Nghiên cứu ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu giúp cho nhà đầu tư có cái nhìn đúng đắn hơn về chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như có quy
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2017
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả phương án nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê T ị Hồng K án
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU 10
1.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 10
1.1.1 Khái niệm quản trị lợi nhuận 10
1.1.2 Cơ sở lý thuyết của quản trị lợi nhuận 12
1.1.3 Mục đích của quản trị lợi nhuận 13
1.1.4 Các mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận 15
1.2 TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU 20
1.2.1 Đo lường tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu 20
1.2.2 Mối quan hệ giữa hành vi quản trị lợi nhuận và mức sinh lợi trên cổ phiếu 21
1.3 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ MỐI QUAN HỆ CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU 29 1.3.1 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi nhuận đến tỷ suât sinh lợi trên cổ phiếu 29
1.3.2 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến Tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 5CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN
TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU 38
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁNVIỆT NAM 38
2.2 CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 41
2.2.1 Các giả thuyết chính của nghiên cứu 41
2.2.2 Các giả thuyết liên quan đến các biến kiểm soát trong mô hình 43 2.3 ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH 49
2.3.1 Đo lường biến phụ thuộc 49
2.3.2 Đo lường biến độc lập 49
2.4 CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU 53
2.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
2.5.1 Mô tả thống kê 53
2.5.2 Phân tích tương quan, đa cộng tuyến 54
2.5.3 Phân tích hồi quy 55
2.5.4 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 62
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 62
3.1.1 Mô tả thống kê 62
3.1.2 Phân tích mối quan hệ tương quan giữa các biến 66
3.1.3 Phân tích hồi quy 69
3.1.4 Kiểm định các giả thuyết ước lượng mô hình 76
3.2 HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KIẾN NGHỊ 78
3.2.1 Hàm ý từ kết quả nghiên cứu 78
3.2.2 Kiến nghị 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản s o) GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN (Bản s o) NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 2 BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN (Bản ín )
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 82.2 Mô tả quan hệ các biến trong mô hình 48
3.1 Kết quả mô tả thống kê các biến trong mô hình 62
3.2 Kết quả kiểm định T-test và Wilcoxon 64
3.3 Bảng phân tích hệ số tương quan 67 3.4 Kết quả hồi quy theo mô hình FEM 70
3.5 Kết quả hồi quy theo mô hình REM 71
3.7 Bảng so sánh kết quả và giả thuyết nghiên cứu 76
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Số ệu
2.1 Cơ cấu các công ty trong ngành 39
2.2 Tốc độ tăng trưởng các chỉ tiêu cơ bản của các công ty
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tín ấp t ết ủ đề tà
Thị trường chứng khoán có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, đây vừa là một kênh huy động vốn quan trọng trong nền kinh tế vừa cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng Các nhà đầu tư thường dựa trên nhiều yếu
tố để đưa ra quyết định đầu tư trên TTCK Đối tượng tham gia vào TTCK là
đa dạng các cá nhân, tổ chức, nên sự quan tâm và chọn lựa thường rất khác nhau Nhìn chung, dù mục đích đầu tư là như thế nào đi nữa, thì các nhà đầu
tư đều mong muốn mức thu nhập kỳ vọng thu được trong tương lai trên mỗi đồng vốn bỏ ra là cao nhất, tức tỷ suất sinh lời trên cổ phiếu ở mức cao
Để có được những quyết định đầu tư đúng đắn, nhà đầu tư quan tâm đến các thông tin mà công ty niêm yết công bố thông qua BCTC của họ.Tuy nhiên, sự tách biệt giữa chủ sở hữu, tức nhà đầu tư và nhà quản lý trong mô hình công ty cổ phần dẫn đến việc xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản lý Trong khi chủ sở hữu muốn biết nhiều thông tin liên quan đến doanh nghiệp thì nhà quản lý lại có xu hướng hạn chế cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin có độ tin cậy thấp Trước thực tế, trên thế giới đã trình bày nhiều
mô hình nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết nhằm đưa đến cái nhìn đúng đắn hơn cho nhà đầu tư về chỉ tiêu lợi nhuận công bố Tại Việt Nam, đã có những nghiên cứu về mô hình thích hợp để áp dụng trong nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lời trên cổ phiếu của các công ty niêm yết
Tốc độ hội nhập cao của nền kinh tế cùng với sự thay đổi thói quen ăn uống của một thị trường tiêu dùng rộng lớn Việt Nam là động cơ để nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến thực phẩm nhanh chóng lớn mạnh Đây
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11cũng là ngành được đánh giá có nhiều triển vọng cho dù đã tăng trưởng ấn tượng trong thời gian qua Cổ phiếu của các công ty thuộc nhóm ngành này luôn nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà đầu tư Nghiên cứu ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu giúp cho nhà đầu tư có cái nhìn đúng đắn hơn về chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như có quyết định tốt hơn trong việc lựa chọn các cổ phiếu đầu tư Nhận thức
được tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi chọn đề tài : “Ng ên ứu ản
ưởng ủ quản trị lợ n uận đến tỷ suất s n lợ trên ổ p ếu - Trường
ợp á ông ty n êm yết t uộ n óm ngàn ế b ến lương t ự t ự
p ẩm”
2 Mụ t êu ng ên ứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu là:
- Làm rõ ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu của các công ty niêm yết nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm
- Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra những đề xuất về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu
3 Đố tượng và p ạm v ng ên ứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu
- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu của các công ty niêm yết nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm trong 3 năm từ năm 2013 đến năm 2015
4 P ương p áp ng ên ứu
Đây là nghiên cứu thực chứng được thực hiện trên cơ sở xây dựng và kiểm định mô hình ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12cổ phiếu của các công ty niêm yết nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm
- Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập số liệu trên cơ sở các BCTC năm của 46 công ty niêm yết nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm trong giai đoạn 2013-2015
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu nghiên cứu
Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu được
sử dụng trong suốt quá trình xử lý, phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê
Đề tài sử dụng phần mềm Eviews để phân tích số liệu, xây dựng mô hình xác định sự ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu các công ty niêm yết nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý từ kết quả nghiên cứu
