được dùng để hàm ý mối quan hệ giữa các chủ thể về dòng tiền Khi giữa hai chủ thể bất kỳ có mối quan hệ về dòng tiền phát sinh, khi đó ta có thể nói có tài chính xuất hiện.
Như vậy, có thể hiểu: Tài chính là quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế về giá trị hay dòng tiền Tài chính hình thành khi trong xã hội có các mối quan hệ mua bán, trao đổi hoặc vay mượn giữa các chủ thể độc lập.
Cũng có thể hiểu quản lý tài chính là quản lý mối quan hệ giữa các chủ thể về dòng tiền.
Các chủ thể trong nền kinh tế có thể là những tổ chức rất rộng như Nhà nước, các đơn vị kinh doanh như các doanh nghiệp, các hộ gia đình, các cá nhân
Với khái niệm rộng như vậy, tài chính có thê được phân chia thành các nhóm quan trọng: Tài chính công; Tài chính doanh nghiệp; Tài chính quốc tế; Các tổ chức tài chính; và Thị trường tài chính Theo đó:
Tài chính công bao gồm các mối quan hệ về dòng tiền giữa Nhà nước và phần còn lại nền kinh tế (bao gồm các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và các chủ thể liên quan khác).
Tài chính doanh nghiệp bao trùm các mối quan hệ về dòng tiền giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác trên thị trường tài chính và các thị trường khác (như thị trường lao động, thị trường nguyên vật liệu đầu vào, thị trường sản phẩm dịch vụ đầu ra).
Tài chính quốc tế là tổng thể các mối quan hệ về dòng tiền giữa các chủ thể trong một quốc gia (như Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình) với các chủ thế ở phần còn lại của thể giới Sự dịch chuyển của các dòng tiền này yêu cầu sự chuyển đổi đơn vị tiền tệ của quốc gia/ khu vực này sang đơn vị tiền tệ quốc gia, khu vực khác nên xuất hiện vai trò quan trọng của tỷ giá.
Các tổ chức tài chính như các ngân hàng, các công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty đầu tư cung cấp các dịch vụ tài chính trên thị trường.
14
Trang 15Hệ thống tài chính bao gồm các chủ thể tài chính và quan hệ tài chính giữa chúng trong nền kinh tế Hệ thống tài chính được đặc trưng bởi thị trường tài chính - là tổng thể các mối quan hệ tài chính trong nền kinh tế.
Thị trường tài chính là nơi các tài sản tài chính được tạo ra và trao đổi, mua bán Trên thị trường tài chính, lãi suất và giá của các tài sản tài chính được xác lập, các dòng tài chính được luân chuyển giữa các chủ thề tạo - điều kiện cho các chủ thể
đó vận hành thuận lợi trong nền kinh tế, của cải vật chất được tạo ra, các mục tiêu chung của nền kinh tế được thực hiện.
Tài sản tài chính (còn được gọi với tên khác là chứng khoán) là các chứng chỉ, bút toán ghi sổ hay bút toán điện tử xác định quyền của người nắm giữ đối với tổ chức phát hành Liên quan đến tài sản tài chính bao gồm 03 yếu tố là người nắm giữ tài sản, bản thân tài sản (không có giá trị nội tại) và tổ chức phát hành Tổ chức phát hành là “ con nợ” hay chủ thể chịu trách nhiệm hoàn trả hoặc bảo tồn và sinh lợi trong mối quan hệ với người nắm giữ tài sản Giá trị của tài sản phụ thuộc vào cam kết của
tổ chức phát hành.
Sơ đồ sau đây thể hiện tổng quan về Hệ thống tài chính
Theo sơ đồ hệ thống tài chính, các chủ thể trong nền kinh tế được phân chia thành bốn nhóm là: Nhà nước, Ngân hàng trung ương, các nhà đầu tư và các doanh nghiệp.
1 Nhà nước
Nhà nước tham gia hệ thống tài chính thông qua ngân sách nhà nước với tư cách
là một chủ thế với mục tiêu nhằm bảo đảm các nguồn thu của ngân sách đế thực hiện nhiệm vụ chi cho các chức năng của Nhà nước và dịch vụ xã hội Các khoản chi của Nhà nước gồm: chi cho bộ máy công quyền, các tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội, cho
an ninh, quốc phòng, cho các cơ quan hành chính, sự nghiệp Để bảo đảm các khoản
15
Trang 16chi có thể thực hiện được, Nhà nước phải cân đối được các nguồn thu Các nguồn thu của ngân sách nhà nước chính thức bao gồm:
- Thu từ các loại thuế - là nguồn thu thường xuyên ổn định và là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước ở bất kỳ quốc gia nào.
- Thu từ các loại phí.
- Vay nợ trong nước bằng hình thức phát hành công trái và các phiếu nợ ngắn hạn Đây là nguồn thu cân đối và có tiềm năng lớn, có vai trò huy động một phần tiết kiệm trong dân cư vào các hoạt động đàu tư lớn của chính quyền các cấp từng thời kỳ.
Có thể nói, Nhà nước là tổ chức phát hành (con nợ) lớn nhất trên thị trường tài chính thông qua các hoạt động vay nợ Ngoài ra, quan hệ của Nhà nước với các chủ thể khác trên thị trường tài chính còn thể hiện qua việc thực hiện các luật thuế và chính sách thu ngân sách khác Thông qua các sắc thuế, Nhà nước có thế gián tiếp tác động đến hoạt động của thị trường tài chính bằng việc khuyến khích hoặc hạn chế các doanh nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực trong các thời kỳ nhất định Khi được khuyến khích đầu tư, các doanh nghiệp sẽ mở rộng phát hành để huy động vốn, ngược lại nếu bị hạn chế, các doanh nghiệp sẽ mở rộng đầu tư tài chính (mua tài sản tài chính của các tổ chức phát hành khác).
Ngân hàng Trung ương là tổ chức độc lập tương đối với Chính phủ (mặc dù ở một số nước, trong đó có Việt Nam, Ngân hàng Trung ương được tổ chức như một
Bộ trong Chính phủ), có vai trò trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền quốc gia và đại diện cho quốc gia trong quan hệ tài chính quốc tế chính thức.
Các mục tiêu chung mà chính sách tiền nhằm vào bao gồm các mục tiêu vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, hạn chế thất nghiệp, quản lý tình trạng cán cân thanh toán quốc tế và tỷ giá hối đoái
Đe thực hiện các mục tiêu theo ưu tiên trong từng thời kỳ, Ngân hàng Trung ương thực hiện các chính sách tác động đến một mục tiêu trung gian là lượng tiền trong lưu thông và lãi suất - giá cả của tín dụng (qua đó hình thành giá cả của tài sản tài chính) Sự sẵn có của tiền trong lưu thông sẽ ảnh hưởng đến giá cả tài sản tài chính, do vậy ảnh hưởng đến mức đầu tư của các chủ thể vào hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, dòng lưu chuyển tài chính sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp bị tác động Các công cụ chủ yếu của chính sách tiền mà Ngân hàng Trung ương các nước
sử dụng bao gồm:
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc', đây là mức dự trữ mà các tổ chức nhận tiền gửi phải giữ lại mà không được cho vay hết Tỷ lệ này sẽ tác động đến hệ số nhân tiền - chỉ tiêu làm tăng phương tiện thanh toán và cho vay trong nền kinh tế.
16
Trang 17- Lãi suất tái chiết khấu\ là mức lãi suất Ngân hàng Trung ương cho vay đối với các ngân hàng thương mại Đây là công cụ tác động trực tiếp đến mức lãi suất thị trường - giá cả của tiền vay, từ đó tác động đến mức độ giao dịch của nền kinh tế.
- Hoạt động thị trường mở', là hoạt động trong đó Ngân hàng Trung ương tham gia với tư cách là một nhà đầu tư tài chính (thường là trái phiếu Chính phủ) thông qua
đó sẽ tăng lượng tài sản tài chính (bằng việc bán ra, thu tiền về) hoặc giảm tài sản tài chính (bằng việc mua vào, tung tiền ra lưu thông) trên thị trường.
Các hoạt động của Ngân hàng Trung ương là hoạt động phi lợi nhuận nhưng vai trò trên thị trường là rất quan trọng Đặc biệt, Ngân hàng Trung ương là tổ chức trực tiếp quản lý nhà nước đối với các hoạt động tiền, tín dụng và ngân hàng.
3 Các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư trên thị trường tài chính là những người bỏ tiền mua các tài sản tài chính và nắm giữ trong khoảng thời gian nhất định để tài sản đó mang lại thu nhập Các nhà đầu tư quan trọng nhất trên thị trường tài chính là các tổ chức đầu tư như công ty bảo hiểm, công ty đầu tư, quỳ đầu tư, quỳ hưu trí Các cá nhân hay hộ gia đình có thể lựa chọn đầu tư trực tiếp vào thị trường chứng khoán với tư cách nhà đầu tư lẻ hoặc đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư.
Mục tiêu chung của các nhà đầu tư là tìm kiếm thu nhập từ đầu tư tài chính và
họ chính là những nhà cung cấp tiền lớn nhất cho thị trường tài chính.
