TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI Đồng chủ biên PGS TS Trần Vởn Hòe TS Nguyễn Ánh Tuyết '''' GIÁO TRÌNH NGUYÊN ứ KINH TẾ vĩ MÔ NHÀ XUẤT BẢN TÀI CHÍNH Đồng Chủ biên PGS TS Trần Văn Hòe TS Nguyễn Ánh Tuyết Tham gia[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
Đồng chủ biên:
-PGS.TS.Trần Vởn Hòe -TS.Nguyễn Ánh Tuyết
' GIÁO TRÌNH NGUYÊN ứ KINH TẾ vĩ MÔ
NHÀ XUẤT BẢN TÀI CHÍNH
Trang 2Đồng Chủ biên:
- PGS TS Trần Văn Hòe
- TS Nguyễn Ánh Tuyết
Tham gia biên soạn:
- TS Nguyễn Thị Thanh Huyền
- TS Trương Đức Toàn
- TS Phùng Mai Lan
- TS Phạm Thị Thanh Trang
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Kỉnh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu sự lựa chọn mà các cá nhân, doanh
nghiệp, chính phủ và toàn xã hội thực hiện khi trong thực tế họ không thể có mọi thứ nhưmong muốn Theo truyền thống, kinh tế học được chia thành hai nhánh chính: Kinh tế học
Cuốn “Giáo trình Nguyên lý Kinh tế Vĩ mô” được biên soạn dành cho các sinh viên
và người đọc tiếp cận với những nguyên lý kinh tế vĩmô Mục tiêu chủ yếu của giáo trình
là giới thiệucác khái niệm và các nguyên lý cơ bản về hoạt động tổng thể của nền kinh tế
trong ngắn hạn và dài hạn Kết thúc học phần, sinh viên sẽ được trang bị những kiến thức
cơ bản của kinh tế học vĩ mô có liên quan đến hạch toán thu nhập quốc dân, các nhân tố
quyết định sản lượng, thất nghiệp, lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toánquốctế, cũngnhư vai trò của các chính sách kinh tếvĩmô trong việc ốn định nền kinh tế vàthúc đẩy tăng trưởng kinh tế của chính phủ
Giáo trình Nguyên lý Kinh tế Vĩ mô do PGS.TS Trần Văn Hòe và TS Nguyễn ÁnhTuyết đồng chủ biên, cùng sự tham gia biên soạn của các giảng viên Bộ môn Kinh tế, Khoa Kinh tếvàQuản lý, Trường Đại họcThủy lợi, với đóng góp cụ thể như sau:
1 PGS.TS TrầnVăn Hòe, đồng chủ biên vàviết chương 3, các câu hỏi thực hành ởcác chương;
2 TS Nguyễn Ánh Tuyết, đồng chủ biênvà viết chương 1, chương4, chương 8;
3 TS Phùng MaiLan viết chương 6;
4 TS NguyễnThị Thanh Huyền viết chương 2;
5 TS TrươngĐức Toànviết chương 5;
6 TS Phạm Thị Thanh Trang viếtchương 7
Giáo trình Nguyên lý Kinh tế Vĩ mô được tập thể giảng viên Bộ môn Kinh tế, Khoa
Kinh tế và Quản lý, trường Đại học Thủy Lợi biên soạn lần đầu, mặc dù đã hết sức cẩn
trọng nhưng chắc chắn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của bạn đọc, chúng tôi mong nhận
đượcsự góp ýđế hoànthiệnhơn trong những lầntái bản sau
Nhân dịp xuất bản giáo trình “Nguyên lý Kinh tế Vĩ mô”, tập thể tác giả xin trân
trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Thủy lợi, Hội đồng Khoa học Khoa Kinh tế
và Quản lý, trường Đại học Thủy lợi và các đơn vị có liên quan đã tạo mọi điều kiện và
đóng góp ý kiến về chuyên môn Tập thể tác giảcũng xin cảm ơn các đồng nghiệp, các nhà khoa học đã cung cấp tài liệu và đóng góp ý kiến, đồng thời cũng cảm ơn các tác giả củanhững tài liệu mà tập thể tác giả đã tham khảo Tập thể tác giả cũng xin cảm ơn Nhà xuất
bản Tài chính đã hỗ trợđể giáo trìnhđược xuấtbản
Thay mặt tập thể tác giả
PGS.TS TRẦN VĂN HÒE
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓIĐẦU 3
DANH MỤC BẢNG 11
DANH MỤC HÌNH 12
CHƯƠNG 1: CÁC CHỈ TIÊU TỐNG SẢNPHẲM VÀ TĂNG TRƯỞNGKINH TÉ 15
1.1 THUNHẬP VÀCHITIÊU CỦA NỀNKINHTẾ 15
1.1.1 Thu nhập và chi tiêucủa nền kinh tế 15
1.1.2 Tàikhoảnthunhập quốc dân 16
1.2 TỔNG SẢNPHẲM TRONGNƯỚC 16
1.2.1 Khái niệm 16
1.2.2 Các phương pháp tính tổngsản phẩm trong nước 19
1.2.3 Tổng sản phẩm trong nước thực tế và Tổng sản phẩm trong nước danhnghĩa 23
1.2.4 Chỉ số điều chỉnh tổng sản phẩm trong nước 26
1.2.5 GDP vàphúc lợi kinh tế 27
1.3 TỔNG SẢNPHẲM QUỐCDÂN 28
1.3.1 Kháiniệm 28
1.3.2 Mối quanhệ giữa tổng sản phẩmquốc dân và tổngsản phẩm trong nước 28
1.4 MỘT SỐ CHÍ TIÊU THU NHẬPKHÁC 29
1.5 TĂNG TRƯỞNGKINH TẾ 30
1.5.1 Khái niệm và thước đo tốc độtăng trưởng kinh tế 30
1.5.2 Tăng trưởng kinh tế trên thế giới 30
1.5.3 Năng suất 33
1.5.4 Tăng trưởng kinh tế và chính sách công 36
TÓMTẮT 40
CÂU HỎI THỰC HÀNH 40
CÁC THUẬTNGỮCơ BẢN 47
TÀI LIỆUTHAM KHẢO 48
CHƯƠNG2: ĐO LƯỜNG MỨC GIÁCHUNG 49
2.1 CHỈ SỐ GIÁ TIÊUDÙNG 49
Trang 62.1.1 Khái niệm 49
2.1.2 Phươngpháp tínhchỉ số giá tiêu dùng 50
2.2 CHỈ SỐ ĐIỀU CHỈNHTỒNG SẢN PHẨM TRONGNƯỚC 53
2.2.1 Khái niệm 53
2.2.2 Phươngpháp tínhchỉ số điềuchỉnh GDP 53
2.2.3 Phân biệtCPI vàchỉ số điều chình GDP 54
2.3 NHỮNG VẤN ĐỀ THựC TIỀN CỦA ĐO LƯỜNG CHI PHÍ SINH HOẠT 54
TÓM TẮT 55
CÂU HỎI THỰC HÀNH 55
CÁC THUẬTNGỮ COBẢN 58
TÀILIỆUTHAM KHẢO 58
CHƯONG 3: HỆ THỐNGTÀI CHÍNH,TIẾT KIỆM VÀ ĐÀUTư 59
3.1 HỆ THỐNGTÀI CHÍNH 59
3.1.1 Mô hình hệ thống tài chính 59
3.1.2 Thị trường tài chính 61
3.1.3 Trung gian tài chính 62
3.2 TIẾT KIỆM VÀ ĐẦUTư 64
3.3 THỊ TRƯỜNG VỐN 66
3.3.1 Thị trường vốn 67
3.3.2 Ánh hưởngchính sách đến thị trường vốn 69
TÓM TÁT 72
CÂU HỎI THỰC HÀNH 73
CÁC THUẬTNGƯ COBẢN 77
TÀILIỆUTHAM KHẢO 77
CHƯONG4: TỔNGCẦU VÀ TỔNG CUNG 78
4.1 BIẾN ĐỘNGKINH TÉ 78
4.1.1 Biếnđộng kinh tể là gì 78
4.1.2 Đặc điểm củabiến động kinh tế 79
4.2 MÔ HÌNH TỒNG CẦU VÀ TÔNG CUNG 80
4.2.1 Tổng cầu của nền kinh tế (ký hiệu làAD) 80
4.2.2 Tổng cung của nền kinh tế (ký hiệulà AS) 82
4.2.3 SựcânbằngAD-AS 88
Trang 74.3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA BIẾN ĐỘNG KINH TẾ NGẤN HẠN VÀ sự
CAN THIỆP 89
4.3.1 Các cú sốc cầu 89
4.3.2 Các cúsốc cung 91
TÓMTẮT 92
CÂU HỎI THỰC HÀNH 93
CÁC THUẬTNGỮCơ BẢN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
CHUƠNG 5: TỔNGCẦU VÀ CHÍNH SÁCH TÀIKHÓA 98
5.1 XÁC ĐỊNH TỒNG CÀU 98
5.1.1 Phương pháp tiếp cậnthunhập chi tiêu 99
5.1.2 Xác địnhsản lượngcân bằng dựa trên mô hình tống chi tiêu 105
5.1.3 Mô hình tổngchi tiêu và đường tổng cầu 116
5.2 CHÍNH SÁCH TÀIKHÓA 118
5.2.1 Kháiniệmvà phân loại chính sách tài khóa 119
5.2.2 Chính sách tài khóa chủ động 120
5.2.3 Cơchếtự ổn định 125
5.2.4 Chính sáchtài khóa và ngân sách chính phủ 125
TÓMTẮT 128
CÂU HỎI THỤC HÀNH 129
CÁC THUẬTNGỮCơ BẢN 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
CHUƠNG 6: TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 136
6.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐO LUÒNGtiền 136
6.1.1 Tiền trong nền kinh tế 136
6.1.2 Đo lường khối lượng tiền 138
6.2 HỆ THỐNGNGÂNHÀNG VÀ CUNG TIỀN 140
6.2.1 Tiền cơsở và cung tiền 140
6.2.2 Hoạtđộng của ngân hàng thương mại và quá trìnhtạotiền 141
6.2.3 Mô hình cungtiền 148
6.2.4 Ngân hàng Trungương và các công cụđiều tiết cungtiền 150
6.3 THỊ TRUÔNGTIỀN TỆ 154
Trang 86.3.1 Cầutiền 154
6.3.2 Cân bằng thị trường tiền tệ 157
6.4 CHÍNH SÁCH TIỀNTỆ VÀTÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 158
6.4.1 Chính sách tiền tệ 158
6.4.2 Tác động của chínhsách tiền tệ 158
6.4.3 Hiệu quả của chính sách tiền tệ 160
6.5 PHỐIHỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TIỀNTỆ VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ 162
6.5.1 Phốihợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá 162
6.5.2 Sự khác nhau về độ trễ của chính sách tài khoá vàchính sách tiềntệ 162
TÓMTẤT 163
CÂU HỎI THỰC HÀNH 164
CÁC THUẬTNGỮCơ BẢN 172
TÀI LIỆU THAM KHẢO 173
CHUƠNG 7: LẠM PHÁT VÀ THÁT NGHIỆP 174
7.1 LẠM PHÁT 174
7.1.1 Khái niệm và đo lường 174
7.1.2 Nguyên nhân gây ralạmphát 175
7.1.3 Nhữngtổn thất của lạm phát 178
7.2 THẤT NGHIỆP 180
7.2.1 Thấtnghiệp và cáchxác định thấtnghiệp 180
7.2.2 Thấtnghiệp tựnhiên và nguyênnhân 181
7.2.3 Tác động của thất nghiệp 182
7.3 THẤT NGHIỆP TẠI CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN 184
7.4 QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP -ĐUỜNG PHILLIPS 185
TÓMTẮT 187
CÂU HỎI THỰC HÀNH 187
CÁC THUẬTNGỮCơ BẢN 191
TÀI LIỆU THAM KHẢO 192
CHUƠNG 8: KINH TẾ vĩMÔ CỦANỀN KINH TẾ MỞ 193
8.1 KHÁINIỆM VÀCÁC LUỒNG CHU CHUYỂN TRONG NỀN KINH TẾ MỎ 193
8.1.1 Kháiniệm về nền kinh tếmở 193
8.1.2 Các luồng chu chuyểnhàng hóa vàvốn quốc tế 194
Trang 98.2 CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ 195
8.2.1 Kháiniệm và ý nghĩa 195
8.2.2 Các tài khoản củacán cân thanh toán quốctế 197
8.3 TỶGIÁ HỐI ĐOÁI 199
8.3.1 Khái niệm và phânloại tỷ giá 199
8.3.2 Cáchxác định tỷ giáhối đoái trên thị trường ngoại hối 201
8.3.3 Cơchếtỷ giá hối đoái 204
8.4 LÝ THUYẾT NGANGGIÁ sức MUA VÀ ÚNGDỤNG 208
8.4.1 Lýthuyếtngang giá sức mua 208
8.4.2 ửng dụng củalý thuyết ngang bằng sứcmua 209
TÓM TẤT 210
CÂU HỎI THỰC HÀNH 210
CÁC THUẬTNGỮCO BẢN 214
TÀI LIỆU THAM KHẢO 215
Trang 11DANH MỤC BÁNG
Bảng 1.1 Mức giá vàsản lượng hàng hóa năm 2009 và 2010 24
Bảng 1.2 Tổng sản phẩm trong nước với giá thực tế phân theo khu vực kinh tế của Việt Nam giaiđoạn 2000-2016 25
Bảng 1.3 Số liệu thống kê tăng trưởng và phát triển 31
Bảng 1.4 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và một số quốc gia thuộc khu vực châu Á 32
Báng 5.1 So sánh số nhân chi tiêuvà số nhân về thuế trong từng nền kinh tế 115
Bảng 6.1 Đo lườngkhối lượng tiền của MỹvàViệtNam 139
Bảng 6.2 Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc tại các ngân hàng thươngmại tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2018 143
Bảng 6.3 Bảng cânđối kế toán dạng rútgọn củangânhàng thương mại 144
Bảng 6.4 Quá trình tạotiền của hệ thống ngân hàngthươngmại 146
Bảng 6.5 Bảng cânđốikếtoán của siêu ngân hàng khống lồ 147
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Vòng chu chuyển nền kinh tếvĩmô (xét nền kinh tế giản đơn) 15
Hình 3.1 Mô hình hệ thống tài chính trong nền kinh tế 60
Hình3.2 Thịtruờngvốn vay 68
Hình 3.3 Biến độngthị truờng vốn vay từ chính sách tiết kiệm 70
Hình 3.4 Biến độngthị trường vốn vay từ chính sách khuyếnkhích đầu tư 70
