CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài 1.1.1 Tính cấp thiết về mặt lý thuyết Việc xác định giá trị kinh tế của hàng hóa và dịch vụ môi trường cung cấp thông tin hữu ích, phù hợp và t
Trang 1HUỲNH THỊ ĐAN XUÂN
GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CHƯƠNG TRÌNH LÀM GIẢM LƯỢNG CHẤT THẢI RẮN
CỦA HỘ GIA ĐÌNH
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 9620115
NĂM 2023
Trang 2HUỲNH THỊ ĐAN XUÂN
MÃ SỐ: 9620115
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
PGS.TS HUỲNH VIỆT KHẢI
NĂM 2023
Trang 3Anh, Chị công tác tại Ủy ban nhân dân và các hộ gia đình ở các địa bàn tôi thực hiện khảo sát Vì vậy, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Cha, Mẹ và tất cả thành viên trong gia đình, Anh, Chị đang công tác tại Ủy ban nhân dân và các hộ gia đình đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành luận án này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, chân thành đến PGS.TS Huỳnh Việt Khải – người luôn tận tình chỉ dạy, định hướng và góp ý để tôi hoàn thành luận
án
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô của Trường Kinh Tế - Trường Đại học Cần Thơ Quý Thầy, Cô đã tận tình truyền đạt kiến thức trong thời gian tôi còn học tập Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo của Trường Kinh tế - Trường Đại học Cần Thơ nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi yên tâm học tập trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn Dự án Nâng cấp Trường Đại học Cần Thơ VN14-P6 bằng nguồn vốn vay ODA từ chính phủ Nhật Bản đã tài trợ một phần kinh phí để tôi hoàn thành luận án này
Xin kính chúc tất cả quý Thầy, Cô, người thân và bạn bè sức khỏe và hạnh phúc!
Cần Thơ, ngày 06 tháng 02 năm 2023
Nghiên cứu sinh
Trang 4
giảm lượng chất thải rắn (CTR) của hộ gia đình ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Nghiên cứu đã ước lượng mức sẵn lòng chấp nhận bù đắp để đo lường giá trị bằng hai phương pháp gồm định giá ngẫu nhiên và mô hình lựa chọn Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia chương trình của hộ gia đình được ước lượng bằng hai mô hình Logit và Logit tham số ngẫu nhiên Kết quả ước lượng bằng mô hình Logit trong phương pháp định giá ngẫu nhiên cho thấy mức sẵn lòng chấp nhận bù đắp, trình độ học vấn, loại đô thị và hoạt động tái chế của đáp viên là các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định tham gia chương trình phân loại tại nguồn theo hướng tái chế Mức sẵn lòng chấp nhận trung bình của hộ gia đình tham gia chương trình khoảng 30.000 đồng/tháng/hộ Phương pháp mô hình lựa chọn, kết quả kiểm định IIA của Hausmann và McFadden cho thấy việc sử dụng mô hình Logit tham số ngẫu nhiên phù hợp hơn mô hình Logit đa thức Kết quả kiểm định Swait-Louviere cho thấy việc sử dụng mô hình Logit tham số ngẫu nhiên với biến tương tác để ước lượng là phù hợp hơn mô hình Logit tham số ngẫu nhiên cơ bản Kết quả ước lượng bằng mô hình Logit tham số ngẫu nhiên với biến tương tác cho thấy thuộc tính của chương trình phân loại tại nguồn theo hướng tái chế, mức sẵn lòng chấp nhận bù đắp cho trước, làm giảm lượng chất thải rắn cần được xử lý, làm giảm lượng khí thải CO2, số loại chất thải rắn được phân loại có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chương trình Ngoài ra, các yếu tố thu nhập, giới tính và tuổi của đáp viên cũng có ảnh hưởng đến quyết định tham gia chương trình Từ các tham
số được ước lượng, mức sẵn lòng chấp nhận trung bình để tham gia chương trình khoảng 79.000 đồng/tháng/hộ Dựa trên kết quả phân tích, một số giải pháp được đề xuất gồm: thực hiện thí điểm chương trình ở khu vực có sự thuận tiện cho các khâu trong hoạt động quản lý chất thải rắn; Ưu tiên tuyên truyền cho phụ nữ hay những người có trách nhiệm chính về vấn đề vệ sinh trong gia đình Nội dung tuyên tuyền cần tập trung vào lợi ích của chương trình phân loại tại nguồn, chất thải rắn của hộ gia đình có thể phân thành hai nhóm hay ba nhóm nhưng phải có nhóm chất thải rắn
có thể tái chế
Từ khóa: chương trình quản lý chất thải rắn, giá trị kinh tế, mức sẵn lòng chấp
nhận, phương pháp định giá ngẫu nhiên, phương pháp mô hình lựa chọn
Trang 5estimated willingness to accept compensation in order to measure value by employing two methods including contingent valuation methodology and choice modelling The determinants of the decision to participate in the program of households are estimated by two models, namely Logit and random parameters Logit The results estimated by the Logit model in the contingent valuation method reveal that respondents' willingness to accept compensation, education level, urban-type, and recycling activities of the respondents are the factors that affect the decision intended to participate in the recycling program at the source The average willingness to accept households participating in the program is about 30,000 VND/month/household In the choice modelling approach, the IIA test results of Hausmann and McFadden indicate that the use of the random parameter Logit model is more suitable than the ordinary Logit model The results of the Swait-Louviere test also reveal that the employ of the random parameter Logit model with the interaction variable for estimation is more suitable than the basic random parameter Logit model The results estimated by the random parameters Logit model with the interaction variable show the properties of the sorting program at the source in the direction of recycling, and the willingness to accept a given offset, which reduces the amount of solid waste that needs to be collected, reducing CO2 emissions, the number of types of solid waste classified influences the decision to participate in the program In addition, factors such as income, gender, and age of respondents also affect the decision to participate in the program From the estimated parameters, the average willingness to accept to join the program is about 79,000 VND/month/household Based on the results, some proposed solutions include: piloting the program in an area where it is convenient for all stages of solid waste management; Prioritizing propaganda for women or those who have the main responsibility for hygiene in the family The propaganda content should focus on the benefits of the at-source separation SW program, household solid waste can be classified into two or three groups, but there must be a group of recyclable solid waste
Keywords: choice modelling, contingent valuation method, economic value, solid
waste management program, willingness to accept
Trang 6Các thông tin được sử dụng tham khảo trong đề tài luận án được thu thập từ các nguồn tin cậy, đã được kiểm chứng, được công bố rộng rãi và được tôi trích dẫn nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án này là do chính tôi thực hiện một cách trung thực và không trùng lắp với các đề tài đã được công bố
Cần Thơ, ngày 06 tháng 02 năm 2023
Người hướng dẫn Nghiên cứu sinh