4 Các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp là các chủ thế kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường với mục tiêu là làm tăng giá trị cho chủ sở hữu của chủ thể kinh tế đó Trên thị trường tài chính, các doanh nghiệp như các công ty sản xuất, dịch vụ và thương mại tham gia chủ yếu với tư cách là tổ chức phát hành nhằm huy động vốn cho các hoạt động kinh doanh thông thường.
Các doanh nghiệp đặc thù như các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư tham gia với tư cách là các trung gian tài chính Một mặt, các doanh nghiệp này phát hành chứng khoán để huy động vốn, mặt khác lại dùng vốn này để đầu tư vào các tài sản tài chính hoặc các tài sản khác.
Thị trường tài chính là nơi tập hợp các giao dịch mua bán, trao đổi các tài sản tài chính hay nguồn lực tài chính Thông qua thị trường này, lãi suất và giá cả các tài sản tài chính - các chứng khoán được hình thành.
Theo thời hạn, thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền và thị trường vốn Thị trường tiền tập hợp các giao dịch về tài sản tài chính có thời hạn ngắn hơn một năm, ngược lại, thị trường vốn tập họp các giao dịch trao đổi mua bán các tài sản tài chính có thời hạn từ một năm trở lên Thị trường tiền bao gồm các giao dịch mua bán các chứng
17
Trang 18khoán ngắn hạn như chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu, kỳ phiếu kho bạc, tín phiếu công ty Các giao dịch mua bán các cổ phiếu, trái phiếu công ty và trái phiếu nhà nước cũng như các công cụ nợ dài hạn khác được thực hiện trên thị trường vốn.
Theo cách thức tổ chức và các giao dịch quy định về hàng hoá được giao dịch trên từng khu vực, thị trường tài chính được chia thành các sàn giao dịch (thị trường
có tố chức) và thị trường giao dịch ngoài sàn giao dịch (thị trường qua quầy hoặc thị trường phi tập trung - OTC) Trên thị trường giao dịch có tổ chức hay sàn giao dịch, các loại cổ phiếu, trái phiếu đưa vào giao dịch phải đạt được những tiêu chuẩn nhất định và thường phải do Nhà nước hoặc các công ty hàng đầu của quốc gia phát hành Chính vì vậy, nhiều khi khái niệm về thị trường chứng khoán được đồng nhất với khái niệm sàn giao dịch chứng khoán Tuy nhiên, ngoài sàn giao dịch chứng khoán, thị trường chứng khoán còn bao gồm cả các giao dịch trên thị trường qua quầy (OTC) Với sự phát triển của công nghệ tin học và thông tin, thị trường OTC ở các nước ngày càng phát triển và có vai trò quan trọng không kém so với các sàn giao dịch chứng khoán Thực chất thị trường OTC cũng là một thị trường có tổ chức giữa các tổ chức niêm yết và kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp Các giao dịch trên thị trường OTC được công nghệ hoá ở mức cao và được thực hiện trực tiếp trên mạng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.
Có nhiều cách thức tiếp cận khi bàn về vai trò, chức năng của thị trường tài chính Tuy nhiên, dưới góc độ nền kinh tế có thể xem xét dưới các chức năng kinh tế, chức năng cung cấp thông tin liên tục về giá tài sản và chức năng xác định giá cả hợp lý
1 Chức năng kinh tế
Chức năng kinh tế là chức năng quan trọng nhất của thị trường tài chính đối với nền kinh tế Dưới góc độ chức năng này, thị trường tài chính được coi là cơ chế tạo thuận lợi trong việc chuyến tiền từ những người tiết kiệm cho những người vay tiền Với sự vận hành các hoạt động kinh tế và kinh doanh của các chủ thể khác nhau, trên thị trường luôn tồn tại một số người có thu nhập hiện tại cao hơn nhu cầu chi dùng hiện tại Khoản chênh lệch (tiết kiệm) sẽ được sử dụng sinh lãi một cách có hiệu quả khi có một thị trường tài chính phát triển bởi nhiều lựa chọn đầu tư Trong khi đó, trên thị trường luôn tồn tại một số chủ thể có nhu cầu chi tiêu (vào sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng) mà thu nhập hiện tại không đủ để bù đắp Những người này sẽ vay được tiền nhanh chóng với chi phí hợp lý trên một thị trường tài chính phát triển Thị trường tài chính vận hành càng hiệu quả, luồng tiền từ người tiết kiệm đến người vay càng được huy động tối đa góp phần chuyển tiết kiệm thành đầu tư trong
18
Trang 19nền kinh tế thúc đẩy kinh tế phát triển Ngược lại, thị trường tài chính hoạt động kém hiệu quả hay kém phát triển sẽ hạn chế việc huy động tiết kiệm của nền kinh tế, điều này làm hạn chế nguồn tiền cho vay, những người cần tiền đàu tư phát triển kinh doanh sẽ không chớp được cơ hội làm ăn, trong kỳ lượng đầu tư phát triển sẽ thấp Đối với những đối tượng có nhu cầu tiêu dùng sẽ phải hạn chế tiêu dùng, việc tiêu dùng thấp sẽ ảnh hưởng đến khu vực sản xuất kinh doanh (vì không bán được hàng hoá dịch vụ) Tóm lại, thị trường tài chính kém phát triển sẽ làm trì trệ sự phát triển của nền kinh tế.
Mặc dù có chức năng quan trọng như vậy, thị trường tài chính chỉ thực hiện chức năng kinh tế thông qua thị trường cấp một (thị trường sơ cấp).
Thị trường cấp một hay thị trường phát hành là thị trường mà các chứng khoán phát hành và bán ra cho những người mua đầu tiên Chứng khoán được những người mua đầu tiên này bán lại trên thị trường và các giao dịch có thể có sau đó là các giao dịch thuộc thị trường cấp hai (thị trường thứ cấp) Khi một công ty phát hành cổ phiếu hay trái phiếu mới trên thị trường, gần như ngay lập tức có một luồng tiền từ tay những nhà đàu tư trên thị trường - những người mua chứng khoán đầu tiên đi vào sản xuất kinh doanh thông qua thị trường tài chính Tương tự như vậy, việc Chính phủ hay Kho bạc Nhà nước phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu đồng nghĩa với việc các cơ quan này vay tiền của công chúng để đầu tư cho phát triển các công trình công cộng hoặc bù đắp cho chi tiêu của ngân sách nhà nước Khi chứng khoán đã được phát hành và nằm trong tay của của các nhà đầu tư, việc mua bán trao đổi chúng không trực tiếp ảnh hưởng đến luồng tiền từ thị trường tài chính vào khu vực sản xuất kinh doanh hoặc chi tiêu của Chính phủ (trừ phi chúng được bán lại trực tiếp cho tổ chức đã phát hành).
Tuy không trực tiếp thu hút tiền từ những người tiết kiệm chuyển cho khu vực sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng cần tiền, thị trường cấp hai có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng kinh tế bởi vì nó bảo đảm cho những người đầu
tư có thể dễ dàng thu hồi được vốn thông qua việc tạo ra một thị trường liên tục và giá cả hợp lý (ở hai chức năng sẽ được đề cập đến) Trên thực tế, chủ yếu các giao dịch chứng khoán được thực hiện trên thị trường là các giao dịch thuộc thị trường thứ cấp, vì một khi chứng khoán đã phát hành, chúng nằm lại trên thị trường và có thể được trao đổi nhiều lần trong một thời gian ngắn làm cho quy mô giá trị của các giao dịch tăng lên nhiều lần so với giá trị bản thân chứng khoán đó.
Như vậy, có thế thấy thị trường chứng khoán chỉ thực hiện chức năng kinh tế -
là kênh hút vốn từ những người tiết kiệm để đầu tư phát triển kinh tế khi các tổ chức phát hành (là Chính phủ hoặc công ty) phát hành thêm chứng khoán mới Đối với các công ty, đó là việc phát hành bổ sung cổ phiếu hoặc phát hành mới trái phiếu Đối với
19
Trang 20Chính phủ hoặc Kho bạc Nhà nước đó là việc phát hành trái phiếu và các công cụ nợ mới Còn việc phát triển của thị trường cấp hai như sàn giao dịch hay thị trường giao dịch qua quầy (OTC) là điều kiện tạo hấp dẫn để các nhà đầu tư mua chứng khoán của các tổ chức phát hành Thị trường cấp hai càng phát triển, chứng khoán của một tổ chức phát hành càng dễ dàng được mua bán, từ đó việc tổ chức phát hành thêm chứng khoán càng thuận lợi Cũng có thể dễ dàng nhận thấy việc cổ phần hoá một công ty đang tồn tại không trực tiếp làm tăng vốn cho khu vực kinh doanh mà thực tế chỉ chuyên đôi chủ sở hữu của công ty Tương tự như vậy, việc đưa một công ty cô phân vào niêm yết trên một thị trường nào đó như sàn giao dịch hay thị trường OTC cũng chỉ là tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch chứng khoán do công ty đó phát hành
và tạo điều kiện cho công ty thu hút thêm vốn sau này mà không trực tiếp làm tăng thêm vốn cho công ty.