Hình 3.5 Biến độngthị trường vốn vay do ngân sách 71
Hình4.1 Hìnhdạng đường tổng cầu 80
Hình 4.2 Đường tông cung dài hạn 83
Hình 4.3 Hiện tượng dịch chuyểnđường tổng cung dài hạn 84
Hình 4.4 Đường tổng cung ngắn hạn 85
Hình 4.5 Đường tổng cungngắn hạn tuyến tính 85
Hình 4.6 Hiện tượng dịch chuyếnđường tống cung ngắn hạn 88
Hình 4.7 Cânbằng AD-AStrong ngắn hạn 88
Hình 4.8 Cân bằng AD-AStrong dài hạn 89
Hình 4.9 Cú sốc cầu cólợi 90
Hình 4.10 Nen kinh tế tự điều chỉnh về cân bằng dài hạn khi cú sốc cầu có lợi xảy ra 90
Hình 4.11 Cú sốc cungbấtlợi 91
Hình4.12 Sựcan thiệp của chính phủ 92
Hình 5.1 Cân bằng tống cung tông cầu trong ngắn hạn khi có nhiều nguồn lực chưa được sử dụng 99
Hình 5.2 Đường tổngchi tiêu và xác định sản lượng cân bằng 101
Hình 5.3 Sựdịch chuyển của đường tổng chi tiêu 103
Hình 5.4 Ánh hưởng củađộ dốc đường tống chitiêu và số nhân chi tiêu 105
Hình 5.5 Đường tồng tiêudùng của nền kinh tế 106
Hình 5.6 Đường tông tiêudùng của nền kinh tế 109
Hình 5.7 Đường tổng tiêudùng của nền kinh tế 110
Trang 13Hình 5.8 Đường tống tiêudùng của nền kinh tế 111
Hinh 5.9 Sựdịch chuyển của đường tổng chi tiêu và xác định đường tổng cầu 117
Hình 5.10 Tác động củachính sáchtài khóa mở rộng 121
Hình 5.1 ỉ Tácđộng của chínhsách tài khóa thắt chặt 122
Hình6.1 Cungtiền và tiền cơ sở 141
Hình 6.2 Đường cầu tiền tệ 156
Hình 6.3 Cân bằng trên thị trường tiền tệ 157
Hình 6.4 Tácđộng củatăng cung tiềntới lãi suất cân bằng trên thị trường tiền tệ 158
Hình 6.5 Tácđộng của giảm lãi suất trên thị trường vốn 159
Hình6.6 Tácđộng của tăng đầu tư tới thunhập và sản lượng 159
Hình 6.7 Sơ đồ về cơ chếtruyền dẫnchính sáchtiềntệ mởrộng 160
Hình 6.8 Hiệu quả của chính sách tiền tệ tronggiaiđoạn khủng hoảng 161
Hình 7.1 Lạmphátdo cầukéo 176
Hình 7.2 Lạm phát chi phí đấy 176
Hình 7.3 Lạm phát 177
Hình 7.4 Đường Phillips 186
Hình 7.5 Đường Phillipsdài hạn 186
Hình 8.1 Cânbằng trên thị trường ngoại hối 202
Hình 8.2 Khi tỷ giá cốđịnh cao hơn tỷ giá cân bằng 204
Hình 8.3 Sựcan thiệp củaNHTW trường hợp tỷ giá cốđịnh cao hơn tỷ giácân bằng 205
Hình 8.4 Khi tỷ giá cốđịnh thấphơn tỷ giácân bằng 205
Hình 8.5 Sựcan thiệp củaNHTWtrườnghợp tỷ giá cốđịnh thấp hơn tỷ giácânbằng 206
Hình 8.6 Cầu ngoại tệ tăng làm cho tỷ giátăng 206
Hình 8.7 Cungngoại tệtăng làmcho tỷ giá giảm 207
Trang 15Chương 1
CÁC CHỈ TIÊU TÔNG SẢN PHẲM VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TÉ
Chương này thảo luận việc các nhà kinh tế tính toán thu nhập của một quốc gia như
dân, v.v và phương pháp tính các chỉ tiêu này Chương này cũng đê cập đên việc sử dụng
1.1 THU NHẬP VÀ CHI TIÊU CỦA NỀN KINH TÉ
1.1.1 Thu nhập và chi tiêu của nền kinh tế
Khi đánh giá xem một người có hoạt động kinh tế tốt không, trước tiênchúng ta nhìn vào thu nhập cùa người đó Một người có thu nhập cao dễ dàng chi tiêu được những hàng
hóa thiết yếu và sang trọng cho cuộc sống Không có gì đáng ngạc nhiên khi những người
có thu nhập cao được hưởng mức sống cao - nhà ở sang trọng hon, chăm sóc sức khỏe tốt
hon, những chiếc xe hơi sành điệu hơn và nhiều kỳ nghỉ sang trọng hơn Logic tương tự
cũng áp dụng cho nền kinh tế của một quốc gia Khi đánh giá xem nền kinh tế nào đó cóhoạt động tốt không, dĩ nhiên người ta thường nhìn vào tống thu nhập mà mọi người trong nền kinh tế kiếm được Đối với nền kinh tếvới tưcách một tong thế, thu nhập phảibằng chi tiêu Tại sao điều này lại đúng? Lýdo làm cho thunhập của nền kinh tế bằng chitiêu làmọigiao dịch đều có hai bên: bên mua và bên bán Mọi khoản chi tiêu của người mua nào đó đều là thu nhập của người bán khác Vídụ, giả sử Tuyết trảGiang 100.000 VND để cắt tóc cho cô Trong trường hợp này Giang chính là người bán dịch vụ, còn Tuyết là người mua
Giang kiếm được 100.000 VND và Tuyết chi tiêu 100.000 VND Do vậy giao dịch này đóng góp vàotổng thu nhập và tổng chi tiêu của nền kinh tế một lượngnhư nhau Chúng taxemxét vòng chuchuyển của nền kinh tế đơn giản dưới đây:
Hình 1.1: Vòng chu chuyển nền kinh tế vĩ mô (xét nền kinh tế giản đơn)
Trang 16Hình 1.1 mô tả tất cả các giao dịch giữa hộ gia đinh và doanh nghiệp trong nền kinh
tế giản đơn Trong nền kinh tế đó, các hộ gia đình mua hàng hoá và dịch vụ từ doanhnghiệp; các khoản chỉ tiêu này đi qua thị truờng hàng hóa và dịch vụ Sau đó các doanhnghiệp sử dụng tiền nhận được từ việc bán hàng hoá và dịch vụ đế trả tiền lương cho công
nhân, tiền thuê cho chủ đất và lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp; các khoản thu nhập này chảyqua thị trường các nhân tố sản xuất Như vậy tiền liên tục chảy từkhuvực hộ gia đình
sang doanh nghiệp, sau đó quay trở lại khu vực hộ gia đình Tất nhiên, nền kinh tế trong thực tếphức tạp hơn rất nhiều so với nền kinh tế được minh hoạ tronghình 1.1 Cụ thể, các
hộ gia đình không chi tiêưhếtthunhập củamình Họ nộp một phần thunhập cho chínhphủdưới dạngthuế, cũngnhư tiết kiệm và đầu tư một phần thunhập để sử dụng trong tương lai Ngoài ra, các hộ gia đình không mua tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế Một số hàng hóa và dịch vụ được chínhphủ mua, còn mốt số khác được các doanhnghiệp mua, vì họ dự kiến trong tương lai sẽ sử dụng chúng vào việc sản xuất ra sản phẩm
củariêng họ Tuy nhiên, bất kể hộ giađình, chính phủ hay doanh nghiệp mua một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó thi giao dịch đó vẫncó bên mua và bênbán Do vậy, khi xem xét nền kinh tếvới tư cách một tổng thể thì chitiêu vàthunhập vẫn luôn bằng nhau
1.1.2 Tài khoản thu nhập quốc dân
Tài khoảnthu nhập quốc dân làtài khoảnđược lập rađế đo lường các hoạtđộng kinh
tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất đinh Nhìn vào tài khoản này, chúng ta có thể
đánh giá được một cáchtương đối chính xác vềmức độ phát triến củanền kinh tế đó, mức sống của người dân quốc gia đó Neu như so sánh bảng tài khoản này qua các năm, chúng
ta sẽbiếtđược sựthay đối và mức sống đang diễn ra như thế nào, hoặc nếu so sảnh bảng tàikhoản này giữa các quốc gia thì chúng ta cũng có thế so sánh mức sống của người dân các
quốc gia này Ngoài ra, chúng ta có thể hiếu thêm được cấu trúc sản lượng, thư nhập, chi
tiêu của nền kinh tế từ bảng tải khoản này Chúng ta sẽ xem xét định nghĩa của một số thước đo phản ảnh mức sống cơ bàn nhất là tổng sản phẩm trong nước (được ký hiệu làGDP) và tổng sản phẩm quốc dân (được kýhiệulàGNP)
1.2 TÔNG SẢN PHẲM TRONG NƯỚC
1.2.1 Khái niệm
Tống sản phấm trong nước (GDP) là tống giá trị thị trường của tất cả hàng hoá và
dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một nước, trong mộtthời kỳ nhất định
Chúng taxemxét từng cụm từ trong định nghĩa này như sau:
“Giá trị thị trường 99
GDP cộng rất nhiều sản phấm thành một chỉ tiêu duy nhất về giá trị của hoạtđộng kinh tế, bạnkhông thể cộng cái bàn với con gà nhưng GDP lại phải như vậy Đẻ cộng tất cả các hàng hóa và dịch vụ lại với nhau, chúng ta cần có sự thống nhất về đơn vị đo Đơn vị đo của GDP là tiền tệ và giá trị tiền tệ của mỗi đơn vị hàng hóa, dịch vụ sẽ được
Trang 17tính bằng cảch sử dụng giá cả thị trường (tức là mức giá bán cuối cùng bao gồm cả thuế
hàng hóa) Do giá thị trường biểu thị số tiền mà mọi người sằn sàng chi trả cho các hàng
hóa khác nhau, nên nó phản ánh giá trị củanhữnghàng hóa này Neu giá trị của một con gà bằng năm lần giá của một cái bàn, thì một con gà đóng góp vào GDP gấp năm lần giá trị
của một cái bàn
“Của tất cả hàng hóa và dịch vụ ”
GDP cố gắng biểu thị một cách đầy đủ Nó bao gồm tất cả các hàng hóa được sản xuất ra trong nền kinh tế và được bán họp pháp trên các thị trường GDP tính toán giá
trị thị trường không chỉ của quần và áo, mà còn của cam, nho, sách, phim ảnh, dịch vụ
cắt tóc, chăm sóc y tế, và v.v GDP còn bao gồm cả giá trị thị trường của dịch vụ nhà
ở do khối lượng nhà ở hiện có của nền kinh tế cung cấp Đối với những căn nhà cho
thuê, chúng ta dễ dàng tính được giá trị này - tiền thuê nhà đúng bằng chi tiêu của người thuê nhà và thu nhập của chủ nhà Tuy nhiên, có nhiều người sống trong chính căn nhà
của họ và do vậy không phải trả tiền thuê nhà Chính phủ hạch toán những ngôi nhà do
chủ sở hữu sử dụng vào GDP bằng cách ước tính giá trị cho thuê của chúng Nghĩa là, GDP được tính dựa trên giả định cho rằng người chủ sở hữu trả tiền thuê nhàcho chính
họ, do vậy tiền thuê nhà nằm trong cả chi tiêu và thu nhập của anh ta Ví dụ: Nếu bạn có một căn phòng cho sinh viên thuê một tháng được 2 triệu VND, dịch vụ cho thuê nhà này sẽ được tính vào GDP Nếu bạn quyết định ở trong căn phòng đó thay vì cho thuê
theo đúng định nghĩa thì ở đây không có giao dịch mua bán và vi vậy không được tính vào GDP Tuy nhiên, trong trường hợp này, chúng ta vẫn sẽ tính vào GDP thêm 2 triệu
đồng dù rằng bạn đang ở trên chính ngôi nhà của bạn Khi đó, bạn được coi là đang đi
thuê nhà và trả tiền cho chính bạn Lý do cho trường hợp ngoại lệ này là do giá trị tiền
thuê nhà tưong đối lớn trong tống chi tiêu của chúng ta Chính vì vậy, nếu một quốc gia
rất khuyến khích người dân mua và sở hữu nhà để ở, trong khi một quốc gia khác lại khuyến khích người dân đi thuê nhà, khi đó nếu căn cứ theo đúng định nghĩa nói trên, quốc gia thứ nhất sẽ có GDP thấp hon rất nhiều so với quốc gia thứ hai dù rằng có thể
mức sống cùa người dân hai nước không thật sự khácnhau
Tuy nhiên, có một số sản phấm mà GDP bỏ sót do việc tính toán chúngquá khó khăn
GDP không tính nhữngsản phấm được sản xuất và bán ra trong nền kinh tế ngầm, hàng hóa
dịch vụ bất hợp pháp Nó cũng không tính được những sản phẩm được sản xuất và tiêu dùngtrong gia đình do vậykhông bao giờ được đưa ra thị trường, đây đượccoi làhàng hóa