PGS.TS Huỳnh Việt Khải Huỳnh Thị Đan Xuân
Trang 71.1 Lý do chọn đề tài 1
1.1.1 Tính cấp thiết về mặt lý thuyết 1
1.1.2 Tính cấp thiết về mặt thực tiễn 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu chung của nghiên cứu 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu 5
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Phạm vi nghiên cứu 5
1.4.1 Đối tượng khảo sát 5
1.4.2 Phạm vi không gian 5
1.4.3 Phạm vi thời gian 6
1.5 Cấu trúc của luận án 6
1.6 Đóng góp của luận án 9
CHƯƠNG 2 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.1 Cơ sở lý luận 10
2.1.1 Khái niệm giá trị kinh tế 10
2.1.2 Lý thuyết định giá giá trị kinh tế 13
2.1.3 Phương pháp định giá giá trị kinh tế 16
2.1.4 Phương pháp định giá giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng chất thải rắn của hộ gia đình 31
2.1.5 Lựa chọn thước đo mức sẵn lòng trả và mức sẵn lòng chấp nhận 33
2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 34
2.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu định giá phi thị trường bằng phương pháp phát biểu sở thích 34
2.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu định giá chương trình quản lý chất thải rắn sử dụng phương pháp phát biểu sở thích 37
Trang 82.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 49
2.4 Tóm tắt chương 58
CHƯƠNG 3 59
GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CHƯƠNG TRÌNH LÀM GIẢM LƯỢNG 59
CHẤT THẢI RẮN CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 59
3.1 Tình hình quản lý chất thải rắn của hộ gia đình ở Việt Nam và vùng ĐBSCL 59
3.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội của vùng ĐBSCL 59
3.1.2 Tình hình quản lý chất thải rắn đô thị ở các nước đang phát triển 63
3.1.2.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn đô thị ở các nước đang phát triển 63
3.1.2.2 Tình hình thu gom và vận chuyển chất thải rắn đô thị ở các nước đang phát triển 64
3.1.2.3 Tình hình xử lý chất thải rắn đô thị ở các nước đang phát triển 64
3.1.3 Tình hình quản lý chất thải rắn của hộ gia đình ở Đồng bằng sông Cửu Long 65
3.1.3.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 66
3.1.3.2 Tình hình thu gom chất thải rắn sinh hoạt 68
3.1.3.3 Tình hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt 71
3.1.4 Tác động của chất thải rắn đối với sức khỏe cộng đồng và sự phát triển kinh tế và xã hội 74
3.1.4.1 Tác động của chất thải rắn đến sức khỏe cộng đồng 74
3.1.4.2 Tác động của chất thải rắn đến sự phát triển kinh tế và xã hội 75
3.2 Giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng chất thải rắn của hộ gia đình 76 3.2.1 Mô tả đặc điểm nhân khẩu học của đáp viên 76
3.2.1.1 Giới tính của đáp viên 76
3.2.1.2 Tuổi của đáp viên 77
3.2.1.3 Trình độ học vấn của đáp viên 77
Trang 93.2.1.4 Thu nhập của đáp viên và tổng thu nhập của hộ gia đình đáp viên 78
3.2.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình 78
3.2.2.1 Tình hình phát thải, phân loại tại nguồn và thu gom chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình 78
3.2.2.2 Sự hiểu biết của người dân về hoạt động tái chế thông qua hành vi phân loại và bán phế liệu 80
3.2.3 Giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng chất thải rắn của hộ gia đình 84
3.2.3.1 Giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng chất thải rắn của hộ gia đình được định giá bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên 84
3.2.3.2 Giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng chất thải rắn của hộ gia đình được định giá bằng phương pháp mô hình lựa chọn 87
3.3 Tóm tắt chương 95
CHƯƠNG 4 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
4.1 Kết luận 97
4.2 Giải pháp làm giảm lượng CTR và cải thiện chất lượng của hoạt động quản lý CTR của hộ gia đình 98
4.3 Hạn chế của luận án và kiến nghị cho hướng nghiên cứu tiếp theo 101
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Khung phân tích 8Hình 2.1 Tổng giá trị kinh tế của hàng hóa phi thị trường 12Hình 2.2 Tổng giá trị kinh tế của hàng hóa phi thị trường 12Hình 2.3 Mối quan hệ giữa CV, EV, WTP và WTA trong trường hợp chất lượng môi trường bị suy giảm 15Hình 2.4 Mối quan hệ giữa CV, EV, WTP và WTA trong trường hợp chất lượng môi trường được cải thiện 15Hình 2.5 Phương pháp định giá phi thị trường 18Hình 2.6 Sự lựa chọn mua hàng hóa của người tiêu dùng dựa trên thuộc tính của hàng hóa 25Hình 2.7 Thang bậc quản lý chất thải 41Hình 3.1 Bản đồ hành chính vùng đồng bằng sông Cửu Long 60Hình 3.3 Tình hình thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn và ủng hộ chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn 79
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Lượng chất thải rắn được xử lý đạt tiêu chuẩn của một số địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long 6
Bảng 2.1 Mối quan hệ giữa khái niệm CV và EV và thước đo WTP và WTA 16
Bảng 2.2 Các bước thực hiện của phương pháp mô hình lựa chọn 27Bảng 3.1 Thu nhập bình quân đầu người/tháng năm 2016 và 2018 phân theo địa phương ở ĐBSCL 61Bảng 3.2 Dân số trung bình và mật độ dân số phân theo khu vực từ năm 2015 đến năm 2018 63Bảng 3.3 Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh theo khu vực năm 2018 67Bảng 3.4 Khối lượng phát sinh, chỉ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân trên đầu người ở các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long năm 2018 67Bảng 3.5 Lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom theo khu vực từ năm
2015 đến năm 2018 69Bảng 3.6 Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị theo khu vực năm 2018 70Bảng 3.7 Bãi chôn lấp ở Đồng bằng sông Cửu Long 71Bảng 3.8 Lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị thu gom được xử lý đạt tiêu chuẩn theo khu vực từ năm 2015 đến năm 2018 73Bảng 3.9 Đặc điểm nhân khẩu học của các đáp viên trong mẫu điều tra 76Bảng 3.10 Trình độ học vấn của đáp viên 77Bảng 3.11 Lý do hộ gia đình ủng hộ và không ủng hộ chương trình quản lý CTR 80Bảng 3.12 Lý do dẫn đến việc thực hiện và không thực hiện hoạt động tái chế 81Bảng 3.13 Các loại phế liệu và tỷ trọng tái chế thông qua hoạt động tái chế của hộ gia đình 83Bảng 3.14 Sự hiểu biết của người dân về loại phế liệu có thể được mua bán 84Bảng 3.15 Tỷ trọng đáp viên sẵn lòng và không sẵn lòng chấp nhận thực hiện hành
vi phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn 85Bảng 3.16 Kết quả hồi quy Logit phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chấp nhận bù đắp của hộ gia đình để thực hiện hành vi phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn 85Bảng 3.17 Mức giá sẵn lòng chấp nhận ước lượng theo phương pháp tham số 87