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 136 Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu
Theo quan điểm của Amadi và Amadi (2014), giá cổ phiếu được xác định trên thị trường tài chính bởi nhà đầu tư và các thành phần tham gia trên thị trường – những người dựa vào những thông tin trong BCTC để đánh giá giá trị và rủi ro của dòng tiền kỳ vọng của các cổ đông Nhà quản lý cung cấp BCTC; các nhà đầu tư sử dụng thông tin để xác định giá trị của công ty, và các cổ đông sử dụng giá trị của công ty để xác định thù lao cho việc quản lý Đây là động lực của việc quản trị lợi nhuận [10]
Trước đó, trong nghiên cứu của Raoli (2012) về quản trị lợi nhuận và
sự lệch lạc thị trường (Market Misvaluation) đã chỉ ra rằng, khi các nhà quản
lý thấy được giá trị thị trường của công ty đi lên họ có động cơ để thao túng thu nhập tăng lên để duy trì sự tăng về giá trị thị trường [25]
Quản trị lợi nhuận là một biện pháp được thực thi bởi hầu hết công ty
để tác động đến nhà đầu tư và đem đến cho nhà quản lý kết quả sinh lời mong muốn Điều này là do ảnh hưởng của công ty đến hành vi của nhà đầu tư và thị trường, bằng cách tăng khoảng cách giữa TSSL cổ phiếu thực sự và mức sinh lợi mà nhà đầu tư có thể đạt được trong trường hợp thông tin bị thao túng không được công bố
Các nghiên cứu trên đã chỉ ra giá cổ phiếu và TSSL trên cổ phiếu là một trong những động cơ để nhà quản lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận
Các nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty xuất phát từ các khoản lợi nhuận dồn tích hay còn gọi là các khoản dồn tích trong lợi nhuận (TA), tuy nhiên biến dồn tích có thể điều chỉnh (DA) là khoản dồn tích do nhà quản lý thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ mới chính là thước đo phù hợp để đánh giá các nhà quản lý doanh nghiệp có điều chỉnh lợi nhuận hay không (Nguyễn Anh Hiền, Phạm Thanh Trung, 2015) Do đó, việc đo lường ảnh hưởng của hành vi quản
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14trị lợi nhuận là đo lường thông qua biến dồn tích có thể điều chỉnh DA [2]
Trong mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi nhuận đến TSSL trên cổ phiếu đo lường thông qua biến DA, các biến quy mô công
ty và tỷ số giá trị thị trường và giá trị sổ sách cũng thường được đưa vào mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu của Oduma (2015), đưa ra mô hình ảnh hưởng của nhân tố quản trị lợi nhuận đo lường thông qua biến dồn tích có thể điều chỉnh, quy mô doanh nghiệp và tỷ số giá trị thị trường và giá trị sổ sách của công ty (Market-to-book value) đến TSSL trên cổ phiếu của công ty niêm yết Tác giả nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận bằng mô hình Modiffied Jone (1991) và chỉ ra rằng hành vi quản trị lợi nhuận có ảnh hưởng cùng chiều và đáng kể đến TSSL trên cổ phiếu Trước đó, kết quả nghiên cứu của Sayari, Mraihi, Finet, , Omri (2013) cũng chỉ ra kết luận tương tự cho cổ phiếu của các công ty niêm yết tại Tunisa [23], [27]
Cotten (2005) chỉ ra những bằng chứng về việc gia tăng TSSL có tác động từ quản trị lợi nhuận và tác giả cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận góp phần vào sự bất thường và làm suy yếu hiệu quả của thị trường, thông qua mô hình nghiên cứu tác động của biến dồn tích có thể điều chỉnh (DA), quy mô vốn chủ sở hữu và tỷ lệ giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường (Book-to-market value) đến TSSL trên cổ phiếu hằng năm của công ty
Nghiên cứu của Birjandi, Mohammad, Mohammad (2015) về mối quan
hệ giữa quản trị lợi nhuận và TSSL trên cổ phiếu tại Tehran cho thấy có mối quan hệ thuận chiều đáng kể giữa TSSL trên cổ phiếu và quản trị lợi nhuận, đồng thời cũng cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa TSSL trên cổ phiếu
và tỷ suất nợ trên tổng tài sản (tỷ suất nợ) [12]
Bên cạnh những nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến TSSL trên cổ phiếu, các nghiên cứu khác chỉ ra ảnh hưởng của các chỉ tiêu kế
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15toán, tài chính đến TSSL trên cổ phiếu
Florou và Chalevas (2010) nghiên cứu ảnh hưởng của các chỉ tiêu kế toán đến TSSL trên cổ phiếu ở Hy Lạp, thông qua mô hình với biến phụ thuộc
là Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), Vòng quay tổng tài sản, hệ số thanh toán hiện hành, tỷ suất nợ, lợi nhuận trước thuế và lãi, khấu hao (EBITDA), tỷ số giá trị thị trường và giá trị sổ sách (MV/BV) Kết quả mô hình cho thấy ROS, EBITDA và MV/BV ảnh hưởng cùng chiều đến TSSL trên cổ phiếu [17]
Aras và Yilmaz (2008) trong nghiên cứu về tác động của Tỷ suất cổ tức trên giá cổ phiếu (DY), Tỷ suất giá trị thị trường trên thu nhập (P/E) và tỷ số giá trị sổ sách và giá trị thị trường (B/M) đến TSSL trên cổ phiếu của 12 thị trường cổ phiếu mới nổi, đã chỉ ra rằng, tỷ số B/M và DY có ý nghĩa trong việc dự đoán TSSL trên cổ phiếu, tuy nhiên tỷ số B/M có ý nghĩa hơn cả, P/E
ít có ý nghĩa hơn 2 tỷ số còn lại Nghiên cứu còn cho thấy, sự kết hợp khác nhau của những nhân tố này làm cho phân tích có ý nghĩa hơn [11]
Trong nghiên cứu của Kheradyar, Ibrahim và Mat Nor (2011) về mối quan hệ giữa TSSL trên cổ phiếu và các tỷ số tài chính: Tỷ suất cổ tức trên giá
cổ phiếu (DY), Tỷ suất thu nhập trên giá cổ phiếu (EY) và Tỷ số giá trị sổ sách và giá trị thị trường (B/M), tác giả kết luận cả 3 chỉ số đều có động đến TSSL trên cổ phiếu, trong đó, tỷ suất B/M có ảnh hưởng nhiều hơn 2 tỷ số còn lại đối với TSSL trên cổ phiếu Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp cả ba tỷ
số này sẽ đưa ra dự đoán chính xác về TSSL hơn nghiên cứu đơn lẻ mỗi chỉ
số Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp cả ba tỷ số này sẽ đưa ra dự đoán chính xác về TSSL hơn là chỉ nghiên cứu đơn lẻ mỗi chỉ số [19]
Phân tích của Bukit (2013) về tác động của giá trị giá trị thị trường so với giá trị sổ sách (M/B), Tỷ lệ chi trả cổ tức (DPR), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ (ROE), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), thu nhập trên mỗi cổ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16phần (EPS) đến TSSL trên cổ phiếu tại Indonesia đã cho thấy M/B, DPR, ROA và EPS có ảnh hưởng đến TSSL trên cổ phiếu trong khi đó ROE không
có ảnh hưởng trong mô hình M/B, DPR và EPS có tác động cùng chiều còn ROA có tác động ngược chiều dến TSSL trên cổ phiếu.Trong đó ROA, DPR
và M/B có tác động nhiều nhất đến TSSL trên cổ phiếu trên thị trường Indonesia [13]
Nhân tố tỷ suất cổ tức cũng được chỉ ra có mối quan hệ với TSSL trên
cổ phiếu ở thị trường trong nghiên cứu của Safari (2009) ở thị trường Malaysia, tác giả cho rằng, sở dĩ cổ tức có thể có liên quan đến TSSL ở chỗ
cổ tức có thể làm nhà đầu tư bỏ qua các rủi ro Tác giả cũng chỉ ra rằng ở các thị trường phát triển, có một mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ suất cổ tức và lợi nhuận cổ phiếu trên thị trường giá xuống và một mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ suất cổ tức và TSSL trên cổ phiếu trong thị trường giá lên Ngược lại với điều này, trên TTCK Malaysia, có tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ suất cổ tức và TSSL trên cổ phiếu ở cả thị trường giá lên và xuống [26]