tựcung tự cấp Những loại rau quả mua tại các cửa hàng tạp phẩm là một phần của GDP,
song rau quả trồng trong vườn của bạn lại không nằm trong đó Bạn là một đầu bếp, bạn nấu com cho gia đìnhngười thân ăn sẽ không được tính vào GDP, tuy nhiên nếunhà hàng
bên cạnh nhà bạn thuê bạn sang nấu ăn cho họ, và trả cho bạn 500.000 VND thì GDP khi
đó sẽtăng thêm 500.000 VND
Trang 18“Cuối cùng "
Thước đo GDP đảm bảo nguyên tắc giá trị mỗi hàng hóa hay dịch vụ chỉ được tính
duy nhất một lần vào GDP, tức là không được tính trùng Trong thực tế, một sản phẩm đến
tay chúng ta có thế phải trải qua rấtnhiều nhà máy sản xuất Ví dụ, một chiếc áo sơ mi bạn
đang mặc sẽ được bắt đầu từ nông trường trồng bông, bông thu hoạch về sẽ được bán cho nhà máy dệt đế tạo thành vải, tức là giá trị vải sẽ bao hàm giá trị bông được trồng, sau đó
vải sẽ được bán tới nhà máy may đê tạo thành áo, tức là giá trị áo sẽ bao hàm gía trị vải được dệt, và được bánđến tay người tiêu dùng cuối cùng Neu chúng ta cộng tất cả giá trị bông, giá trị vải, và giá trị áo lại thì GDP sẽ bị thổi phổng lên do giá trị bông sẽ bị tính tới
ba lần còn giá trị vải tính tới hai lần Bông và vải ở đây được hiểu là hàng hóatrung gian còn áo ở đây được hiếu là hàng hóa cuối cùng Ớ đây, GDP chỉ cần tính giá trị chiếc áo là
đủ bởi vì nó bao quát giá trị của tất cả các công đoạn sản xuất trước đó Một sản phẩm cóthế trở thành hàng hóa cuối cùng nhưng cũng có thể là hàng hóa trung gian tùy vào mụcđích củangười mua là đê tiêudùng hay đế tiếp tụctạo ra một hàng hóa khác
Một ngoại lệ khi tính GDP cần phải xem xét ở đây đó là tính toán phần khấu hao máy
móc Các hàng hóa đầu tư, ví dụ như máy móc, bản chất là hàng hóa trung gian bởi vì nó
được dùng để tạo ra hàng hóa khác Tuy nhiên, giá trị của một chiếc máy không chuyển hóa
trọn vẹn vào trong giá trị hàng hóa đầu ra trong một năm (thời gian được dùng để tính GDP) Nó chỉ chuyến hóa một phần vào trong giá trịhàng hóađầu ra, và chúng ta gọi đó là
phần khấu hao máy móc Căn cứ theo đúng định nghĩa, chúng ta sẽ không tính phần khấu
hao máy móc vào trong GDP, bởi nếu không nó sẽ dẫn đến hiện tượng tính trùng hai lần phần khấu hao, một lần trong chiếc máy và một lần trong giá trị hàng hóa đầu ra Tuy
nhiên, đây là mộtngoại lệ, tức là GDP sẽ tínhtrùngphần khấu hao máy móc hai lần trongnăm sản xuất chiếc máy
của Nga) Do vậy, các sản phẩm được đưa vào GDP của một quốc gia khi chúng được sản
xuấtra trên lãnhthổ quốc giađó, bấtkể nhà sản xuất có quốc tịch nước nào
“Sản xuất trong một thời kỳ nhất định ”
Thước đo GDP sẽ căn cứ vào thời điểmsản xuất ra hàng hóa và dịch vụ đó để quyết định nó sẽ được tính vào GDP năm nào Ví dụ, một chiếc máy tính ASUS được sản xuất
ngày 01/01/2018 và được bán vào ngày 18/09/2019 với giá 25 triệu VND, khi đó giá trị
chiếc máy tính này sẽ được tính vào GDP năm 2018 (thời điếm sản xuất, chứ không phải
thời điểmđược bán)
Trang 19GDP phản ánh giá trị sản xuất thực hiện trong một khoảng thời gian cụ thể
Khoảng thời gian này thường là một năm hoặc một quý (3 tháng) GDP phản ánh lượng
thu nhập và chi tiêu trong thời kỳ đó Lưu ý, khi chính phủ thông báo GDP cho một quý, thì nó thường biểu thị GDP dưới dạng “hàng năm” Điều này hàm ý con số GDP hàng quý được thông báo bằng tổng thu nhập hoặc chi tiêu trong quý nhân với (x) 4 Chínhphủ sử dụng quy ước này đế đảm bảo rằng con số GDPhàng quý và hàng năm có
thế so sánh với nhau một cách dễ dàng hơn Ngoài ra, khi chính phủ thông báo GDP hàng quý, thì số liệu này đã được điều chinh bằng một thủ thuật thống kê gọi là điềuchỉnh thời vụ Những số liệu chưa được điều chỉnh cho thấy một cách rõ ràng rằng nền
kinh tế sản xuất nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn trong một số thời điếm so với mộtsố thời điếm khác trong năm (như bạn có thể dự đoán, mùa mua sắm vào dịp lễ Giáng sinh vào tháng 12 là thời kỳ cao điểm) Khi theo dõi diễn biến của nền kinh tế, các nhà kinh
tế và nhà hoạch định chính sách thường muốn bỏ qua những biến động thời vụ lặp lại
thường xuyên này Do vậy, các nhà thống kê của chính phù điều chỉnh số liệu quý đế
loại trừ chu kỳ thời vụ số liệu GDP được thông báo trong các bản in luôn được điều
chỉnh để loại trừ tính thời vụ
1.2.2 Các phương pháp tính tổng sản phẩm trong nước
Với định nghĩa là giá trị thị trường của hàng hóa và dịch vụ nên GDP thườngđược
tiếp cận từ hai góc nhìn chính là thu nhập và chi tiêu, trong đó cách tiếp cận chi tiêu sẽ
phân loại chi tiêu của những người mua các hàng hóa và dịch vụ trong GDP, còn cáchtiếp cận thu nhập sẽ phân loại thu nhập của những người bán các hàng hóa và dich vụ
này Ngoài ra, tính toán GDP còn được tiếp cận trênkhía cạnh giá trị gia tăng của hàng hóa và dịch vụ
1.2.2.1 Tính tổng sản phẩm trong nước theo phương pháp chi tiêu
Đây là cáchtiếp cận hữu ích và được sử dụng rất nhiều trong cảc phân tích kinh tế vĩ
mô Theo cách tiếp cận này, GDP được chia thành bốn nhóm: (i) tiêu dùng hộ gia đình, (ii) đẩu tư, (iii)tiêudùng của chính phủ, và(iv) xuất khẩu ròng
GDP =C + I +G + NX (1.1)Chúng ta cần nhắc lại ở đây làGDP chỉ bao gồm hàng hóa và dich vụ sản xuất trong nước Tiêudùng hàngnước ngoài trongc, I, G chính là nhập khẩu và sẽ được trừ đi để tính
ra xuất khẩu ròng (sẽ được xem xét cụ thể ở phần dưới) để đảm bảo GDP chi bao gồmhàng
hóasản xuất trongnước
Tiêu dùng
Thành phần tiêu dùng chiếm tỷtrọng lớn nhất trong GDP Việt Nam cũng như nhiều nước
khác, khoảng 60-70% GDP Tiêu dùng hộ gia đinh thường đượcphânthành banhóm sau:
s Hàng hóa lâu bền: là những hàng hữu hình, có thời gian sử dụng khá dài (thường trên3 năm) nhưôtô, xe mảy, tivi, bàn ghế
Trang 20s Hàng hóa không lâu bền (hàng tiêu dùng ngắn ngày): là hàng hóa được tiêu dùng
thường xuyên, rất ngắn hoặc ngắn ngày nhưlương thực, thực phấm, đồ uống, quần áo
s Dichvụ: dịch vụ y tế, tài chính, cất tóc, ănuống nhà hàng
Đầu tư
Thành phần đầu tư thường chiếm khoảng trên 30% GDP ở Việt Nam trong những năm gần đây Đầu tư ở đây là tổng đầu tưcủa quốc gia Neu trừphần khấu hao máy móc
ra khỏi phần đầu tư trên, chúng ta sẽ có giá trị đầu tư ròng Đầu tư ròng phản ánh khối
lượng tư bản tăng thêm của nền kinh tế Đầu tưthường được chia thành ba nhóm: đầu tư
cố định vào kinh doanh; đầu tư vào nhà ở; đầu tư vào hàng dự trữ Trong đó, đầu tư cố
định vào kinh doanh thì có thể kể đến như mua máy móc và thiết bị mới, nhà máy mới,
kho bãi mới, tòa văn phòng mới xây Đối với đầu tư vào nhà ở (mua nhà hoặc các chung
cưmới xây để ờ), mặc dù đây là chi tiêu của hộ gia đình nhưng do giá trị lớn và thời gian
sử dụng dài nên chúng ta quan niệm nó là một khoản chi tiên mangtính chất đầu tư Cuối cùng, đầu tư vào hàng dự trữ được hiếu rằng: nếu một doanh nghiệp sản xuất hàng hóa nhưng chưa bán được thì chúng ta vẫn tính giá trị hàng hóa đó vào GDP năm này và chúng taquan niệm chính doanh nghiệp làngười mua hànghóa ấy Hàng hóa này sẽ được
tínhvào trong mục đầu tư hàng dựtrữ, lượng hàng tồn kho sẽ tăng lên và được tínhđầu tư
tănglên và ngược lại
Ngoài ra, chính phủ cũng chi muacác hàng hóa đầu tưnhư cơ sở hạ tầng, trường học.trạm y tế Ó một số quốc gia, các khoản chi này cũng sẽ được tính vào trong mục đầutư,
tức là đầu tư sẽ bao gồm đầu tư tư nhân và đầu tư công Tuy nhiên, tại môt số quốc gia khác,trong đó có ViệtNam, đầu tư sẽ không tính cáckhoản chi của chính phủ cho các hạngmục đầu tư này -nó vẫn được tính vàotrong tiêu dùng của chính phủ
Tiêu dùng của Chính phủ
Tiêudùng của chính phủ ở đây được hiểu là các khoản chi mua hàng hóa và dịch vụ
cùa chính phủ không bao gồm những khoản phụ cấp, viện trợ của chính phủ, chi bảo hiểm
xãhội, haychi trả lãi
Xuất khấu ròng
Xuất khẩu ròng bằng xuất khẩu trừ đi nhập khẩu Nếu như xuất khẩu và nhập khẩu
chiếm tỷ trọng lớn trong GDP thì đó là một nền kinh tế dựa nhiều vào kinh tế thế giới Những biến động của kinh tế thế giới có thể sẽ ảnh hường nhiều tới hoạt động kinh tếtrong nước Cách tiếp cận chi tiêu sẽ cho chúng ta có một số đánh giá về trạng thái và
triển vọng của nền kinh te Neu một quốc gia đang có tỷ trọng chi tiêu dùng hộ gia đình
hay tiêu dùng chính phủ không mang tính đầu tư quá cao trong khi tỷ trọng chi đầu tưcủa doanh nghiệp quá thấp, điều đó hàm ý mức sống hiện nay đang tương đối cao, tuy
nhiên triến vọng kinh tế có thế không khả quan, tốc độ tăng trườngkinh tế sẽ chậm Chi đầu tư được xem là một yếu tố quan trọng quyết định tới tốc độ tăng trường kinh tếtrong tương lai
Trang 21I.2.2.2 Tính tổng sản phẩm trong nước theo phương pháp thu nhập
Tính tổng sản phẩm trong nước theo phương pháp thu nhập được thực hiện bằng
cách cộng toàn bộ thu nhập mà những người đã sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ nhận được Các nhân tố tham gia vào sản xuất ra hàng hóa gồm có đất đai, lao động, và tư
bản Do vậy, những người cung cấp các nhân tố này sẽ nhận được các khoản thu nhập
tương ứng như tiền thuê đất, tiền công/tiền lương, và thu nhập từ vốn bao gồm cáckhoản thu nhập từ tiền lãi và đầu tư, lợi nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên, khi tính lợinhuận của doanh nghiệp, người ta đã trừ đi phần chi khấu hao máy móc, do vậy khoản
khấu hao sẽ phải cộng thêm vào Ngoài ra, bởi vì GDP tính theo giá trị thị trường của hàng hóa và dịch vụ, và giáhàng hóa lại bao gồm cả thuế gián thu (nhưthuế giátrị giatăng, tiêu thụ đặc biệt) thuộc vềnhà nước nên chúng ta phải cộng tiếp cả khoản thuế này vào để tínhra GDP
Như vậy, theo cách tiếp cận thu nhập, GDP sẽ được tính bằng tổng của các khoản
thu nhập:
công, tiền lương, tiền thưởng, đóng góp bảo hiểm xã hội của chủ doanh nghiệp cho người lao động Đây là phần thu nhập chiếmtỷ trọng lớn nhất trong GDP, thường vào khoảng xấp
xỉ 60 70% GDP Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý làphầnthu nhập của lao động không phải là khoản thu nhập người lao động mang về nhà bởi vì nguời lao động có khả năng sẽ phải đóng một phần thuế cho chính phủ từ số thu nhập nhận được này (hoặc cũng có thế
được nhận trợ cấp thêm từ chính phủ)
thuê) mặt bằng để sản xuất cũng như để ở Như chúng ta đã nói ở trên, dù bạn ở trên chính
ngôi nhà của bạn thì bạn vẫn đang được gỉả định là đang đi thuê nhà của chính bạn, và tiền
thuê ước tính theo giá trị thị trường sẽ được cộng vào GDP Các doanh nghiệp thuê mặt
bằng sản xuất cũng sẽ phảitrảkhoán tiền thuê đất
máy móc, thiết bị và tiến hành sản xuất Một phần thu nhập từviệc bán hànghóa sẽ dùng
để trả lãi vaycho các cánhân cung cấp vốn cho doanh nghiệp Ngoài ra, người ta cũng đưa
những thay đổi trong gía trị hàng dự trữ của doanh nghiệp vào trong phần thu nhập này.Như chúng ta đã biết, hàng dự trữ lànhững sảnphẩm chưa bán được ngay trong năm đó vànhư vậy nó chưatrờ thành thunhập của người lao động hay lợi nhuận của doanh nghiệp Ở đây, chúngtaxếp nó vào trong phần thunhập từtiền lãi và đầu tư
Lợi nhuận doanh nghiệp: Đây là phần thu nhập còn lại doanh nghiệp sau khi trả hết
cáckhoản tiền công, tiền lãi, tiền thuê đất, khấu hao, thuế hàng hóa Phần lợi nhuận này sẽ
được dùng để trảthuế thunhập doanh nghiệp vàtrảcổ tức cho các cổ đông Phần còn lại sẽ
được giữ lại doanh nghiệp và bổ sung vào vốn chủ sở hữu để tiến hành mở rộng đầu tư trong tương lai
Trang 22Thu nhập của hộ kỉnh doanh cá thế: Đây là khoản thu nhập của những người tự
doanh có sở hữu vốn Ví dụ, một bác sỹ nha khoa mua một số máy móc về để mở phòng khám tại nhà
như thuế giá trị giatăng, thuế tiêu thụđặc biệt
Khấu hao máy móc: Đây là phần giá trị máy móc được tính hao mònsau một năm
về cơ bản, chúng ta có thể có những thông tin nêu trên từ báo cáo thu nhập doanhnghiệp hàng năm Trong báo cáo thu nhập doanh nghiệp, chúng ta sẽ có các thông tin vềcác khoản chi tiềncông, tiền lãi, tiền thuê đất của doanh nghiệp Nó cũngcho chúng ta biết doanh nghiệp phải nộp thuế hàng hóa bao nhiêu, khấu hao doanh nghiệp được tính là bao
nhiêu, lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp là bao nhiêu Tất nhiên, chúng ta cũng sẽ phải thu thập bổ sung thêm một số thông tin về lượng hàng dự trữ cùa doanh nghiệp, thunhập của các hộ kinh doanhcá thế
Kếtquả tính theo phương pháp chi tiêu vàphương pháp thu nhập về mặt nguyên tắc
sẽphải giống nhau bởi nó đo lường cùng một đối tượng là GDP Hai phương pháp này chỉ đứng từhai góc nhìnkhác nhau, phương pháp chi tiêu thì nhìn nhận ai làngười trả tiềncho
những hàng hóa đó, còn phương pháp thu nhập thi nhìn nhận ai là người nhận khoản tiền
đó Tuy nhiên, trongthực tế, kết quảtính toán theo hai phương pháp thường khác nhau donhững sai số thống kê bắt nguồn từ nguyên nhân thống kê thuần túy, hoặc do một số người khai báo thu nhập thấp hơn so với thưc tế nhằm trốn thuế, hoặc một số khoản chi tiêu bấthọp pháp như ma túy, mại dâm, vũ khí không được kê khai khiến cho GDP tính theo
phươngpháp chi tiêu thấp hơn phương pháp thunhập
I.2.2.3 Tính tông sản phâm trong nước theo phương pháp giá trị gia tăng từ các công đoạn săn xuất
Như chúng ta đã nói ở trên, một hàng hóa cuối cùng thường không phải được sản xuất trọn vẹn từ đầu tới cuối trong duy nhất một doanh nghiệp Đe có được một hàng hóa tới tay chúng ta, nó sẽ phải trải qua nhiều công đoạn sản xuất tại nhiều nhà máykhác nhau Phương pháp giá trị gia tăng sẽ tính giá trị hàng hóa cuối cùng bằng cách
cộng phần đóng góp của từng nhà máy vào giá trị hàng hóa cuối cùng đó Ta có công
Trang 23Phần giá trị gia tăng ở từngdoanh nghiệp này được dùng đế chitrả cho những nhân tố
tham gia quá trình sản xuất của doanhnghiệp đó, cụ thể là tiềnlương, tiền thuê đất, lãi vay,
lợi nhuận doanhnghiệp, thuế gián thu và khấu hao Và một lần nữa chúng tathấy rằng kết quả tính theo phương pháp giá trị gia tăng cũng sẽ cho kết quả hoàn toàn tương tự nhưphươngpháp thunhập
1.2.3 Tổng sản phẩm trong nước thực tế và Tổng sản phẩm trong nước danh nghĩa
Theo cáchtiếp cận phương pháp chi tiêu khi tính GDP cho thấy, GDP phản ánh tống chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ trên tấtcả các thị trường của nền kinh tế Nếu tổng chi
tiêu thay đổi từ năm này qua năm khác, thì một trong hai điều sau đây được thể hiện: (1)
nền kinh tế đang sản xuất ra sản lượng hàng hóa và dịch vụ như thế nào, hoặc (2) hàng hóa
dịch vụ được bán với giá như thế nào Khi nghiên cứu sự biến động của nền kinh tế theo thời gian, cácnhà kinh tếmuốn bóc tách hai ảnh hưởng này:
Cụ thể, họ muốn có một chi tiêu về tổng lượng hàng hóa và dịch vụ mà nền kinh tế
sản xuất ra, mà không bị ảnh hường bời những biến động trong giá cả của những hàng hóa
và dịch vụ đó thì họ sẽ sử dụng một chỉ tiêu đó là GDP thực tế GDP thực tế sẽ cho biết: Giátrị của những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong năm là bao nhiêunếu chúng ta
định giá chúngtheo một năm nào đó trongquá khứ (gọi là năm cơ sở) Bằng cáchđịnh giá sản lượng sản xuấthiện tại theo giá cố định trong quá khứ, GDP thực tế sẽ cho biết tổngsản
lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế thay đối như thế nào theo thời gian Điều này
được thể hiện qua công thứcsau:
z’=l
Vậy GDP thực tế là giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ hiện hành của nền kinh tế
được đánh giá theo mức giá cố định của nămcơ sở
Neu các nhà kinh tế muốn xemxétgiá trị hàng hóa và dịch vụ hiện hành của nền kinh
tế, có tính đến sự biến động của giá cả, thì họ phải sử dụng một chỉ tiêu đó là GDP danh
nghĩa Vậy GDP danh nghĩa là giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ hiện hành được tính
theo mức giá năm hiện hành Điều này được thểhiện qua công thứcsau:
i=l
Đe hiểu chính xáchơn xem GDP thực tế và GDP danh nghĩa được tính như thế nào, chúng ta hãy cứ xemxét một ví dụ:
Giả sử một nền kinh tế chỉ sản xuất 3 mặt hàng và có bảng số liệu như sau (chọnnăm
cơ sờ lànăm2009) Hãy tính toánGDP danh nghĩavàGDP thực tế năm 2009và 2010
Trang 24Bảng 1.1 Mức giá và sản lượng hàng hóa năm 2009 và 2010
Đecó chi tiêu về giátrị hàng hóa sản xuấtmàkhôngbị ảnh hưởng bởi sựbiến động giá
cả, chúng ta sử dụng GDP thực tế, tức sản lượng dịch vụ và hàng hóađược tính theo giá cốđịnh năm cơ sở là năm 2009 Sau đó, chúng ta sử dụng giá cả của lương thực, thực phẩm và
quần áo trong năm gốc để tính giá trị của hàng hóa và dịchvụ cho tất cả các năm Nói cáchkhác, giá trong năm gốc tạo cơ sở đế so sánh sản lượng trongcácnămkhácnhau Tacó:
G£>^2009 = ỹp i ° *Q'i = 4x100 + 10x300 + 15x200 = 6400$
Z-1GDP2""' =^p"xg' =4x120+ 10x310 + 15x190 = 6430$
Í=1
Đe tính toán giá trị hànghóa và dịch vụ có xem xét đến sự biến động của giá cả, chúng ta
tính toán GDPdanh nghĩa Ta có:
GP^,2009 =^7’'Xổ' =4x100 + 10x300 + 15x200 = 6400$
7=1
GDP; n mữ =yp' xQ' I ^■—'1 =4x120 +12x310 + 17x190 = 7430$
Z=1
Trong năm gốc, GDP thực tế luôn bằng GDP danh nghĩa vì giá cả được tính vào cùng
một năm cơ sở Chúng ta nhận thấy GDP thực tế của năm 2010 lớn hơn năm 2009 là 30$,điều nàycho biết sự giatăng hoàn toàn do sự gia tăng của sản lượng, bới vì giá nó đã được
cố định theo giácủanămgốc
Tóm lại GDP danh nghĩa sử dụng giá hiện hành đếtính giá trị sản lượng hàng hóa và
dịch vụ, GDP thực tế sử dụng giá cố định trong năm gốc đế tính giá trị sản lượng hàng hóa
và dịch vụcủa nền kinh tế Do GDP thực tế không chịu ảnh hưởng của sự biến động giá cả, nên những thay đối của GDP thực tế chỉphản ánh sự thay đối của lượng hàng hóa và dịch
vụ Do vậy, GDP thực tế là chỉ tiêuphản ánh lượng hàng hóa và dịch vụ của nềnkinh tế
Mục đích của chúng takhi tính GDP làđánh giá mức độ hoạt động củatoàn nền kinh tế DoGDP thực tế phản ánh lượng hàng hóavà dịch vụ, nên nó cũng phản ánh năng lực của nền kinh tế trong việc thỏa mãn nhu cầu và nguyện vọng của người dân Vì vậy, GDP thực tế
chi là một chi tiêu đánh giá phúc lợi kinh tế tốt hơn GDP danh nghĩa Khi các nhà kinh tếnói về tăng trưởng của nền kinh tế, họ phản ánh tốc độ tăng trưởng bằng tỷ lệ phần trăm
thayđối củaGDP thực tếtừ thời kỳ này sang thờikỳ khác
Trang 25Dưới đây, chúng ta có thểxem xétGDP thực tế củaViệtNam giaiđoạn từ sau khi đối mới đến năm 2016 Theo Tống cục Thống kê, kinh tế Việt Nam những năm đầugiảiphóng
tăng trường thấp và thực chất không có phát triến Nền kinh tế không có tích luỹ từ nội bộ
vì làm không đủ ăn, thu nhập quốc dân sản xuất chỉ bằng 80 - 90%, nhu cầu sử dụng nôngnghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong nền sản xuất Đời sống nhân dân hết sức khó khăn
thiếu thốn, sau quyết định cải cách và mở cửa từ năm 1986, kinh tế dần phục hồi và cónhững bước phát triển nhất định Đất nước từ chỗ thiếu ăn triền miên (năm 1988 nước taphải nhập hon 450.000 tấngạo) thi đến năm 1990 đã vươn lên đáp ứngnhu cầu trongnước,
có dự trữ và xuất khẩu Giai đoạn 1986 - 1990, GDP tãng trường trung bình 4,4%/năm Giaiđoạn 1991 - 1995 GDP bình quân của cả nước tăng 8,2%/năm Giai đoạn 1996 - 2000 tốc
độ tăng GDP đạt 7% Bình quân từ năm 1991 - 2000 GDP tăng 7,6%/năm Giai đoạn từ
2001 - 2010 GDP tăng bình quân 7,26%/năm Giai đoạn 2011 - 2016 đạt khoảng 6%/năm Tính chung cho cả giai đoạn GDP tăng binh quân gần 7%, trong đó có tới 20 năm liên tục
GDP tăng bình quân 7,43% Bước vào thời kỳ đối mới, cơ cấu kinh tế của Việt Nam bắt
