1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

102 655 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Vũ Ngọc Quế
Người hướng dẫn PGS.TS Đỗ Anh Tài
Trường học Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 785,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

-

VŨ NGỌC QUẾ

NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ BHXH BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ ANH TÀI

Thái Nguyên, 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi

sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đã được ghi trong lời cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013

Tác giả luận văn

Vũ Ngọc Quế

Trang 3

Trong quá trình thực hiện luận văn “Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” tôi

đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của những cá nhân và tập thể Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu

Trước hết, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban giám hiệu nhà trường, Phòng QLĐT Sau đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện về tinh thần và vật chất giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học học tập và nghiên cứu

Có được kết quả này tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc đối với PGS TS Đỗ Anh Tài, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Nguyên và những người đã cung cấp những số liệu khách quan giúp tôi đưa ra những phân tích chính xác

Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã chia sẻ những khó khăn và động viên tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013

Tác giả luận văn

Vũ Ngọc Quế

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3

4 Kết cấu của đề tài 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH 4

1.1 Tổng quan về BHXH 4

1.1.1 Khái niệm về BHXH 4

1.1.2 Các dạng BHXH 6

1.2 Những vấn đề cơ bản về quản lý BHXH bắt buộc 7

1.2.1 Chế độ BHXH 9

1.2.2 Tài chính của BHXH 10

1.2.3 Điều kiện thực hiện chế độ BHXH 11

1.2.4 Chức năng của BHXH 13

1.2.5 Vai trò ý nghĩa của BHXH 15

1.3 BHXH trên thế giới 17

1.4 Sự hình thành BHXH tại Việt Nam 19

1.4.1 Quan điểm về BHXH của Đảng và Nhà nước ta 22

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Phương pháp nghiên cứu 31

2.1.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 31

2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin 31

Trang 5

2.1.4 Phương pháp phân tích thông tin 31

2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 31

2.2.1 Tổng hợp lao động và số thu BHXH các năm 31

2.2.2 Tổng hợp cơ cấu tham gia BHXH của các loại hình lao động 32

Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ BHXH BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2008 - 2012 33

3.1 Khái quát về cơ quan BHXH tỉnh Thái Nguyên 33

3.2 Thực trạng công tác quản lý BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 37

3.2.1 Quy trình quản lý thu, nộp BHXH 37

3.2.2 Quản lý đối tượng tham gia BHXH 42

3.2.3 Quản lý tiền lương làm căn cứ đóng BHXH 47

3.2.4 Quản lý phương thức đóng và mức đóng BHXH 49

3.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý thu BHXH 50

3.3 Đánh giá công tác quản lý BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 51

3.3.1 Những kết quả đạt được 51

3.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 57

3.4 Kinh nghiệm quản lý thu BHXH trên địa bàn một số tỉnh ở nước ta 63

3.4.1 Kinh nghiệm quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Sơn La và thành Phố Đà Nẵng 63

3.4.2 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm quản lý thu của các tỉnh bạn cho BHXH tỉnh Thái Nguyên 67

Chương 4: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAOCÔNG TÁC QUẢN LÝ BHXH BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 68

4.1 Định hướng hoàn thiện công tác quản lý BHXH bắt buộc của toàn ngành 68

4.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 72

4.2.1 Mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHXH để tăng thu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 72

Trang 6

của người lao động thay vì theo mức lương cơ bản như hiện nay 75

4.2.3 Các giải pháp thu hồi nợ đọng BHXH 77

4.2.4 Có cơ chế phối kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan BHXH với cơ quan thuế cùng quản lý doanh nghiệp 80

4.2.5 Quy định mức phạt vi phạm pháp luật về BHXH thật nặng để NLĐ và người SDLĐ đều phải chấp hành những quy định về BHXH, vừa tạo được sự răn đe, vừa tạo nên tính chấp hành đối với các đối tượng tham gia BHXH 82

4.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với công tác quản lý BHXH bắt buộc 82

4.3 Các điều kiện thực hiện giải pháp đề xuất 85

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 7

1 BHXH : Bảo hiểm xã hội

Trang 8

Bảng 3.1 Quản lý đối tượng tham gia BHXH giai đoạn năm 2008-2012 44

Bảng 3.2: Tốc độ tăng lao động đóng BHXH giai đoạn 2008 - 2012 tại tỉnh Thái Nguyên 45

Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả rà soát đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2012 46 Bảng 3.4 Tổng hợp quỹ tiền lương đóng BHXH 47

Bảng 3.5 Kết quả thu BHXH tại BHXH tỉnh Thái Nguyên (2008- 2012) 52

Bảng 3.6 Kết quả thu BHXH theo khối loại hình doanh nghiệp 54

Bảng 3.7 Tình hình nợ đọng BHXH từ năm 2008 - 2012 55

Bảng 3.8 Tốc độ tăng giảm liên hoàn tỷ lệ nợ đọng BHXH 55

Bảng 3.9 Lãi phạt chậm đóng BHXH và lãi suất cho vay của Ngân hàng công thương tỉnh Thái Nguyên 60

Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy BHXH tỉnh Thái Nguyên 34

Sơ đồ 3.2 Sơ đồ bộ máy quản lý thu tại BHXH tỉnh Thái Nguyên 38

Sơ đồ 3.3 Quy trình thu BHXH tại tỉnh Thái nguyên 41

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước ta Nó mang trong mình bản chất nhân văn sâu sắc vì cuộc sống an bình, hạnh phúc của con người Trong suốt cuộc đời, mỗi con người sinh ra, lớn lên, trưởng thành bình thường đều trải qua một quá trình lao động để nuôi sống gia đình mình và đóng góp một phần vào sự phát triển chung của xã hội Tham gia BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc qua đời

Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng và Bác Hồ đã đặc biệt quan tâm đến công tác BHXH Chính phủ đã ban hành các sắc lệnh về chính sách BHXH, và sau đó là Điều lệ tạm thời quy định các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước, lực lượng vũ trang Chính sách BHXH ban hành đã kịp thời và phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, đáp ứng nhiệm vụ cách mạng cho từng thời kỳ, đồng thời đảm bảo nguyên tắc hưởng thụ theo cống hiến có tính đến sự ưu đãi cho người lao động cùng đông đảo các tầng lớp nhân dân Qua nhiều lần ban hành, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị xã hội của từng thời kỳ, chính sách BHXH ở nước ta đã đạt được những kết quả to lớn trong việc ổn định đời sống cho hàng triệu người lao động

Cùng với sự đổi mới của đất nước, trong 17 năm qua ngành BHXH Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, tổ chức thực hiện tốt chính sách BHXH, khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của chủ trương đổi mới chính sách BHXH của Đảng và Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với chức năng nhiệm vụ được giao, BHXH Việt Nam luôn hướng vào các mục tiêu chủ yếu sau:

Trang 10

Từng bước mở rộng đối tượng tham gia BHXH, BHYT ở mọi thành phần kinh tế, tiến tới thực hiện mục tiêu BHXH cho mọi người lao động và BHYT toàn dân như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và IX

đã đề ra

Giải quyết đúng chế độ chính sách, chi trả kịp thời đầy đủ các chế độ BHXH cho người lao động; đảm bảo quyền lợi về khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT

Cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quy trình làm việc, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động và nhân dân khi tham gia BHXH, BHYT

Xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy; nâng cao năng lực chỉ đạo và tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là trình độ chuyên môn và ý thức, trách nhiệm phục vụ nhân dân

Nhiệm vụ thu BHXH, BHYT được toàn ngành xác định là đầu vào hết sức quan trọng để hình thành và phát triển quỹ BHXH, BHYT đáp ứng được khả năng chi trả các chế độ BHXH

Trong những năm qua tài chính ngành BHXH Việt Nam đã được đánh giá ổn định, nhưng theo dự báo có thể sẽ mất cân đối trong những năm tiếp theo do xu hướng tuổi thọ của người lao động ngày càng nâng cao, tỷ lệ thu BHXH còn thấp do đó cần những giải pháp để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý BHXH bắt buộc Là người cán bộ trực tiếp thực hiện công tác BHXH, với mong muốn nghiên cứu thực trạng công tác quản lý BHXH bắt buộc trên địa bàn đồng thời đề xuất, đóng góp một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trong thời gian tới, vì vậy tôi

lựa chọn đề tài: "Những giải pháp nâng cao chất lƣợng công tác quản lý BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên" làm luận văn tốt nghiệp

của mình

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác quản lý BHXH bắt buộc trên địa bàn đồng thời đề xuất, đóng góp một số kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý BHXH bắt buộc của ngành BHXH nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, đáp ứng mục tiêu an sinh xã hội do Đảng và Nhà nước đặt ra