Trang 12Bảng 3.18 Tỷ trọng đáp viên phản hồi theo từng phiên bản 88Bảng 3.19 Tỷ trọng đáp viên phản hồi theo từng lốc và tỷ trọng lựa chọn trong mỗi câu hỏi trong từng lốc 88Bảng 3.20 Kết quả ước lượng bằng mô hình MNL phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn các chương trình làm giảm lượng chất thải rắn của hộ gia đình 89Bảng 3.21 Kết quả kiểm định giả định IIA 90Bảng 3.22 Kết quả ước lượng bằng mô hình RPL cơ bản và mô hình RPL với các biến tương tác phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia chương trình làm giảm lượng chất thải rắn của hộ gia đình 91Bảng 3.23 Mức sẵn lòng chấp nhận trung bình cho từng thuộc tính của chương trình làm giảm lượng CTR của hộ gia đình 93Đơn vị tính: ngàn đồng/tháng 93Bảng 3.24 Kết quả ước tính giá trị kinh tế của một số kịch bản của chương trình làm giảm lượng CTR của hộ gia đình bằng phương pháp CM 95
Trang 13DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASC Alternative Specific Constant Hằng số cụ thể thay thế
CV Compensation Variation Giá trị bù đắp CVM Contigent Valuation Method Phương pháp định giá ngẫu nhiên
EV Equivalent Variation Giá trị tương đương IIA The Independence of Irrelevant
RPL Random Parameter Logit Mô hình Logit tham số ngẫu nhiên WTA Willingness to accept Mức sẵn lòng chấp nhận
WTP Willingness to pay Mức sẵn lòng chi trả
Trang 14CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài
1.1.1 Tính cấp thiết về mặt lý thuyết
Việc xác định giá trị kinh tế của hàng hóa và dịch vụ môi trường cung cấp thông tin hữu ích, phù hợp và thích hợp liên quan đến một chính sách và những người ra quyết định có thể sử dụng thông tin được cung cấp này (Arabamiry và cộng sự, 2013) Phân tích lợi ích và chi phí (Cost–Benefit Analysis - CBA) được xem là một ứng dụng nổi bật của giá trị kinh tế tuy nhiên không phải là ứng dụng duy nhất Phân tích kinh tế đã trở thành cơ sở cho những quyết định hiệu quả và được ủng hộ bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế từ cuối những năm 1960 trong dự án định giá của Ian Little và Jame Mirrless (Pearce và cộng sự, 2006) Một
số chương trình hành động trong Kế hoạch Hành động Môi trường lần thứ Sáu của
Ủy ban Châu Âu sử dụng định giá kinh tế cho các hành động về biến đổi khí hậu, axit hóa, thiên tai và ô nhiễm tiếng ồn Ngân hàng Thế giới cũng sử dụng giá trị kinh tế trong các chỉ số về tính bền vững Việc ấn định thuế suất đánh vào việc chôn lấp chất thải và khai thác tài nguyên ở Vương quốc Anh cũng dựa trên cơ sở giá trị kinh tế (Pearce và cộng sự, 2002)
Trong lĩnh vực quản lý CTR, theo quan điểm kinh tế, hệ thống quản lý chất thải rắn (CTR) tối ưu là hệ thống mà nó giúp xã hội đạt được lợi ích ròng từ việc xử
lý CTR là cao nhất (Garrod và Willis, 1998) Tuy nhiên, các hoạt động quản lý CTR thường không có giá hoặc có giá nhưng không phản ánh được giá trị thực Điều này gây khó khăn khi sử dụng giá của thị trường thông thường cho định giá lợi ích kinh
tế của hoạt động quản lý CTR (Anaman và Jair, 2000) Vì vậy, lợi ích xã hội của hệ thống quản lý cần được thực hiện để hỗ trợ các quyết định liên quan mức độ các dịch vụ được cung cấp mặc dù việc phân tích có thể tốn kém và nguồn lực tài chính của chính phủ có thể có giới hạn (Wang và cộng sự, 2011)
Sự cấp thiết định giá giá trị kinh tế của chương trình quản lý CTR chẳng hạn như cải thiện dịch vụ thu gom, cải thiện hoạt động xử lý hay tăng cường phân loại tại nguồn đã dẫn đến một số lượng lớn các các nghiên cứu sử dụng cả hai phương pháp bộc lộ sở thích (Anex, 1995; Arimah, 1996 và Struk và Pojezdná, 2019) và phát biểu
sở thích (Czajkowski và cộng sự, 2014; Chung và Yeung, 2019; Danso và cộng sự, 2006; Jin và cộng sự, 2006; Huhtala, 2010; Karousakis và Birol, 2008; Ko và cộng
sự, 2020; Lu và cộng sự, 2015; Sakata, 2007 và Zen và Siwar, 2015) Trong các nghiên cứu định giá chương trình quản lý CTR, vấn đề liệu người dân có sẵn lòng chi trả hay sẵn lòng chấp nhận để cải thiện chất lượng của hoạt động quản lý CTR Các phương pháp định giá kinh tế khác nhau có thể được sử dụng để ước tính giá trị của
Trang 15lợi ích phi thị trường từ chương trình quản lý CTR bằng cách mô hình hóa sở thích của xã hội đối với các thuộc tính của chương trình quản lý CTR thường là lợi ích chương trình Chẳng hạn, phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contigent Valuation Method - CVM) là cách tiếp cận toàn diện tập trung vào giá trị của việc chuyển từ hiện trạng quản lý CTR sang tình trạng quản lý CTR thay thế theo chương trình quản
lý CTR đưa ra (xem trong nghiên cứu của Chung và Yeung, 2019; Danso và cộng sự, 2006; Lu và cộng sự, 2015; Zen và Siwar, 2015) Tuy nhiên, phương pháp CVM không thể được sử dụng khi nghiên cứu cần lựa chọn giữa nhiều chương trình quản lý CTR (Stevens và cộng sự, 2000) Trong trường hợp này, việc sử dụng phương pháp
mô hình lựa chọn (Choice Modeling - CM) là cần thiết (Adamowicz và cộng sự, 1998) Phương pháp CM có lợi thế là đo lường giá trị cận biên của sự thay đổi của thuộc tính của chương trình quản lý CTR và không quá quan tâm đến bối cảnh tổng thể được sử dụng trong nghiên cứu của Czajkowski và cộng sự (2014), Karousakis và Birol (2008) và Sakata (2007) Tuy nhiên, người nghiên cứu phải đối mặt với việc thiết kế các lựa chọn thay thế trong phương pháp CM khá phức tạp Đồng thời, người trả lời cũng gặp khó khăn trước những lựa chọn phức tạp này
Ko và cộng sự (2020) cả phương pháp CVM và phương pháp CM dạng thí nghiệm lựa chọn đều có thể được sử dụng ước tính giá trị kinh tế của chương trình quản lý CTR Hai phương pháp này có chung khung lý thuyết về mô hình hữu dụng ngẫu nhiên (Hanemann, 1984; Hanley và cộng sự, 1998) Nghiên cứu sử dụng đồng thời hai phương pháp, phương pháp CVM và phương pháp CM, đã được chú ý nhiều hơn Mục tiêu chính trong các nghiên cứu này là đối chiếu phúc lợi được ước tính bằng phương pháp CVM và phương pháp CM (Dachary-Bernard và Rambonilaza, 2012) Số lượng nghiên cứu sử dụng đồng thời phương pháp CVM và phương pháp CM còn hạn chế (Jin và cộng sự, 2018) Một số nghiên cứu đầu tiên
sử dụng đồng thời phương pháp CVM và phương pháp CM bao gồm Boxall và cộng sự (1996, hoạt động giải trí săn bắn nai sừng tấm ở Canada), Adamowicz và cộng sự (1998, hoạt động bảo tồn môi trường sống của tuần lộc ở Alberta), Hanley
và cộng sự (1998, khu vực nhạy cảm môi trường ở Scotland), Stevens và cộng sự (2000, hoạt động quản lý hệ sinh thái), Lehtonen và cộng sự (2003, hoạt động bảo tồn rừng ở Phần Lan), Colombo và cộng sự (2006, chính sách bảo tồn đất ở Tây Ban Nha), Christie và Azevedo (2009, cải thiện chất lượng nước ở Mỹ), Gómez và cộng sự (2014, lựa chọn công nghệ ở Chile), Jin và cộng sự (2018, bảo vệ đất canh tác ở Trung Quốc) Trong số tài liệu được tìm thấy, nghiên cứu so sánh ước tính chương trình quản lý CTR bằng phương pháp CVM và phương pháp CM được thực hiện bởi Jin và cộng sự (2006, chương trình quản lý CTR ở Macao) và Ko và cộng
sự (2020, chương trình quản lý CTR ở Hàn Quốc)
Dựa vào lược khảo tài liệu và kiến thức của tác giả, nghiên cứu sử dụng đồng thời phương pháp CVM và phương pháp CM để định giá chương trình quản lý