Ngoài các nhân tố trên, theo Aga và Samadiyan (2013) tỷ số khả năng thanh toán cũng có tác động đến TSSL trên cổ phiếu Theo đó, tỷ số thanh toán hiện hành có mối quan hệ cùng chiều với TSSL trên cổ phiếu tại Tehran Tác giả cho rằng, nhà đầu tư, những người nắm giữ cổ phiếu có thể xem xét
sự tăng lên của tỷ số thanh toán hiện hành như là dấu hiệu của sự tăng giá trị
tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu của công ty [9]
Tuy nhiên trong nghiên cứu của Florou and Chalevas (2010) lại chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ số thanh toán hiện hành và TSSL trên cổ phiếu Điều này phù hợp nghiên cứu của Stefano (2015)
Qua những tổng hợp ở trên, có thể nhận thấy, TSSL trên cổ phiếu còn phụ thuộc vào các tỷ số tài chính của công ty
Tại Việt Nam, có những nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 17suât sinh lợi trên cổ phiếu, tuy nhiên chưa có nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và TSSL trên cổ phiếu
Theo Trương Đông Lộc, Nghiêm Minh Thư và Võ Văn Dứt (2016), TSSL của các cổ phiếu có mối tương quan thuận với rủi ro thị trường, quy mô công ty, tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường và tỷ số thanh toán hiện thời của công ty, nhưng lại có mối tương quan nghịch với nhân tố xu hướng [4]
Các nghiên cứu về tỷ suât sinh lợi trên cổ phiếu tại Việt Nam chủ yếu
là các nghiên cứu về mô hình dự đoán TSSL cổ phiếu thông qua mô hình CAPM và mô hình Fama, như trong các nghiên cứu của Phạm Hữu Hồng Thái và Lê Dũng Hiệp (2016), Võ Hồng Đức và Mai Duy Tân (2014), Trương Đông Lộc và Dương Thị Hoàng Trang (2014)
Hành vi quản trị lợi nhuận cũng đã được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam, chủ yếu là các nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận Có các phương pháp nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận đã được nghiên cứu để áp dụng tại Việt Nam, Phùng Anh Thư (2016) đã thực hiện kiểm định mức độ phù hợp của bốn mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận phổ biến trên thế giới gồm mô hình của Jones (1991), mô hình Modified Jones của Dechow, Sloan, Sweeney (1995), mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005) và mô hình Phạm Thị Bích Vân (2012) Qua đó, nhận diện mô hình thích hợp nhất để nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty tại Việt Nam là mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005) [8]
Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu trước đây của Nguyễn Anh Hiền, Phạm Thanh Trung (2015) về mô hình phù hợp nhất để nhận diện hành
vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam Các tác giả cũng có kết luận mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005) là
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18phù hợp nhất tại Việt Nam [2]
Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005) để nhận diện biến dồn tích có thể điều chỉnh trong
đo lường ảnh hưởng hành vi quản trị lợi nhuận đến TSSL trên cổ phiếu tại Việt Nam, kết hợp đồng thời với các biến thuộc về tài chính công ty
Từ cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới,
Có thể thấy, đã có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu và mối quan hệ giữa TSSL trên cổ phiếu và hành vi quản trị lợi nhuận tại các quốc gia khác trên thế giới Trong các nghiên cứu này, mô hình nghiên cứu có biến độc lập thường là biến dồn tích có thể điều chỉnh DA kèm với hai biến là quy mô công ty và tỷ suất giá trị sổ sách và giá trị thị trường Tuy nhiên, ngoài các biến này, tác giả cho rằng, cũng cần thiết nghiên cứu về các nhân tố tài chính khác ảnh hưởng đến TSSL trên cổ phiếu
Do đó, trong bài này tác giả sẽ đưa ra mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến TSSL trên cổ phiếu với các biến độc lập là biến dồn tích có thể điều chỉnh DA kèm, biến quy mô công ty và tỷ suất giá trị sổ sách
và giá trị thị trường, và các biến thuộc về nhân tố tài chính của công ty
Cho đến này, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tác động của nó đến TSSL vẫn chưa đc đề cập trong các nghiên cứu có liên quan tại Việt Nam Do đó, mô hình được tác giả đề xuất trong luận văn này cũng là mô hình đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ hệ này tại Việt Nam
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU 1.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN
Gần với quan điểm trên, Healy và Wahlen (1999) cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận là việc nhà quản lý sử dụng các đánh giá của mình trong quá trình lập và công bố BCTC và quá trình thực hiện các nghiệp vụ để thay đổi BCTC nhằm đánh lừa các bên có liên quan nhất định, hoặc nhằm ảnh hưởng đến kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán [18]
Theo hai định nghĩa trên, có thể nhận thấy hành vi quản trị lợi nhuận được xem như là một can thiệp có mục đích và có chủ tâm của BCTC, nhằm ảnh hưởng đến cái nhìn của nhà đầu tư về các hoạt động tài chính của doanh nghiệp Các định nghĩa này tập trung vào việc quản trị lợi nhuận cho các mục đích quản trị mà chưa chỉ rõ được một trong những mục đích tiêu cực của quản trị lợi nhuận là sự gian lận tài chính (Patricia and Skinner, 2000) Theo
đó, quản trị lợi nhuận là hành động có mục đích, cố ý, sự trình bày sai lệch hay sự bỏ sót những thông tin hoặc số liệu kế toán trọng yếu nhằm gây hiểu nhầm hoặc khi xem xét cùng với các thông tin có sẵn khác thì sẽ làm cho người sử dụng BCTC thay đổi quyết định hoặc xét đoán của mình [24]
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20Nhà quản lý có quyền sử dụng các xét đoán chủ quan của mình trong việc lựa chọn chính sách và thực hiện các ước tính để phản ánh một cách đúng đắn bản chất kinh tế và kết quả hoạt động của DN Tuy nhiên, có thể nhận thấy, hành vi quản trị lợi nhuận thường mang nghĩa tiêu cực vì thường làm sai lệch thông tin về lợi công bố trên BCTC do vận dụng không đúng đắn các chính sách và ước tính kế toán và thời điểm ghi nhận nghiệp vụ làm sai lệch bản chất của nghiệp vụ
NQL sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong việc thực hiện các ước tính về các sự kiện kinh tế tương lai được phản ánh trong BCTC của DN, chẳng hạn ước tính về thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cố định, tổn thất
có thể của các khoản phải thu không thu hồi được, hoặc tổn thất từ việc giảm giá của hàng tồn kho Cùng với việc thực hiện nhiều ước tính, NQL cũng phải
sử dụng đánh giá chủ quan của mình để quyết định việc lựa chọn các chính sách kế toán Cùng xử lý một vấn đề của một đối tượng kế toán, NQL có thể nhiều lựa chọn khác nhau, chẳng hạn, việc lựa chọn giữa phương pháp khấu hao bình quân hay khấu hao nhanh, giữa phương pháp nhập trước - xuất trước hay phương pháp bình quân gia quyền trong tính giá xuất kho hàng tồn kho Đánh giá chủ quan của NQL cũng được vận dụng trong việc thực hiện các nghiệp vụ kinh tế Các quyết định liên quan đến quản trị vốn lưu động thường
sẽ ảnh hưởng đến việc ghi nhận các đối tượng kế toán, chẳng hạn, NQL phải quyết định về thời điểm giao hàng hay nhận hàng NQL cũng có thể quyết định thực hiện hay hoãn lại các khoản chi tiêu không bắt buộc như chi phí nghiên cứu và phát triển, quảng cáo, hay bảo trì