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Thái Nguyên

* Phạm vi nghiên cứu: BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2012, tuy nhiên không bao gồm: Bảo hiểm y tế; Bảo hiểm thất nghiệp; Bảo hiểm xã hội tự nguyện; Bảo hiểm xã hội trong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang

4 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm có 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về BHXH;

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;

Chương 3: Thực trạng quản lý BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; Chương 4: Những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao công tác quản lý BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Trang 12

đề xã hội hiện tại mà còn phải giải quyết hàng loạt vấn đề mà xã hội cũ để lại cũng như giải quyết những vấn đề của tương lai Công cụ điều chỉnh các vấn

đề xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng, đó chính là những chính sách xã hội

Chính sách xã hội được biểu hiện là công cụ của Nhà nước được thể chế hoá nhằm tác động vào mối quan hệ xã hội, thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng xã hội, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người Để giải quyết các vấn đề xã hội cần phải đề ra các chính sách xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI năm (1986) đã đặt đúng vị trí và tầm quan trọng của vấn đề chính sách xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Nghị quyết nêu rõ: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc Coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”

Chính sách xã hội luôn gắn với hệ thống chính trị- xã hội Mỗi chế độ chính trị đều phát triển những chính sách xã hội phù hợp với điều kiện lịch sử của mình Ở nước ta hiện nay, chủ thể đặt ra các chính sách xã hội là Đảng

Trang 13

Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với sự tham gia tư vấn của các tổ chức chính trị- xã hội, như: Mặt trận Tổ quốc, Tổng Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Liên hiệp các hội Khoa học- kỹ thuật, đại biểu cho giới trí thức, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Liên hiệp Thanh niên Chính sách xã hội bao quát nhiều lĩnh vực hoạt động rộng lớn của xã hội, những lĩnh vực hoạt động đó lại liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội

Thời kỳ đổi mới với những kết quả quan trọng trên mặt trận kinh tế đã tạo tiền đề vững chắc cho những đổi mới tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng nhằm đảm bảo chỗ dựa tinh thần và vật chất cho người lao động trước những rủi ro ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nghỉ hưu BHXH đã nhanh chóng trở thành lĩnh vực quan trọng hàng đầu của hệ thống an sinh xã hội ở nước ta Hiến pháp năm 1992 đã xác định: “Nhà nước thực hiện chế độ đối với nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động” Đại hội VIII của Đảng cũng đã chỉ định rõ: “Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế”

Trong cuộc sống, con người luôn có những nhu cầu cơ bản nhất như:

ăn, mặc, ở, đi lại, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí Để thoả mãn những nhu cầu này, con người phải lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất Trong quá trình đó con người không tránh khỏi quy luật “Sinh, lão, bệnh, tử” Trong đời sống thực tế, xảy ra nhiều trường hợp như: ốm đau, tai nạn, tuổi già Điều này làm suy giảm khả năng lao động, dẫn đến tình trạng thu nhập thấp Do vậy cần có chính sách thích hợp, làm sao vẫn đảm bảo được thu nhập để thoả mãn được nhu cầu cần thiết của cuộc sống khi có rủi ro xảy ra Các nhà nghiên cứu chính sách xã hội gọi đó là nhu cầu BHXH Vậy, BHXH là gì:

Theo từ điển bách khoa Việt Nam, BHXH là “Sự đảm bảo thay thế hoặc

bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khả năng

Trang 14

lao động hoặc bị mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của gia đình họ, đồng thời đảm bảo an toàn xã hội”

BHXH được hiểu theo các góc độ khác nhau:

+ Dưới góc độ kinh tế

BHXH được hiểu đó là sự phân phối quỹ BHXH tập trung được đóng góp của các bên tham gia BHXH nhằm đảm bảo thu nhập ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi mất hoặc giảm sút sức lao động do tuổi già, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp hoặc chết

Từ khái niệm trên ta thấy BHXH là nhu cầu cần thiết khách quan của con người và vì thế BHXH là một bộ phận rất quan trọng trong chính sách xã hội của mỗi quốc gia

1.1.2 Các dạng BHXH

Ở nước ta đang hình thành hai loại hình BHXH và bảo hiểm thương mại, cần phân biệt sự giống và khác nhau giữa hai loại hình BHXH và bảo hiểm thương mại

Như ta đã nêu ở trên: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm vì ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hưu trí hoặc chết, thông qua việc sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên

Trang 15

tham gia BHXH nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội

Bảo hiểm thương mại là sự bảo đảm bù đắp những tổn thất hoặc thiệt hại do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra về tài sản (nhà xưởng, hàng hóa, công trình xây dựng, phương tiện vận tải ) về sức khỏe và tính mạng con người,

về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm quản lý trên cơ sở đóng góp phần bảo đảm cho quá trình tái sản xuất diễn ra bình thường và đời sống của mọi thành viên trong xã hội ổn định

BHXH giống bảo hiểm thương mại ở mục đích cuối cùng là góp phần đảm bảo cho tái sản xuất xã hội diễn ra bình thường, đời sống các thành viên trong xã hội an toàn và ổn định nhưng khác nhau ở đối tượng tác động, tính chất và phương thức hoạt động Tính chất kinh doanh trong phương thức hoạt động của bảo hiểm thương mại thể hiện rất rõ, lãi suất được tính vào cơ cấu chi phí toàn phần của mỗi nghiệp vụ bảo hiểm cụ thể Ngoài ra, bảo hiểm thương mại còn có thể tham gia tái bảo hiểm với các công ty bảo hiểm của các nước trên thế giới để nâng cao hiệu quả hoạt động Về quan hệ bảo hiểm, chỉ phát sinh và tồn tại trong một khoảng thời gian xác định kể từ khi người tham gia mua phí hoặc hợp đồng bảo hiểm Thời hạn này thường là một năm hay một chu kỳ hoạt động Trong khi đó, BHXH không được tính lãi trong cơ cấu chi phí toàn phần đối với những người tham gia và chỉ sử dụng phần nhàn rỗi tương đối của quỹ bổ sung nhằm tăng thêm cho phần chi trả trợ cấp của chế độ BHXH Quan hệ BHXH là quan hệ lâu dài, tương đối ổn định và chủ yếu là bắt buộc dựa trên quan hệ lao động và quan hệ phân phối Quỹ tài chính của loại hình BHXH được tồn tích và sử dụng liên tục qua các thế hệ dưới sự bảo trợ chặt chẽ của Nhà nước

1.2 Những vấn đề cơ bản về quản lý BHXH bắt buộc

Như đã nêu, BHXH ra đời và phát triển trong nền kinh tế hàng hoá, đầu tiên là hình thức tự bảo hiểm của những người lao động, sau đó có sự tham

Trang 16

gia của giới chủ và Nhà nước BHXH thường do một cơ quan trung gian đảm nhận có nhiệm vụ quản lý quỹ do các bên tham gia đóng góp và chi trả các trợ cấp cho đối tượng khi có nhu cầu phát sinh Vì vậy, có thể tóm tắt những đặc trưng cơ bản của BHXH là:

- Là loại bảo hiểm cho người lao động trong và sau quá trình lao động;

- Các rủi ro của người lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm già yếu (mất sức lao động), chết làm người lao động bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập Họ không có nguồn thu nhập khác

bù vào để ổn định cuộc sống Đây là một đặc trưng cơ bản của BHXH

Quỹ BHXH được hình thành do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, nhà nước hỗ trợ và nguồn khác Số tiền mà các bên đóng góp được tập trung vào một quỹ riêng không nằm trong ngân sách Nhà nước do tổ chức BHXH Việt Nam thống nhất quản lý để chi trả các chế độ trợ cấp và hoạt động quản lý BHXH

BHXH đảm bảo cho người lao động khi gặp rủi ro liên quan đến các vấn đề như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu Người tham gia BHXH được trợ cấp một khoản tiền nhằm bù đắp nguồn thu nhập bị giảm hoặc mất để ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình Quyền được hưởng trợ cấp phụ thuộc vào nghĩa vụ đóng góp, mức đóng góp và mức hưởng BHXH đều có liên quan đến thu nhập của người được BHXH

Các hoạt động của BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước bảo hộ cho các hoạt động BHXH bằng cách định ra chính sách quốc gia về BHXH; quy định quyền hạn trách nhiệm các bên tham gia BHXH cho phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước

BHXH được áp dụng rộng rãi và thống nhất trong cả nước đối với các đối tượng là cán bộ công nhân viên chức, người lao động trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có sử dụng lao động hợp đồng 3 tháng trở lên