2 Chức năng cung cấp thông tin liên tục về giá tài sản
Đây là chức năng quan trọng thứ hai của thị trường tài chính Bằng hoạt động liên tục của mình, thị trường cung cấp mức giá một cách liên tục cho các nhà đầu tư tài chính Thông qua các giá này, các nhà đàu tư có thể biết được giá trị tài sản mình đang nắm giữ hoặc đang dự định đầu tư để có được các quyết định họp lý Đây là chức năng mà không phải thị trường hàng hoá nào cũng có, đặc biệt đối với hàng đã
sử dụng.
Chức năng này quan trọng bởi vì định giá trong tài chính là rất quan trọng, đối với các hàng hoá thông thường việc định giá nếu không do một thị trường hoạt động liên tục quyết định sẽ rất phức tạp do nó liên quan đến đo lường các lợi ích mà tài sản
đó mang lại trong tương lai Tuy nhiên, trên thực tế việc tính toán như vậy rất phức tạp, đòi hỏi nhiều dự tính và ít người có thể thực hiện được nên hầu hết dựa vào mức giá cân bằng của thị trường Quy mô thị trường càng phát triển càng nhiều người tham gia mua bán, định giá, khi đó giá cả chứng khoán càng được phản ánh chính xác.
Bản chất thị trường chứng khoán là thị trường cho số lớn các nhà đầu tư, thị trường càng phát triến thì việc định giá liên tục càng được thực hiện tốt Tuy nhiên, mức giá sẵn có lại phù thuộc vào từng loại chứng khoán, loại càng được giao dịch nhiều thì tính liên tục của thông tin về giá càng cao Cũng do bản chất của các tài sản tài chính là có thể so sánh được với nhau (theo mức độ rủi ro) nên việc ước tính giá trị của các chứng khoán mà giá của nó không sẵn có cập nhật cũng đơn giản hơn nhiều so với ước tính giá trị của các tài sản thông thường khác.
Trên các thị trường chứng khoán phát triển, giá cả chứng khoán được cập nhật thường xuyên hàng phút khi từng giao dịch mua bán được thực hiện Còn đối với các thị trường mới hình thành, tính liên tục thấp hơn do số lần khóp lệnh giao dịch hàng ngày giao dịch thưa hơn.
20
Trang 21Chức năng này không thể có đối với hầu hết các tài sản khác không được giao dịch trên các sàn giao dịch có tổ chức Ví dụ, bạn không thể ngay lập tức căn cứ vào mức giá quảng cáo trên báo để mua một chiếc xe hơi mà bạn muốn Nếu làm vậy, có nhiều khả năng là bạn phải mua đắt so với mức giá được coi là hợp lý Còn đối với chứng khoán, bạn có thể căn cứ vào mức giá niêm yết để mua mà không sợ bị đắt Một trong những điều kiện quan trọng để cho mức giá các chứng khoán được xác định một cách hợp lý là số lượng người tham gia mua bán chứng khoán phải lớn Tức là có nhiều người cùng tham gia mua bán mồi loại hàng hoá Khi bạn có chứng khoán để bán, có hàng ngàn người sẵn sàng mua Điều này bảo đảm cho bạn có thể bán được với giá cao nhất Tương tự như vậy, có hàng ngàn người sẵn sàng bán loại chứng khoán mà bạn muốn mua và bạn có thể lựa chọn mua với giá tốt nhất trong số người bán Thị trường càng có nhiều người tham gia, tính chính thức của thị trường càng cao và cơ hội để những người tham gia có được mức giá hợp lý càng lớn.
Cũng tương tự như khi bạn đi mua hàng, chúng ta muốn vào những cửa hàng lớn có nhiều người mua Lý do là ở những của hàng này đã có số lượng lớn khách hàng mua hàng và họ đã kiểm tra mức giá do cửa hàng đưa ra Cửa hàng sẽ không thể tồn tại và phát triển lâu dài nếu đưa ra mức giá không hợp lý.
Đây cũng chính là điều điều kiện tiên quyết để thị trường tài chính thực hiện được chức năng định giá họp lý Để làm được điều này, thị trường phải phát triển ở mức độ nhất định, lượng hàng hoá đủ lớn và đủ sức thu hút được số lượng lớn công chúng tham gia đầu tư trên thị trường.
Thị trường tài chính là là khái niệm bao trùm, nó bao gồm tất cả các giao dịch
về tài chính giữa các chủ thể trong nền kinh tế.
Tuỳ theo tiêu chí phân loại, cấu trúc thị trường tài chính có thể được xem xét dưới các góc độ khác nhau.
1 Thị trường vốn và thị trường tiền
Thị trường tài chính được phân chia theo kỳ hạn của các công cụ tài chính thành thị trường vốn và thị trường tiền (xem sơ đồ 01).
21
Trang 22Thị trường vốn
Thị trường vốn là bộ phận của thị trường tài chính trong đó các công cụ tài chính - tài sản tài chính có thời hạn từ một năm trở lên được mua bán trao đổi Thị trường vốn được đặc trưng bởi thị trường chứng khoán - là tổng thể các quan hệ mua bán, trao đổi các chứng khoán.
Có thể coi thị trường chứng khoán là cốt lõi của thị trường vốn Các hàng hoá được phát hành và giao dịch trên thị trường chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu
và các chứng chỉ nợ với các thời hạn khác nhau Trong đó chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu (chứng chỉ nợ có kỳ hạn dài) Đây cũng là các loại chứng khoán phổ biến và đặc trưng của thị trường chứng khoán Ngoài ra, thị trường chứng khoán còn giao dịch các loại chứng chỉ nợ có kỳ hạn dưới 01 năm là loại không thuộc thị trường vốn.
Thị trường tiền
Thị trường tiền là bộ phận của thị trường tài chính trong đó diễn ra các giao dịch
về các nguồn tài chính ngắn hạn như các khoản tiền gửi, tiền vay có thời hạn dưới một năm Đặc trưng của thị trường tiền là thị trường tiền gửi Đó là thị trường được vận hành chủ yếu giữa các ngân hàng thưong mại với nhau và giữa ngân hàng thương mại với các khách hàng của mình.
Có thể coi thị trường tiền gửi là cốt lõi của thị trường tiền Ở thị trường tiền gửi, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính nhận tiền gửi giao dịch với khách hàng thông qua việc thu hút các khoản tiền gửi với thời hạn khác nhau, chủ yếu là ngắn hạn (dưới 1 năm) và sử dụng nguồn tiền huy động này để cho vay, đầu tư Do đặc trưng của nguồn tiền gửi chủ yếu là ngắn hạn nên các khoản cho vay của các tố chức này cũng chủ yếu là ngắn hạn Tuy nhiên, trên thị trường tiền gửi cũng tồn tại các giao dịch tài chính dài hạn, như gửi tiền dài hạn và cho vay, đầu tư dài hạn Các giao dịch này thuộc thị trường vốn nhưng không chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường tiền gửi.
Sơ đồ 01: Cấu trúc thị trường tài chính
22
Trang 23Có thể thấy sự phân chia thị trường tài chính thành thị trường vốn và thị trường tiền căn cứ vào thời hạn các công cụ tài chính là tương đối rõ ràng Tuy nhiên các thị trường chứng khoán và thị trường tiền gửi không hoàn toàn nằm trong hai thị trường tương ứng là thị trường vốn và thị trường tiền như sơ đồ trên mô tả.
Sơ đồ 2 sau đây mô tả mối quan hệ và sự trùng lắp giữa các loại phân chia trên Theo sơ đồ này, phần lớn của thị trường chứng khoán (phần tam giác có màu trắng) nằm trong thị trường vốn (hình chữ nhật bên trái), phần còn lại thuộc thị trường tiền (hình chữ nhật bên phải) Tương tự như vậy, phần cơ bản của thị trường tiền gửi (hình tam giác mầu sẫm) nằm trong thị trường tiền, một phàn của nó thuộc thị trường vốn Cũng có thể nói cách khác là cốt lõi của thị trường vốn là thị trường chứng khoán, còn cốt lõi của thị trường tiền là thị trường tiền gửi.
Sơ đồ 2: Sự đan xen giữa thị trường vốn và thị trường tiền
Bởi vì, trên thị trường chứng khoán có những giao dịch về các chứng khoán ngắn hạn như tín phiếu, kỳ phiếu mà theo khái niệm thì các giao dịch này thuộc phạm vi của thị trường tiền Ngược lại, trên thị trường tiền gửi cũng có những giao dịch tài chính dài hạn như các khoản cho vay hay gửi tiền dài hạn (tính chất thuộc thị trường vốn) Do vậy, có thể nói sự phân loại ở sơ đồ trên chỉ có tính chất tương đối Ngoài ra, thị trường tài chính còn có một bộ phận rất quan trọng nữa là thị trường hối đoái Thị trường này cũng có thể nằm ở cả thị trường vốn và thị trường tiền.
Phần sau tập trung chủ yếu vào thị trường chứng khoán là thị trường quan trọng nhất đối với các hoạt động đầu tư của công chúng và các tổ chức đầu tư.
2 Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Theo cách phân loại này, thị trường tài chính được phân theo dòng tài chính luân chuyển giữa các nhà đầu tư và tổ chức phát hành.
Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp (còn được gọi là thị trường cấp 1) là thị trường mà thông qua
đó tài chứng khoán hay tài sản tài chính được phát hành và bán ra lần đầu cho các nhà
23
Trang 24đầu tư hay những người mua trên thị trường Thông qua thị trường này, dòng tiền được chuyển từ các nhà đầu tư cho các tổ chức phát hành (Nhà nước hoặc các công
ty, ngân hàng) Qua đó tiền được huy động cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc cho chi tiêu của chính phủ Chỉ có thông qua thị trường sơ cấp, thị trường tài chính mới thực hiện được chức năng huy động vốn trong nền kinh tế.
Các phiên chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) hoặc các phiên phát hành tăng cố phiếu, phát hành trái phiếu mới là các ví dụ điển hình cho vận hành của thị trường này.
Thị trường thứ cấp (còn được gọi là thị trường cấp 2) là thị trường mà trên đó các chứng khoán được mua bán, trao đổi là chứng khoán đã được phát hành qua thị trường sơ cấp và đang nằm trong tay các nhà đầu tư Thông qua thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư có thể cấu trúc lại danh mục, giải ngân hoặc thực hiện đầu tư Sự vận hành của thị trường thứ cấp bảo đảm tính thanh khoản cho các chứng khoán Một thị trường tài chính phát triển luôn sẵn có các nhà đầu tư sẵn sàng mua, bán các loại chứng khoán đã phát hành Qua đó bảo đảm các giai dịch được diễn ra liên tục, khuyến khích sự phát triển của thị trường sơ cấp.
Như trên đã đề câp, thị trường chứng khoán là thị trường cho việc phát hành và mua bán, trao đổi các chứng khoán do các doanh nghiệp và Nhà nước phát hành.
Thị trường chứng khoán được tổ chức ở nhiều mức độ khác nhau Các hình thức
tổ chức thị trường chứng khoán bao gồm:
- Sở giao dịch chứng khoán;
- Hệ thống niêm yết và giao dịch điện tử;
- Thị trường giao dịch qua quầy;
Sở giao dịch chứng khoán ra đời từ năm 2005 (ban đầu là các Trung tâm giao dịch chứng khoán).
24
Trang 25Sở giao dịch chứng khoán là thị trường chứng khoán cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch niêm yết và trao đổi các loại chứng khoán Mục tiêu của bất kỳ sàn giao dịch nào cũng là tạo thuận lợi cho các giao dịch tiến hành với chi phí thấp nhất, giá cả hợp lý nhất và bảo đảm quyền lợi của các thành viên tham gia thị trường, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ.
Mỗi sở giao dịch chứng khoán gắn với một vị trí địa lý cụ thể, có các quy định chặt chẽ về tất cả các mặt liên quan đến chứng khoán niêm yết, giao dịch chứng khoán và quyền hạn, lợi ích liên quan của tất cả các đối tượng tham gia thị trường Sở
có quy định giờ mở cửa, giờ đóng của của các ngày giao dịch, các điều kiện chứng khoán niêm yết, về thành viên, về cơ chế giao dịch và hình thành giá, về quy chế quản lý và công bố thông tin và các quy định có liên quan khác.
Mỗi sở giao dịch chứng khoán là một cơ thể sống Các quy định đối với hoạt động của sở giao dịch chứng khoán và các đối tượng liên quan có thế được thay đổi phù họp với điều kiện thực tế và lợi ích của số đông các nhà đầu tư trên thị trường Ví
dụ, Sở giao dịch chứng khoán New York gàn đây có một thay đổi rất lớn về quản lý, theo đó từ đầu năm 2004 thay vì chỉ có một hội đồng quản lý nay tách làm hai đế bảo đảm tính độc lập giữa điều hành và kiểm soát hoạt động của thị trường theo đúng nghĩa một tổ chức tự quản lý (self - regulated body).
Các giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán phải được các thành viên của sở giao dịch trực tiếp thực hiện Các công ty thành viên là những công ty môi giới chứng khoán, họ phải trả tiền để có vị trí tại sở và thu phí hoa hồng do thực hiện các giao dịch mua, bán chứng khoán cho khách hàng.
Các nhà đầu tư muốn mua hoặc bán các cổ phiếu trên sở giao dịch đều phải thông qua các công ty môi giới, các công ty môi giới chuyển các lệnh này đến cho công ty môi giới trên sàn để thực hiện việc mua bán cho khách hàng.
Do sở giao dịch chứng khoán bao gồm các giao dịch của những chứng khoán các công ty hàng đàu và với quy mô lớn, sự phát triển của các sở giao dịch tạo nên bộ mặt của thị trường chứng khoán các nước và các khu vực.
Các chứng khoán được đưa vào niêm yết và giao dịch trên ở sở giao dịch chứng khoán ở các nước bao gồm chứng khoán của các công ty lớn nhất của nước đó (và của quốc tế, đối với những thị trường lớn của thế giới) Các chứng khoán muốn đưa vào giao dịch phải tuân thủ các điều kiện niêm yết nghiêm ngặt hơn so với các chứng khoán giao dịch trên hệ thống niêm yết điện tử Đe đạt được các mục tiêu bảo đảm an toàn cho các giao dịch, đặc biệt là hạn chế đổ vỡ của thị trường có thế ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, các sở giao dịch chứng khoán các nước đều có quy định hạn chế trong việc đưa các loại chứng khoán vào niêm yết Các chứng khoán này phải bảo
25
Trang 26đảm được các điều kiện sao cho sau khi đưa vào niêm yết phải được giao dịch, có sức hấp dẫn và tương đối an toàn đối với các nhà đầu tư công chúng.
Thông thường, các chứng khoán do Chính phủ hay các cơ quan của Chính phủ phát hành đương nhiên được niêm yết và giao dịch trên thị trường Các loại này bao gồm: trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu của Chính phủ trung ương, chính quyền địa phương, Kho bạc Nhà nước và một số tổ chức được Nhà nước bảo lãnh.
Các công ty muốn đưa cổ phiếu, trái phiếu vào niêm yết đều phải thoả mãn các điều kiện niêm yết Các sở giao dịch khác nhau ở các nước khác nhau có những điều kiện niêm yết khác nhau Trên cùng một sở giao dịch, các điều kiện niêm yết cũng khác nhau đối với các công ty trong nước và các công ty nước ngoài.
Nói chung, các điều kiện về niêm yết của công ty trên sở giao dịch bao gồm:
- Điều kiện về vốn: đây là điều kiện về quy mô vốn của công ty theo số liệu số sách Công ty phải lớn, số lượng cổ phiếu phát hành nhiều (hàng hoá nhiều) thì mới thu hút được đông người tham gia mua bán, cổ phiếu mới được định giá một cách hợp lý, không bị đầu cơ, làm giá Thông thường, mệnh giá (và giá trị lúc niêm yết) của mỗi cổ phiếu thường nhỏ để bảo đảm giá trị giao dịch theo lô không lớn quá, nhiều nhà đầu tư có thể tham gia mua, bán.
- Điều kiện về mức độ đại chúng của công ty: đây là điều kiện quy định về số
cổ đông nằm ngoài công ty hiện tại, trong đó có cả quy định về tỷ lệ và số cổ đông lớn Điều kiện này bảo đảm công ty phải là một công ty đại chúng (public company) trước khi được niêm yết Nó bảo đảm công ty được quản lý theo cách thức bảo đảm quyền lợi của đông đảo cổ đông công chúng và bảo đảm một khi được niêm yết, sẽ có các giao dịch cổ phiếu của công ty.
- Điều kiện về hiệu quả và thực trạng tài chính: điều kiện này quy định tình trạng tài chính của công ty phải ở trạng thái lành mạnh, không đứng trước nguy cơ của phá sản Cụ thể, sự lành mạnh về tài chính được thể hiện qua một số năm liên tiếp
có lãi ở mức ổn định (quy định về số năm có lãi và tổng lãi của các năm) Thông thường số năm có lãi phải lớn hơn 01 năm vì việc thay đổi phương pháp kế toán có thể tạo ra lợi nhuận của 01 năm chứ khó điều chỉnh được 2 hay 3 năm liên tiếp.
2 Hệ thống niêm yết và giao dịch điện tử
Ở các nước, ban đầu hệ thống này được biết đến như là hệ thống giao dịch qua quay (Over The Counter - OTC) Tuy nhiên, điều này chỉ đúng khi thị trường này mới được hình thành, về sau, khi thị trường phát triển với các tiến bộ công nghệ đặc biệt trong hệ thống phục vụ niêm yết và giao dịch thì thị trường này tách hẳn thị trường OTC truyền thống.