Hiển nhiên, việc thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận là nhằm thu được những lợi ích nhất định cho DN hoặc cho NQL và thường gây tác động tiêu cực đến nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan đến DN Trường hợp phổ biến là người sử dụng thông tin BCTC của DN để ra quyết định có thể dẫn
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 21đến quyết định không tối ưu
Như vậy, quản trị lợi nhuận đã trình bày ở trên chúng ta có thể thấy được những đặc điểm chung trong các khái niệm về quản trị lợi nhuận như sau:
- Là hành vi phụ thuộc vào quyết định có chủ ý của nhà quản lý
- Là sự can thiệp làm thay đổi các thông tin trên BCTC của nhà quản lý
- Là sự công bố thông tin liên quan đến các thời điểm trình bày báo cáo
1.1.2 Cơ sở lý t uyết ủ quản trị lợ n uận
Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận chính là kế toán theo cơ sở dồn tích (Đường Nguyễn Hưng, 2013) Điểm khác nhau mấu chốt giữa kế toán theo cơ sở dồn tích và kế toán theo cơ sở tiền là cách thức doanh thu và chi phí được ghi nhận Kế toán theo cơ sở dồn tích có nghĩa là mọi giao dịch kinh
tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền (Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS số 01) [3]
Chênh lệch giữa lợi nhuận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
và dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ hình thành nên biến kế toán mà các nhà nghiên cứu gọi là biến kế toán dồn tích Hay nói cách khác, biến kế toán dồn tích là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Do phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp một cách xác thực, kế toán theo cơ sở dồn tích chính là cơ sở quan trọng chi phối phương pháp ghi nhận các đối tượng kế toán trong doanh nghiệp Tuy nhiên, do doanh thu và chi phí có thể được ghi nhận khi tiền chưa được thu hay chi, dẫn đến vấn đề quan trọng luôn cần phải xem xét đó là doanh thu và chi phí đã thực sự phát sinh chưa và nếu đã phát sinh rồi thì đã được ghi nhận chưa
Kế toán cần phải ghi nhận doanh thu khi doanh thu đã thực sự phát sinh
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22và chi phí cần phải được ghi nhận phù hợp với việc tạo ra doanh thu trong kỳ
kế toán Việc áp dụng nguyên tắc phù hợp bảo đảm cho lợi nhuận được đo lường một cách xác thực, phản ánh đúng đắn kết quả hoạt động của DN Việc thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích dẫn đến thời điểm các khoản doanh thu
và chi phí được nhận khác với kế toán theo cơ sở tiền như sau:
- Doanh thu chưa thu tiền: Doanh thu phát sinh được ghi nhận trước khi tiền thu được
- Chi phí chưa chi tiền: Chi phí phát sinh được ghi nhận trước khi tiền được chi ra
- Doanh thu chưa thực hiện: Doanh thu được ghi nhận sau khi tiền đã thu vào
- Chi phí trả trước: Chi phí được ghi nhận sau khi tiền đã chi trả
Việc ghi nhận doanh thu và chi phí trong trường hợp này có thể chịu ảnh hưởng bởi quyết định chủ quan của nhà quản lý Nếu nhà quản lý có động lực muốn thay đổi kết quả lợi nhuận, việc điều chỉnh thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí có thể dẫn đến lợi nhuận công bố thay đổi Đây chính là hành vi quản trị lợi nhuận
Theo đó, quản trị lợi nhuận được thực hiện dựa trên việc điều chỉnh thời điểm và mức độ ghi nhận các khoản doanh thu, chi phí và từ đó tác động đến lợi nhuận
a Tránh vi phạm điều khoản thoả thuận với bên ngoài
Bên cạnh mối quan hệ với cổ đông, doanh nghiệp cũng có mối quan hệ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 23chặt chẽ với các bên có lợi ích liên quan khác, đặc biệt là mối quan hệ với nhà cung cấp tín dụng Các hợp đồng bên ngoài là hợp đồng vay nợ, hợp đồng cung cấp… Trong mối quan hệ với người cấp tín dụng cho DN như các ngân hàng, các công ty tài chính, DN phải ký kết hợp đồng với nhiều điều khoản ràng buộc dựa trên các chỉ tiêu tài chính NQL có thể có các hành vi quản trị lợi nhuận để tránh vi phạm các điều khoản
Ví dụ như hợp đồng vay nợ, các ngân hàng có thể yêu cầu các công ty duy trì hạn mức vay cụ thể so với vốn chủ hoặc vốn lưu động Nếu các điều khoản này bị vi phạm, các ngân hàng có thể áp dụng những hình phạt như lãi suất cao hơn, hoặc những hạn chế về vay thêm hoặc yêu cầu trả nợ ngay lập tức Do đó, khi các công ty đang gần hạn mức và có khả năng vi phạm chúng thì các nhà quản lý có động cơ sử dụng các kỹ thuật quản trị lợi nhuận để tăng thu nhập nhằm nới lỏng hoặc trì hoãn sự hạn chế áp đặt bởi các thỏa thuận vay nợ dựa trên thu nhập
b Đạt được những yêu cầu trong hợp đồng thù lao nhà quản lý
Hầu hết các hợp đồng giữa với nhà quản lý doanh nghiệp đo lường thành quả của nhà quản lý bằng các con số kế toán như doanh thu hoặc lợi nhuận, các điều khoản này có thể hướng nhà quản trị đến việc quản trị lợi nhuận để đạt được các thỏa thuận trong hợp đồng Trong trường hợp này, quản trị lợi nhuận được thực hiện vì những lợi ích cá nhân, NQL sẽ được hưởng nhiều quyền lợi khi hoàn thành các chỉ tiêu được giao, chẳng hạn như các khoản thưởng, đề bạt, tăng lương, và cả việc giữ được vị trí của mình Do
đó, nếu không hoàn thành các chỉ tiêu lợi nhuận, NQL có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận để đạt được các chỉ tiêu này, hoặc khi đã đạt vượt chỉ tiêu lợi nhuận nhưng mức thưởng có giới hạn, NQL có thể điều chuyển bớt lợi nhuận sang năm sau Mặt khác, NQL cũng có thể sở hữu cổ phiếu của DN Khi này, nếu muốn bán đi số cổ phiếu nắm giữ và thu lợi được mức cao, NQL cũng có thể
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24điều chỉnh lợi nhuận tăng để tác động vào giá cổ phiếu nhằm thu lợi
c Tránh các điều khoản quy định và tối thiểu hóa chi phí pháp lý, chi phí thuế hiện hành
Liên quan đến thuế, DN phải đóng thuế thu nhập DN dựa trên lợi nhuận phải chịu thuế Mặc dù, ngày nay, kế toán cho mục đích thuế và kế toán cho mục đích cung cấp thông tin đã có sự tách biệt, nếu muốn giảm thuế, một khả năng xảy ra là DN tránh báo cáo lợi nhuận kế toán ở mức cao để hợp lý hóa hành vi điều chỉnh giảm lợi nhuận chịu thuế, từ đó giảm số thuế thu nhập phải nộp
DN cũng có thể điều chỉnh lợi nhuận nhằm tránh công bố các mức lợi nhuận cao, để tránh cơ quan quản lý Nhà nước có những hành động chính sách điều tiết hoạt động của DN như rút bớt các ưu đãi đang đem lại lợi ích quá cao cho DN
d Đạt hiệu quả trên TTCK
Đối với các DN niêm yết, mối quan hệ giữa cổ đông, NQL và nhà đầu
tư luôn là mối quan hệ chủ đạo trong hoạt động của DN Đối với cổ đông, NQL được giao những trách nhiệm phải hoàn thành, cụ thể hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh, trong đó, quan trọng nhất là chỉ tiêu về lợi nhuận tạo ra áp lực lớn mà có thể khiến cho NQL thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận khi lợi nhuận không đạt được như kỳ vọng Bên cạnh đó, DN một khi đã niêm yết tức là mong muốn có được cơ hội tiếp cận các nguồn vốn từ thị trường một cách dễ dàng hơn Để có thể thuyết phục được nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư DN phải chứng minh được triển vọng về lợi nhuận trong tương lai của DN Đây cũng là một động lực lớn thúc đẩy NQL có hành vi quản trị lợi nhuận nhằm mục tiêu huy động vốn với chi phí vốn thấp hơn
1.1.4 Cá mô ìn n ận ện àn v quản trị lợ n uận
Trong các mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận công bố ở