Trang 16CTR chưa được thực hiện ở Việt Nam Đây là lý do để nghiên cứu này sử dụng phương pháp CVM và phương pháp CM để định giá giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng CTR của hộ gia đình ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Cách tiếp cận này làm nổi bật ưu điểm của từng phương pháp trong việc đưa ra hàm ý chính sách cho việc quản lý CTR ở ĐBSCL Ngoài ra, những phát hiện của nghiên cứu này có thể bổ sung vào nguồn tài liệu về việc đối chiếu các ước tính bằng phương pháp CVM và phương pháp CM của hàng hóa phi thị trường nói chung và chương trình quản lý CTR nói riêng
đã tạo ra sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng, gây áp lực lên mọi mặt của đô thị nói riêng và môi trường nói chung Dân số tăng nhanh đã làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên như nước, năng lượng, nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng Theo đó, lượng CTR phát sinh tăng nhanh ở các đô thị ước tính lượng CTRSH ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình 10 - 16 % mỗi năm, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) CTRSH ở đô thị chiếm hơn 50% tổng lượng CTRSH của cả nước tăng từ 32.000 tấn/ngày năm 2014 lên 35.624 tấn/ngày năm 2019 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2017; 2020)
Ở Việt Nam, công tác quản lý CTRSH còn nhiều bất cập như hệ thống kết cấu
hạ tầng đô thị chưa phát triển đồng bộ, trình độ, năng lực quản lý chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của quá trình đô thị hóa Theo Tổng cục Thống kê (2020), lượng CTR thông thường được thu gom trên cả nước đạt 40.460 tấn/ngày, trong đó tổng lượng CTRSH thông thường thu gom được xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng đạt khoảng 34.128 tấn/ngày (chiếm tỷ lệ 84,35%) Bên cạnh đó, tỷ lệ thu gom CTR nông thôn chưa cao khoảng 66% và có sự chênh lệch lớn giữa các địa phương (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2020), CTR chưa được phân loại tại nguồn, tỷ lệ tái chế thấp khoảng 10% lượng CTR được thu gom (Ngân hàng thế giới, 2018), phương pháp xử lý chủ yếu là chôn lấp (khoảng 71% lượng CTR được thu gom) phần lớn (khoảng 80% bãi chôn lấp) không hợp vệ sinh (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2020) Do đó, CTRSH đã tạo ra rất nhiều áp lực đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng Vì vậy, việc củng cố và hoàn thiện hệ thống quản lý CTR là rất cần thiết nhằm làm giảm lượng CTR và cải thiện vấn đề môi trường cũng như sức khỏe cộng đồng Hơn nữa, để quán triệt thực hiện chỉ đạo từ Trung ương, ―quản lý chất thải rắn phải được thực hiện theo phương thức tổng hợp,
Trang 17nhằm phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải tại nguồn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, tăng cường tái sử dụng, tái chế để giảm khối lượng chất thải phải chôn lấp‖ (Văn phòng chính phủ, 2018) và ―chú trọng công tác phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, trường hợp chưa đủ điều kiện triển khai phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn cần ưu tiên việc đầu tư các cơ sở xử lý có công đoạn phân loại tập trung trước khi xử lý‖ (Văn phòng chính phủ, 2020a) Như vậy, việc cải thiện hệ thống quản lý CTR đòi hỏi phải có sự quan tâm từ phía cộng đồng nhiều hơn, nhận thức và ý thức của người dân từ việc phân loại chất thải tại nguồn và góp phần vào công tác tái chế và tái sử dụng
Tuy nhiên, khi hệ thống này được cải thiện, phí dịch vụ quản lý CTR sẽ cao hơn hiện tại là điều tất yếu Để xác định mức phí mới này, hầu hết các nghiên cứu
sử dụng mức độ sẵn lòng chi trả của người dân đối với các dịch vụ quản lý CTR được cải thiện, chẳng hạn như Chuen-Khee và Othman (2010) việc cải thiện chất lượng xử lý chất thải rắn ở Malaysia; Alta và Deshaz (1996) cải thiện quản lý chất thải rắn ở Gujarwala, Pakistan; Niringiye và O mortor (2010) việc quản lý chất thải rắn ở Uganda; Yusuf và cộng sự (2007) việc quản lý CTRSH được cải thiện ở bang Oyo, Nigeria; Ojok và cộng sự (2013) đã ước tính mức độ sẵn lòng chi trả (WTP) của các hộ gia đình cho sự cải thiện dịch vụ quản lý chất thải rắn đô thị ở Kampala, Uganda; Yuan và Yabe (2105) đã phân tích mức độ sẵn lòng chi trả của người dân Bắc Kinh
Các nghiên cứu định giá chương trình phân loại CTR tại nguồn nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động phân loại để đạt được sự cải thiện chất lượng của hoạt động quản lý CTR (Czajkowski và cộng sự, 2014; Karousakis và Birol, 2008; Owusu và cộng sự, 2013; Laurent và cộng sự, 2014) Các nghiên cứu cho rằng hoạt động phân loại tại nguồn gây ra những bất tiện cho người dân vì đòi hỏi không gian, thời gian và công sức (Huhtala, 2010) Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa định giá sự bất tiện này Chính vì vậy, nghiên cứu này tiến hành định giá chương trình làm giảm lượng CTR bằng thước đo mức sẵn lòng chấp nhận (WTA) của hộ gia đình để thực hiện hành vi phân loại tại nguồn nhằm làm giảm lượng CTR cần được thu gom, vận chuyển và xử
Trang 181.2.2 Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu
(i) Phân tích tình hình quản lý CTR của hộ gia đình ở ĐBSCL
(ii) Ước tính giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng CTR của hộ gia đình
(iii) Đề xuất một số giải pháp làm giảm lượng CTR của hộ gia đình và nâng cao chất lượng của hoạt động quản lý CTR ở ĐBSCL
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng về tình hình quản lý CTR của hộ gia đình ở ĐBSCL như thế nào? Giá trị kinh tế của chương trình làm giảm CTR của hộ gia đình là bao nhiêu? Những giải pháp nào cần được ưu tiên thực hiện để nâng cao chất lượng của hoạt động quản lý CTR của hộ gia đình hiện nay ở khu vực ĐBSCL?
1.4 Phạm vi nghiên cứu 1.4.1 Đối tượng khảo sát
Nội dung chính của nghiên cứu này là ước tính giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng CTR của hộ gia đình ở ĐBSCL, từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp góp phần làm giảm lượng CTR của hộ gia đình Vì vậy, đối tượng khảo sát của nghiên cứu này là các hộ gia đình ở ĐBSCL Đồng thời, theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017), lượng CTR phát sinh ở các đô thị chiếm hơn 50% tổng lượng CTRSH của cả nước mỗi năm Mức gia tăng lượng CTRSH giai đoạn từ 2011 đến 2015 trung bình 12% mỗi năm và có xu hướng tiếp tục tăng trong thời gian tới Chính vì vậy, nghiên cứu này tập trung khảo sát hộ gia đình sinh sống tại khu vực đô thị ở ĐBSCL
đô thị loại II Những thành phố còn lại ở ĐBSCL có quy mô dân số 150.000 người trở lên, mật độ dân số 6.000 người/km trở lên và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ
Trang 1975% trở lên được xếp vào nhóm đô thị loại III, chẳng hạn, thành phố Tân An tỉnh Long An, thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp, thành phố Vĩnh Long tỉnh Vĩnh Long, thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu Giang, thành phố Sóc Trăng tỉnh Sóc Trăng Bên cạnh tiêu chí loại đô thị, nghiên cứu cũng quan tâm đến sự cải thiện năng lực của hoạt động quản lý chất thải được thể hiện qua sự gia tăng lượng chất thải được xử lý đạt tiêu chuẩn Theo thống kê về lượng CTR được xử lý đạt tiêu chuẩn của năm 2014 và năm 2015 của Tổng cục thống kê (2017), các đô thị có thể chia thành ba nhóm bao gồm nhóm có lượng CTR được xử lý đạt chuẩn giảm (lượng CTR được xử lý đạt chuẩn năm 2015 thấp hơn lượng CTR được xử lý đạt chuẩn năm 2014), nhóm có lượng CTR được xử lý đạt chuẩn bằng nhau giữa hai năm và nhóm có lượng CTR được xử lý đạt chuẩn tăng (lượng CTR được xử lý đạt chuẩn năm 2015 cao hơn lượng CTR được xử lý đạt chuẩn năm 2014)
Dựa vào đặc điểm loại đô thị và lượng CTR được xử lý đạt tiêu chuẩn, nghiên cứu đã lựa chọn bốn thành phố để tiến hành khảo sát Bốn thành phố này là thành phố Cần Thơ là đô thị loại I có lượng CTR được xử lý đạt tiêu chuẩn tăng (số quan sát là 169 đáp viên), thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang là đô thị loại II có lượng CTR được xử lý đạt tiêu chuẩn giảm (số quan sát 146 đáp viên) và thành phố Vĩnh Long tỉnh Vĩnh Long là đô thị loại III có lượng CTR được xử lý đạt tiêu chuẩn không đổi (số quan sát 120 đáp viên) và thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu Giang là đô thị loại III có lượng CTR được xử lý đạt chuẩn giảm (số quan sát là 143 đáp viên) Bảng 1.1 Lượng chất thải rắn được xử lý đạt tiêu chuẩn của một số địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long
STT Tên thành
phố
Loại đô thị
Lượng CTR được xử lý đạt tiêu chuẩn (tấn/ngày)
Chênh lệch (tấn/ngày) Năm 2014 Năm 2015
Nguồn: Niên giám thống kê, 2017
1.4.3 Phạm vi thời gian
Thời gian thu thập dữ liệu sơ cấp của nghiên cứu trong năm 2020 Trong năm
2020, một số thời điểm Chính phủ thực hiện giãn cách xã hội để phòng chống dịch Covid 19 Chính vì vậy, việc thu thập dữ liệu sơ cấp gặp nhiều khó khăn nhiều lần
bị ngắt quãng Tuy nhiên, tác giả vẫn thu thập tổng số quan sát 578 đáp viên với số quan sát này vẫn có thể đảm bảo tính đại diện cho khu vực ĐBSCL
1.5 Cấu trúc của luận án
Bố cục của luận án gồm 05 chương, với các nội dung cụ thể như sau:
Trang 20Chương 1 Giới thiệu Nội dung của chương trình này trình bày tính cấp thiết
về mặt lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu, các mục tiêu nghiên cứu cần đạt được, các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Đồng thời, nội dung của chương này còn trình bày cấu trúc của luận án, một số đóng góp
về mặt lý luận và thực tiễn và điểm mới cũng như một số hạn chế của luận án Chương 2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Nội dung chương này
hệ thống các cơ sở lý thuyết và lý luận về giá trị kinh tế, định giá giá trị kinh tế và các phương pháp định giá giá trị kinh tế Từ đó, nghiên cứu lựa chọn phương pháp định giá phù hợp để ước tính giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng CTR của hộ gia đình
Chương 3 Giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng CTR của hộ gia đình Nội dung của chương này gồm: Mô tả tình hình tái chế, phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý ở ĐBSCL nhằm mô tả nguyên nhân gây áp lực lên hoạt động quản lý CTR cũng như những ưu và nhược điểm của hoạt động quản lý CTR ở ĐBSCL và ước tính theo phương pháp định giá ngẫu nhiên và phương pháp mô hình lựa chọn
Chương 4 Kết luận và kiến nghị Tác giả trình bày kết luận về các kết quả đạt được của nghiên cứu theo mục tiêu và nội dung nghiên cứu đã đặt ra và đề xuất một
số giải pháp góp phần giảm lượng CTR của hộ gia đình và nâng cao chất lượng hoạt động quản lý CTR ở ĐBSCL Ngoài ra, trên cơ sở kết quả nghiên cứu và những hạn chế của nội dung nghiên cứu, tác giả đưa ra những kiến nghị cho định hướng nghiên cứu sắp tới
Trang 21Khung phân tích
Hình 1.1 Khung phân tích
Ước tính mức sẵn lòng chấp nhận
Thảo luận, kết luận và gợi ý công cụ chính sách
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận tham gia chương trình phân loại tại nguồn của hộ gia đình
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chương trình (thay thế) phân loại tại nguồn của hộ gia đình
Ước tính mức sẵn lòng chấp nhận
Ước tính mức sẵn lòng chấp nhận (bù đắp) bằng phương pháp định giá ngẫu
nhiên
Ước tính mức sẵn lòng chấp nhận (bù đắp) bằng phương pháp mô
Trang 221.6 Đóng góp của luận án
Đầu tiên, luận án sử dụng đồng thời phương pháp CVM và phương pháp CM
để định giá và đối chiếu kết quả ước tính theo đề xuất của Boxall và cộng sự (1996) Mặc dù, một số nghiên cứu đã vận dụng cách tiếp này nhưng số lượng vẫn còn hạn chế và đặc biệt chưa được nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý CTR ở ĐBSCL Việc
sử dụng đồng thời hai phương pháp định giá phi thị trường này là cơ sở tin cậy hơn cho việc đề xuất các hàm ý chính sách
Ngoài ra, nghiên cứu định giá giá trị kinh tế bằng thước đo mức sẵn lòng chấp nhận của người dân để thực hiện hoạt động phân loại tại nguồn theo hướng tái chế Trong khi đa số các nghiên cứu định giá chương trình quản lý CTR sử dụng mức sẵn lòng chi trả mặc dù các nghiên cứu này thừa nhận cần có sự đóng góp của người dân bằng hoạt động phân loại tại nguồn
Cuối cùng, nghiên cứu này định giá kinh tế chương trình quản lý CTR là vấn
đề đang được Chính phủ quan tâm CTR cùng với sự gia tăng CTR là một trong nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, tác động tiêu cực đến lĩnh vực kinh tế và xã hội cũng như sức khỏe cộng đồng Việc đề xuất chính sách nhằm giải quyết vấn đề CTR sẽ góp phần cải thiện sức khỏe người dân cũng như giảm ô nhiễm môi trường
và hạn chế những tác động tiêu cực của CTR đến lĩnh vực kinh tế và xã hội
Trang 23
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung của chương này trình bày cơ sở lý thuyết về định giá giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về định giá chương trình quản lý chất thải rắn Đây là cơ sở để tác giả xác định các phương pháp nghiên cứu có liên quan và phát triển phương pháp phù hợp với mục tiêu
nghiên cứu của luận án Chương này bao gồm: Thứ nhất, tác giả trình bày định nghĩa giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường; Thứ hai, tác giả trình bày lý thuyết định giá giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường; Thứ ba, tác giả trình bày các phương pháp định giá giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường và Cuối cùng, dựa
vào lý thuyết và phương pháp định giá hàng hóa môi trường cùng với các nghiên cứu thực nghiệm được lược khảo, tác giả phát triển phương pháp nghiên cứu của luận án
2.1 Cơ sở lý luận 2.1.1 Khái niệm giá trị kinh tế
Trong những thập kỷ qua, việc định giá kinh tế hàng hóa môi trường và những thay đổi của hàng hóa môi trường đã trở thành một trong những lĩnh vực nghiên cứu quan trọng và phát triển mạnh nhất trong lĩnh vực kinh tế môi trường (Pearce và cộng sự, 2006; Sagoff, 2008) Vấn đề quan trọng đặt ra trong nghiên cứu định giá lợi ích của hàng hóa môi trường là cần xác định đúng định nghĩa của giá trị Các nhà kinh tế đã đưa ra định nghĩa giá trị của hàng hóa môi trường thông qua định nghĩa tổng giá trị kinh tế (Turner và cộng sự, 2003) Khái niệm giá trị kinh tế được