đầu có sựchuyến dịch ở cả 3 lĩnh vực Năm 1986, nông nghiệp vẫn chiếmtỷtrọng cao nhấtvới 38.06% Tỷ trọng ngành dịch vụ là 33,06%, còn công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhấtvới 28,88% Nen kinh tế vẫn phụ thuộc chính vào nông nghiệp, giải quyết tình trạngthiếu
lương lực và công ăn việc làm cho hàng chục triệu người Ngành công nghiệp phát triển chủ yếu các lĩnh vực khai khoáng, điện, giấy Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam càng về sau cơ cấu kinh tế có sự thay đổi nhanh chóng Ngành dịch vụ vươn lên trở thành ngành có
tỷ trọng GDP cao nhất, với 40.92%, công nghiệp với 32.72% Ngành nông nghiệp chỉ đónggóp 16,32% GDP của cả nước Trong ngành công nghiệp cũng có sự thay đổi lớn, từ khai
khoáng, sản xuất giấy, cơ khí là chủ yếu, nay chuyển sang những ngành mới như côngnghiệp chếbiến, dệt may, sản xuất hàng tiêu dùng, điện tửviễn thông, hóa chất Khu vựccông nghiệp và dịch vụ luôn có sự tăng trưởng mạnh hai con số, làđộng lực để thay đổi cơcấu, chuyểndịch sang hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa
Bảng 1.2 Tổng săn phẩm trong nước với giá thực tế phân theo khu vực kinh tế
của Việt Nam giai đoạn 2000 2016
Năm
Tổng số
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Công nghiệp và xây dựng
Dịch vụ
Nông, lâm nghiệp
và thuỷ sản
Trang 26Tổng số
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Công nghiệp và xây dựng
Dịch vụ
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
1.2.4 Chỉ số điều chỉnh tổng sản phẩm trong nước
Nhưchúngta đã thấy, GDP danh nghĩa phản ánh cả giá cả và sản lượng hàng hóa và
dịch vụ mànền kinh tế đang sản xuất, GDP thực tế chỉ phản ánh lượng hàng được sản xuất
ra Từ hai chỉ tiêu thống kê này, chúng ta có thế tính được chỉ tiêuthứ ba, gọi là chỉ số điều
chỉnh GDP, nó được phản ánh giá cả chứ không phản ánh lượnghàng hóa và dịch vụ
Chỉsố điều chỉnh GDP (Dgdp được tính nhưsau:
Trang 27ví dụ đơn giản sau Nếu sản luợng của nềnkinh tế tăng theo thời gian, nhung giá cả không
đối thì cả GDP danh nghĩa và GDP thục tế đều tăng với tỷ lệ nhu nhau, do vậy chỉ số điều
chỉnh GDP không thay đối Bây giờ giả sử rang thay vào đó, giá cả tăng theo thời gian
trong khi sản lượng lại không đổi thì GDP danh nghĩa tăng nhưng GDP thực tế không đổi,
do vậy chỉ số điều chỉnh GDP cũng tăng Trong cả hai trường hợp này chỉ số điều chỉnhGDP đều phảnánh những gì xảy rađối với giá cả chứ khôngphải làlượng
1.2.5 GDP và phúc lọi kinh tế
Phần lýthuyếtở trên chúng ta đã biết GDP phản ánh cả tổngthu nhập và tổng chi tiêu
của nền kinh tế, GDP bình quân đầu người thì cho chúng ta biết thu nhập và chi tiêu của
một người trung bình trongnền kinh tế GDP được coi là một chỉ tiêu tốt đế phảnánh phúc
lợi kinh tế Một khối lượng GDP lớn giúp chúng ta có được cuộc sống tốt đẹp GDP không cho biết sức khỏe của con em chúng ta, song các quốc gia có GDP lớn hơn có thể có được dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn cho con em họ GDP không phản ánh chất lượng giáo
dục, nhưng các nhưng các quốc gia có GDP lớn hơn có hệ thống giáo dục tốt hơn GDP
không nói lên vẻ đẹp củathi ca, nhưng quốc gia có GDP lớn hơn có thể dạycho nhiều công
dân của họ biết đọc và biết thưởng thức thi ca GDP không tính đến sự thông minh, tính
liêm chính, lòng dũng cảm, sự khôn ngoan hoặc lòng trung thành của chúng ta đối với tổquốc, nhưng tấtcả những điều nàycó thế dễ dàng có hơn khi mọi người ít phải bận tâmvớinhu cầu vật chất của đời thường Nói ngắn gọn, GDP không trực tiếp phản ánh những cái
làm cho cuộc sống củachúng ta có giá trị hơn, nhưng nó lại cho biết khả năng của chúng ta
trong việc đạtđược điều đó
Tuy nhiên, GDP khôngphải là chỉ tiêu hoàn hảo về phúc lợi Một số thứ góp phần tạo nên cuộc sống tốt đẹp bị loại ra khỏi GDP Một trong số đó là thời gian nghỉ ngơi Ví dụ: nếu mọi người trong nền kinh tế đột nhiên bắt đầu làm việc tất cả các ngày trong tuần, không nghỉ vào cuối tuần, nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn sẽ được sản xuất và GDP tăng
Song mặc dù GDP tăng, nhưng chúng ta không thế nói phúc lợi của mọi người có tăng hay không Những cái mất từ việc giảm thời gian nghỉ ngơi làm triệt tiêu những cái được từ
việc sản xuất và tiêu dùng một khối lượng hànghoá và dịch vụ lớn hơn Do GDP sử dụnggiáthị trường để đánh giá hàng hoá và dịch vụ, nên nó bỏ qua hầu hết các hoạt động xảyra bên ngoài thị trường Cụ thê, GDP bò sót giá trị của những hàng hoá và dịchvụ được sản
xuất tại gia đình Khi ngườiđầu bếp chuẩn bị bữa ăn ngon và bán nó tại nhàhàng của anh
ta, thì giá trị củabữa ăn đó là một phần củaGDP Song nếu người đầu bếp đó chuẩn bị bữa
ăn như vậycho vợ anh thì giátrị giatăng mà anh ta thực hiệnđốivới bữa ăn đó không nằm
trongGDP Tương tự, dịch vụ chăm sóc trẻ em ờ các nhà trẻ nằm trong GDP, nhưng nhữnghoạt động chăm sóc trẻ em được bố mẹ chúng thực hiện tại nhà thì không Các công việc
tình nguyện cũng đóng góp GDP vào phúc lợi của xã hội, nhưng GDP không phản ánh được những đónggóp này GDP còn bỏ qua một thứ khác đó là chất lượng môi trường Hãy
tưởng tượng rarằng chính phủ dỡ bò tất cả các đạo luật về môi trường Các doanh nghiệp
Trang 28có thể sản xuấthàng hóa và dịch vụ mà không cần bận tâm đến sựô nhiễm mà họ gây ra và
GDP có thể tăng Tuynhiên, phúc lợi rấtcó thế sẽ giảm Sự suy thoái chất lượng không khí
và nguồn nước gây ra nhiều thiệt hại hơn những ích lợi do việc sản xuất nhiều hơn mang
lại GDP cũng không đề cập đến phân phối thu nhập Một xã hội có 100 thành viên với thunhập hàng năm bằng 50.000$ sẽ có GDP là 5 triệu đô la và đương nhiên GDP bình quân
đầu người bằng 50.000$ Ket quả này cũng đúng với xã hội có 10 người kiếm được
500.000$ và 90 người không có gì cả Rất ít người coi hai tình huống đó như nhau GDP
binh quân đầu người cho chúng ta biết những gì xảy ra đốivới một người trung bình, nhưng
đằng sau sự bình quânđó córất nhiều sự khác biệt giữa các cá nhân
1.3 TỔNG SẢN PHẤM QUỐC DÂN
1.3.1 Khái niệm
Tông sản phấm quốc dân (GNP) đo lường tống giá trị thị trường của tất cả các hàng
hóa và dịch vụ cuối cùng mà do công dân một nước tạo ra trong một thời kỳ nhất định
(thường là 1 năm)
Tổng sản phẩm quốc dân là tổng thunhập mà công dân của một quốc giatạo ra Tổng
sản phấm quốc dân khác với GDP ở chỗnó cộng thêm các khoản thunhập mà dân cư trong
nước tạo ra ở nước ngoài vàtrừ đi các khoản thu nhập mà người nước ngoài tạo ra ở trong nước Ví dụ, khi cô Tuyết là người Việt Nam nhưng làm việc tạm thời ờ Hàn Quốc, giá trị
sản xuất của cô ấy là một phần cấu thành GDP của Hàn Quốc, nhưng nó lại không thuộc
GNP của Hàn Quốc (Giá trị sản xuất của cô ấy thuộc GNP củaViệt Nam) Đối với hầu hếtcácnước, công dân trong nước tạo rahầu hết các giá trị sản xuất trong nước, nên GDP và
GNP có giá trịgần bằng nhau
1.3.2 Mối quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc dân và tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) nói lên hiện thực kinh tế trên lãnh thổ quốc gia,
chưa nói đến chủ thể của hiện thực đó Chỉ tiêu GDP cho thấy một quốc gia nào đó, thực
lực kinh tế có được bao nhiêu
Trái lại, GNP nói lên thực thụ kinh tế của một nước, khả năng thật về kinh tế củacông dân nước đó, bởi vì GDP không bao gồm kết quả củahoạtđộng của công dânnước sờtại tiến hành ở nước ngoài
Neu GDP lớn hơn GNP, có nghĩa là vai trò quốc tế về kinh tế của nước nhà không
cao so với vai trò kinh tế quốc tế tại nước nhà (sức mạnh kinh tế của nước nhà còn yếu)
Neu GDP nhỏ hơn GNP thì ngược lại
Vậy mối quanhệ GDP và GNP thể hiện như sau:
GNP =GDP + NFA
Trang 29VớiNFA làthu nhập ròng từnước ngoài
NFA= Thu nhập từcác yếu tố xuất khấu - Thunhập từcác yếu tố nhập khấu
Vì GNP bao gồm GDP và phần chênh lệch về tài sản từ nước ngoài nên GNP bình
quân đầu người là thước đo tốt hơn về số lượng hàng hóa và dịch vụmàmỗi người dân của
một nước có thể muađược Còn GDP bình quân đầungười là thước đo tốt hơn về số lượng
hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra tính bình quân cho một người dân Điều này giải thích vì sao các thống kê của ngân hàng thế giới thường đưa ra các ước tính về GNP, trongkhi cácnước tính bình quân đầu người lạidùng GDP
Ngoài GDP và GNP thì còn có một số chỉ tiêu thu nhập khác nhằm đưa ra một bứctranh hoàn chỉnh hơn về những gì đang xảy ra trong nềnkinh tế Những chỉ tiêu này khácvới GDP, GNP ờchỗ chúng loại bỏ hoặctính thêm những khoản mục thu nhập nào đó Sau
đây là mô tả tóm tắt về những chỉ tiêu thu nhập này, được sắp xếp theo thứ tự từlớn nhất
đến nhỏ nhất
Sản phẩm quốc dân ròng (NNP) là tổng thunhập của công dân một nước (GNP) trừ
đi khấu hao Khấu hao là khoản hao mòn trang thiết bị và nhàxưởng của nền kinh tế,ví dụ
những chiếcxe tải bị xuống cấp, bóng đèn đường bị cháy
Thu nhập quốc dãn là tống thu nhập mà công dân một nước tạo ra trong quá trình
sản xuất hàng hóavà dịch vụ Nó khác với sản phẩm quốc dân ròng ở chỗ không bao gồm các khoản thuế gián thu (ví dụ thuế doanh thu), nhung bao gồm cả các khoản trợ cấp kinh
doanh NNP và thu nhập quốc dân còn khác nhau ờ khoản “sai số thống kê” phát sinh từ
việc thunhập và xửlý số liệu
Thu nhập cá nhãn là thu nhập mà các hộ gia đình và doanh nghiệp cáthể nhậnđược Không giốngnhưthunhậpquốcdân, nó không bao gồm lợi nhuận để lại công ty, tức khoảnthu
nhập các công tytạo ra nhưng không trảcho chủ sở hữu Nó cũng không bao gồm các khoản
thuế thunhập công ty và đóng góp bảo hiểm xã hội (chủ yếu là các loạithuế bảo hiểm xã hội)
Ngoài ra, thu nhập cá nhân còn bao gồmthu nhập từlãi suất mà các hộ gia đình nhận được từ