Trang 17

1.2.1 Chế độ BHXH

Các chế độ BHXH từ xưa đến nay, ở tất cả các nước trên thế giới, đều có mục đích chung là giúp đỡ những người tham gia BHXH giải quyết những khó khăn về vật chất tạm thời, và ổn định cuộc sống lâu dài khi đã hết tuổi lao động

Ở nước ta cũng vậy, chế độ BHXH đã được đề ra, bổ sung và phát triển trong một thời gian dài: được thực hiện ở Việt Nam từ năm 1945 và đã trải qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi đặc biệt trong các năm 1961, 1985, 1995 và

2006 Năm 1961, một Nghị định của Chính phủ được ban hành để cung cấp các dịch vụ phúc lợi xã hội cho tất cả các cán bộ, viên chức làm việc trong ngành nội chính, giáo dục, y tế, các doanh nghiệp Nhà nước, nội vụ Hệ thống này chỉ chịu trách nhiệm bảo hiểm cho khoảng 600.000 - 700.000 người trên tổng số dân là 17 triệu người của miền Bắc Việt Nam (theo số liệu năm 1962) Năm 1964, Nghị định 218/CP thực hiện BHXH cho quân nhân Từ năm 1975, chính sách BHXH được thực hiện thống nhất trong cả nước Chế độ BHXH bao gồm: trợ cấp hưu trí, mất sức lao động và tử tuất, cùng với các chế độ ốm đau, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp do cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp đóng góp Trước năm 1995, BHXH do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm quản lý thực hiện về các chế độ trợ cấp dài hạn (hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người nghỉ việc), Tổng Liên đoàn Lao động chịu trách nhiệm quản lý thực hiện các khoản chi trả trợ cấp ngắn hạn (trợ cấp đau ốm, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người đang làm việc)

Từ tháng 01/1995, Bộ Luật Lao động có hiệu lực, trong đó có chương XII về BHXH Để hướng dẫn thực hiện Bộ Luật Lao động, ngày 16/02/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP của Chính phủ thành lập hệ thống BHXH Việt Nam để giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách về BHXH, BHYT và quản lý quỹ BHXH Ngày 26/01/1995, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 12/CP về điều lệ BHXH đối với

Trang 18

dân sự với 5 chế độ BHXH: chế độ trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ trợ cấp tử tuất

Và ngày 15/07/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 45 quy định về BHXH đối với quân sự (quân đội, công an) Trong 2 nghị định của Chính phủ

có quy định về hình thành quỹ BHXH trên cơ sở thu BHXH bao gồm người

sử dụng lao động đóng 15% quỹ tiền lương và người lao động đóng 5% tiền lương hàng tháng Quỹ này được sử dụng để chi cho 5 chế độ trên Quỹ BHXH được bảo tồn, tăng trưởng và được Nhà nước bảo hộ

Từ tháng 01 năm 2007, chế độ chính sách BHXH được hoàn thiện và

có tính pháp lý cao, đó là Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với 6 chế độ BHXH: chế độ trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí; chế độ trợ cấp tử tuất và chế độ bảo hiểm thất nghiệp (riêng chế độ bảo hiểm thất nghiệp thực hiện từ tháng 01 năm 2009) Theo quy định hiện hành thì người sử dụng lao động đóng góp 17% tổng quỹ lương cấp bậc chức vụ và các phụ cấp khác (nếu có) người lao động đóng góp 6% tiền lương của bản thân, Nhà nước bảo trợ một phần để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH với người lao động

1.2.2 Tài chính của BHXH

Lợi ích thiết thực của người tham gia bảo hiểm (dù theo loại hình bảo

hiểm bắt buộc hay tự nguyện) là được cơ quan BHXH trợ cấp kịp thời, nhằm

bù đắp một phần thu nhập bị giảm sút hoặc mất đi do gặp rủi ro Do vậy, nhiệm vụ của cơ quan BHXH là phải có nguồn tài chính để sẵn sàng đáp ứng kịp thời nhu cầu của mọi người được bảo hiểm

Nguồn tài chính của BHXH còn phải để trang trải các chi phí quản lý

bộ máy từ trung ương đến địa phương Nguồn tài chính đó cần phải vững chắc và đều đặn Các ngành kinh tế xã hội phải phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của cơ quan BHXH, phải luôn đảm bảo có một lượng dự trữ

Trang 19

có thể ứng phó những tình huống đột xuất, như dịch bệnh lan tràn, số người thôi việc có nhu cầu lĩnh trợ cấp một lần, hoặc có số người về hưu sớm Nguồn tài chính của BHXH được hình thành từ ba nguồn chính, đó là mức đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước Ở Việt Nam trước khi có Nghị định số 19/CP thì phần thu của BHXH chủ yếu là do Ngân sách Nhà nước cấp, sau khi có Nghị định số 19/CP của Chính phủ và Nghị số 100/2002/NĐ-CP thì nguồn tài chính của BHXH tách dần khỏi ngân sách Nhà nước thu từ người sử dụng lao động, người lao động được hỗ trợ của Chính phủ

Quỹ BHXH được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của nhà nước, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ Quỹ BHXH được thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng theo quy định của Chính phủ

1.2.3 Điều kiện thực hiện chế độ BHXH

Các điều kiện cơ bản để thực hiện và mở rộng chính sách BHXH cho

người lao động trong các thành phần kinh tế là:

- Điều kiện kinh tế

Kinh tế phát triển là điều kiện tiên quyết và trực tiếp để mọi người lao động có thể tham gia BHXH Bởi vì, muốn tham gia BHXH thì phải có khả năng đóng góp vào quỹ BHXH Đây là yếu tố đòi hỏi người lao động trực tiếp hoặc gián tiếp sản xuất phải có thu nhập không chỉ đủ bù đắp chi phí sản xuất, trang trải chi tiêu cho cuộc sống mà còn phải có tích luỹ một phần để tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, nhằm đảm bảo cho cuộc sống của họ trong tương lai khi hết tuổi lao động hoặc lúc ốm đau Nguyện vọng và nhu cầu này của người lao động chỉ có thể đạt được khi làm ăn có hiệu quả, có tích luỹ Như vậy, để mở rộng được BHXH trong tương lai phải chú ý những yếu tố sau:

Một là: Việc hoạch định chính sách BHXH cho các thành phần kinh tế

phải dựa trên cơ sở thu nhập thực tế đảm bảo mức sống chung của người lao động theo hướng được nâng cao Theo kinh nghiệm của các nước, BHXH của

Trang 20

một quốc gia muốn phát triển được thì GDP bình quân đầu người phải đạt khoảng 1.000USD/năm trở lên Trong điều kiện này khả năng mở rộng BHXH cho người lao động sẽ tỷ lệ thuận với mức tăng trưởng của GDP bình quân đầu người Ở Việt Nam qua nghiên cứu cho thấy: Để người lao động có thể tham gia BHXH, người lao động phải có thu nhập ổn định bình quân ở mức 1.500.000 đồng/tháng trở lên

Hai là: Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ phải có lãi sau

khi đã trừ chi phí để tái sản xuất và tham gia các khoản đóng góp với Nhà nước trong đó có BHXH

Ở Việt Nam, trong những năm qua mức thu nhập và chi tiêu của các hộ dân cư ở các vùng miền từ thành thị đến nông thôn đều tăng so với thời kỳ đầu những năm 90 của Thế kỷ XX Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 3,1 lần, khu vực thành thị tăng 5 lần và khu vực nông thôn tăng 2,7 lần so với năm 1993 Đây là yếu tố quan trọng để có thể vận động người dân tham gia

- Điều kiện pháp lý:

Đây là điều kiện liên quan đến việc ban hành và quản lý Nhà nước đối với BHXH là tạo ra hành lang pháp lý, chính sách cho BHXH Đây cũng là yếu tố quan trọng then chốt, giúp cho hệ thống BHXH có được cơ sở vững chắc để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và phục vụ tốt hơn cho người lao động Ở đây, các nội dung BHXH cần được thể chế hoá trong pháp luật BHXH và trong các ngành luật có liên quan

Ngoài ra, phải tiếp tục thể chế hoá chính sách và pháp luật về BHXH cho phù hợp với từng loại đối tượng tham gia BHXH, đảm bảo cơ chế quản lý BHXH phải rõ ràng, thông thoáng, đúng luật và tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia bảo hiểm, có như vậy, mới thu hút được đông đảo đối tượng tham gia và thực hiện BHXH