26
Trang 27Một hệ thống niêm yết và giao dịch điện tử như NASDAQ ở Mỹ hay các hệ thống tương tự ở các nước là hệ thống nối mạng điện tử các công ty môi giới, kinh doanh chứng khoán và các ngân hàng thương mại lớn có tham gia giao dịch chứng khoán Hệ thống này là một thị trường nối mạng không có vị trí địa lý cụ thế, không
có giờ mở cửa, giờ đóng cửa, không bị giới hạn bởi không gian cũng như thời gian Các chứng khoán được niêm yết và giao dịch thông qua hệ thống tự động trên mạng Các chứng khoán được niêm yết trên hệ thống niêm yết và giao dịch điện tử ở các nước mặc dù không đòi hỏi các tiêu chuẩn cao như ở trên các sở giao dịch cổ phiếu chính thức nhưng cũng phải đáp ứng những điều kiện nhất định về quy mô vốn hoá (giá thị trường công ty), về số cổ đông công chúng và về khả năng sinh lợi Tức
là các công ty muốn niêm yết và giao dịch chứng khoán trên hệ thống phải tuân thủ các điều kiện niêm yết của hệ thống Neu các điều kiện này bị vi phạm thì công ty sẽ
ít nhất là 400 cổ đông có nắm giữ từ 100 cổ phiếu trở lên Ngoài ra, hệ thống còn niêm yết và giao dịch chứng khoán của 1.250 công ty có vốn nhỏ Neu không duy trì được các yêu cầu, các công ty sẽ bị loại khỏi niêm yết.
3 Thị trường giao dịch qua quầy (OTC)
Thị trường giao dịch qua quầy là thị trường giao dịch các chứng khoán không được niêm yết trên các sở giao dịch và các hệ thống niêm yết vào giao dịch điện tử Các chứng khoán giao dịch trên OTC không yêu cầu phải đạt được các tiêu chuẩn niêm yết nào Tuy nhiên, để các thông tin về các chứng khoán đến được với các nhà đầu tư tiềm năng, cần phải có một tố chức đứng ra tập hợp, niêm yết các thông tin về các loại chứng khoán có thể được giao dịch này.
Ở Mỹ hệ thống niêm yết này có tên là OTC Bulletin Board (OTCBB) phát triển mạnh từ năm 1990, khi có đạo luật Penny Stock Reform Act Đạo luật này yêu cầu
27
Trang 28úy ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán (SEC) tạo thuận lợi cho việc phố biến các niêm yết giá cả các loại chứng khoán OTC Hiện nay ở Mỹ có khoảng trên 3.700 công ty có chứng khoán niêm yết trên OTCBB và gần 270 công ty kinh doanh các loại chứng khoán này.
Sơ đồ 3 Các thị trường chứng khoán
Tổ chức phát hành
Thị trường câp một
Các nhà đầu tư Qua các tô chức bảo
lãnh phát hành
Các nhà đầu tư
Thị trường câp hai
Các nhà đầu tư Qua sở giao dịch và
Internet Ngoài ra, thị trường OTC ở Mỹ còn bao gồm các giao dịch chứng khoán của các công ty rất nhỏ Chứng khoán các công ty này được gọi là pink sheet issues (do việc bán đấu giá các chứng khoán này được ghi vào trong các mảnh giấy nhỏ màu hồng và ghim vào bảng tại văn phòng các công ty kinh doanh chứng khoán) Giá cả và thông tin về các chứng khoán thuộc loại này chỉ hạn chế ở một số cá nhân cụ thể Một số công ty phát hành chứng khoán pink sheet thậm chí không có tài sản, không có doanh thu mà chỉ có ý tường Một số công ty khác thì có tài sản, có doanh thu nhưng không muốn niêm yết trên các hệ thống Thông qua giao dịch pink sheet, có thể có những
ý tưởng được hiện thực hoá và biến thành rất nhiều tiền.
4 Thị trường thứ ba và thị trường thứ tư
Thị trường thứ ba là tên gọi cho các giao dịch của chứng khoán được niêm yết trên sở giao dịch (NYSE) nhưng lại được giao dịch trên hệ thống niêm yết và giao dịch điện tử (NASDAQ) vì giao dịch trên hệ thống này linh hoạt hơn, không bị hạn
28
Trang 29chế bởi thời gian và không gian cũng như là chi phí thấp hơn nếu giao dịch khối lượng lớn.
Từ thị trường thứ tư được dùng để chỉ các giao dịch giữa các tổ chức tài chính,
tổ chức đầu tư lớn các chứng khoán niêm yết nhưng không thông qua sở giao dịch hoặc hệ thống giao dịch điện tử Thông thường các giao dịch thuộc thị trường thứ tư được các tố chức thực hiện trực tiếp thông qua điện thoại và hệ thống thanh toán thông thường Ở Mỹ, các công ty môi giới, các tổ chức đầu tư có thể thực hiện được các giao dịch thuộc loại này thông qua một hệ thống gọi là Instinet Đây là hệ thống niêm yết hàng ngàn loại chứng khoán được niêm yết trên 16 sở giao dịch về hệ thống điện tử và chỉ dành riêng cho các tố chức đầu tư, tố chức tài chính lớn.
29
Trang 30Chương II
1 Sự ra đòi và phát triển của tiền
Tiền ra đời và phát triển gắn liền với sản xuất và trao đổi của xã hội loài người Ban đầu, khi con người chỉ sử dụng những gì mà mình hái lượm được thì chưa có trao đôi Khi các hoạt động của con người phát triên, cùng với sự tăng lên của năng suất lao động là sự đa dạng hoá của nhu cầu Một cá nhân có thể làm ra một loại sản phẩm mà anh ta không dùng hết, trong khi đó, anh ta lại có nhu cầu với những sản vật
mà người khác làm ra nhưng không dùng đến.
Sự trao đổi bắt đầu từ đây hết sức đơn giản là đổi hiện vật lấy hiện vật Tỷ lệ trao đổi có thể được minh hoạ bằng công thức trao đổi như “1 rìu = 20kg thóc ” Nen kinh tế phổ biến với những quan hệ trao đổi như vậy gọi là nền kinh tế trao đổi hiện vật (barter economy) Đe việc trao đối diễn ra có lợi cho cả hai bên, hai người phải thoả mãn được nhu cầu của nhau, tức là người có thừa rìu thì cần thóc và ngược lại người có thừa thóc thì cần rìu Việc tìm được sự phù hợp nhu cầu như vậy giữa hai bên trao đổi là tương đối khó Ngoài ra, các đối tác trao đổi cần phải thống nhất với nhau về tỷ lệ trao đổi, trong khi hai hiện vật mang trao đổi lại bất kỳ và khó có được
sự thống nhất rộng rãi Những khó khăn đó làm phát sinh việc chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng đối với những “hàng hoá chung ” làm đối tượng của trao đổi Bất kỳ
ai có hiện vật dư thừa cũng có thể mang đổi lấy hàng hoá chung đó và sau đó dùng hàng hoá chung đế đổi lấy hiện vật mà mình cần Thông qua hàng hoá chung này, giá trị của các hiện vật khác nhau được thể hiện một cách tương đối và người ta dễ dàng
so sánh, thống nhất với nhau về tỷ lệ trao đổi Hàng hoá được chấp nhận chung đó được coi như là tiền với hình thức nguyên thuỷ của nó là hàng hoá thực.
Với vai trò này, tiền được định nghĩa là hàng hoá đặc biệt được tách ra khỏi các hàng hoá khác làm vật đo lường, thể hiện giá trị của hàng hoá và làm trung gian cho các hoạt động trao đổi.
Sự phát triển của tiền: Tiền được phát triển thông qua các giai đoạn sau:
- Tiền hàng hoá ‘ trong lịch sử, từ khi tiền được ra đời, nhiều loại hàng hoá khác nhau được dùng như tiền Việc lựa chọn các hàng hoá khác nhau này là do tính phổ 30
Trang 31biến của hàng hoá trong từng cộng đồng trong từng thời kỳ Các hàng hoá được lịch sử ghi nhận đã từng đóng vai trò là tiền bao gồm gia súc nuôi (trâu bò, ngựa, cừu ), nông sản (luông thực, chè ép, dầu ôliu), công cụ lao động, đồ trang sức (vỏ sò, ốc ),
Đặc trung của tiền hàng hoá là bản thân từng loại hàng hoá có thể thoả mãn một nhu cầu cụ thể của đời sống con người Giá trị của hàng hoá dễ dàng được thống nhất
từ giá trị sử dụng thực tế của nó Tiền hàng hoá thông thường này có đặc điểm là cồng kềnh, khó vận chuyển, giá trị không đồng nhất, khó chia nhỏ, giá trị không ổn định do đặc tính vật lý
- Tiền bằng kim loại quý (vàng, bạc): trong các hàng hoá được dùng như tiền, khi loài người tìm ra kim loại như sắt, đồng thì những kim loại này đã lần lượt được
sử dụng như tiền, tuy nhiên về sau các kim loại này đều được thay thế bằng các kim loại quý như vàng, bạc, đặc biệt là vàng Sở dĩ vàng được sử dụng phổ biến với vai trò là tiền thời gian dài trong lịch sử kể từ khi nó được phát hiện ra mà không có loại hàng hoá nào có thể thay thế được là do những đặc điểm riêng có của nó Thứ nhất là
do vàng có tính chất đồng nhất, có độ bền cao khó bị phá huỷ Thứ hai, do sự khan hiếm của vàng nên một lượng nhỏ chứa đựng giá trị lớn, tức là có thể đổi được khối lượng lớn các hàng hoá khác Thứ ba, do các tính chất trên nên vàng dễ chia nhỏ, dễ mang theo với chi phí thấp Do những đặc điểm quý báu đó nên vai trò là tiền của vàng trong lịch sử rất lâu dài, thậm chí trong điều kiện nền kinh tế của nhiều nước như Việt Nam hiện nay.