các khoản cho chínhphủ vay và thu nhập mà các hộ gia đình nhận được từ các chương trình trợ
cấp của chính phủ, vídụ như chương trình phúc lợi và bảo hiếm xã hội
Thu nhập khả dụng (Yd) là thu nhập mà các hộ gia đình và doanh nghiệp cá thể còn
lại sau khi hoàn thành nghĩavụnộp thuế cho chính phủ Nó bằng thu nhập cá nhân trừ thuếthunhập và các khoản thanh toán ngoài thuế khác (ví dụ lệphí giaothông)
Mặc dù các chỉ tiêu thu nhập có thể khác nhau về chi tiết, tuy nhiên khi theo dõinhững biến động của toàn nền kinh tế, thì việc chúng ta sử dụng chỉ tiêu nào không có ý
nghĩaquan trọng Khi GDP tăng trưởngnhanh, thì các chỉ tiêu thu nhập cũng tăng nhanh
Vàkhi GDP giảm, thì các chỉ tiêu thu nhập khác cũng giảm theo
Trang 301.5 TĂNG TRƯỞNG KINH TÉ
1.5.1 Khái niệm và thước đo tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là tốc độ tăng của GDP thực tế hoặc GDP thực tế trên mỗi đầu người từ thời kỳ này đến thời kỳ tiếp theo Nhưvậy, tăng trưởngkinh tế đo lường quy mô
mở rộngcủa nền kinh tế Tãng trưởngvới tốc độ tưong đối cao góp phầncho sự on định xãhội Hai tốc độ tăng trưởng được đo lường theo GDP thực tế hoặc theo GDP thực tế bình
quân đầu người có thể rất khác nhau Tăng trưởng GDP thực tế trên đầu người đo lường
tăng trưởng bình quân của mức sốngcủa người dân Trênphạm vi thề giới một vài nước cótăng trưởng GDP nhanh cũng có tốc độ tăng dân số nhanh: những nước này có thể có mứctăng nhỏ hơn về mức sống so với nước có tăng trưởng GDP khiêm tốn hơn nhưng không có
hoặc ít tăng trưởng vềdân số
Ý nghĩa quan trọng của tăng trưởng kinh tếlà ờ chỗ nó góp phầnvào sự thịnh vượng
chung của cộng đồng, vì nó cho phép cộng đồng có thể tiêu thụ thêm nhiều hàng hoá và dịch vụ, đồng thời làm tăng thêm lương hàng hoá và dịch vụ của xã hội, như y tế và giáo dục v.v do đó cải thiện đượcmức sống của cộng đồng
Tăng trưởng kinh tế có thể được biểu diễnbằng các công thức sau:
Trong đó %g làtốc độ tăng trưởng của GDP đầu người năm t so với năm t-1, POP là
dân sô, ( _ _ _ ), làGDP thực tê trên đâu người năm t ( _ là GDP thực tê trên đâu người năm t-1
1.5.2 Tăng trưởng kinh tế trên thế giói
Thế giới bao gồm các nền kinh tế dưới nhiều hình dạng và quy mô Có những nước rất giàu, và có những nước rất nghèo Một số nền kinh tế tăng trường nhanh, và một số thì
không tăng trường chút nào Cuối cùng, có mộtsố lớn nền kinh tế - thực tế là hầu hết - nằmgiữa haithái cựcnày Suy nghĩvề tăng trườngvà pháttriến kinhtế, hữu ích làbắt đầu xem
xét các trường hợp thái cực: các nước giàu, các nước nghèo, và các nước đang chuyến độngnhanh ở giữa
Trang 31Bảng 1.3 Số liệu thống kê tăng trưởng và phát triển
GDP bìnhquân đầu
người,2010(đô la)
GDPbìnhquân cồng
nhân, 2010(đô la)
Tỷ lệthamgialựclượng lao
động,2010
Tốc độ tăng bình quân năm,1960-2010
Số năm
để tăng gấp đôi
Chú thích: So liệu GDP được quy theo sức mua tương đương (PPP) và năm gốc là 2005 Tốc độ
Tăng trưởng trung bình trong GDP bình quân một công nhân ờ Mỹtừ 1960 - 2010 chỉ
1,5%/năm Pháp và Anh tăng nhanh hơn một chút, trong khi Nhật Bản tăng với một tốc độ khoảng 3,3% Các nướcNIC thậmchí còn vượt tốc độ tăng củaNhật Bản, minh họa đúngýnghĩa của tên gọi “thần kỳ tăng trưởng” Các nước thuộcnhóm các nước mới nổi (BRICS)
có tốc độ tăng trưởng khákhác nhau Trong khi tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc và Ân
Độ bình quân thờikỳ 1960 -2010 đạt mức 5,75% và3,16% (đặc biệtlà Trung Quốc có tốc
độ tăng trưởng lớnhơn cả tốcđộ tăng của các nước NIC), các nước còn lại trong nhóm này
nhưBrazil hay Nam Phi lại có tốc độ tăng trưởng thấp Cuối cùng, tốc độ tăng trưởng ờ một
số nước âm từ 1960 - 2010, manglại cho các nước này nhãn hiệu “thảm kịch tăng trường”
như Venezuela, Madagascar và Zimbabwe
Trang 32Xétđến tốc độ tăng trưởng củaViệtNam cho thấy, so với một số nước trong khuvựcchâu Á, Việt Nam vẫn là một nước có tốc độ tăng trường tưong đối mạnh mẽ.
Bảng 1.4 Tốc độ tăng trường kinh tế của Việt Nam
và một số quốc gia thuộc khu vực châu Á
Quốcgia 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
China 8.4 8.3 9.1 10 10.1 10.4 11.6 13 9.6 9.2 10.3 9.2Korea 8.5 4 7.2 2.8 4.6 4 5.2 5.1 2.3 0.2 6.1 3.9
India 4.4 5.8 3.8 8.5 7.5 9.5 9.7 9 6.7 8.0 8.6 7.8Indonesia 4.9 3.8 4.3 4.8 5 5.7 5.5 6.3 6 4.6 6.1 6.4Malaysia 8.9 0.5 5.4 5.8 6.8 5.3 5.8 6.2 4.6 -1.7 7.2 5.2Philippines 4.4 1.8 4.4 4.9 6.4 5 5.3 7.1 1.4 -2 7.3 4.7Singapore 10.1 -2.3 4 3.5 9.3 7.3 8.4 7.8 1.4 -2 14.5 5.3Thailand 4.8 2.2 5.3 7.1 6.3 4.6 5.2 4.9 2.5 -2.3 7.8 3.5Vietnam 6.8 6.9 7.1 7.3 7.8 8.4 8.2 8.5 6.2 5.3 6.8 5.9
Hộp 1 Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc
Trung Quốc tăng trưởng với hai con số trong nhiều thập niên và hiện có thể đang chậm dần vấn đề là tình trạng chậm dần đó sẽ xảy ra nhanh chậm thế
nào và nhiều ít ra sao Lý do khiến ta nghĩ tới sự tăng trưởng chậm dần là, thứ nhất, hầu hết các nước thường tăng trường chậm dần khi đã đạt được thu nhập
trên đầu người ở mức này, và thứ hai, thật khó duy trì tỷ lệ tăng trưởng GDP nhanh như thế qua nhiều thập niên Ngay cả những nền kinh tế nhỏ hơn và linh hoạt hơn như Hàn Quốc và Đài Loan cũng chỉ duy trì tỷ lệ tăng trường nhanh
trong ba đến bốn thập niên Nhưng hơn cả, các biện pháp khuyến khích đầu tư
và sản xuất ở Trung Quốc là do hệ thống nhân sự Đảng cộng sản hoạch định
Neu các nhà máy gây ô nhiễm nhưng sản xuất địa phương gia tãng, lãnh đạo tỉnh hay địa hạt sẽ được thăng chức Neu phải xây dựng những tòa nhà hay
những con đường không cần thiết để duy trì tăng trưởng GDP ở mức cao, thì
vẫn có khả năng thăng tiến, bất kể các ngân hàng hay người nắm giữ trái phiếu
bị thua lồ đến mứcphải nhờ chínhphủ trợ cấp
Năm 2008, chính phủ bắt đầu gia tăng cung tiền đế duy trì tăng trưởng cao
Cung tiền tăng từ 7.000 tỷ USD vào năm 2008 lên 20.000 tỷ USD năm 2014 Sựnhảy vọt của cung tiền vượt qua tăng trưởng cung tiền trong phần còn lại của thế
giới Thế nhưng nền kinh tế vẫn chậm dần trongkhi bong bóng nối lên trong lĩnh vựcbấtđộng sản, thịtrường cố phiếu, và các tài sản vậtchất
Trang 33Robinson sống một mình, anh ta phải tự bắt cá, trồng rau và may quần áo Neu Robinson giỏi bắt cá, trồng rau và mayquần áo, anh ta sẽ sống sung túc Nếu anh ta làm nhữngthứ đó
không ra gì thì anh ta sống trong nghèo khổ Chúng ta có thể coi hoạt động của Robinson
-quá trình sản xuất và tiêu dùng cá, rau vàquần áo - như một nền kinh tế giản đon Vậy cái
gì quyết địnhmức sống của Robinson, câutrả lời rấtrõ ràng là: Vì Robinson chỉ có thể tiêu
dùngnhững gì mình sản xuất ra, nên mức sống của anhrất phụ thuộcvào năng lực sản xuấtcủa anhta, đâychính lànăng suất - bản chất của sự khác biệtvề mức sống Thuật ngữ năng
suất phản ánh lượng hàng hoá và dịch vụ mà một công nhân sản xuất ra trong mỗi giờ lao
động Trongtrường họp nền kinh tế của Robinson, chúng ta dễ dàng nhận thấy năng suất là
yếu tố then chốt quyết định mức sống, và sự gia tăng năng suất là yếu tố then chốt quyết định tốc độ gia tăng mức sống, càng bắt được nhiềucá trong mộtgiờ, Robinson càng được
ăn nhiều cá trong bữa tối Neu Robinson tìm ra một khu vực có nhiều cá, năng suất bắt cá
của anh ta sẽ tăng Sự gia tăng năng suất như thế làm Robinson sống sung túc hon Anh tađược ănnhiều cá hơn mà thời gian bắt cá lại giảm, vì thế có thê dành thời gianđế tạo ra các
hàng hóa phục vụ cho cuộc sống Giống hệt như trường hợp của Robinson, năng suất cũngđóng vai trò then chốt trong việc quyết định mức sống của cả một nước Do vậy, để hiểuđược sự khác biệt to lớn trong mức sống của người dân giữa các nước hay những thời kỳ khácnhau, chúng tabuộc phải nhìn vào quá trình sản xuấthàng hoá vàdịchvụ Nhưngxemxét mối liên hệ giữa mức sống và năng suất mới chỉ làbước khởi đầu Điều này tất yếu dẫn
chúng ta đến câu hỏi: Vì sao một số nền kinh tế lại có khả năng sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ giỏi hơn rấtnhiều so với các nền kinh tế khác? Năng suấtđược quyếtđịnh như thế nào? Các nhân tố trên quyết định năng suất là tư bản hiện vật, vốn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và tríthức côngnghệ
Tư bản hiện vật
Công nhân làm việc với năng suất cao hơn nếu họ có nhiều công cụ lao động hơn Khối lượng trang thiết bị và cơ sờ vật chất dùng trong quá trinh sản xuất ra hàng hoá và
dịch vụ được gọi làtư bản hiện vật, hay ngắn gọn là tư bản Tư bản biếu thị yếu tố đầu vào
của quátrình sản xuất màtrước đó đã từng là sản lượng của quá trình sản xuất khác Ví dụ,khi người thợ mộc làm việc, anh ta cần có cưa, đục bào, máy tiện Việc có nhiều công cụ hơn cho phép người thợ làm việc nhanh và chính xác hơn Nghĩa là trong một tuần, một
người thợ mộc với một vài dụng cụ thô sơ sẽ làm được ít đồ gỗ hơn so vớingười thợ mộc được trangbị tinh vi, chuyêndụng cho nghề mộc
Trang 34vốn nhân lực
Nhân tố thứ hai quyết định năng suất là vốn nhân lực vốn nhân lực là thuật ngữdùng để chỉ kiến thức và kĩ năng mà người công nhân thu được thông qua giáo dục, đào tạo và tích luỹ kinh nghiệm, vốn nhân lực bao gồm những kỹ năng tích tuỹ được từ thời
kì đi học phổ thông cơ sở, phố thông trung học, đại học và các chương trình đào tạo nghề
nghiệp dành cho lực lượng lao động Mặc dù giáo dục, đào tạo và kinh nghiệm không dễ
cảm nhận như máy tiện, xe ủi đất hay nhà xưởng, nhưng vốn nhân lực và tư bản hiện vật
có nhiều điểm tương đồng Giống nhưtư bản hiện vật vốn nhân lực làm tăng năng lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong nước Cũnggiống tư bản hiệnvật, vốn nhân lực là nhân tố
được quá trình sản xuất tạo ra Việc sản xuất ra vốn nhân lực đòi hỏi các yếu tố đầu vào dưới dạng giáo viên, thư viện và thời gian nghiên cứu Có thể coi sinh viên như những