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25nước ngoài, các tác giả đã dựa trên nguyên tắc cơ sở dồn tích của kế toán để chia lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp thành hai loại là lợi nhuận thực thu bằng tiền và lợi nhuận dồn tích Trong đó, lợi nhuận thực thu bằng tiền hình thành từ các khoản doanh thu và chi phí bằng tiền mà doanh nghiệp đã thu và chi trong kỳ Riêng lợi nhuận dồn tích là lợi nhuận được tính trong kỳ của doanh nghiệp nhưng chưa thu được bằng tiền như các khoản doanh thu bán chịu cho khách hàng sau khi đã trừ các khoản chi phí không phải chi trả bằng tiền; các khoản chi phí phải trả; chi phí trích trước; các khoản dự phòng giảm giá tài sản; dự phòng phải trả, khấu hao tài sản cố định trong kỳ
Các nhà quản lý thường không thể thực hiện hành vi điều chỉnh trên các khoản lợi nhuận bằng tiền Tuy nhiên, đối với khoản lợi nhuận dồn tích thì nhà quản lý có thể điều chỉnh khi sử dụng nguyên tắc cơ sở dồn tích trong
kế toán Trên lý thuyết, nguyên tắc cơ sở dồn tích nhằm đảm bảo doanh nghiệp phản ánh đúng doanh thu, chi phí trong kỳ nhằm bảo đảm lợi nhuận được phản ánh một cách trung thực và hợp lý Trong thực tế, nguyên tắc này
có thể bị lợi dụng để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận như ghi nhận doanhthu khi chưa phát sinh nghiệp vụ bán hàng, cung cấp dịch vụ hoặc sử dụng việc trích lập các khoản dự phòng, chi phí phải trả, phân bổ chi phí trả trước nhằm gia tăng hay giảm bớt chi phí trong kỳ
Do đó, các nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty xuất phát từ các khoản lợi nhuận dồn tích hay còn gọi
là các khoản dồn tích trong lợi nhuận (TA) TA còn được gọi tắt là biến kế toán dồn tích
Khoản dồn tích trong lợi nhuận (TA) được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận kế toán sau thuế trừ dòng tiền thuần HĐKD:
TA = Lợi nhuận sau thuế - dòng tiền thuần HĐKD Tuy nhiên, không thể sử dụng biến TA để đo lường mức độ điều chỉnh
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 26lợi nhuận một cách trực tiếp do trong đó có các khoản dồn tích phù hợp với tình hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp như các khoản doanh thu bán chịu trong kỳ, các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, các khoản chi phí phải trả được trích lập đúng qui định Do đó, các nhà nghiên cứu đã tách biến TA ra làm hai thành phần gồm:
- Các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (Nondiscretionary accruals viết tắt là NDA) là các khoản dồn tích được thực hiện theo những định, nguyên tắc của chuẩn mực và chế độ kế toán
- Các khoản dồn tích có thể điều chỉnh (Discretionay accruals viết tắt
là DA) hay còn gọi là các khoản dồn tích bất thường (abnormal accruals) là các khoản dồn tích do nhà quản lý thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ
Do đó, biến DA mới chính là thước đo phù hợp để đánh giá các nhà quản lý doanh nghiệp có điều chỉnh lợi nhuận hay không Về nguyên tắc, khi
DA mang giá trị dương thì nhiều khả năng nhà quản lý thổi phồng lợi nhuận Ngược lại, trường hợp DA mang giá trị âm thì có khả năng nhà quản lý che giấu lợi nhuận Như vậy, biến DA cho thấy có sự điều chỉnh chủ quan từ nhà quản lý đến lợi nhuận của doanh nghiệp và được xác định như sau:
DA = TA - NDA
Do đó, để xác định DA ta phải ước lượng NDA, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra nhiều mô hình khác nhau, trong đó có ba mô hình ước lượng NDA nổi tiếng nhất là: mô hình của Jones (1991), mô hình Jones cải tiến của Dechow, Sloan và Sweeney (1995) và mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005)
Trang 27NDAt / At-1 = α/ At-1 + β1 REVt/At-1 + β2PPEt / At-1
Trong đó:
NDAt : Biến dồn tích không thể điều chỉnh được năm t
At-1: Tổng tài sản cuối năm t-1
REVt : Biến động doanh thu thuần năm t
PPEt : Nguyên giá của tài sản cố định hữu hình năm t
Trong công thức trên tất cả các biến của phương trình đều chia cho At-1(tài sản cuối năm t-1) để giảm thiểu rủi ro do phương sai không thuần nhất
α , β1 , β2 trong công thức trên là những tham số được ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) của các hệ số a1, a2, a3 trong mô hình sau:
TAt / At-1 = a1 / At-1 + a2 REVt/At-1 + a 3PPEt /At-1 + ε Phần dư ε trong mô hình trên đại diện cho biến chưa thể nhận diện được, bao gồm cả biến dồn tích có thể điều chỉnh (DAt)
Sau khi ước lượng biến dồn tích không thể điều chỉnh (NDA), từ phương trình:
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 28mục chi phí khấu hao là một khoản chi phí dồn tích không tự ý lớn ảnh hưởng đến tổng lợi nhuận trong kỳ Bên cạnh đó, hạn chế của mô hình là khi chọn REV làm biến nghiên cứu thì có thể doanh thu thuần cũng bị tác động thông qua các khoản doanh thu bị ghi nhận không đúng niên độ và các khoản này có thể là doanh thu khống của doanh nghiệp
b Mô hình Dechow, Sloan and Sweeney (1995)
Xuất phát từ hạn chế kể trên của mô hình gốc, các nhà nghiên cứu sau này đưa thêm biến tăng giảm khoản phải thu khách hàng (ΔREC) vào phương trình nhằm loại bỏ ảnh hưởng của các khoản doanh thu dồn tích do sự tăng lên của tài khoản phải thu khách hàng trong kỳ Qua đó, giá trị doanh thu thuần tăng thêm phản ánh chính xác hơn môi trường kinh doanh của doanh nghiệp trong năm đó Dechow, Sloan and Sweeney (1995) đã cải tiến mô hình của Jones (1991) bằng cách bổ sung thêm sự thay đổi của tài khoản nợ phải thu (ΔREC) vào mô hình Mô hình Jones được cải tiến như sau:
NDAt / At-1 = α/ At-1 + β1 (REVt - RECt) /At-1 + β2PPEt / At-1Trong đó:
ARECt là sự thay đổi trong tài khoản phải thu khách hàng
c Mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005)
Tiếp tục phát triển mô hình của Jones (1991) và Dechow, Sloan and Sweeney (1995), Kothari, Leone and Wasley (2005) đã bổ sung thêm biến về kết quả hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản (ROA) vào mô hình gốc của Jones (1991) nhằm xem xét mối quan hệ tuyến tính giữa biến kế toán dồn tích
và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Mô hình Kothari, Leone and Wasley (2005) đề xuất như sau:
NDAt / At-1 = α/ At-1 + β1 (REVt - RECt) /At-1 + β2PPEt / At-1 + β3ROAt-1
Trong đó:
ROAt-1: Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của năm t-1
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 291.2 TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU
1.2.1 Đo lường tỷ suất s n lợ trên ổ p ếu
Tỷ suất sinh lợi của một tài sản là mức thu nhập mà nhà đầu tư sẽ thu được trong tương lai trên mỗi đồng vốn đầu tư ban đầu vào tài sản đó Tỷ suất sinh lợi được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận thu được và giá trị khoản đầu tư bỏ ra
Tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu là phần lợi nhuận hoặc tổn thất khi đầu tư vào một danh mục chứng khoán (Jones, 2000) Tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu đơn giản là sự thay đổi trong giá trị cổ phiếu trong kỳ xem xét chia cho giá của cổ phiếu đó tại thời điểm đầu kỳ Hay nói cách khác, tỷ suất sinh lợi được tính toán thông qua khoản thu hồi khi đầu tư vào một cổ phiếu thông thường, tuân theo giá trị cổ phiếu giữa đầu và cuối của kỳ và thu nhập mà chủ sở hữu
có được từ cổ phiếu đó
Công thức tính TSSL của cổ phiếu
SR = (P1 – P0) + D1
P0
P1: Giá cổ phiếu tại thời điểm t
Po: Giá cổ phiếu tại thời điểm 0