Thời kỳ tiền vàng, bạc được phân ra làm hai thời kỳ là thời kỳ lưu thông vàng bạc thỏi (theo trọng lượng) và thời kỳ lưu thông tiền vàng đúc Trong chế độ tiền vàng đúc, bất kỳ cá nhân nào có khả năng đều có thể tham gia đúc tiền và giá trị của tiền đúc được chấp nhận căn cứ vào trọng lượng của nó.
- Tiền phù hỉệw trong thời kỳ sau của lưu thông tiền đúc đủ giá, việc thị trường chấp nhận những đồng tiền cũ đã bị hao mòn vật lý và mất đi một phần giá trị đồng tiền đủ giá ban đầu làm xuất hiện khả năng lưu thông đồng tiền không đủ giá - cơ sở của tiền phù hiệu ngày nay.
Những đồng tiền không đủ giá đầu tiên hoặc được đúc bằng vàng nhưng với trọng lượng thấp hơn trong lượng mà nó đại diện hoặc vàng với tuổi thấp hơn (pha lẫn kim loại khác), về sau các nhà đúc tiền thấy rằng việc lưu thông những đồng tiền không đủ giá cũng không cần thiết nữa khi mà thị trường chấp nhận nó như tiền đủ giá ke cả khi nó có giá trị nội tại không đáng kể Và như vậy là xuất hiện những đồng tiền phù hiệu.
Để có thể phát hành được những đồng tiền phù hiệu, người đúc tiền (phát hành) phải có đày đủ vàng - tiền thực để bảo đảm giá trị cho những đồng tiền mình đúc được lưu hành Giá trị này được bảo đảm khi người có tiền mang tiền đến nhà phát
31
Trang 32hãnh đổi lấy tiền thực Với lý do này cùng với vai trò cục kỳ quan trọng của tiền trong trao đỗi và đối với nền kinh tế chức nàng phát hãnh tiền phù hiệu được tập trung dộc quycn trong tay Nhà nước Quá trinh này găn với sự hĩnh thành cùa Ngần hãng Trung ương (còn gọi là ngân hàng phát hành) Khi mà nhùng đồng tiền (có thể băng kim loại hay băng giãy) không còn dược tô chức phát hành báo dám giá trị băng vãng thi chúng được gọi là tiền giấy (fiat money) - nhừng đồng tiền cua các quốc gia hiện nay.
Mặc dù không dược bao dam băng vàng - tiền nguyên thuỷ, tiền giấy có giá trị bới vi chúng dược chãp nhận rộng rãi trong lưu thòng với dây du các chức năng cùa
nó Ngân hàng phát hành ra lien (Ngân hàng Trung ương) ở các nước bão đàm cho giá tri của đồng tiền nước mình thông qua hoạch định và thực thi chính sách tiền
2 Chức năng cùa tiền
Theo kinh lè học hiện dại nên có ba chức năng chinh là: thước do giá trị và dơn
vị tính toán; trung gian trao dôi; và tích trừ của cài:
- Chức nàng thước đo giá trị và đơn vị lính toán: với chức nâng nảy liền được
dùng để thể hiện giá trị của tất cá các hàng hoá Thông qua liền, chúng ta có thế so sánh dược hai hàng hoá hoàn toàn khác nhau Thông qua một dơn vị tinh toán duy nhãt là tiên, các hàng hoá có thè dược tính toán Ví dụ như tông giá trị của các hàng hoá khác nhau hay tỳ lệ giá tri giừa hai hàng hoá Dơn vị tính toán nãy được sữ dụng phố biến trong kế toán và tài chính, thiếu đơn vị tiền, chúng ta không the có hệ thống
kế toán như hiện nay
- Chức năng trung gian trao dôi: với chức năng này mọi hàng hoá trao dôi
trước hết là trao đổi lấy liền, sau đó tiền sè được dùng để đỗi lẩy hàng hoá khác Sở dì tiền thực hiện được chức năng đó là do nó được chắp nhận chung về giá trị trao đối cua nó Đặc trưng này cùa tiên dược biẻt dên VỚI tính thanh khoán tuyệt dôi VỚI tiên trong tay chúng ta có thê dễ dàng chuycn nó sang hàng hoá bât kỳ cũng như lập tức thanh (oán các khoăn nợ
- Chúc nàng tích trừ cùa cãi: do giií trị cùa tiền được chấp nhận chung và thế
hiện ớ lượng hàng hoá, dịch vụ mã một lượng lien nhài dịnh mua dược, tiền có thê dược dũng dê tích trữ thay thê cho của cái hàng hoá hay tài sàn khác Hơn nữa việc (ích trừ của cãi báng tiên còn có một ưu thè so với tích trừ các tài sàn khác là liên có tính thanh khoăn tuyệt đối Với tiền, các nhu cầu về bắt kỳ hàng hoá nào khác có thế
dề dàng được đáp ứng nhanh chóng
Ngoài các chức nãng trên, khi xem xét trên phạm VI quốc tê, tiên (dặc biệt là liền vàng hay các đổng liền có thể chuyển đồi tự do) còn có chức nâng tiền quốc tế (theo c Mac) Với chức nâng này tiên dược dùng là phương tiện dè thanh loán và the hiện dòng giá tri vận động giữa các quốc gia trẽn thể giới
Trang 33II LẠM PHÁT
1 Băn chất của lạm phát
Khái niệm về tiền (money) vừa đề cập ở trên là nói về chức năng chung của tiền Để phát huy các chức năng của tiền trong các hoạt động của mình, mồi một quốc gia (hoặc khu vực hiệp ước) có một đồng tiền đặc trưng (currency) Giá trị của mồi đồng tiền phụ thuộc vào tình trạng kinh tế của một nước (hoặc khu vực) và sự vận hành của chính sách tiền của quốc gia hoặc khu vực đó.
Giá trị của một đồng tiền của một nước được thể hiện bằng sức mua (purchasing power) của đồng tiền nước đó Sức mua được biểu hiện bằng lượng hàng hoá, dịch vụ
mà một số đơn vị cụ thể của tiền mua được Quản lý giá trị của đồng tiền nước mình
là một mục tiêu quan trọng của chính sách tiền của một nước Lạm phát là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng trong điều hành chính sách tiền của bất kỳ một quốc gia nào
do nó thể hiện mức giảm của sức mua đồng tiền của một nước Vậy lạm phát là gì và
nó được đo lường như thế nào?
Theo nhà kinh tế học Paul A Samuelson, lạm phát là biểu hiện tình trạng mức chung của giá cả hàng hoá của một nước tăng lên (Paul A Smuelson & William D Nordhaus, 1993) Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ thay đổi của mức giá cả chung của hàng hoá
và được đo lường như sau:
Tỷlệlạmphát Mức giá năm t-Mức giá năm (t-1)
„8™ í = - X 100
Mức giá chung của hàng hoá được đo lường bằng các chỉ số giá Thông thường, các nước thường chọn chỉ số giá cả hàng tiêu dùng (Consumer Price Index - CPI) để thể hiện tỷ lệ lạm phát của đồng tiền nước mình Ví dụ, nếu nói tỷ lệ lạm phát của đồng Việt Nam năm 2019 là 4% có nghĩa là so với tại thời điểm cuối năm 2018, mức chung của giá cả hàng tiêu dùng của rổ hàng hoá lựa chọn tăng 4% so với thời điểm cuối năm 2018 Để tỷ lệ lạm phát phản ánh đúng thực trạng, rổ hàng hoá lựa chọn bao gồm những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu và được tính theo tỷ trọng Lạm phát 4% không có nghĩa là giá của tất cả các hàng hoá đều tăng 4% mà có những hàng hoá có giá tăng trên 4%, có những hàng hoá có giá tăng dưới 4%, thậm chí có những hàng hoá có giá giảm trong cùng kỳ.
Ví dụ: Giả sử rổ hàng hoá bao gồm 3 nhóm là A, B và c với tỷ trọng tương ứng
là 50%, 30% và 20% có mức giá tăng trong năm t lần lượt là 8%, 5% và 3%, chỉ số CPI được tính là:
CPI = 0,5 X 108 + 0,3 X 105 + 0,2 X 103 = 106,1 hay có thể nói: tỷ lệ lạm phát năm
t là 6,1%.