Trang 21

Đồng thời, Nhà nước phải có cơ chế định hướng đầu tư đảm bảo an toàn và tăng trưởng quỹ, bảo tồn được vốn có lãi Vấn đề bảo tồn và tăng trưởng quỹ BHXH là nhiệm vụ quan trọng của ngành BHXH Do vậy, Nhà nước phải có chính sách ưu tiên cho việc đầu tư của quỹ BHXH

- Điều kiện về tổ chức thực hiện

Một trong những điều kiện quan trọng quyết định, đến việc mở rộng chính sách BHXH là khả năng tổ chức thực hiện chính sách BHXH của cơ quan BHXH và Nhà nước Điều kiện này thể hiện ở các nội dung sau:

Một là, việc tổ chức thực hiện chính sách BHXH cho người lao động trong mọi thành phần kinh tế phải có bước đi thích hợp; trước tiên phải tổ chức thực hiện thật tốt loại hình BHXH bắt buộc và thực hiện thử nghiệm sẽ rút kinh nghiệm để loại hình BHXH tự nguyện, đặc biệt là BHXH đối với nông dân Sau đó tiến hành trên diện rộng

Hai là, việc tổ chức bộ máy thực hiện sự nghiệp BHXH cho các thành phần kinh tế phải đảm bảo tính hệ thống, tập trung; trình độ cán bộ phải được nâng cao ngang tầm với yêu cầu của xã hội và phải được Nhà nước, Chính phủ kiểm tra, giám sát quỹ BHXH

1.2.4 Chức năng của BHXH

BHXH không những có tính kinh tế mà còn có tính xã hội rất cao Vì

vậy, về tổng quát BHXH có những chức năng sau:

Chức năng đảm bảo thay thế hoặc bù đắp thiếu hụt thu nhập của người lao động và gia đình họ Đây là chức năng cơ bản thực hiện rõ bản chất kinh

tế và bản chất xã hội của BHXH

Chức năng phân phối lại thu nhập: Chức năng này thực hiện khi người lao động tham gia BHXH thực hiện việc san sẻ rủi ro với cộng đồng theo thời gian BHXH; thực hiện phân phối lại theo chiều ngang giữa các nhóm người,

giữa các thế hệ tham gia BHXH và thực hiện nguyên tắc: "Lấy của số đông bù

Trang 22

cho số ít” góp phần tạo ra tinh thần tương trợ giúp đỡ giữa các nhóm người

lao động

Người lao động hàng tháng chỉ phải trích một tỷ lệ nhỏ từ thu nhập của mình đóng góp cho quỹ BHXH, nhưng với số đông người tham gia sẽ có một số tiền đủ lớn, đủ trang trải cho những người không may mắn rủi ro Nhờ đó mà BHXH đã tạo ra sự đoàn kết tương trợ và gắn kết lợi ích của các bên tham gia

BHXH là một chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia, vì nó liên quan đến đời sống của đông đảo người lao động Vì vậy, quản lý BHXH là nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động của hệ thống BHXH Quản lý BHXH có hai bộ phận, đó là quản lý Nhà nước về BHXH và quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH

Quản lý Nhà nước về BHXH xuất phát từ chức năng xã hội của Nhà nước Việc quản lý này thực hiện trên các nội dung sau:

- Quản lý toàn bộ hệ thống BHXH trên phạm vi quốc gia: thực hiện hoạch định các chính sách vĩ mô về BHXH: xây dựng và ban hành các chế định về chế độ BHXH phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể

- Xây dựng luật BHXH, ban hành các văn bản pháp qui và văn bản dưới luật để thực hiện pháp luật về BHXH thống nhất trong phạm vi cả nước

- Định hướng các hoạt động BHXH: xem xét và quy định hình thành các loại hình BHXH hợp lý

- Thực hiện việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sự nghiệp BHXH: xử lý các vi phạm, các tranh chấp xảy ra về BHXH

Để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về BHXH, đòi hỏi phải có

bộ máy quản lý Ở nước ta hiện nay quản lý về BHXH được giao cho Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội Giúp cho việc quản lý hệ thống BHXH có Hội đồng quản lý Trong Hội đồng quản lý có các đại diện của Nhà nước, đại diện của người lao động, người sử dụng lao động và đại diện lãnh đạo cơ quan

Trang 23

BHXH Cụ thể, Hội đồng quản lý BHXH bao gồm đại diện Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam tham gia Hội đồng quản lý với tư cách là uỷ viên

1.2.5 Vai trò ý nghĩa của BHXH

BHXH ra đời là một yêu cầu tất yếu khách quan, nó góp phần hoàn

thiện hệ thống công cụ quản lý xã hội ở nước ta; nó bảo đảm đầy đủ quyền lợi nghĩa vụ của mỗi công dân đối với đất nước và đối với bản thân mình, thực hiện “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”

Trình độ phát triển của BHXH được quyết định bởi mức độ phát triển của nền kinh tế Nền kinh tế càng phát triển thì điều kiện cho việc thực hiện BHXH càng cao Ngược lại hoạt động của BHXH kém hiệu quả sẽ gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế

Như vậy, BHXH là một trong những chính sách trụ cột, quan trọng không thể thiếu của mỗi quốc gia nhằm bình ổn đời sống kinh tế, xã hội và góp phần làm vững chắc thể chế chính trị

- BHXH đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế

Từ lâu, loài người đã ý thức rõ rằng, phát triển là một quá trình, trong đó các nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau BHXH sẽ có những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế thông qua việc đảm bảo và cải thiện đời sống người lao động, BHXH chính là cách: đầu tư trực tiếp cho nguồn nhân lực, yếu tố cơ bản và quyết định mọi quá trình phát triển

Mối quan hệ giữa nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội, giữa lao động và sinh hoạt, giữa sản xuất và tiêu dùng là mối quan hệ biện chứng Việc nâng đời sống vật chất của mỗi cá nhân là mục tiêu quan trọng của sự phát triển kinh tế Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện các mục tiêu xã hội Ngược lại, thực hiện tốt chính sách xã hội sẽ có tác dụng điều hoà

Trang 24

các mối quan hệ xã hội, tạo đà cho phát triển kinh tế Vì vậy, nếu Nhà nước

có chính sách hợp lý, tiến bộ, sẽ tạo ra động lực phát triển kinh tế

- BHXH thực hiện tình đoàn kết cộng đồng tạo sự giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường tính tương thân tương ái

BHXH có tính bắt buộc về nguyên tắc, song vẫn đảm bảo tính tự nguyện về lợi ích Hàng tháng, người lao động chỉ phải trích nộp một tỷ lệ nhỏ từ thu nhập đóng quỹ BHXH, nhưng với số lượng lớn người tham gia sẽ

có một khoản tiền lớn đủ trang trải cho những người bị rủi ro cho họ Nhờ vậy, BHXH đã tạo ra sự đoàn kết, tương trợ và gắn kết lợi ích của các bên tham gia Việc người lao động đóng BHXH có ý nghĩa về mặt tâm lý đáng kể, một mặt xoá bỏ những nhận thức sai lệch về BHXH, coi BHXH là một sự ban

ơn, bao cấp mặt khác nhắc nhở ý thức trách nhiệm của người tham gia

Ý nghĩa quan trọng nhất của BHXH là ở chỗ người may mắn đóng BHXH để trợ giúp cho những người rủi ro Vì vậy, việc người lao động phải đóng BHXH có tầm quan trọng trong việc củng cố tình đoàn kết cộng đồng

Ở nước ta hiện nay, đối tượng được BHXH chỉ mới là cán bộ công nhân viên chức Nhà nước, lực lượng vũ trang, những người lao động trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có sử dụng lao động Trong khi đó những người lao động tự do, làm việc theo mùa vụ, những người sản xuất nông nghiệp chưa được BHXH Đây lại là lực lượng lao động chiếm một tỷ lệ cao hơn 80% dân số Mặc dù một số năm qua, phạm vi đối tượng BHXH đã được

mở rộng, nhưng mới chỉ thực hiện bảo hiểm được khoảng 15% tổng số lao động Đây quả là một con số còn khiêm tốn Chỉ khi, BHXH được áp dụng cho mọi người kinh doanh, mọi người lao động thì ý nghĩa đoàn kết mới được phát huy triệt để, sâu rộng

Tóm lại, sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng xã hội là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội, góp phần hoàn thiện những giá trị nhân bản, đảm bảo cho sự phát triển xã hội một cách lành mạnh