D1: Giá trị cổ tức nhận được trong khoảng thời gian trên
Theo nghiên cứu của Moridi và Mousavi (2009), TSSL trên cổ phiếu là một trong những yếu tố quan trọng nhất để có được lựa chọn đầu tư tốt nhất Nhà đầu tư luôn tìm cách để có được TSSL cổ phiếu là cao nhất [22]
TSSL trên cổ phiếu được xác định trên thị trường tài chính bởi nhà đầu
tư và các thành phần khác trên thị trường, những người dựa trên thông tin trên BCTC để đánh giá giá trị và rủi ro của dòng tiền dự kiến của NĐT Do đó,TSSL trên cổ phiếu cũng được cho là một chỉ số quan trọng của TTCK nhằm dự báo tăng trưởng kinh tế trong tương lai TTCK là nơi để huy động
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30vốn qua việc bán cổ phiếu hoặc phát hành thêm cổ phiếu mới NQL thường dựa vào các chỉ tiêu TSSL để có những hành vi quản trị lợi nhuận thích hợp trước khi công bố BCTC nhằm mục đích tác động đến TSSL trên cổ phiếu theo hướng có lợi nhất cho mình
1.2.2 Mố qu n ệ g ữ àn v quản trị lợ n uận và mứ s n lợ trên ổ p ếu
a Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu
- Lý thuyết đại diện
Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, được phát triển bởi Alchian và Demsetz năm 1972, sau đó được Jensen và Meckling phát triển thêm vào năm 1976
Lý thuyết đại diện ra đời khi các nhà kinh tế nghiên cứu việc phân chia rủi ro giữa người ủy quyền và người đại diện do họ có mục tiêu và sự phân công lao động khác nhau Người ủy quyền (chủ sở hữu) giao phó công việc cho người đại diện thông qua một hợp đồng Những vấn đề mà lý thuyết người đại diện nghiên cứu chỉ xuất hiện trong chừng mực mà lợi ích người ủy quyền và người đại diện có sự khác nhau và nhất là giữa họ có thông tin không hoàn hảo về trạng thái và hành vi của các tác nhân, thông tin không đối xứng giữa các tác nhân (thường thì người đại diện biết nhiều hơn người ủy quyền về công việc mình phải làm) Sự tồn tại của thông tin không hoàn hảo
và thông tin không đối xứng dẫn tới hành vi cơ hội của người đại diện Sự không hoàn hảo, không đối xứng về thông tin giữa người ủy quyền và người đại diện dẫn đến chi phí đại diện Lý thuyết người đại diện tập trung nghiên cứu việc xây dựng hợp đồng giữa người ủy quyền và người đại diện Lý thuyết đại diện được tiến hành theo hai hướng: nghiên cứu thực chứng và nghiên cứu chuẩn tắc
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 31Nghiên cứu thực chứng của lý thuyết người đại diện tập trung tìm hiểu cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là công ty cổ phần để nhận biết tình huống mà người ủy quyền và người đại diện có thể có những mục tiêu mâu thuẩn và mô tả cơ chế quản lý nhằm hạn chế hành vi phục vụ lợi ích cá nhân của người đại diện Người đại diện hành xử vì lợi ích của người ủy quyền nhiều hơn khi hợp đồng giữa người ủy quyền và người đại diện dựa trên kết quả, hay nói cách khác, hợp đồng dựa trên kết quả là hiệu quả trong kiềm chế hành vi cơ hội của người đại diện và người ủy quyền có hệ thống thông tin kiểm tra hoạt động của người đại diện có khả năng kiềm chế hành vi
cơ hội của người đại diện Chi phí đại diện càng lớn khi người đại diện sở hữu
ít hoặc không sở hữu cổ phiếu của công ty hay nói cách khác sở hữu của người đại diện trong doanh nghiệp tăng lên thì hành vi cơ hội của người đại diện sẽ giảm đi
Để ngăn chặn hành vi liên quan đến rủi ro đạo đức của người đại diện, người ủy quyền có hai lựa chọn Thứ nhất, xây dựng hệ thống thông tin để phát hiện hành vi của người đại diện Thứ hai là ký kết hợp đồng dựa trên hoạt động của người đại diện, tức ở một mức độ nào đó chuyển rủi ro đến người đại diện Kết quả hoạt động của người đại diện thường là không chắc chắn Khi sự không chắc chắn của kết quả là thấp thì chi phí chuyển rủi ro đến người đại diện là thấp và hợp đồng dựa trên kết quả là hấp dẫn
Như đã nói ở trên, theo lý thuyết đại diện, đối với công ty cổ phần, các
cổ đông là các chủ sở hữu hoặc là người đứng đầu công ty, thuê những người khác thực hiện công việc Những người đứng đầu ủy quyền hoạt động của công ty cho các giám đốc hoặc những người quản lý, họ là các đại diện cho các cổ đông Các cổ đông kỳ vọng các đại diện hành động và ra các quyết định vì lợi ích của những người đứng đầu Ngược lại, các đại diện không nhất thiết phải ra quyết định vì các lợi ích lớn nhất của cổ đông
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32Đối với NQL, họ được giao những trách nhiệm phải hoàn thành, cụ thể hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh, trong đó, quan trọng nhất là chỉ tiêu về lợi nhuận, đây là áp lực lớn mà có thể khiến cho NQL thực hiện quản trị lợi nhuận khi lợi nhuận không đạt được như kỳ vọng
Các cổ đông luôn quan tâm đến các thông tin mà NQL cung cấp làm cơ
sở cho việc đầu tư Theo Moridi và Mousavi (2009), TSSL trên cổ phiếu là một trong những nhất yếu tố quan trọng để có được lựa chọn đầu tư tốt nhất Nhà đầu tư luôn quan tâm đến tỷ số này và luôn tìm cách để có được TSSL cổ phiếu đầu tư là cao nhất
Trên cơ sở những quan tâm, xem xét của NĐT, DN phải chứng minh được triển vọng tỷ suất sinh lợi cho NĐT ở mức cao hơn Chỉ tiêu lợi nhuận là yếu tố quan trọng để đánh giá về HĐKD của DN Do đó, chỉ tiêu lợi nhuận tạo áp lực rất lớn cho NQL Đây là cơ sở thúc đẩy nhà quản lý DN có hành vi quản trị lợi nhuận công bố nhằm đem đến cho nhà đầu tư cái nhìn lạc quan về tình hình của DN và tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu khi đầu tư vào công ty Tóm lại hành vi quản trị lợi nhuận để gia tăng tỷ suất sinh lợi xuất phát từ mối liên
hệ trên
Vai trò của BCTC đối với các bên có liên quan là không có gì phải bàn cãi Nhà quản lý truyền đạt thông tin về công ty cho chủ sở hữu và các thành phần quan tâm khác bằng cách sử dụng BCTC Chức năng này có ý nghĩa quan trọng trong một công ty đại chúng, trong đó sự tách rời quyền sở hữu và kiểm soát làm cho nó là con đường duy nhất mà thông qua đó các chủ sở hữu
và nhà đầu tư có thể nhìn thấy được hoạt động của công ty Lý thuyết đại diện cho rằng quản trị lợi nhuận có thể xảy ra khi các nhà quản lý có động cơ thúc đẩy lợi ích bản thân bằng cách thỏa hiệp lợi ích của cổ đông (Chen và cộng
sự, 2010).Vấn đề đại diện liên quan đến hình thức sở hữu công ty có kết quả
từ việc chủ sở hữu luôn tìm cách hướng lợi ích của nhà quản lý đến lợi ích
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 33của chủ sở hữu Mục tiêu quản trị được chấp nhận rộng rãi nhất của quản lý là tối đa hóa lợi ích của cổ đông phản ánh thông qua giá trị của công ty Giá cổ phiếu và tỷ suất sinh lời cổ phiếu ở mức cao đã trở thành thước đo cho nhà quản lý trong việc đạt được mục tiêu này
Giá cổ phiếu được xác định trên thị trường tài chính bởi các nhà đầu tư
và những người tham gia thị trường khác dựa vào các thông tin có trong BCTC để đánh giá giá trị và rủi ro của luồng tiền dự kiến cho cổ đông Giá cổ phiếu được coi là một thước đo khách quan để đánh giá giá trị của công ty,
mà giá trị này tăng lên cũng đồng nghĩa với việc gia tăng sự giàu có của các
cổ đông Ban Giám đốc cung cấp các BCTC; các nhà đầu tư sử dụng thông tin
để xác định giá trị của công ty thông qua giá cổ phiếu, và các cổ đông sử dụng giá trị của công ty để xác định thù lao cho quản lý Cũng cần nói thêm, TSSL cao sẽ hấp dẫn nhà đầu tư hơn, thông qua dó, công ty có thể thu hút được nguồn vốn với chi phí vốn thấp Điều này là động cơ để nhà quản lý quản trị lợi nhuận