sử dụng phổ biến vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 để phân loại các lợi ích kinh tế đất ngập nước và tích hợp chúng vào việc ra quyết định (Barbier
và cộng sự, 1997)
Khái niệm giá trị kinh tế được xem là sự đối lại với quan niệm kinh tế thông thường xem giá trị của môi trường tự nhiên bao gồm nguyên liệu và sản phẩm vật chất cung cấp cho quá trình sản xuất và tiêu thụ của con người, đặc biệt tập trung vào các hoạt động thị trường và lợi nhuận thương mại Sự định giá thấp đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường trong nhiều các trường hợp dẫn đến việc đưa ra các quyết định mà kết quả kinh tế dưới mức tối ưu và trong trường hợp xấu nhất, đã phát sinh chi phí và tổn thất đáng kể đối với nền kinh tế (Emerton, 2005) Tổng giá trị kinh tế được định nghĩa là tổng giá trị của các nhóm giá trị cấu thành nên tổng giá trị kinh tế Việc phân loại các nhóm giá trị trong tổng giá trị kinh tế vẫn còn nhiều tranh cãi Có nhiều quan điểm khác nhau về các nhóm giá trị trong tổng giá trị kinh tế
Trang 24Pearce và cộng sự (2002) cho rằng nếu hàng hóa môi trường đóng góp tích cực vào cuộc sống của con người thì nó có giá trị kinh tế Tổng giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường bao gồm giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng (còn được gọi là giá trị thụ động) (Pearce và cộng sự, 2006) Khái niệm giá trị thụ động trở nên phổ biến vào năm 1989 sau khi có sự ủy quyền của Tòa án phúc thẩm Hoa Kỳ đưa giá trị này vào đánh giá sự thiệt hại đến tài nguyên thiên nhiên Nếu không bao gồm giá trị sử dụng thụ động thì giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường sẽ không được phản ánh đầy đủ Lúc này, hàng hóa môi trường sẽ bị cung cấp quá mức (Carson, 2000) Hoyos và Mariel (2010) cũng cho rằng việc loại trừ giá trị phi sử dụng sẽ cung cấp những cơ sở sai lệch cho các nhà hoạch định chính sách Vì vậy, thay vì chỉ xem xét các giá trị thương mại hoặc khai thác, khái niệm kinh tế còn xem xét giá trị tồn tại
và giá trị phi thị trường Chẳng hạn, giá trị kinh tế của vùng đất ngập nước về cơ bản liên quan đến một hệ thống tích hợp - nguồn tài nguyên hoặc tài sản của nó, giá trị của dịch vụ môi trường và các thuộc tính của toàn bộ hệ sinh thái (Barbier, 1994)
Turner và cộng sự (2003) phân loại tổng giá trị kinh tế thành giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng Trong đó, giá trị sử dụng bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp1, giá trị
sử dụng gián tiếp2, giá trị lựa chọn3
và giá trị phi sử dụng bao gồm giá trị kế thừa4 và giá trị tồn tại5
(xem hình 2.1) Pearce và cộng sự (2006) cũng cho rằng tổng giá trị kinh
tế bao gồm hai nhóm chính là giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng Giá trị sử dụng gồm giá trị sử dụng hiện tại và giá trị lựa chọn Giá trị phi sử dụng bao gồm giá trị kế
1
Giá trị sử dụng trực tiếp là giá trị của những hàng hóa dịch vụ do hàng hóa môi trường cung cấp cho tiêu dùng trực tiếp, giá trị từ việc sử dụng thực sự và trực tiếp hay tương tác với hàng hóa của cá nhân ở hiện tại Chẳng hạn, giá trị sử dụng trực tiếp của tài nguyên đất ngập nước là gỗ, củi, thủy sản, mật ong hay giá trị du lịch, giải trí
2
Giá trị sử dụng gián tiếp là giá trị của những dịch vụ do hàng hóa môi trường cung cấp cho tiêu dùng gián tiếp, giá trị của việc hỗ trợ và bảo vệ gián tiếp của hàng hóa đối với cá nhân ở hiện tại Chẳng hạn, giá trị sử dụng gián tiếp của tài nguyên đất ngập nước là lợi ích điều hòa khí hậu, hấp thụ CO 2 , phòng chống bão lũ của rừng ngập nước
3
Giá trị lựa chọn là giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp ở tương lại, giá trị được thể hiện dưới dạng cá nhân sẵn sàng trả tiền để bảo toàn hàng hóa cho tùy chọn sử dụng nó vào một ngày trong tương lai
Trang 25thừa, giá trị tồn tại và giá trị vị tha6
(xem hình 2.2) Điểm chung giữa các quan điểm này là chia tổng giá trị kinh tế thành hai nhóm chính là giá trị sử dụng, phát sinh từ việc
sử dụng thực tế hàng hóa nhất định, và giá trị phi sử dụng, giá trị của sự tồn tại của hàng hóa của các cá nhân coi trọng sự tồn tại hàng hóa mà không có ý định sử dụng nó ngay bây giờ hoặc trong tương lai
Giá trị sử dụng gián tiếp
Giá trị lựa chọn
Giá trị kế thừa
Giá trị tồn tại
Tổng giá trị kinh tế
Giá trị sử dụng hiện tại
Giá trị lựa chọn
Giá trị kế thừa
Giá trị tồn tại
Giá trị vị tha
Trang 262.1.2 Lý thuyết định giá giá trị kinh tế
Định giá kinh tế đề cập đến việc ấn định giá trị được tính bằng tiền của các tài sản, hàng hóa và dịch vụ, phi thị trường (Pearce và cộng sự, 2002) Hàng hóa và dịch vụ phi thị trường là những hàng hóa và dịch vụ không được trao đổi mua bán trên thị trường Chẳng hạn, lợi ích của không khí sạch hay lợi ích bảo tồn môi trường thiên nhiên của một công viên là hàng hóa không được mua bán trên thị trường Tuy nhiên, hành vi phòng ngừa tai nạn giao thông có thể được xem là dịch
vụ thị trường thông qua việc mua thiết bị an toàn hoặc thông qua hành vi lái xe an toàn
Lý thuyết kinh tế học phúc lợi là nền tảng cho việc định giá giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường, thường là chính sách, chương trình và hàng hóa công Mục
tiêu của hàng hóa môi trường là làm gia tăng phúc lợi xã hội (social welfare) Sự
thay đổi phúc lợi xã hội được giả định bằng tổng thay đổi phúc lợi của từng cá nhân trong xã hội Trong điều kiện nguồn lực bị ràng buộc, để tối đa hóa phúc lợi của sự thay đổi, xã hội phải so sánh tổng lợi ích thu về và tổng chi phí phát sinh từ sự thay đổi đó (Taylor và Frost, 2000) Hai nguyên tắc được sử dụng cho quá trình ra quyết định liên quan đến thay đổi phúc lợi xã hội trong lý thuyết kinh tế học phúc lợi bao
gồm tiêu chuẩn Pareto và tiêu chuẩn Pareto cải tiến Tiêu chuẩn Pareto phát biểu
rằng những sự thay đổi là điều xã hội mong muốn nếu kết quả của sự thay đổi đó có
thể làm cho mọi cá nhân hoặc ít nhất một cá nhân được tốt hơn (better - off) trong khi không có ai bị xấu đi (worse - off) Tiêu chuẩn Pareto trở thành nguyên tắc rất
hẹp và rất ít được sử dụng vì rất khó tìm được trường hợp mà một số người có thể tốt hơn mà lại không làm cho những người khác xấu đi Vì lý do đó tiêu chuẩn Pareto cải tiến hay còn gọi là tiêu chuẩn bù trừ trở thành tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến hơn Tiêu chuẩn Pareto cải tiến cho rằng một sự thay đổi nếu làm cho tổng phúc lợi có thêm (gain) nhiều hơn tổng phúc lợi mất đi (loss) thì nên tiến hành sự thay đổi đó Tiêu chuẩn này chấp nhận sự đánh đổi giữa phần được và phần mất trong xã hội miễn là có sự gia tăng trong tổng phúc lợi (Ellis, 1992)
Lợi ích xã hội và chi phí xã hội của hàng hóa môi trường được xác định bởi sở thích của cá nhân trong xã hội Hàng hóa và dịch vụ nào đó đóng góp vào hữu dụng của một cá nhân phụ thuộc vào việc nó có hay không đáp ứng sở thích của cá nhân
đó Hữu dụng của một cá nhân trong tình huống B được cho là cao hơn tình huống