Trang 25

Đến giai đoạn có phân công lao động, sản xuất phát triển thì quan hệ tác động lẫn nhau giữa cá nhân, giữa các cộng đồng được mở rộng Tôn giáo phát triển, hội nhà chùa, hội nhà thờ được hình thành Sự trợ giúp này mang mục đích từ thiện, nhằm giúp đỡ các tín đồ, đạo hữu khi gặp các nghịch cảnh rủi ro nghèo đói, mồ côi, bệnh tật Những hoạt động nhân ái của người lao động đã thức tỉnh thêm "tính bản thiện" trong các nhà cầm quyền và cũng để ngăn chặn rối loạn xã hội có thể nảy sinh làm ảnh hưởng đến địa vị thống trị Không ít nhà cầm quyền đã tham gia hoạt động từ thiện, trích công quỹ để tế bần, phát chẩn cho những người túng đói Nhiều ông Vua, bà Chúa coi việc hỗ trợ các gia đình nhằm giảm thiểu nghèo đói không chỉ là nghĩa vụ nhân đạo mà còn là một trong những nguyên tắc quan trọng để yên dân, thịnh nước

Đến giai đoạn công nghiệp phát triển, chủ nghĩa tư bản ra đời, hàng loạt người lao động nông thôn chuyển ra thành thị tìm việc làm và sinh sống Số người làm công ăn lương tăng mạnh Trong khoảng từ thế kỷ 16 đến thế kỷ

18, một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, tình đoàn kết tương thân, tương ái giữa những người làm thuê được phát triển và lan rộng ở nhiều nơi Ở một số nước Châu Âu nhiều quỹ tương trợ được thành lập Ví dụ, Anh năm 1973 có hội “Bằng hữu” Hội này đã giúp hội viên trong các trường hợp ốm đau, thương tật Đặc biệt đến giai đoạn cách mạng công nghiệp, giai cấp công nhân công nghiệp ngày càng đông bao gồm những người lao động thành thị, lao động nông thôn, làm công ăn lương Họ lấy tiền lương làm nguồn sống chủ yếu Nếu ốm đau, tai nạn, sinh con phải nghỉ việc và không có lương cuộc

Trang 26

sống lập tức bị đe dọa Hơn nữa những rủi ro, tai biến thường xuyên uy hiếp những người làm công ăn lương như các tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp hoặc gánh nặng gia đình khi có người là lao động chính chết đi

Để giảm thiểu những khó khăn cho người làm công ăn lương, nhiều hình thức trợ giúp xã hội đã nối tiếp nhau ra đời Bên cạnh những khoản tiền khiêm tốn của các hội tương tế còn có những quỹ tiết kiệm được nhà nước thành lập với

sự đóng góp của người sử dụng lao động nhằm chu cấp cho người lao động thuộc quyền quản lý khi họ bị ốm đau hoặc tai nạn lao động

Trong quá trình phát triển công nghiệp, giai cấp công nhân ngày càng đông đảo, nhiều Chính Phủ của các nước nhất là các nước công nghiệp, đã bắt đầu đề ra và thực hiện mội số chính sách, chế độ nhằm ổn định xã hội, giúp

đỡ thích hợp cho người lao động yên tâm lao động sản xuất Điển hình, năm

1850 dưới thời Thủ tướng nước Đức: ông Bis- Mác, nhiều bang của nước này

đã giúp các địa phương lập quỹ bảo hiểm ốm đau Công nhân đóng tiền để được bảo hiểm Nguyên tắc bảo hiểm bắt buộc bắt nguồn từ đây và người được bảo hiểm phải tham gia đóng bảo hiểm Năm 1883, chế độ ốm đau được phổ cập trong toàn nước Đức do các hội tương tác của công nhân quản lý Năm 1884 xuất hiện tiếp bảo hiểm các rủi ro nghề nghiệp (tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp) do các hiệp hội chủ doanh nghiệp quản lý Năm 1889 xuất hiện chế độ bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật do chính quyền các tỉnh quản lý

Thế là trong khoảng thời gian từ năm 1883 đến năm 1889 một hệ thống BHXH đầu tiên đã ra đời với sự tham gia của người làm công ăn lương, theo nguyên tắc người được bảo hiểm phải đóng phí BHXH và ba thành viên là

người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước đều có vị trí trong việc

quản lý hệ thống Từ đó, rất nhiều nước đã sử dụng cơ chế này trong hệ thống BHXH của nước mình

Trang 27

Sáng kiến về BHXH của chính quyền Bis - Mác được nhiều nước Châu

Âu tiếp nhận Từ thập kỷ 80 của thế kỷ XIX, liên tiếp các nước Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ, Canađa đều áp dụng chế độ BHXH Từ sau đại chiến Thế giới thứ 2

và sau khi giành được độc lập, nhiều nước Châu Phi, Châu á và vùng Caribê lần lượt áp dụng chế độ BHXH ở nước mình Tuy vậy, cần nhấn mạnh rằng các nước áp dụng chế độ BHXH chủ yếu là áp dụng hình thức BHXH đặc trưng có sự đóng góp phí BHXH của người được bảo hiểm Còn về các chế

độ trợ cấp thì mỗi nước tùy theo đặc điểm kinh tế - xã hội và truyền thống của nước mình mà thêm bớt, không rập khuôn máy móc Nội dung cụ thể của từng chế độ trợ cấp cũng không đồng nhất trong cả nước Chế độ trợ cấp thất nghiệp đã có ở Nauy, Đan Mạch từ năm 1990, ở Anh 1991 và đến nay vẫn

có một số nước chưa triển khai thực hiện BHXH Trên cơ sở các cơ chế đa dạng bảo vệ người lao động, giảm thiểu những rủi ro mà họ gặp phải, Hội nghị toàn thế giới của Tổ chức Lao động Thế Giới (ILO) đã thông qua công ước 102 (1952) về an toàn xã hội (quy phạm tối thiểu) trong đó BHXH là một

bộ phận chủ yếu

1.4 Sự hình thành BHXH tại Việt Nam

Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, Đảng

và Bác Hồ đã có tư tưởng và chỉ đạo Chính phủ ta ban hành nhiều văn bản về BHXH: Sắc lệnh 54/SL ngày 04/11/1945 ấn định những điều kiện cho công chức về hưu, Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 ấn định việc cấp hưu bổng của công chức Hai Sắc lệnh này đã quy định công chức phải đóng hưu hiểm và quỹ hưu bổng có phần đóng góp thêm của Nhà nước Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 ấn định cụ thể hơn các chế độ trợ cấp hưu trí, thai sản tai nạn lao động, tử tuất đối với công nhân

Ngày 21/11/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước kèm theo Nghị định 218/CP Các chế độ BHXH bao gồm 6 loại trợ cấp: ốm đau, thai sản, tai nạn

Trang 28

lao động - bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất được xác định Đáng chú ý là đến lúc này quỹ BHXH được chính thức thành lập là quỹ độc lập thuộc ngân sách Nhà nước, các cơ quan doanh nghiệp Nhà nước chỉ nộp bằng tỷ lệ theo phần trăm quy định so với tổng quỹ lương của công nhân, viên chức Còn công nhân, viên chức thì không phải đóng phí BHXH Điều lệ tạm thời này được thực hiện trong một thời gian gần 32 năm

Trải qua hai cuộc kháng chiến thắng lợi, đất nước thống nhất và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, với cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, chính sách BHXH được Đảng và Nhà nước quan tâm, tuy nhiên, các chế độ chính sách chỉ dừng lại ở khu vực trong biên chế nhà nước Điểm mới ở giai đoạn này là đã có thêm quy chế BHXH đối với khu vực tiểu thủ công nghiệp, Liên hiệp xã trung ương, Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với xã viên Hợp tác xã và các tổ hợp sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã được ban hành (theo Quyết định 292/BCH-LĐ ngày 15/2/1982) Về cơ bản, Điều lệ này phỏng theo mô hình các chế độ BHXH trong khu vực Nhà nước, tuy có tính đến một số đặc điểm của ngành tiểu thủ công nghiệp Điểm khác quan trọng

là nguồn thu dựa trên cơ sở tiền đóng góp của người lao động, nhưng do sản xuất của tiểu thủ công nghiệp không ổn định nên người lao động đóng góp không thường xuyên, quỹ BHXH không có sự bảo hộ của Nhà nước Vì vậy Điều lệ chỉ thực thực hiện trong một thời gian, đến năm 1989 phải chấm dứt

Ở giai đoạn này, trong khu vực nông nghiệp, tuy chưa có BHXH chính thức nhưng do nhu cầu cuộc sống, một số nơi đã tự phát lập ra chế độ bảo hiểm tuổi già trong phạm vi làng, xã Quỹ bảo hiểm tuổi già được hình thành chủ yếu bằng số thóc nộp của những người tham gia Trợ cấp tuổi già cũng bằng thóc, cho nên, đây cũng chỉ là hình thức sơ khai có tính chất BHXH tự nguyện