- Lý thuyết tín hiệu
Vào năm 1973, Spence là người tiên phong cho ra đời lý thuyết tín hiệu, theo lý thuyết này, khi có sự tồn tại của thông tin bất cân xứng, lý thuyết tín hiệu đưa ra một trạng thái cân bằng trong đó đối tượng có lợi thế về thông tin tốt hơn nên cung cấp một số tín hiệu cho các đối tượng khác Áp dụng lý thuyết tín hiệu trong thị trường tài chính sự bất cân xứng thông tin có thể xuất hiện giữa nhà quản lý và các cổ đông, chủ nợ Khi đó, theo lý thuyết tín hiệu, nhà quản trị cần cung cấp thông tin, tín hiệu cho thị trường để các đối tượng đánh giá đúng về thực trạng kinh tế của doanh nghiệp
Lý thuyết tín hiệu cho rằng các quyết định tài chính của công ty là các dấu hiệu được gửi đi bởi các nhà quản lý cho các nhà đầu tư để xem xét những thông tin phản hồi và dấu hiệu này là nền tảng cho chính sách
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 34truyền thông tài chính Lý thuyết tín hiệu giả định rằng các công ty
có kết quả hoạt động tốt thường sử dụng thông tin tài chính như là một công
cụ truyền tín hiệu đến thị trường Do vậy, nhà quản lý có thể có hành vi quản trị lợi nhuận nhằm đưa ra tín hiệu tốt đên nhà đầu tư trong từng trường hợp cụ thể
Đối tượng NQL hướng đến khi thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận chính là những NĐT Khi NĐT an tâm từ những tín hiệu tốt mà công ty đưa
ra, tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu trong tương lai sẽ lớn hơn do những dự đoán
từ những tín hiệu tốt mà nhà quản lý truyền đạt thông qua chỉ tiêu lợi nhuận tốt
Tóm lại, NĐT quan tâm đến TSSL của cổ phiếu, và nhà quản lý luôn muốn truyền tín hiệu tốt đến thị trường thông qua chỉ tiêu lợi nhuận, nhằm gia tăng dự đoán tích cực về tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu, từ đó thu hút thêm nhà đầu tư Động lực quản trị lợi nhuận để gia tăng tỷ suất sinh lợi xuất phát từ mối liên hệ trên
b Mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu
Đề cập đến sự thao túng thông tin kế toán, một số nhà nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa những số liệu kế toán và sự định giá doanh nghiệp Các nhà nghiên cứu xem xét liệu rằng những số liệu kế toán bị thao túng có làm doanh nghiệp được định giá cao hơn Điều này cũng giống như việc kiểm tra xem liệu các nhà đầu tư có nhận thức được việc điều chỉnh lợi nhuận và tác động của chúng đến việc định giá cổ phiếu của công ty
Các nghiên cứu ban đầu tập trung vào nghiên cứu sự tương quan dựa trên giả thuyết thị trường hiệu quả Giá trị cổ phiếu là công cụ ước tính tốt nhất giá trị thực của công ty Với quan điểm nay, khả năng phản ánh giá trị cổ phiếu niêm yết sẽ được xem như là thông số để xác định tính hợp lệ của thông
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35tin kế toán Điều này dẫn đến việc một số nhà nghiên cứu đánh giá mức độ cung cấp thông tin của các kết quả kế toán thông qua mức độ tương quan với giá trị cổ phiếu thực quan sát được Nghiên cứu của Subramanyam (1996) trên thị trường Hoa Kỳ đã đưa ra phương pháp đo lường tương quan giữa giá trị cổ phiếu và 3 cách đo lường lợi nhuận khác nhau Đó là lợi nhuận thuần công bố, lợi nhuận trong trường hợp công ty dùng các phương pháp kế toán thông thường, không làm thao túng các số liệu kế toán Còn phương pháp thứ
3 thì khó theo dõi hơn Các số liệu được tổng hợp từ các khoản kế toán bị thao túng, bằng cách lấy kết quả có thể công bố trong kì sau không bị thao túng số liệu Kết quả kế toán bị thao túng được xác định dựa trên mô hình so sánh với những công ty tương tự trong ngành McNichols (2000) và Randal, al (2003) cho rằng giữa các công ty trong cùng nhóm ngành thì phải có cùng mức độ quản trị lợi nhuận Do đó, bất kỳ sai lệch nào so với giá trị trung bình của của các công ty trong nhóm ngành thì được cho là kết quả của việc thao túng số liệu kế toán
Từ kết quả nghiên cứu, Subramanyam (1996) khẳng định lợi nhuận ròng có liên quan mật thiết đến giá trị thị trường của công ty Lập luận này ủng hộ các phương pháp kế toán được chấp nhận hiện nay,bởi vì kết quả lợi nhuận công bố phản ánh giá trị doanh nghiệp tốt hơn nhiều so với kết quả kinh doanh từ phương pháp kế toán tiền giản đơn
Chỉ tiêu lợi nhuận ròng là phương pháp đo lường hoạt động của công
ty, chỉ tiêu này phù hợp hơn với kết quả hoạt động được đánh giá bởi các thị trường tài chính, nếu như các số liệu kế toán tuân thủ nghiêm ngặt các quy định và nguyên tắc kế toán Subramanyam đã chứng minh được rằng, giá trị
kế toán bị thao túng có liên quan mật thiết đến giá trị thị trường của công ty Cùng với quan điểm này, Janin (2000) đã đạt được các kết quả tương tự trong khi tiến hành nghiên cứu các mẫu của các công ty Pháp
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 36Subramanyam và Janin (2000) đều giả định rằng kết quả bị thao túng phản ánh những giá trị tiềm tàng của công ty tốt hơn là số liệu không bị điều chỉnh Tuy nhiên, các tác giả đều không chỉ rõ liệu các nhà đầu tư có sử dụng hiệu quả những tín hiệu này từ nhà quản lý hay liệu họ có nhận thức được những thao túng thông tin này hay không
Khác với nhóm nghiên cứu trên, các nghiên cứu khác nhận diện thái độ của các nhà đầu tư đối với việc điều chỉnh số liệu kế toán Dumontier (1999), Dumontier và Raffournier (2002), Burgstahler và Leuz (2004) tập trung vào các mức độ công bố của các thông tin để giải thích phản ứng của nhà đầu tư đối với việc công bố các thông tin mới
Balsam et al (2002) và Xie (2005) đã kiểm tra mẫu của các công ty Mỹđược cho là đã điều chỉnh kết quả kinh doanh, trong mức độ gần với mong đợi của các nhà phân tích tài chính Nghiên cứu của Balsam và cộng sự (2002) nhằm mục đích xác định liệu các thao túng kế toán có mang tính khuyến khích công ty công bố kết quả kinh doanh phù hợp với trông đợi của
họ Để đi đến kết luận, đầu tiên tác giả đã ước tính giá trị kế toán bị thao túng Sau đó, họ kiểm tra xem phản ứng của nhà đầu tư đối với những thông tin được công bố, liệu nhà đầu tư có xem xét đến các khoản điều chỉnh này hay không
Dường như các nhà đầu tư phản ứng với thông tin này như thể các kết quả được công bố không bị thao túng Điều này không làm ngạc nhiên bởi vì tại thời điểm công bố, các BCTC chi tiết thông qua đó chúng ta có thể đánh giá tất cả các thao túng cuối cùng vẫn chưa có Balsam và al (2002) và Burgstahler và al (2004) tập trung vào cách mà các nhà đầu tư phản ứng tại thời điểm công bố các BCTC chi tiết này Họ lưu ý rằng các thao túng làm tăng lợi nhuận công bố thì liên quan một cách có hệ thống với phản ứng tiêu cực của giá cổ phiếu Trong khi đó, đối với những thao túng làm giảm lợi
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 37nhuận công bố, thường gắn với tác động tích cực Dường như sau đó các nhà đầu tư nhận thức được các thao túng một khi họ có các yếu tố cho phép họ phát hiện các các điều chỉnh như vậy
Tương tự như nghiên cứu của Balsam và cộng sự (2002), nghiên cứu của Dumontier và Elleuch (2002) cho thấy rằng các nhà đầu tư phản ứng với kết quả lợi nhuận công bố như thể kết quả không bị thao túng vì họ thiếu các yếu tố cho phép phát hiện các điều chỉnh tại thời điểm đó Dumontier và Elleuch (2002) cũng đã chỉ ra cách các nhà đầu tư phản ứng tại thời điểm công bố BCTC chi tiết Họ ghi nhận mối tương quan tích cực giữa quản trị lợi nhuận và biến động của giá cổ phiếu Điều này cho thấy một mặt các nhà đầu