“công nhân” có nhiệm vụ quan trọng là sản xuất ra vốn nhân lực nhằm phục vụ cho sản xuất trong tương lai
Tài nguyên thiên nhiên
Nhân tố thứ ba quyết định năng suất làtài nguyên thiên nhiên Tàinguyên thiên nhiên
là yếu tố đầuvào của quátrình sản xuất do thiênnhiên mang lại, như đất đai, sông ngòi và
khoáng sản Có hai loại tài nguyên thiên nhiên: loại tái tạo được và không tái tạo được.Rừng cây là ví dụ về tài nguyên tái tạo được Khi một cây gỗ bị đốn, người ta có thể trồng
cây mới đế thu hoạchtrong tươnglai Dầu mỏ làví dụ về tài nguyên khôngtái tạođược Vì
dầu mỏ là sản phấn của thiên nhiên sau hàng ngàn năm biến đối, nên nguồn cung chỉ có
hạn Khi nguồn cung dầu mó cạn kiệt, chúng ta không thế tạo thêm Sự khác biệt về nguồn tài nguyên thiênnhiên gây ra một số khác biệt về mức sống trên thế giới Sự thành công có
ý nghĩa lịch sử của Mỹ một phần bắt nguồn từ cung đất đai mênh mông, thích hợp cho
ngành công nghiệp Ngày nay một số nước ờ vùng Trung Đông như Cô-oét và Ả rập Xê-Út
rất giàu chỉ vì họ vô tìnhsống trên những giếngdầu lớnnhấtthế giới
Mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng, nhưng đó không nhất thiết phải là nguyên nhânlàm chonền kinh tế có năng suất cao trong việc sản xuấthàng hoá
và dịch vụ Ví dụ, Nhật Bản là mộttrong những quốc gia giàu nhất thế giới mặc dù không
có mấy tài nguyên thiên nhiên Thương mại quốc tế là nguyên nhân thành công của nước
Nhật Nhật Bản nhập khẩu rất nhiều tài nguyên thiên nhiên cần thiết, chẳng hạndầu mỏ, rồixuấtkhẩuhàng côngnghiệp sang cácnước có nhiều tài nguyên
Trang 35hội Sự thay đổi về công nghệ như thế cho phép chuyển lao động sang các ngành sản xuất
ra hàng hóa và dịch vụ khác
Tri thức công nghệ có nhiều dạng Một số công nghệ là tri thức chung - nghĩa là khi
một người sử dụng nó, những người khác cũng nhận thức được nó Ví dụ, khi Henry Ford
áp dụng thành công cách sản xuất bằng dây chuyến lắp ráp, các nhà sản xuất xe hơi khác
cũngnhanh chóngáp dụng côngnghệ này Các công nghệ khác là côngnghệ độc quyềnchỉ
có công typhát minh ra nó biết Ví dụ, chỉ duy nhất Coca Colabiết công thức bí mật để pha
chế loại nước giải khát nổi tiếng của nó Một số công nghệ khác mang tính độc quyền chỉ
trong thời gian ngắn Khi công ty bào chế dược phấm phát minh ra một loại thuốc mới, hệ
thống bản quyền cho phép nó có quyền tạm thời là nhà sản xuấtduy nhất loại thuốc đặc biệt
đó Song khi bản quyền hết hạn, các công ty khác cũng được phép sản xuất loại thuốc đó
Tất cả các dạng tri thức công nghệ như trên đều có vai trò quan trọng trong quá trình sản
xuấthàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế
Cần phân biệt giữa tri thức côngnghệ và vốn nhân lực Mặc dùhai khái niệm này khá gần nhau, nhưng chúng ta có một khác biệt quan trọng Tri thức công nghệ phản ánh kiến
thức củaxãhội trong việc nhận thức thế giới vận hành ra sao vốn nhân lực đề cập đến các
nguồn lực được sử dụngđể truyền sự hiểu biết này vào lực lượng lao động Sử dụng lối nói
ấn dụ, chúng ta coi trithức là cuốn sách giáo khoa củaxã hội, trong khiđó vốn nhân lực làlượng thời gian mà các thành viên xã hội bỏ ra đế đọc cuốn sách đó Năng suất của công nhân phụ thuộc vào cả chấtlượng cuốn sách lẫn thời gian mà anh ta bỏ ra để đọcnó
Hộp 2 Thực trạng năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2017
Cùng với quá trình đối mới và pháttriến kinh tế, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kế theo hướng tăng đều qua các năm Tuy nhiên tốc độ
tăng năng suất lao động của Việt Nam còn chậm, giai đoạn 2000 - 2005 là 2,55%, giai đoạn 2006 - 2010 là 3,45%/năm, giai đoạn 2011 - 2016 là 4,36%/ năm Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao độngtoàn nền kinh tế năm 2017 tăng 6% so với năm 2016,bình quân giai đoạn 2011 - 2017 tăng 4,72%/năm Với tốc độ tăng năng suất lao động bình quân khoảng 4,72% giai đoạn 2011 - 2017, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị
tụt lại phía sau khi mà tốc độ tăng năng suất đang thấp hơn tốc độ tăng bình quân củaGDP khoảng 6,21% cùng thời kỳ và cũng thấp hơn tốc độ tăng lương thực tế bình quân
khoảng 12,59%/năm Điều nàycó nghĩa là chi phí sản xuất ờ Việt Nam đang đắt đỏ hơn,tác động trực tiếp tới tính cạnh tranh của nền kinh tế, nguy cơ sụt giảm đà công nghiệp hoá khi nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) sẽ chuyểnđịa điểm
sản xuất sang nước có chi phí rẻ hơn, tạo áp lực lớn lên tăng trường kinh tế về mặt lý
thuyết, dòng von FDI tác động đến năng suất lao động của ViệtNam, nhưng tác động
tích cực chỉ xảy ra khi doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực học hỏi công nghệ mới, hoặc có đủ năng lực cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp nước ngoài Ngược lại, năng
suất lao động cũng có ảnh hường không nhỏtới vấn đề thu hútnguồn vonFDI
Trang 36Mặc dù năng suất lao độngđã có sự cải thiện đáng kể, đã thu hẹp được khoảng cách với
các nước ASEAN có trình độ phát triến cao hơn, tuy nhiên vẫn còn ở mức cao Khoảng
cách năng suất lao động của Việt Nam so với Singapore giảm từ 18,9 lần năm 2000
xuống còn 12,1 lần năm 2016; với Đài Loantừ 12,5 lần xuống 9,0 lần, Nhật Bảntừ 11,8lần xuống còn 6,7 lần, với Hàn Quốc từ 8,8 lần xuống còn 6,6 lần Điều này cho thấykhoảng cách và thách thức nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong việc bắt kịp mức
năng suất lao động củacác nước
1.5.4 Tăng trưởng kinh tế và chính sách công
Cho đến lúc này, chúng ta đã biếtrằng mức sống của xã hội phụ thuộc vào khả năng
sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ của nó và năng suất của nó phụ thuộc vào tư bản hiện vật,
vốn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và tri thức công nhệ Bây giờ chúng ta chuyến sang
câu hỏi mà tất cả các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới đều muốn giải đáp:
Chính sách nào của chính phủ có thể làm tăngnăng suất và mức sống?
Tầm quan trọng của tiết kiệm và đầu tư
Vì tư bản là nhân tố sản xuất được sản xuất ra, cho nên xã hội có thể làm thay đổikhối lượng tư bản của mình Nếu hôm nay đất nước sản xuất ra nhiều hàng hoá đầu tư thì
ngàymai nó sẽ có nhiềutư bản hơn và có thế sản xuất ra nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn
Do đó, một cách để nâng cao năng suất trong tương lai là đầu tư nguồn lực hiện có nhiều hơnvào quá trình sản xuất hàngđầutư.Vì nguồn lực có tính khan hiếm, nênviệc tập trungnhiều nguồn lực hơn vào sản xuất hàng đầu tưbuộc chúng taphải giảm bớt nguồn lực dành cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ cho tiêu dùng hiện tại Có nghĩa là, khi xã hội đầu tưnhiều hơn vào tư bản, nó buộc phải tiêu dùng ít hơn và phải tiết kiệm phần thu nhập lớn
Trang 37hơn Sự tăng trưởng có được từ tích luỹ tư bản không phải là không có giá của nó: xã hộiphải hy sinh tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ hiện tại để thụ hường mức tiêu dùng cao hơn
trong tương lai
Như vậy, chúng ta đã thảo luận vấn đề làm thế nào đê các chính sách hướng tới việcthúc đẩy tỷ lệ tiết kiệm có thể làm tãng đầu tư và do đó là tăng trường kinh tế dài hạn.Nhưng tiết kiệm trong nước không phải là cách duy nhất để một nước đầu tư vào tư bản.Phương pháp khác là đầu tư của nước ngoài Có nhiềuloại đầu tư nước ngoài, Công ty Sam Sung có thế xây dựng một nhà máy ờ Trung Quốc Khoản đầu tư vào tư bản thuộc quyền sở
hữu và được điều hành bởi một thực thể nước ngoài gọi là đầu tư nước ngoài trực tiếp Dạng khác là người Hàn Quốc mua cổ phiếu của một công ty Trung Quốc Khoản đầu tư được tài trợ bằngtiền của nước ngoài, nhưng được cư dântrong nước điều hành gọi là đầu
tư nước ngoài gián tiếp Trong cả hai trường - người Hàn Quốc cung cấp nguồn lực cần
thiết đế tăng khối lượng tư bảnờ Trung Quốc Nghĩa là, tiết kiệm của Hàn Quốc được dùng
để tài trợ cho đầu tư ở Trung Quốc Khi người nước ngoài đầu tư vào mộtnước nào đó, họ
hy vọngthu được lợi nhuận từ khoản đầu tư Nhà máy cùa Sam Sung làm tăng khối lượng
tư bản của Trung Quốc, do vậy làm tăng năng suất và GDP của Trung Quốc Nhưng Sam
Sung lấy đi một phần thu nhập tăng thêm và chuyển về Hàn Quốc dưới dạng lợi nhuận.Tương tự, khi nhà đầu tư Hàn Quốc mua cố phiếu của Trung Quốc, nhà đầu tư này có
quyền hường một phần lợi nhuậnmà công ty TrungQuốc kiếm được.Do đó, đầu tư từ nước ngoài không tác động như nhau lên tất cả các chỉ tiêu phản ánh sự thịnh vượng kinh tế.Hãy nhớ lại rằng GDP là tống thu nhập mà cưdân trong nước và người nước ngoài kiếm
được ở nền kinh tế trong nước, trong được cả ở trong nước Trong khi GNP là thu nhập
mà cư dân của một nước kiếm được cả ở trong nước và ngoài nước Khi Sam Sung xây dựng máy ở Trung Quốc, một phần thu nhập của nhà máy thuộc về những người không
sống ở Trung Quốc Kết quả là, đầu tư nước ngoài ờ Trung Quốc làm tăng thu nhập củangười Trung Quốc (tính bằng GNP) ít hơn sản lượng của Trung Quốc (tính bằng GDP) ,
dù sao đi nữa, đầu tư nước ngoài vẫn là một cách thúc đẩy tăng trưởng của một nước
Mặc dù một phần ích lợi của khoản đầu tư này chảy ra nước ngoài, nhưngnó thực sự làm tăng khối lượng tư bản của đất nước, dẫn tới năng suất và tiền lương cao hơn Ngoài ra đầu tư nước ngoài là một cách để các nước nghèo trực tiếp học hỏi công nghệ hiện đại
của các nước giàu Vì lý do đó, nhiềunhà kinh tế làm tưvấncho chính phủ các nước kém
pháttriểncổ vũ chính sách khuyến khíchđầu tư nước ngoài Điều nàythường đồng nghĩa
với việc xoá bỏ các hạn chế của chính phủ đối với quyền sở hữu tư bản trong nước của
người nước ngoài