33
Trang 342 Tảc động cúa lạm phát
Có thê phân tích tác dộng cua lạm phát dưới hai góc dộ: tác dộng dên thu nhập, phân phòi của cài và tác dộng den sàn xuât hiệu quà của nen kinh tê
Lạm phát túc dộng dền thu nhập và phàn phổi cua cài:
Tác động có lính phân phối cùa lạm phát là do các chú the khác nhau trong nền kinh lề năm giừ các tài sàn và các khoan nợ khác nhau Các chủ the nằm giừ liền sê bị nghèo đi tương đối trong khi các đối tượng nám giừ tài sán khác ngoài tiền sê giàu lên một cách tương đối Đó là do trong thời kỳ có lạm phát, năm giừ tiền sê mua được ít hàng hoá hơn vào cuôi kỳ trong khi năm giữ tài san khác giá trị vần dược báo dám nêu quy ra tiên cuôi kỳ sẽ nhiêu tiên hơn dâu kỳ Ngược lại người năm giữ nợ băng tiên sẽ có lợi trong thời kỳ có lạm phát do cam kêt tra cô dịnh bãng tiên trong khi lạm phát thưởng kéo theo thu nhập danh nghía bãng tiên tăng lèn tức là người nợ sẽ phai
bò lý lộ ít hơn trong thu nhập báng liên cùa minh đè trà nợ cho chủ nợ
Lạm phát tức dộng đến sán lượng và hiệu quá cua nền kinh tể:
Dưới góc độ vì mõ các nhã phân tích đã chi ra rằng, ở mức độ nhất đinh, lạm phát
có tác động làm tảng việc làm và tăng sán lượng cho nền kinh tế Dó là khi lạm phát xáy
ra trong thời kỹ tăng trướng lớn về đẩu lư và công việc Trong thời kỳ dó, việc lạm phát thấp sS kéo theo sán lượng giam và thât nghiệp tảng lên Nêu lạm phát ớ mức quá cao, sản xuât sỗ bị dinh trệ làm cho san lượng giám xuống ưong khi giá cà van tâng Như vậy, các nhà phân tích dông ý với nhau là không có một môi quan hệ cô định giữa mức thay đói giá cà và sán lượng của nên kinh te Nói cách khác, lạm phát có thê có tác động làm tàng hoặc giâm sân lượng cùng như việc làm của nên kinh tê
Dưới góc độ kinh tế vi mô các nhà phân tích cho rang lạm phát ỡ mức độ càng cao thi giá cá tương đối bị bóp méo càng lớn Thuật ngừ bóp méo ờ dãy được dùng đế
mô ta tình trạng giá cá thoát ly khoi chi phí và mối quan hệ cung cầu thông thưởng Và như vậy lạm phát anh hường đen hiệu qua cua nên kinh tê Ví dụ nêu lãi suàt không dược diêu chinh phii hợp trong thời kỳ lạm phát cao có thè dán tới người gứi tiên có thu nhập ầm do Lãi suât danh nghía nho hơn tỳ lệ lạm phát Hoặc nường hợp khác, giá cá hàng hoá sân xuàt ra không tăng so với mức giá cà chung của hàng hoá dàn đên người sàn xuất bị thua lỗ
Như vậy có thể thấy, lạm phát thông qua các tác dộng đến phân phối cùa cãi đến sân xuất, công việc và hiệu quá cua nen kinh tế có ãnh hường rộng rãi đến (ơàn
bộ nền kinh tế và lừng chu thế trong nền kinh tế
3 Nguyên nhân và chính sách kiếm soát lạm phát
Đẽ kiêm soát lạm phát, ngoài các tác dộng chính cùa lạm phát (trong dó có cà tác dộng tích cực và tiêu cực như dê cập ơ trên) cân phai biêt dược nguyên nhân của
Trang 35lạm phát Có thê phân chia nguyên nhân của lạm phát thành 3 loại là câu kéo, chi phí đẩy và tâm lý.
Lạm phát đuợc gọi là do cầu kéo khi tổng nhu cầu về hàng hoá dịch vụ tăng cao hơn mức mà nền kinh tế sản xuất ra dẫn đến việc giá cả các hàng hoá cùng tăng do đường cầu bị dịch chuyển sang điểm cân bằng mới Nguyên nhân đằng sau của hiện tượng này là do chính sách tăng cung về tiền của Ngân hàng Trung ương hoặc do tình trạng bội chi của ngân sách nhà nước cho nhu cầu tăng cao so với khả năng cung cấp của nền kinh tế.
Lạm phát gây ra do tình trạng tăng chi phí trong các gia đoạn tỷ lệ thất nghiệp cao và tận dụng kém hiệu quả các nguồn lực được gọi là lạm phát do chi phí đẩy hay lạm phát do sốc về cung Chi phí, trong đó chi phí tiền lương đóng một tỷ trọng lớn tăng lên trong nền kinh tế đẩy giá cả hàng hoá dịch vụ tăng lên trong khi tỷ lệ thất nghiệp lớn, hiệu quả thấp, sản xuất không tăng cùng tốc độ làm cho mức giá cả của hàng hoá tăng lên Trường hợp này có thể giải thích là đường cầu không đổi, đường cung bị dịch chuyển về phía trái.
Ngoài hai nguyên nhân trực tiếp của lạm phát vừa nêu trên, còn một nguyên nhân rất quan trọng đó là do yếu tố tâm lý của người dân Trong thời kỳ có lạm phát cao, người dân mất lòng tin vào sự điều hành chính sách của Ngân hàng Trung ương, không tin vào sự ổn định sức mua của đồng tiền nước mình nên không nắm giữ tiền
mà đấy hết tiền ra lưu thông, chuyển đổi đồng tiền nước mình sang ngoại tệ mạnh hơn hoặc các hàng hoá Tài sản có thể giữ giá trị tốt hơn đồng tiền.
Các chính sách kiểm soát lạm phát phải tác động vào nguồn gốc của lạm phát,
1 Lãi suất
Khi trong nền kinh tế phát sinh quan hệ tín dụng, tức là một bên có dòng tiền nhàn rỗi (bên cho vay) cho vay số tiền của mình đối với bên thiếu hụt tạm thời (bên vay) Bên vay, theo kỳ hạn sẽ trả cho bên cho vay một khoản về việc sử dụng tiền vay
35
Trang 36này Khoản này được gọi là lãi vay (interest) Tỷ lệ tiền lãi này tính trên số tiền gốc vay (pricipal) được gọi là lãi suất.
Định nghĩa: Lãi suất là tỷ lệ số tiền lãi phải trả cho việc sử dụng tiền vay trên tổng số tiền vay trong một kỳ Lãi suất còn được coi là giá cả của tiền vay mà người
đi vay trả cho người cho vay trong 1 kỳ Thông thường, lãi suất được tính và niêm yết cho kỳ hạn một năm Tuy nhiên, trong một số trường hợp, lãi suất có thể được thể hiện cho kỳ hạn khác như tháng, quý Lãi suất là tỷ lệ thu nhập của người cho vay, đồng thời là chi phí của người vay tiền.
Ví dụ: Ông A cho ông B vay 100 triệu đồng trong 01 năm, sau một năm ông B hoàn trả lại toàn bộ số gốc 100 triệu cho anh A kèm theo 10 triệu đồng tiền lãi Trong trường hợp này lãi suất là 10% (= 10tr/100tr X 100%), 10% này là thu nhập (tính bằng %) của người cho vay - ông A và là chi phí của người vay - ông B.
Sở dĩ người vay tiền phải trả lãi vì anh ta được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của mình trong một thời gian Còn người vay được hưởng lãi (hay lãi suất) như là một phần thưởng hay đền bù vì anh ta tạm thời hy sinh quyền sử dụng tiền của mình trong thời gian nhất định.
Trong mối quan hệ trực tiếp giữa người vay và người cho vay, lãi suất vay và lãi suất cho vay là một Trong mối quan hệ qua các trung gian tài chính như các ngân hàng thương mại, lãi suất bao gồm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay trong đó lãi suất tiền gửi là lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền còn lãi suất cho vay là lãi suất mà người vay tiền trả cho ngân hàng Thông thường, trong cùng kỳ lãi suất tiền gửi nhỏ hơn lãi suất cho vay, phần chênh lệch giúp ngân hàng trang trải các chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận.
Trong một nền kinh tế có lạm phát, lãi suất có thể được phân tích thành lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực Lãi suất danh nghĩa là lãi suất thực tế mà người vay trả cho người cho vay tính trên gốc vay Lãi suất thực là lãi suất mà người vay nhận được sau một kỳ sau khi đã điều chỉnh tỷ lệ lạm phát Mối quan hệ giữa hai loại lãi suất này được thể hiện theo công thức sau:
Trang 37Do cả R, r và i đều là số dương tương đối nhỏ so với 1 nên công thức (1) trên có thê được viêt thành: R ~ r + i hay r ~ R - i
Đứng dưới góc độ ngân hàng với tư cách là tổ chức huy động tiền gửi trong nền kinh tế, để khuyến khích người gửi tiền, lãi suất danh nghĩa cần phải lớn hơn tỷ lệ lạm phát thì sức mua của người gửi tiền mới được bảo đảm Khi đó r - lãi suất thực lớn hơn 0 Chính sách lãi suất của ngân hàng nhằm bảo đảm điều đó gọi là chính sách lãi suất dương.
2 Giá trị thòi gian của tiền
Một khái niệm rất quan trọng trong tài chính là giá trị thời gian của tiền (time value of money TVM) Sở dĩ có khái niệm này do trong thực tế có những trao đổi về dòng tiền ở các thời gian khác nhau Ví dụ trong quan hệ tín dụng là trao đổi một dòng tiền hiện tại lấy một dòng tiền tương lai về mặt số học, nếu dòng tiền tương lai bằng với dòng tiền hiện tại sẽ không có ai cho vay Để giao dịch diễn ra, người vay phải cam kết trả cho người cho vay số tiền trong tương lai lớn hơn số tiền vay hiện tại Vậy, một số lớn hơn trong tương lai mới cân bằng được với số gốc vay hiện tại Khái niệm giá trị thời gian của tiền còn được sử dụng rộng rãi trong định giá tài sản yếu tố mang lại dòng tiền tương lai hay trong các giao dịch tài chính nói chung Vậy, giá trị thời gian của tiền là gì?