Ngày 22/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP quy định tạm thời chế độ BHXH Nội dung cải cách trước hết nhằm xóa bỏ tư duy bao cấp,

ỷ lại trong lĩnh vực BHXH; mở ra loại hình BHXH bắt buộc và loại hình

Trang 29

BHXH tự nguyện; thực hiện cơ chế đóng góp phí BHXH đối với những người được bảo hiểm Trong loại hình BHXH bắt buộc, người sử dụng lao động cũng phải đóng phí BHXH nhân danh những người lao động được sử dụng; quỹ BHXH được Nhà nước hỗ trợ thêm; quy định lại 5 chế độ trợ cấp: ốm đau, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí và tử tuất Đồng thời thống nhất hóa tổ chức quản lý BHXH trong cả nước; cách tính BHXH dựa vào thời gian tham gia BHXH; điều kiện hưởng trợ cấp lấy tiền lương làm căn cứ Mức hưởng trợ cấp đều được sửa đổi về cơ bản Tuy vậy, đối với loại hình BHXH tự nguyện, chưa có những quy định chi tiết, cụ thể

Hiến pháp năm 1992 đã xác định tiến tới BHXH cho mọi người lao động và Quốc hội khóa IX ngày 23/6/1994 đã thông qua Bộ luật Lao động, trong đó dành một chương về BHXH Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện BHXH thời gian trước, Chính phủ đã có Nghị định 12/CP, ngày 26/1/1995, và Nghị định số 45/CP, ngày 15/7/1995, ban hành Điều lệ BHXH

áp dụng đối với cán bộ, công chức viên chức Nhà nước, người lao động ở các thành phần kinh tế và lực lượng vũ trang Điều lệ BHXH mới có sửa đổi một

số quy định cụ thể, chủ yếu là một số những điều kiện và mức hưởng trợ cấp BHXH so với quy định theo Nghị định 43/CP Điều lệ BHXH mới được ban hành căn cứ vào Bộ luật Lao động đã mở ra một trang mới trong lịch sử phát triển của chính sách BHXH ở nước ta trong nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, hệ thống BHXH Việt Nam (gồm 3 cấp được tổ chức theo hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương) cũng được Chính phủ thành lập trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH thuộc hệ thống lao động, thương binh, xã hội và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam

Chính sách BHXH đã được mở rộng đối với người lao động ở mọi khu vực kinh tế- xã hội như: BHXH đối với cán bộ xã, phường, thị trấn được thực hiện theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ; mở

Trang 30

rộng đến các hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, cá nhân có sử dụng lao động được thực hiện theo Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ

Qua nhiều lần được bổ sung hoàn thiện phù hợp với thực tiễn sự phát triển của đất nước, Luật BHXH số 71/2006/QH11 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 29/6/2006

1.4.1 Quan điểm về BHXH của Đảng và Nhà nước ta

1.4.1.1 Quan điểm về BHXH của Đảng

Ngay từ khi ra đời năm từ 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối cách mạng giải phóng dân tộc tiến tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng con người khỏi áp bức, bất công Chương trình Việt Minh đã đề ra chính sách xã hội cụ thể: "Đối với công nhân, ngày làm việc 8 giờ; định tiền lương tối thiểu; cứu tế thất nghiệp; xã hội bảo hiểm; thủ tiêu các giấy giao kèo

nô lệ; lập các giấy giao kèo giữa chủ và thợ, công nhân già có lương hưu trí " Những định hướng về chính sách xã hội từ buổi đầu sơ khai đã mang đậm ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì"

Tại Đại hội Toàn quốc lần thứ III của Đảng (ngày 10/9/1960), Ban Chấp hành Trung ương đã định ra Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trong đó có một nội dung lớn là: "Cải thiện đời sống vật chất và vǎn hóa của nhân dân thêm một bước, làm cho nhân dân ta được ǎn no, mặc ấm, tǎng thêm sức khoẻ, có thêm nhà ở và được học tập, mở mang sự nghiệp phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị" Hơn nửa thế kỷ, từ khi giành được chính quyền về tay nhân dân và nhất là từ khi hòa bình đựoc lập lại ở miền Bắc, sự nghiệp BHXH đã từng bước được hoàn thiện và trở thành một bộ phận quan trong trong chiến lược con người của Đảng Mục tiêu của chính sách BHXH của Đảng ta là chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, chăm

Trang 31

lo sức khỏe của người lao động Đảng lãnh đạo BHXH là nguyên tắc, đồng thời là sự bảo đảm cho hoạt động BHXH đúng hướng Thực hiện chính sách BHXH là góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động Trên cơ sở đó, góp phần đảm bảo sự phát triển bình thường và ổn định của sản xuất, đảm bảo sự công bằng, trật tự an toàn và tiến bộ xã hội Các chế độ chính sách về BHXH do Nhà nước ta ban hành, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; thật sự là nguồn cổ

vũ động viên người lao động yên tâm, phấn khởi lao động sản xuất, dũng cảm chiến đấu, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phòng miền Nam, thống nhất đất nước; trở thành công cụ đắc lực của Nhà nước trong quản lý, sử dụng và điều tiết lực lượng lao động xã hội

Tuy nhiên, cùng với sự đi lên của đất nước, bước vào thời kỳ đổi mới, các chế độ, phương thức quản lý về BHXH theo các quy định trước đó đã trở nên bất cập, bộc lộ nhiều điểm không phù hợp Tài chính về BHXH ngày càng mất cân đối nghiêm trọng, số thu quá ít so với tổng số phải chi Vì vậy, việc chi trả các chế độ BHXH đã trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nước; đối tượng tham gia BHXH chỉ bó hẹp trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, chưa mở rộng đến người lao động trong các thành phần kinh tế khác, nên chưa tạo được sự công bằng xã hội và làm giảm tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội đối với người lao động

Tại Nghị quyết Đại hội lần thứ VII (ngày 27/6/1991) của Đảng, phần phương hướng nhiệm vụ trong 5 năm 1991-1995 đã khẳng định: "Đổi mới chính sách BHXH theo hướng: mọi người lao động và đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều đóng góp vào quỹ BHXH Từng bước tách quỹ BHXH đối với công nhân viên chức nhà nước khỏi ngân sách và hình thành quỹ BHXH chung cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế" Xây dựng một chính sách BHXH phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người lao động, người

Trang 32

sử dụng lao động, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế là một đòi hỏi khách quan Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội của Đảng xác định: " Phương hướng lớn của chính sách xã hội là: Phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi

và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội Thiết lập một hệ thống đồng bộ và đa dạng về bảo hiểm và trợ cấp xã hội Có chính sách thích đáng đối với các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, cán

bộ lão thành, những người về hưu Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi "

Văn kiện Đại hội lần thứ VIII (01/7/1996) của Đảng cũng đã chỉ rõ:

"Thực hiện và hoàn thiện chế độ BHXH, bảo đảm đời sống người nghỉ hưu được ổn định, từng bước được cải thiện Xây dựng Luật BHXH", "Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế, áp dụng bắt buộc đối với các cơ quan, các doanh nghiệp"

Để tạo tiền đề vững chắc, đưa chính sách BHXH tiếp tục chuyển biến rõ rệt và tạo cơ sở cho ngành BHXH phát triển, ngày 26/5/1997, Bộ Chính trị đã

có Chỉ thị số 15-CT/TW "Về tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH" Ngay sau khi Bộ Chính trị có Chỉ thị số 15-CT/TW, các cấp ủy, chính quyền ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã nhanh chóng có văn bản chỉ đạo dưới các hình thức như Chỉ thị, Thông tri, công văn về tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH trên các địa bàn Đồng thời, tổ chức quán triệt sâu rộng, kịp thời nội dung Chỉ thị của Bộ Chính trị đến từng cán bộ, đảng viên Qua việc nghiên cứu, quán triệt đã làm chuyển biến và nâng cao nhận thức tư tưởng của các cấp ủy, chính quyền về chính sách BHXH, làm cho cán

bộ, đảng viên thấy rõ hơn mục đích, ý nghĩa, vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chính sách nhân đạo này Từ đó xác định được trách nhiệm của mình trong

Trang 33

việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và đặc biệt là tạo ra cơ chế phối hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, công tác BHXH ở nước ta đã có những bước tiến quan trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ ta