A nếu cá nhân thích B hơn A Một cá nhân có được một lợi ích bất cứ khi nào cá nhân này nhận được một thứ gì đó mà người này cho là có giá trị và sẵn sàng từ bỏ một thứ khác để có được nó Vì vậy, ta có thể đo lường độ lớn của lợi ích bằng mức
độ sẵn sàng từ bỏ của cá nhân Ngược lại, một cá nhân chịu một sự thiệt hại khi họ sẵn lòng từ bỏ một thứ có giá trị để nhận được một thứ khác như là khoản bù đắp Do
Trang 27đó, ta cũng có thể sử dụng mức độ bù đắp để đo lường độ lớn của sự thiệt hại (Bateman và cộng sự, 2002)
Lợi ích xã hội và chi phí xã hội có thể được đo lường bằng cách sử dụng nhiều tiêu chuẩn khác nhau Tuy nhiên, vì đo lường trên nhiều cá nhân nên tiêu chuẩn được sử dụng phải đảm bảo điều kiện là các cá nhân thích có được nó nhiều hơn là
có ít Tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến trong kinh tế là tiền tệ Vì vậy, nếu tiền
được sử dụng để đo lường lợi ích thì lợi ích sẽ là mức sẵn lòng chi trả (Willingness
to Pay - WTP) để có được lợi ích, hay mức sẵn lòng chấp nhận (Willingness to
Accept - WTA) để từ bỏ lợi ích đó Tương tự, có thể đo lường chi phí bằng WTA để chịu đựng thiệt hại, hay WTP để tránh thiệt hại đó (Bateman và cộng sự, 2002)
Khái niệm WTP và WTA có nguồn gốc từ sự đo lường phúc lợi theo giá trị bù đắp (Compensating Variation - CV) và giá trị tương đương (equivalent variation -
EV) trong lý thuyết hàm cầu Hicks (hình 2.3 và hình 2.4) CV và EV thích hợp để ước tính giá trị của hàng hóa môi trường có giá thị trường hoặc không có giá thị trường Vì hàng hóa môi trường thường không có thị trường và không có giá cả nên cách tiếp cận theo CV và EV thích hợp và được sử dụng phổ biến hơn để đánh giá những nhóm giá trị khó lượng hóa, chẳng hạn, giá trị sử dụng gián tiếp, giá trị phi
sử dụng
Thứ nhất, giá trị bù đắp Hicksian CV của một hộ gia đình tiêu dùng hàng hóa thị trường, X, và chất lượng hàng hóa môi trường, Q, được định nghĩa là:
CV = e(p, Q 1 , U 1 ) – e(p, Q 1 , U 0) (2.1)
Với e(p, Q, U) là hàm chi tiêu của hộ gia đình Theo công thức (2.1), CV là
khoản chênh lệch chi tiêu của hộ gia đình trong tình huống mới với chi tiêu giả định
ở mức hữu dụng ban đầu U 0
với chất lượng môi trường mới Q 1 Trong tình huống
chất lượng môi trường được cải thiện (Q 1 > Q 0 ), mức hữu dụng U 1 lớn hơn mức hữu
dụng U 0 (U 1 >U 0 hay ∆U>0), CV (tương ứng với đoạn BC trong hình 2.4) có giá trị
dương là WTP cao nhất của hộ gia đình được bù đắp bằng mức hữu dụng tăng thêm
từ sự thay đổi chất lượng môi trường Trong tình huống chất lượng môi trường bị
suy giảm (Q 1 < Q 0 ), mức hữu dụng U 1 nhỏ hơn mức hữu dụng U 0 (U 1 <U 0 hay
∆U<0), CV (tương ứng với đoạn A’D’ trong hình 2.3) có giá trị âm là WTA nhỏ
nhất như là khoản bù đắp cho mức hữu dụng suy giảm mà hộ gia đình chịu đựng
Trang 28Hình 2.3 Mối quan hệ giữa CV, EV, WTP và WTA trong trường hợp chất lượng môi trường bị suy giảm
Hình 2.4 Mối quan hệ giữa CV, EV, WTP và WTA trong trường hợp chất lượng môi trường được cải thiện
Thứ hai, giá trị tương đương Hicksian EV được tính bởi công thức (2.2) dưới
Trong tình huống chất lượng môi trường được cải thiện, mức hữu
dụng U 1 lớn hơn mức hữu dụng U 0 (U 1 >U 0 hay ∆U>0), EV (tương ứng với khoản DA
ở hình 2.4) có giá trị dương là WTA thấp nhất tương đương với mức hữu dụng tăng thêm mà hộ gia đình từ bỏ Trong tình huống chất lượng môi trường bị suy giảm,
mức hữu dụng U 1 nhỏ hơn mức hữu dụng U 0 (U 1 <U 0 hay ∆U<0), EV (tương ứng với
đoạn C’B’ ở hình 2.3) có giá trị âm là WTP cao nhất tương đương với mức hữu dụng suy giảm mà hộ gia đình muốn tránh
Trang 29Mối quan hệ giữa khái niệm CV và EV và thước đo WTP và WTA được tóm tắt
trong Bảng 2.1
Bảng 2.1 Mối quan hệ giữa khái niệm CV và EV và thước đo WTP và WTA
Chất lượng môi trường được cải thiện (∆U>0)
Chất lượng môi trường bị suy giảm (∆U<0)
Như vậy, nếu sự thay đổi chất lượng môi trường tạo ra mức hữu dụng âm (U 0
> U 1) thước đo phúc lợi bù đắp là WTA, và thước đo phúc lợi tương đương là WTP
để tránh sự thay đổi này Nếu sự thay đổi chất lượng môi trường tạo ra mức hữu
sở thích và phương pháp phát biểu sở thích được sử dụng để định giá hàng hóa môi trường trong điều kiện không có giá thị trường (Pearce và Moran, 1994) (xem hình 2.5) Phương pháp bộc lộ sở thích bao gồm phương pháp chi phí du hành và phương pháp giá trị thụ hưởng Các phương pháp này tiến hành định giá giá trị kinh tế của hàng hóa thị trường, được xem là tương đương với hàng hóa môi trường cần định giá, từ đó, suy ra giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường (Bockstael và Kling, 1988) Nói một cách khác, phương pháp bộc lộ sở thích xác định các cách thức mà một hàng hóa phi thị trường ảnh hưởng đến thị trường thực của một số hàng hóa khác, tức là giá trị được bộc lộ thông qua thị trường thay thế (Pearce và cộng sự, 2002) Chẳng hạn, người dân dành tiền để đi du lịch đến các công viên và khu bảo tồn thiên nhiên, vì vậy, có thể xem xét các khoản chi tiêu đó để suy ra giá trị giải trí của các địa điểm tham quan này (phương pháp chi phí du hành) Hay ước tính giá trị kinh tế của ô nhiễm tiếng ồn được phản ánh trong giá nhà, giá nhà ở khu vực ồn ào
có thể rẻ hơn giá của những ngôi nhà tương đương ở những khu vực yên tĩnh hơn (phương pháp định giá thụ hưởng)
Phương pháp bộc lộ sở thích được cho là phù hợp để ước tính giá trị kinh tế của hàng hóa môi trường khi có tồn tại hàng hóa thị trường tương đương Tuy nhiên, để tìm được hàng hóa thị trường tương đương là việc làm rất phức tạp (Carson, 1998; Barkmann và cộng sự, 2008) Chính vì vậy, trong trường hợp khó
Trang 30hoặc không thể tìm hàng hóa thị trường tương đương, các nghiên cứu nên ưu tiên áp dụng sử dụng phương pháp phát biểu sở thích
Phương pháp phát biểu sở thích, bao gồm phương pháp phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) và phương pháp mô hình lựa chọn (CM), là các phương pháp định giá trực tiếp hàng hóa môi trường cần định giá với giả định rằng các cá nhân có thể bộc lộ sở thích thực sự của họ đối với hàng hóa môi trường thông qua hành vi của họ trong thị trường giả định (Hanley và cộng sự, 1998) Giả định này cũng có nghĩa là giá trị kinh tế gắn vào hàng hóa phi thị trường được nhắc đến trong bản câu hỏi Các cá nhân được khảo sát về việc họ sẵn sàng trả tiền cho các hàng hóa môi trường hoặc họ sẵn sàng chấp nhận khoản bồi thường cho việc mất mát các hàng hóa đó Ưu điểm nổi bật của phương pháp phát biểu sở thích là có thể được sử dụng
để định giá bất kỳ hàng hóa môi trường nào Đồng thời, yêu cầu dữ liệu của phương pháp phát biểu sở thích cũng không quá phức tạp (Diafas, 2016) Bên cạnh đó, phương pháp phát biểu sở thích được xem là phù hợp khi được sử dụng để ước tính các giá trị của tổng giá trị kinh tế đặc biệt là giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị phi