Khái niệm 1: Neu cho bạn một lựa chọn hoặc nhận một số tiền nhất định, ví dụ như 10 triệu đồng, ngày hôm nay hoặc nhận cũng số tiền đó trong tương lai chắc chắn bạn sẽ chọn nhận tiền ngay ngày hôm nay Điều đó chứng tỏ một đơn vị tiền hiện tại
có giá trị lớn hơn cùng đơn vị tiền đó trong tương lai - đó là khái niệm cơ bản về giá trị thời gian của tiền.
ngân hàng có uy tín sẽ trả bạn 110 triệu đồng trong vòng 01 năm và cam kết của một chủ cửa hàng bạn không quen biết sẽ trả bạn cùng số tiền 110 triệu cùng thời điểm một năm sau Bạn sẽ chọn cam kết nào? Phân tích một cách hợp lý, bạn sẽ chọn cam kết của ngân hàng vì cam kết này có tính chắc chắn cao hơn cam kết thứ hai Lập luận một cách khác, bạn sẽ trả 100 triệu hiện tại để mua cam kết thứ nhất của ngân hàng (giả sử bạn chấp nhận lãi suất 10%/năm) chứ không lựa chọn mua cam kết thứ hai của người chủ cửa hàng với cùng số tiền 100 triệu hiện tại, tức là bạn sẽ không chấp nhận đầu tư vào người chủ cửa hàng trên với cùng mức lãi suất như đầu tư vào ngân hàng mà yêu cầu mức lãi cao hơn.
Lập luận trên dẫn đến khái niệm thứ hai về giá trị thời gian của tiền: cùng một
số nhận được tại cùng thời điểm tương lai, dòng tiền an toàn có giá trị (hiện tại) lớn hơn dòng tiền rủi ro.
37
Trang 38Như vậy, tiền có giá trị khác nhau tại các thời điểm khác nhau, cùng số tiền nhận được càng xa trong tương lai, giá trị càng nhỏ Đồng thời, giá trị của số tiền này phụ thuộc vào mức độ rủi ro của dòng tiền.
Với hai khái niệm giá trị thời gian của tiền ở trên, việc đánh giá một tài sản (lợi ích tương lai nhận được) liên quan đến việc dự tính dòng tiền tại các điểm thời gian tương ứng trong tương lai và xác định mức độ rủi ro của dòng tiền (làm cơ sở xác định tỷ lệ chiết khấu hay thu nhập mong đợi của đầu tư vào tài sản) và chiết khấu dòng tiền theo tỷ lệ chiết khấu ước tính đó Công thức xác định giá trị hiện tại của một dòng tiền dự tính nhận được trong tương lai là:
PV = Ct/(l+r) t (2) Trong đó:
PV: Giá trị hiện tại của dòng tiền.
Ct: Dòng tiền nhận được tại thời điểm t (sau kỳ kể từ hiện tại).
R: Tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ thu nhập mong đợi phù hợp.
Ví dụ 1: Một dòng tiền C1 = 110 triệu đồng nhận được sau 01 năm với tỷ lệ chiết khấu r = 10% có giá trị hiện tại là: PV = 110/1,1 = 100 triệu đồng.
Ví dụ 2: Một dòng tiền C2 = 121 triệu đồng nhận được sau 02 năm với tỷ lệ chiết khấu r = 10% có giá trị hiện tại là: PV = 121/1, l 2 = 100 triệu đồng.
Để xác định giá trị của một tài sản mang lại nhiều dòng tiền tại nhiều thời điểm khác nhau trong tương lai, ta chỉ việc chiết khấu từng dòng tiền riêng lẻ và cộng lại với nhau vì sau khi chiết khấu, tất cả các dòng tiền đều được thế hiện theo giá trị tại thời điểm hiện tại.
Thực chất, công thức tính giá trị hiện tại (hay chiết khấu dòng tiền tương lai) là công thức dẫn xuất của công thức tính lãi gộp Công thức tính giá trị của khoản vay trong tương lai:
FV = PV(1 + r) ‘ (3) Trong trường hợp tính chiết khấu, chúng ta đã thay FV ở công thức (3) bằng Ct - dòng tiền nhận được tại thời điểm t.
Với ví dụ trên, chúng ta có thề tính giá trị khoản đầu tư 100 triệu sau 02 năm với lãi suất 10% tính gộp là: FV = 100 X l.l2 = 121 triệu đồng.
Công thức tính giá trị thời gian của tiền (2) và các công thức rút ra từ đó được
áp dụng rất phổ biến trong việc định giá tài sản sử dụng dòng tiền chiết khấu, trong đánh giá dự án đầu tư, trong tính toán hoàn trả các khoản vay và nhiều ứng dụng khác trong quản lý tài chính hiện đại Thực tế cho thấy thay vì xác định giá trị thời gian của
38
Trang 39từng khoản tiền cụ thể các nhà tài chính thường quan tâm nhiều hơn đến giá trị thời gian của một dòng tiền.
Dòng tiền đều hàng năm là một chuồi các dòng tiền xảy ra qua một số kỳ (hoặc năm) nhất định.
Để thuận tiện, thuật ngữ niên kim được dùng để chỉ dòng tiền đều định kỳ hoặc hàng năm (annual even cash flows) Có nhiều loại niên kim khác nhau như:
- Niên kim đều hữu hạn (annuity), dòng tiền bao gồm các khoản bằng nhau xảy
ra qua một số kỳ nhất định, niên kim còn được phân chia thành:
+ Niên kim thông thường (ordinary annuity) - xảy ra ở cuối kỳ.
+ Niên kim đầu kỳ (annuity due) - xảy ra ở đầu kỳ.
- Niên kim vô hạn (perpetuity) xảy ra cuối kỳ và không bao giờ chấm dứt.
Ví dụ: Thời hạn cho thuê nhà của bạn là năm với giá thuê là 3.000.000 đồng/tháng việc trả tiền được thực hiện vào ngày cuối cùng mỗi quý Như vậy bạn
sẽ có một niên kim hữu hạn thông thường bao gồm 12 khoản tiền bằng nhau cuối mỗi quý trong vòng 3 năm, bắt đầu sau 01 quý kể từ hiện tại Neu thay vì tiền thuê thanh toán vào cuối quý, người thuê phải thanh toán vào đầu quý khi đó sẽ tồn tại niên kim đầu kỳ Với số tiền cho thuê thu được sau 3 năm bạn đầu tư vào cổ phiếu
ưu đãi của một công ty cổ phần và hưởng cổ tức cổ định hàng năm là 24.000.000 đồng/năm, giả định công ty tồn tại mãi mãi khi đó thu nhập của bạn sẽ tạo thành niên kim vô hạn.
Trong thực tế, nhiều tài sản hoặc giao dịch mang lại dòng tiền không đều nhau các kỳ (Uneven or mixed cash flows) - dòng tiền không bằng nhau xảy ra qua một
số thời kỳ nhất định Cũng là ví dụ cho thuê nhà trên đây nhưng thu nhập thực tế của bạn không phải là 9.000.000 đồng/quý vì bạn phải bỏ ra một số chi phí sửa chữa nhỏ, chi phí quản lý và số chi phí này khác nhau qua các kỳ Khi ấy thu nhập ròng của bạn sau khi trừ đi các khoản chi phí sẽ hình thành một dòng tiền không đều nhau qua các kỳ Dòng tiền ấy chính là dòng tiền hồn hợp vì nó bao gồm các khoản tiền không giống nhau.
Trên cơ sở phân loại các dòng tiền như trên, chúng ta sẽ xem xét việc xác định giá trị của từng loại dòng tiền cụ thể.
2.1 Định giá niên kim
Giá trị tương lai của niên kim hữu hạn (annuity):
Giá trị tương lai của niên kim chính là tổng giá trị tương lai của từng khoản tiền A xảy ra ở từng thời điểm khác nhau.
39
Trang 40SỐ tiền ở thời điểm T Giá trị tương lai ờ thời điểm n
FVAn = A(l+i) +A(l+i) + + A(l+i) + A(l+i)
= RfFVIFi, n-l+ FVIFi, n-2 + + FVIFi,l + FVIFi,0]
= R(FVIFAi, n) Trong đó FVIFAi, n là thừa so giá trị tương lai của niên kim ở mức lãi suất i%
và n số kỳ hạn lãi Thừa số này xác định bằng cách tra bảng trong phụ lục kèm theo Công thức trên có thể thay bằng:
,(l+r)n-l FVn = A - 7 -
r
Ví dụ: Bạn cho thuê nhà với giá là 24.000.000 đồng/năm thanh toán vào 31/12 hàng năm trong thời hạn 5 năm Toàn bộ tiền cho thuê được ký gửi vào ngân hàng với lãi suất 6%/năm trả lãi kép hàng năm Sau 5 năm số tiền bạn có được cả gốc và lãi là:
FVA5 = 24.000.000(FVIFA6,5)
= 24.000.000(5,637) = 135.288.000 Hoặc:
_ (l + 6%)5-l FV5 = 24.000.000 - 777 -
FVADn = A(FVIFAi,n)(l+i)
40