Một tố chức nỗ lực khuyến khích luồng vốn đầu tư vào các nước nghèo là Ngân hàng
Thế giới Tổ chức quốc tế này nhận vốn từ các nước tiên tiến, chẳng hạn Mỹ, rồi cho các
nước nghèo vay đế xây dựng đường sá, hệ thông thoát nước, trường học và các hình thức tư
bản khác Ngân hàng Thế giới cũng tư vấn cho các nước nghèo rằng nên sừ dụng nguồn
vốn thế nào cho hiệu quả nhất Cùng với tổ chức sinh đôi của nó là Quỳ tiền tệ quốc tế,
Ngân hàng Thế giới được thành lập từ sauThế chiến II Một bài học rút ra từ cuộc chiến là
Trang 38“nghèo đói thường dẫn tới bất ổn chính trị, căng thẳng trong quan hệ quốc tế và xung đột
vũ trang” Do đó, tất cả các nước đều mong muốn có sự thịnh vượng kinh tế trên toàn thế giới Ngânhàng Thế giới và Quỹtiềntệ cùng hướng tớiviệc đạt được mục tiêuchungnày
Kiếm soát tốc độ tăng dân so
Sự gia tăng dân số cũng chi phối mộtphần năng suấtvà mức sống của một nước Rõ
ràng dân số là nhân tốthen chốt quyếtđịnh lực lượng lao động của một nước Do đó không
có gì đáng ngạc nhiên khi một nước đông dân (như Nhật Bản và Mỹ) có xu hướng tạo raGDP lớn hon các nước ít dân như Hà Lan) Nhưng quy mô GDP không phải là chỉ tiêutốt
đế phảnánh phúc lợi kinh tế, bởi vì các nhà hoạch định chính sách quan tâm tới mức sống, nên GDP bình quân đầungười mới là quan trọng, vì nó chobiết lượng hàng hoá và dịch vụ
người dân điển hình trong nền kinh tế được hường Sự giatăng nhanh chóng của lực lượng lao động làm phân tán các nhân tố sản xuất khác Đặc biệt, khi dân số tăng nhanh, việctrang bị thêm máymóc, thiết bị cho mỗi côngnhân trở nên khó khăn hơn Tỷ lệ tư bản trên mồi công nhân giảmlàm cho GDP bình quân trên mỗi công nhân giảm, vấn đề này thể hiện
rõ nét trong trường họp vốn nhân lực Các nước có tỷ lệ gia tăng dân số cao thường có số
trẻ em ở độ tuổi cắp sách đến trường lớn, điều này gây sức éplên hệ thống giáo dục Do đó,
không có gì đáng ngạc nhiên khi các nước có dân số tăng nhanh thường không đạt được thành tựu cao về giáo dục Sự khácbiệt về tốcđộ giatăng dân số trên thế giới rất lớn, ở các nước pháttriểnnhưMỹvà Tây Âu, dân số tăng khoảng 1% trong thập kỷ trước và người ta
dự kiến nó còn tăng chậm hơntrong tương lai Trái lại, tại nhiều nước châu Phi nghèo khổ,
dân số tăng với tốc độ 3% mỗi năm Với tốc độ như vậy, cứ sau 23 năm dân số của họ lạităng gấp đôi Cắt giảm tốc độ tăng dân số thường được coi là một phương thức làm tăng
mức sống ờ các nước kém pháttriến Tại một số nước, mục tiêu này trực tiếp gắn với luật hạn chế sinh đẻ (Ví dụ, Trung Quốc chỉ cho phép mỗi gia đình có một con) Những cặp vợ chồng vi phạm luật này bị phạt rất nặng Tại những nước tự do hơn mục tiêu kiềm chế dân
số thường được thực hiện một cách gián tiếp thông qua việc làm tăng hiểu biết của mọi
ngườivề kỹthuật sinh đẻ có kế hoạch
Giáo dục và đào tạo
Giáo dục, nghĩa là đầu tư vào vốn nhân lực, ít nhất cũng đóng vai trò quan trọng
như đầu tư vào tư bản hiện vật trong việc đóng góp vào sự thành công về kinh tế trong
dài hạn của một nước Tại Mỹ, mỗi người có thêm một năm đến trường được hưởng
mức lương trung bình cao hơn khoảng 10% Tại các nước kémphát triến, nơi vốn nhân
lực đặc biệt khan hiếm, khoảng cách giữa tiền lương của người có học và ít học còn lớn
hơnnhiều Do đó, mộtcách để chính sách của chínhphú nâng cao mức sống là cải thiện điều kiện giáo dục và khuyến khích người dân tham gia vào hệ thống này Giống như
đầu tư vào tư bản hiện vật, đầu tư vào vốn nhân lực có chi phí cơ hội Khi sinh viên
ngồi trên ghế nhà trường, họ phải từ bó số tiền kiếm được nếu như họ đi làm Tại các nước kém phát triến, trẻ em thường bỏ học từ khi còn nhỏ, bất chấp ích lợi to lớn của việc đến trường, đơn giản là vì chúng phải lao động đế giúp đỡ bố mẹ Một số nhà kinh
Trang 39tế lập luận rằng vốn nhân lực đặc biệt quan trọng đối với tăng truờng kinh tế, vì vốn nhân lực hàm chứa các ngoại ứng tích cực Ngoại ứng là ảnh huởng của hành động mà
một cá nhân thực hiện tớiphúc lợi củangười ngoài cuộc Ví dụ, một người được đào tạotốt có thê đưa ra những ý tường mới về việc làm thế nào đế sản xuất hàng hoá và dịch
vụ theo cách tốt nhất Neu những ý tưởng ấy trởthành tri thức của xã hội và mọi người đều có thể sử dụng, thì chúng là những ích lợi từ ngoại ứng của giáo dục Trong trường hợp này, ích lợi từ việc đi học đối với xã hội thậm chí còn lớn hơn ích lợi cá nhân cho
các khoản trợ cấp to lớn cho đầu tư vào vốn nhân lực mà chúng ta thấy dưới hình thức
giáo dục công lập Một số vấn đề mà các nước nghèo phải đối mặt là hiện tượng chảy
máu chất xám - sự di cư của lực lượng lao động có trình độ cao sang các nước giàu,
nơi họ được hưởng cuộc sống tốt đẹp hơn Neu vốn nhân lực thực sự có ngoại ứng tích
cực, thì việc chảy máu chất xám như thế làm cho những người ở lại trong nước càngthêm nghèo khổ vấn đề này đẩy các nhà hoạch định chính sách vào tình thế lưỡng
nan Một mật vì Mỹ và các nước giàu có hệ thống giáo dục và đào tạo tốt nhất, nên
các nước nghèo thường gửi sinh viên của họ tới đó để học đại học và sau đại học Mặt
khác, những sinh viên học ở nuớc ngoài thường không muốn trờ về nước và hiện tượng chảy máu chất xám như thế càng làm cho khối lượng vốn nhân lực ở các nước
nghèo giảm xuống
Tiến bộ khoa học công nghệ
Theo mô hình Solow, tại sao các nền kinh tế có được sự tăng trưởng lâu dài, câu trả lời là dotiến bộ công nghệ Khi không có tiến bộ công nghệ thìtăng trưởng đầu người cuối
cùng sẽ không còn nữa bởi vì tính hiệu quả giảm dần của tư bản Tuy nhiên, tiến bộ công
nghệ có thể bù đắp cho xu hướng giảm sản phẩm biên của tưbản, và trong dài hạn thì các
nước có sự tăng trưởngđầu người đúng bằng tốc độ tiến bộ côngnghệ Ví dụ, một nền kinh
tế có tỷ số tư bản - công nghệ thấp hơn mức dài hạn của nó sẽ tăng trưởng nhanh cho tớikhi tỷ số tư bản - công nghệ tiến về trạng thái dừng của nó Lý do này có thế giải thích tại sao một số nước như Nhật Bànvà Đức, hai nước đã bị suy giảm lượng tư bản sau cuộc Thế chiến thứ hai, lại tăng trường nhanh hơn Mỹ trong suốt 50 năm qua Hoặc nó có thể giải thíchđược tại sao một nền kinh tế tăng tỷ lệ đầu tư lại có thê tăng trưởng nhanh khi nó quá
độ tiến tới tỷ số đầu ra công nghệ (đầu ra trênmột đơn vị lao động hiệu quả) cao hơn Lời
giải thích này đúng với một số quốc gia như Hàn Quốc, Singapo, Đài Loan Khoa học công nghệ ngày nayđã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực chủ yếu thúc đấy
-sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới và quan trọng hơn, nó đang
mở ra một nền kinh tế mới, một nền văn minh mới cho toàn thể nhân loại: nền kinh tế tri thức vànền văn minh trí tuệ Chính vì thế, trongthời đại ngày nay, quốc gia nào nhận thức
đúng vai trò của khoa học - công nghệ, biết tập trung đầu tưthỏađáng cho sự phát triến của
khoa học - công nghệ thì quốc gia đó sẽ có điều kiện bứt phá nhanh trong việc phát triến
kinh tế -xã hội, sớm gia nhập vào hàng ngũ các quốc gia có nềnkinh tế phát triển cao của
thế giới
Trang 40TÓM TẮT
Do mọi giao dịch đều có một bên mua và một bên bán, nên tổng chi tiêu phải bằng
tổng thunhập trong nền kinh tế
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) phản ánh tổng chi tiêu của nền kinh tế về những hàng hóa và dịch vụ mới sản xuất ravà tổng thu nhập tạo ra từ việc sản xuất ra chúng Nói
chính xác hon GDP là giá trị thị trường của tất cả các hàng hóavà dịch vụ cuối cùng được sản xuấtra trong phạm vi một nước, trong một thời kỳnhấtđịnh
Tính toán GDP tiếp cận ba phương pháp khác nhau, tuy nhiên đều cho ra những kết
quảtương đồng Ba cáchtiếp cận là: theo phương pháp chi tiêu, phương pháp thu nhập và
phương pháp giá trị gia tăng của các công đoạn sản xuất Theo phương pháp chi tiêu thì
GDP phân làm 4 thành tố chi tiêu: tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu của chính phủ và xuất khâu
ròng Tiêu dùng bao gồm tất cả các khoản chi tiêu để mua hàng hóavà dịch vụ của các hộ
giađình, trừ các khoản chi tiêuđể mua nhà mới Đầu tư bao gồm các khoản chi tiêu để muamáymóc, trang thiết bị và nhà xưởng mới, bao gồm các khoản chi tiêu để mua nhà mới của
các hộ gia đình, hàng dự trữ Chi tiêu của chính phủ bao gồm các khoản chi tiêu đê muahàng hóa và dịch vụ của các cấp chính quyền địa phương, bang và liên bang Xuất khấuròng bằng giá trị của những hàng hóavà dịch vụ sảnxuấttrong nước và bán ở nước ngoài
(xuất khấu) trừ đi giá trị của những hàng hóa và dịch vụ sản xuất ở nước ngoài và bán ờ
trong nước (nhậpkhẩu)
GDP danh nghĩa sử dụng giá hiện hành để tính sản lượng hàng hóa và dịch vụ của
nền kinh tế GDP thực tế sử dụng giá của năm cơ sở đế tính giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nềnkinh tế Chỉ số điều chỉnh GDP được tính bằng tỷsố giữa GDP danh nghĩa
và GDP thực tế Nó phản ánh mức giá của nền kinh tế
GDP là chỉ tiêu tốt về phúc lợi kinh tế, bởi vì mọi người thường muốn có thu nhập cao hơn Tuy nhiên, nó không phải là chỉ tiêu hoànhảo về phúc lợi Ví dụ, GDP bò sót giá trị của thời gian nghỉngơi và môi trường trong sạch
Tăng trưởng kinh tế được tính bằng GDP thực tế hoặc GDP thực tế bình quân đầu
người Các chính sách của chính phủ có thê có ảnh hường đến tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế theo nhiều cách: khuyến khích tiếtkiệm và đầutư; khuyến khích đầu tư nước ngoài; thúc đẩy giáo dục; kiểm soát mức tăng dânsố; hoạtđộng nghiên cứu và triển khai công nghệ
CÂU HỒI THựC HÀNH
A Câu hỏi trắc nghiệm
1 GDP danh nghĩa năm 1997 là 6.000 tỷ GDP danh nghĩanăm 1998 là 6.500tỷ Chỉ
số giánăm 1997 là 120 Chỉ số giá năm 1998 là 125 Tỷ lệ tăng trưởng năm 1998 là:
a 8,33 %
b 4%
c 4,5%
d 10%