tư nhận thức được sự điều chỉnh, vì vậy họ phản ứng tương ứng Mặt khác, điều này cho thấy các nhà đầu tư coi các các thao túng trên BCTC là mang tính thông tin vì mức độ biến động và hướng thao túng là cùng dấu các tác giả đi đến khẳng định, quản trị lợi nhuận làm giảm lợi nhuận dẫn đến sự biến động của giá cổ phiếu, trong khi các điều chỉnh tăng không có ảnh hưởng đáng kể Điều này được giải thích như sau, mặc dù nhận thức được các khoản quản trị lợi nhuận của nhà quản lý, các nhà đầu tư cũng không thay đổi đánh giá của họ về của công ty, khi khoản điều chỉnh này làm tăng lợi nhuận công
ty Tuy nhiên, họ tin rằng các khoản lợi nhuận bị điều chỉnh giảm là tín hiệu của việc nhà quản lý có dự đoán tương đối bi quan về tương lai của công ty của họ Điều này dẫn đến giảm giá trị công ty trong mắt nhà đầu tư
Tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu có thể được xem là đánh giá của thị trường và nhà đầu tư về lợi nhuận công bố của công ty
Nghiên cứu của Kim và Verrecchia (1991) cho thấy rằng thông tin bất đối xứng có thể dẫn đến những phản ứng lớn về giá trong quá trình công bố thông tin kế toán Sự cạnh tranh giữa các công ty và mong muốn thu hút tối
đa các đầu tư, bắt buộc các nhà quản lý phải công bố các thông tin kế toán theo ý muốn của họ Do đó, giá trị doanh nghiệp được ước tính thấp hoặc cao
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 38hơn giá trị thực trên thị trường Thêm vào đó, nhà quản lý đưa ra các BCTC, nhà đầu tư dùng thông tin trong BCTC để xác định giá trị của công ty và chủ
sở hữu sẽ dựa trên giá trị này để xác định thù lao cho nhà quản lý Đây là động cơ của hành vi quản trị lợi nhuận [20]
Nhà quản lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận thông qua việc điều chỉnh các khoản dồn tích trong BCTC bởi vì các khoản dồn tích thường rất linh hoạt Các ước tính như thời gian sử dụng của tài sản cố định, khả năng thu hồi nợ hay các khoản dồn tích vào thời điểm lập báo cáo thường là các công cụ truyền thống nhà quản lý thường sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận, khoản điều chỉnh này thường không thể xem xét trực tiếp được
Bằng cách này, nhà quản lý có thể làm tăng lợi nhuận ở thời điểm hiện tại, điều này làm giá cổ phiếu tăng hơn giá trị thực của nó Cuối cùng sẽ dẫn đến tăng tỷ suât sinh lời của cổ phiếu Tuy nhiên, do thực tế là các khoản dồn tích sẽ được điều chỉnh lại ở kì kế toán sau, do đó khả năng ở kì sau, kết quả này sẽ không được duy trì.Tuy nhiên, đối với những công ty hoạt động không hiệu quả mà vẫn thực thi quản trị lợi nhuận, dòng tiền có thể sẽ không đủ để che giấu khoản dồn tích trước đó
1.3 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ MỐI QUAN HỆ CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU
VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN
Trong nghiên cứu tác động của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu, Sayari (2013) đo lường ảnh hưởng của biến dồn tích DA đến tỷ
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 39suất sinh lợi trên cổ phiếu và cũng chỉ ra quy mô công ty (đo lường thông qua tổng tài sản) ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận Biến dồn tích DA được đo lường thông qua mô hình Modiffied Jone (1991) Kết quả nghiên cứu cho thấy, quản trị lợi nhuận có ảnh hưởng đáng kể đến TSSL trên cổ phiếu của các công ty niêm yết tại Tunisa và quy mô công ty khác nhau cũng ảnh hưởng khác nhau đến thì biến dồn tích có thể điều chỉnh DA, những công ty
có quy mô lớn thường có xu hướng quản trị lợi nhuận theo chiều hướng giảm lợi nhuận, tức DA có xu hướng âm, điều này trái ngược với những công ty có quy mô trung bình
Nghiên cứu của Oduma (2015) đưa ra mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến TSSL của cổ phiếu thông qua mô hình gồm các biến độc lập là biến dồn tích có thể điều chỉnh, quy mô doanh nghiệp và tỷ số giá trị thị trường và giá trị sổ sách của công ty Tác giả nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận bằng mô hình Modiffied Jone (1991) và đưa ra kết quả, quản trị lợi nhuận có ảnh hưởng cùng chiều và đáng kể đến TSSL trên cổ phiếu Bên cạnh đó, hai biến còn lại là quy mô công ty và tỷ số giá trị thị trường và giá trị sổ sách cũng có ảnh hưởng tương tự cùng chiều và đáng kể đến TSSL của cổ phiếu
Cotten (2015) chỉ ra rằng có những bằng chứng về việc gia tăng TSSL
có tác động từ quản trị lợi nhuận và tác giả cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận góp phần vào sự bất thường và làm suy yếu hiệu quả của thị trường Tác giả giải thích kết luận trên thông qua mô hình nghiên cứu tác động của biến dồn tích có thể điều chỉnh DA, quy mô vốn chủ sở hữu và tỷ lệ giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường của công ty đến TSSL trên cổ phiếu hằng năm của công ty Trong nghiên cứu này, tác giả giả thích các động cơ và hành vi quản trị lợi nhuận, giải thích các mô hình đo lường biến DA và chọn mô hình Kothari, Leone, and Wasley (2001) là mô hình đolường biến dồn tích DA
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 40Các mô hình nghiên cứu của các tác giả trên chủ yếu đề cập đến biến dồn tích DA, biến quy mô công ty (liên quan đến tổng tài sản) và biến Giá trị
sổ sách và giá trị thị trường để đo lường ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến TSSL của cổ phiếu Khác biệt với những mô hình trên, Nuryaman (2013) đưa
ra mô hình ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu
và xem xét vai trò của biến điều tiết là chất lượng kiểm toán đối với mối quan
hệ trên Bên cạnh biến DA, các biến độc lập khác trong mô hình bao gồm Tỷ suất nợ trên tổng tài sản, quy mô công ty đo lường bằng Doanh thu và chất lượng kiểm toán Tác giả đưa ra kết luận, quản trị lợi nhuận có ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu Kết quả còn chỉ ra, chất lượng kiểm toán ảnh hưởng tích cực đến mối quan hệ này Mối quan hệ ngược chiều càng lớn khi công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán có uy tín (Big 4)
Mô hình tương tự cũng được đưa ra trong nghiên cứu của Birjandi, Mohammad , Mohammad năm 2015 Nghiên cứu này cho thấy có mối quan
hệ thuận chiều đáng kể giữa TSSL trên cổ phiếu và quản trị lợi nhuận, đồng thời cũng cho thấy chất lượng kiểm toán ảnh hưởng tích cực đến mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lời trên cổ phiếu và quản trị lợi nhuận Nghiên cứu của Mohammad và Sarrchah (2015) hay Amadi và Amadi (2014) cũng cho ra kết quả tương tự
1.3.2 Cá ng ên ứu về á n ân tố ản ưởng đến tỷ suất s n lợ trên ổ p ếu
Trong nghiên cứu ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu, biến phụ thuộc được xác định là tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu Ngoài nghiên cứu mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi quản trị lợi nhuận
và tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu thì cũng cần thiết phải nghiên cứu các mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến TSSL trên cổ phiếu để có thể xây
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si