1.4.1.2 Nhà nước Việt Nam với BHXH

BHXH ở nước ta là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động Vì vậy, ngay từ những ngày đầu thành lập nước, chế độ chính sách BHXH đã được ban hành, từng bước được thực hiện đối với công nhân viên chức khu vực Nhà nước Trong quá trình thực hiện, chế độ chính sách về BHXH không ngừng được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước nhằm đảm bảo quyền lợi đối với người lao động và góp phần vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước

Có thể chia việc xây dựng và thực hiện chính sách BHXH ở Việt Nam qua một số giai đoạn sau:

* Thời kỳ trước tháng 12/1994:

- Về đối tượng tham gia và hưởng chế độ BHXH: là công nhân viên chức trong biên chế thuộc khu vực Nhà nước, các đoàn thể xã hội chính trị và trong lực lượng vũ trang

- Về các chế độ gồm 6 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất Từng chế độ có quy định cụ thể về điều kiện hưởng, tuổi đời, mức hưởng , nhưng nhìn chung căn cứ vào thời gian công tác

- Về Tổ chức thực hiện có các đơn vị cơ quan sau:

+ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý 3 chế độ: hưu trí, mất sức lao động, tử tuất và có phân cấp cho các cơ quan, các địa phương giải quyết chế độ BHXH

+ Hệ thống Liên đoàn Lao động quản lý 3 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp

Trang 34

+ Thời gian cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 có thu BHXH

do Bộ Tài chính thu vào thu ngân sách Nhà nước, không hình thành quỹ BHXH riêng

+ Chi chế độ hưu trí, mất sức lao động và tử tuất do ngân sách Nhà nước Trung ương đảm bảo, tính trong kế hoạch chi ngân sách Nhà nước hàng năm

Chính sách và thực hiện các chế độ BHXH thời kỳ này đã hỗ trợ cuộc sống cho hàng triệu cán bộ công nhân viên chức, lực lượng vũ trang, góp phần to lớn trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên, còn có những tồn tại sau:

+ Chỉ người lao động trong khu vực Nhà nước mới được hưởng chế độ BHXH, mọi người khi đã trong biên chế Nhà nước thì đương nhiên được đảm bảo BHXH Đối tượng tham gia BHXH hạn hẹp

+ Không hình thành quỹ BHXH; thu - chi BHXH tính trong ngân sách Nhà nước Do vậy, ngân sách Nhà nước phải đảm bảo việc chi trả; các năm sau thường phải chi cao hơn các năm trước; chi BHXH chiếm tỷ trọng lớn trong chi ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng thường xuyên đến cân đối Ngân sách Nhà nước và ảnh hưởng đến thực hiện chế độ BHXH đối với người lao động

* Thời kỳ từ khi thực hiện Bộ luật Lao động và Điều lệ BHXH

Từ năm 1995, thi hành những quy định trong Bộ luật Lao động về BHXH, Chính phủ đã ban hành Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 đối với công chức, công nhân viên chức Nhà nước, người

Trang 35

lao động theo loại hình BHXH bắt buộc và Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 đối với lực lượng vũ trang

- Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc không chỉ là người lao động trong khu vực Nhà nước mà bao gồm cả người lao động trong các thành phần kinh tế có sử dụng 10 lao động trở lên

- Quy định việc đóng BHXH của người sử dụng lao động, người lao động và hình thành quỹ BHXH để thực hiện chế độ BHXH cho người lao động; quỹ BHXH được quản lý thống nhất, tập trung, độc lập với Ngân sách Nhà nước và được Nhà nước bảo hộ

- Về các chế độ BHXH, với 5 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất

- Về tổ chức quản lý: BHXH Việt Nam đảm nhiệm việc quản lý đối tượng tham gia BHXH, cấp sổ BHXH, lập hồ sơ hưởng chế độ BHXH đối với từng chế độ, từng đối tượng hưởng BHXH và quản lý quỹ BHXH Hệ thống quản lý này là thống nhất, rõ ràng trong trách nhiệm, quyền hạn, thực hiện giảm phiền hà, chống tham ô, lãng phí, thất thoát quỹ

Chính nhờ những cải cách trên mà tăng được số lượng người lao động tham gia BHXH và hình thành quỹ BHXH, quỹ ngày càng gia tăng, hiệu quả mang lại hết sức rõ nét: Việc thực hiện chế độ BHXH đúng theo pháp luật quy định, đảm bảo thực hiện thống nhất trong cả nước; chi trả đầy đủ, kịp thời đến tận tay đối tượng Cơ chế quản lý chặt chẽ không để thất thoát quỹ và thường xuyên cải cách hành chính trong lập hồ sơ và quy trình giải quyết các chế độ BHXH Hình thành quỹ tài chính tập trung, đảm bảo chi trả kịp thời các chế độ BHXH đối với người lao động, đồng thời góp phần vào nguồn tài chính xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Góp phần đảm bảo và ổn định Ngân sách Nhà nước Riêng với đối tượng hưởng chế độ hưu trí và trợ cấp BHXH từ nguồn Ngân sách Nhà nước, Nhà nước chủ động và tập trung chi cho đầu tư kinh tế và phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo

Trang 36

Với các kết quả cơ bản nêu trên, có thể khẳng định rằng chủ chương thực hiện cải cách BHXH từ 1995 đến nay là phù hợp với điều kiện mới của nền kinh tế và phù hợp với đường lối phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước

Tuy nhiên hoạt động BHXH còn có những khó khăn:

- Đối tượng tham gia BHXH còn hạn hẹp Số lao động tham gia BHXH

so với tổng số lao động xã hội chiếm tỷ trọng thấp Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến số người lao động trong xã hội được hưởng quyền lợi về BHXH, đồng thời quy mô quỹ BHXH còn rất hạn chế

- Từ năm 1995 đến nay, chính sách BHXH thường xuyên sửa đổi, bổ sung về điều kiện hưởng, phương pháp tính lương hưu và tuổi nghỉ hưu giảm đến 5 tuổi, đã ảnh hưởng quỹ và cân đối quỹ BHXH Với giảm 5 tuổi nghỉ hưu, thu BHXH mỗi người giảm đến 5 năm và hưởng lương hưu tăng đến 5 năm Ngoài ra, với các lần thay đổi mức tiền lương tối thiểu, việc thu BHXH vẫn theo mức tiền lương tối thiểu cũ, nhưng giải quyết chế độ BHXH lại được thực hiện theo mức tiền lương tối thiểu mới đã ảnh hưởng đến quỹ BHXH và cân đối lâu dài quỹ BHXH

- Những đối tượng có thời gian công tác trước ngày 01/01/1995 nhưng sau năm 1995 hưởng chế độ hưu trí, theo quy định được Ngân sách Nhà nước

hỗ trợ cho quỹ để chi trả, nhưng hiện nay chưa được Ngân sách Nhà nước hỗ trợ, việc này ảnh hưởng đến cân đối quỹ BHXH lâu dài

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng những quan điểm mới đầy đủ hơn về BHXH trong nền kinh tế thị trường ở nước ta đã tạo ra được hệ thống chính sách BHXH mới phù hợp với cơ chế thị trường có sự lãnh đạo của Nhà nước Hệ thống chính sách này đã giải quyết hài hòa quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo quyền lợi người lao động BHXH đã phát huy nguồn lực

Trang 37

trong nước, giảm dần sự bao cấp của Ngân sách Nhà nước, trước hết là bao cấp đối với người về hưu trước năm 1995

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi củng cố và tăng cường pháp chế XHCN ở nước ta là vấn đề đặt ra hết sức cấp thiết để nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước: mở rộng dân chủ XHCN Đại hội Đảng lần thứ VII khẳng định: “Điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của nhân dân”

Để củng cố và tăng cường pháp chế XHCN phải áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ trong đó có các biện pháp cơ bản như:

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế

Đây là biện pháp cơ bản, bao trùm, xuyên suốt trong quá trình củng cố

và tăng cường pháp chế XHCN Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện trước hết ở việc Đảng đề ra chiến lược toàn diện về công tác pháp chế trong từng trường hợp Đảng đề ra phương hướng xây dựng pháp luật, giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, đào tạo cán bộ pháp lý để tăng cường cho các cơ quan làm công tác luật, pháp chế, tổ chức lãnh đạo quần chúng cùng tham gia tích cực, chống vi phạm pháp luật Đó là sự lãnh đạo toàn diện có ý nghĩa quyết định đối với kết quả của công tác pháp chế Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế còn được thể hiện thông qua sự gương mẫu của các Đảng viên và các tổ chức Đảng ở cơ sở trong việc tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật nhà nước

- Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật XHCN Pháp luật chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở của một hệ thống pháp luật ngày càng phát triển và hoàn thiện Để có được một hệ thống pháp luật như vậy phải thường xuyên tiến hành hệ thống hóa pháp luật để phát hiện và loại bỏ những pháp luật trùng lặp, mâu thuẫn, lạc hậu, bổ sung những thiếu sót trong hệ thống pháp luật, kịp thời thể chế hóa đường lối, chính sách của

Trang 38

Đảng thành pháp luật, có kế hoạch xây dựng pháp luật phù hợp với mỗi giai đoạn Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, kỹ thuật xây dựng pháp luật để đảm bảo cho hệ thống các văn bản pháp luật được mang tính khoa học và đạt trình độ kỹ thuật cao Đối với nước ta hiện nay, điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều biến động, chưa thuần nhất thì việc xây dựng pháp luật lại càng khó khăn Vì vậy, trong xây dựng pháp luật cần tránh 2 khuynh hướng: chủ quan, nóng vội muốn có ngay một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh dẫn đến tình trạng pháp luật không phù hợp với tình hình kinh tế xã hội Mặt khác cũng cần tránh khuynh hướng không nhận thức đúng vai trò tích cực của pháp luật dẫn đến việc chờ đợi chậm chạp hoặc dùng các biện pháp khác để điều chỉnh các quan hệ xã hội

Sau hơn 10 năm thực hiện Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ, trong quá trình thực tiễn triển khai đã được

bổ sung bằng một số Nghị định Khi đã chín muồi, lĩnh vực chính sách xã hội quan trọng trụ cột này của Nhà nước đã được các cơ quan của Chính phủ xây dựng thành Dự thảo Luật để đến ngày 29/6/2006, Quốc hội nước cộng hòa XHCN tại kỳ họp thứ 9, khóa XI, đã ban hành Luật BHXH số 71/2006/QH11

Trang 39

Chương 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Hệ thống, thống kê tổng hợp kết quả triển khai công tác BHXH các năm giai đoạn 2008-2012, so sánh số liệu thống kê của các cơ quan nhà nước trên địa bàn, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ công tác thu BHXH

Nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận hai chiều từ trên xuống và từ dưới lên thông qua việc ứng dụng các công cụ phân tích định tính

2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin

Lấy số liệu từ các bảng biểu tổng hợp kết quả các chỉ tiêu trong các năm

2.1.3 Phương pháp tổng hợp thông tin

Lập các bảng biểu từng loại chỉ tiêu theo không gian và thời gian thuộc giai đoạn nghiên cứu

2.1.4 Phương pháp phân tích thông tin

Qua các biểu chỉ tiêu đã lập, thiết lập biểu đồ quá trình phát triển, trong

đó, tìm ra những khoảng thời gian, nhân tố tác động làm tăng hoặc giảm các chỉ tiêu nghiên cứu, đặc biệt quan tâm tới những nhân tố tác động đến chỉ tiêu

mở rộng diện tham gia BHXH để vận dụng và nhân rộng

2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.1 Tổng hợp lao động và số thu BHXH các năm

Chỉ tiêu này có ý nghĩa kinh tế ở hai khía cạnh: Thứ nhất, cho thấy biến động số lao động tham gia BHXH qua các năm, số lao động tăng mới từng năm, so sánh với tổng số người trong độ tuổi lao động, số có việc làm được tham gia BHXH, số lao động có việc làm chưa được tham gia BHXH, số lao động chưa có việc làm , với công thức tính tổng số lao động các đơn vị đang tham gia BHXH, đơn vị đo của chỉ tiêu này là lao động (người) Thứ hai, cho

Trang 40

thấy biến động số thu BHXH các năm, sự tích lũy của quỹ BHXH, đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH, so sánh với số chi trả các chế độ chính sách BHXH,

tỷ lệ trích nộp từ tiền lương của người lao động vào quỹ BHXH như thế nào,

đã hợp lý chưa , với công thức tính bằng số lao động nhân với tỷ lệ trích nộp theo quy định, đơn vị tính là tiền đồng Việt Nam

2.2.2 Tổng hợp cơ cấu tham gia BHXH của các loại hình lao động

Chỉ tiêu này có ý nghĩa kinh tế ở chỗ: Nó cho thấy cơ cấu lao động tham gia BHXH của các thành phần kinh tế: lao động ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; lao động ở khối doanh nghiệp Nhà nước; lao động ở khu vực hành chính sự nghiệp công lập; lao động ở khu vực hành chính sự nghiệp dân lập; lao động ở khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh (khối dân doanh- bao gồm: các công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ cá thể, tổ hợp tác, lao động tự do ) Qua đó, thấy được sự thu hút lao động vào khu vực kinh tế nào

là chủ yếu trong thời gian qua, khu vực kinh tế nào có sự suy giảm lao động, việc làm , với đơn vị đo là lao động (người)

Đơn vị đo của các chỉ tiêu này là số người và số tiền đồng Việt Nam

Ngày đăng: 31/05/2014, 02:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Công báo số 01+02 do UBND tỉnh Thái Nguyên xuất bản ngày 20/01/2011 Khác
4. Dương Xuân Triệu (2000), cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình quản lý thu bảo hiểm xã hội, đề tài khoa học, bảo hiểm xã hội Việt Nam Khác
5. Giáo trình: Bảo hiểm xã hội I, II (Nxb. Lao động -xã hội, 2008) Khác
6. Giáo trình: Bài giảng quản trị bảo hiểm xã hội (Nxb. Lao động - xã hội, 2008) Khác
7. Hệ thống các văn bản pháp quy về BHXH, BHYT, Nhà xuất bản Nông nghiệp (2008) Khác
8. Luật BHXH của quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam số 71/2006/QH11 Ngày 29 tháng 6 năm 2006 Khác
9. Mai Thị Cẩm Tú (2004), cơ sở khoa học xây dựng hệ tiêu thức quản lý bảo hiểm xã hội, đề tài nghiên cứu khoa học, BHXH Việt nam Khác
10. Nghị định số 135/2007/NĐ- CP ngày 16 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH Khác
11. Nghị định 86/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 quy định về các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt thẩm quyền, thủ tục xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội Khác
12. Nguyễn Huy Ban (2000), chiến lược phát triển BHXH phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020, đề tài khoa học cấp bộ, bảo hiểm xã hội Việt Nam Khác
13. Quyết định 902/QĐ-BHXH ngày 26 tháng 6 năm 2007 của BHXH Việt nam về việc ban hành quy định quản lý thu BHXH, BHYT bắt buộc Khác
14. Quyết định số 1333/QĐ- BHXH ngày 21/2/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điểm tại quyết định số 902 / QĐ- BHXH Khác
15. Quyết định 4969/QĐ-BHXH ngày 10/11/2008 quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và chế độ quản lý của các phòng nghiệp vụ BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Khác
16. Trần Đức Long, hoàn thiện hoạt động kiểm tra tài chính của BHXH Việt Nam, luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý (2006) học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Khác
17. Văn kiện đại hội Đảng IX (Nhà xuất bản chính trị quốc gia - 2001) 18. Website: baohiemxahoi.gov.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy BHXH tỉnh Thái Nguyên - Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy BHXH tỉnh Thái Nguyên (Trang 42)
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ bộ máy quản lý thu tại BHXH tỉnh Thái Nguyên - Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ bộ máy quản lý thu tại BHXH tỉnh Thái Nguyên (Trang 46)
Sơ đồ 3.3. Quy trình thu BHXH tại tỉnh Thái nguyên - Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ 3.3. Quy trình thu BHXH tại tỉnh Thái nguyên (Trang 49)
Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả rà soát đối tƣợng tham gia BHXH trên địa  bàn tỉnh Thái Nguyên tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2012 - Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả rà soát đối tƣợng tham gia BHXH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2012 (Trang 54)
Bảng 3.6. Kết quả thu BHXH theo khối loại hình doanh nghiệp - Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.6. Kết quả thu BHXH theo khối loại hình doanh nghiệp (Trang 62)
Bảng 3.7 Tình hình nợ đọng BHXH từ năm 2008 - 2012 - Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.7 Tình hình nợ đọng BHXH từ năm 2008 - 2012 (Trang 63)
Bảng 3.8. Tốc độ tăng giảm liên hoàn tỷ lệ nợ đọng BHXH - Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.8. Tốc độ tăng giảm liên hoàn tỷ lệ nợ đọng BHXH (Trang 63)
Bảng 3.9 Lãi phạt chậm đóng BHXH và lãi suất cho vay của Ngân hàng - Những giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.9 Lãi phạt chậm đóng BHXH và lãi suất cho vay của Ngân hàng (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w