sử dụng của hàng hóa môi trường (Freeman III, 2014; Diafas, 2016) Cuối cùng, phương pháp phát biểu sở thích cho phép suy rộng giá trị kinh tế đã ước lượng cho địa bàn nghiên cứu (Hanley và cộng sự 1998) Điều này có thể quan trọng đối với các nước đang phát triển khi không có đủ nguồn lực tài chính và thời gian cho các cuộc khảo sát định giá lặp lại tại các địa bàn nghiên cứu được quan tâm trong thực
tế (Damigos và cộng sự, 2016)
Trang 31Nguồn: Bateman và cộng sự (2002)
Hình 2.5 Phương pháp định giá phi thị trường Ngoài ra, các nghiên cứu định giá có thể sử dụng phương pháp chuyển giao lợi ích, phương pháp định giá kinh tế dựa vào kết quả của các nghiên cứu trước, sử dụng phương pháp bộc lộ sở thích và phát biểu sở thích, và sử dụng kết quả giá trị kinh tế để áp dụng vào bối cảnh mới
Vấn đề đặt ra cho các nghiên cứu định giá hàng hóa phi thị trường là lựa chọn phương pháp bộc lộ sở thích hay phương pháp phát biểu sở thích Cả phương pháp bộc lộ sở thích và phương pháp phát biểu sở thích đều có thể được sử dụng để đo giá trị sử dụng, nhưng vấn đề đầu tiên là xem xét liệu cả hai lựa chọn có khả dụng trong thực tế hay không Trong một số bối cảnh có thể không có thị trường ủy
Phương pháp chi phí
du hành (WTP)
Giá thụ hưởng (WTP)
Hành
vi phòng ngừa (WTP)
Giá thị trường (WTP)
Mô hình lựa chọn (WTP/
WTA)
Định giá ngẫu nhiên (WTP)
Thí nghiệm lựa chọn
Xếp hạng ngẫu nhiên
So sánh cặp
Cho điểm ngẫu nhiên
Thị trường hàng hóa (WTP)
Thị trường lao động (WTA)
Trang 32quyền thích hợp để từ đó ước tính giá trị theo phương pháp bộc lộ sở thích, phương pháp phát biểu sở thích là lựa chọn duy nhất Nếu tồn tại thị trường thay thế thì phương pháp bộc lộ sở thích có thể được sử dụng miễn là chúng phù hợp với nhu cầu của phân tích Tuy nhiên, phương pháp bộc lộ sở thích không thể ước tính giá trị phi sử dụng Phương pháp phát biểu sở thích là cách tiếp cận duy nhất có thể ước tính được giá trị này Phương pháp CVM và phương pháp CM đều có thể ước tính giá trị phi sử dụng
Mặc dù về nguyên tắc, phương pháp phát biểu sở thích có thể được sử dụng để đánh giá bất kỳ tác động nào, nhưng trên thực tế, có thể tồn tại hạn chế về nhận thức đối với việc phát biểu sở thích Chẳng hạn, cá nhân có thể không hiểu đầy đủ những thay đổi rất nhỏ của hàng hóa môi trường hoặc hàng hóa môi trường phức tạp như
đa dạng sinh học Kiểm tra sự tồn tại của những hạn chế này bằng cách tham chiếu với các nghiên cứu trước đó và sử dụng thảo luận nhóm Trong trường hợp các cá nhân không thể hiểu rõ sự thay đổi của hàng hóa (theo giả định) thì việc ước tính sự thể hiện sở thích có xu hướng tạo ra các ước tính "sai" Điều này là do "thất bại" về nhận thức chuyển thành sự thất bại về hành vi và do đó giá thị trường sẽ không biểu diễn bất kỳ phản ứng nào đối với sự thay đổi Tuy nhiên, phương pháp phát biểu sở thích có thể tạo ra dữ liệu có giá trị, đặc biệt nếu người trả lời có thể được cung cấp với các mức độ thông tin khác nhau về hàng hóa
Nếu phương pháp phát biểu sở thích được chọn thay vì phương pháp bộc lộ sở thích, câu hỏi được đặt ra tiếp theo là phương pháp phát biểu sở thích nào nên được
sử dụng? Câu trả lời phụ thuộc một phần vào mức độ chi tiết được yêu cầu đối với các đặc điểm của hàng hóa hoặc tác động được định giá Đôi khi có thể xem xét sử dụng cả phương pháp CVM và CM, để nâng cao tính vững chắc và để kiểm tra các thành phần cơ bản của giá trị Bất kỳ hàng hóa nào có thể được tạo ra từ một nhóm các thuộc tính và nếu quan tâm về giá trị kinh tế của các đặc điểm khác nhau của hàng hóa được đề cập thì phương pháp CM là phương pháp phù hợp Tuy nhiên, sự thay đổi của các thuộc tính không thể tương quan đồng thời và cần có sự cân bằng
rõ ràng giữa chúng Mặt khác, một số nghiên cứu chỉ cần trả lời các câu hỏi về hàng hóa (ví dụ: giá trị kinh tế của vùng đất ngập nước?) Nhưng có thể có những bối cảnh mà điều quan trọng là đặc điểm của vùng đất ngập nước - thành phần của các địa điểm quan sát, tiềm năng dịch vụ bơi thuyền hoặc cắm trại, tiện ích trong khuôn viên, hoặc thậm chí là sự kết hợp của động vật hoang dã
2.1.3.2 Phương pháp định giá ngẫu nhiên
Trang 33định đầu tiên có nghĩa là cá nhân có thể so sánh và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên của tất cả các lựa chọn tiêu dùng Giả định thứ hai, giả định về tính bắc cầu được coi là cần thiết cho tính nhất quán trong sở thích của người tiêu dùng Giả định thứ ba là
tất cả hàng hóa đều được mong muốn – nghĩa là đều tốt Do vậy, người tiêu dùng luôn luôn thích có nhiều hàng hóa hơn là có ít hàng hóa
Như vậy, dựa vào ba giả định về sở thích này, một cá nhân có thể cho biết sự lựa chọn này được ưa thích hơn lựa chọn khác hay bàng quan với cả hai Đây là cơ
sở để cá nhân cung cấp bảng xếp hạng tương đối tất cả các lựa chọn tiêu dùng Tuy nhiên, việc gán các giá trị bằng số cho các lựa chọn là một việc làm rất cần thiết Việc sử dụng cách tiếp cận định lượng này giúp mô tả sở thích của cá nhân bằng
cách gán số điểm cho các mức hữu dụng tương ứng với mỗi đường bàng quan Khái niệm hữu dụng có nghĩa rộng hơn là ―lợi ích‖ hay ―sự thỏa mãn‖ Một cá
nhân nhận được ―hữu dụng‖ bằng cách nhận lấy những thứ mang lại cho họ lợi ích
và tránh những thứ mang lại thiệt hại Trong ngôn ngữ kinh tế học, hữu dụng được thể hiện bởi số điểm đại diện cho sự thỏa mãn mà một cá nhân có được từ sự lựa chọn tiêu dùng Nói cách khác, hữu dụng là một công cụ được dùng để đơn giản hóa việc xếp hạng các sự lựa chọn tiêu dùng Các sự lựa chọn tiêu dùng của cá nhân có
thể được biểu diễn bằng các đường bàng quan Một đường bàng quan thể hiện tất
cả các kết hợp các tập hợp hàng hóa khác nhau cùng mang lại mức thỏa mãn như nhau cho một cá nhân Do vậy cá nhân sẽ bàng quan với các tập hợp hàng hóa thể
hiện tại các điểm trên đường bàng quan Mức hữu dụng cho từng tập hợp hàng hóa
được mô tả bởi công thức còn được gọi hàm hữu dụng
Hữu dụng (Utility) = U(x 1 , x 2 , …, x n) (2.3)
Trong đó: x j (j= 1, 2, …, n) là số lượng hàng hóa được tiêu dùng
Các cá nhân luôn muốn tối đa hóa hữu dụng Tối đa hóa hữu dụng trong điều kiện ngân sách bị giới hạn, người tiêu dùng sẽ cân nhắc mua lượng hàng hóa trong thu nhập và dựa trên tỷ lệ thay thế biên giữa hai hàng hóa bằng với tỷ lệ tại điểm hàng hóa được mua với hàng hóa khác trên thị trường
Giá trị tối ưu phụ thuộc vào giá của tất cả hàng hóa trong rổ hàng và thu nhập của người tiêu dùng
= x 1 (p 1 , p 2 , …, p n , I) = x 2 (p 1 , p 2 , …, p n , I)
= x n (p 1 , p 2 , …, p n , I) Công thức thể hiện sự phụ thuộc của lượng hàng hóa x n vào p 1 , p 2 , …, p n , và I
Trang 34Maximum utility = U[ (p 1 , p 2 , …, p n , I), (p 1 , p 2 , …, p n , I), …, (p 1 , p 2 , …, p n , I)] = V(p 1 , p 2 , …, p n , I) (2.4)
Như vậy, nói một cách khác, do mong muốn của người tiêu dùng là tối đa hóa hữu dụng trong điều kiện ngân sách bị giới hạn, mức hữu dụng tối ưu có được phụ thuộc vào giá của các hàng hóa và thu nhập của họ Sự phụ thuộc này được phản ánh
bởi hàm hữu dụng gián tiếp V Nếu giá của hàng hóa hoặc thu nhập của người tiêu
dùng thay đổi, mức hữu dụng có thể đạt được sẽ bị ảnh hưởng Đôi khi, cả lý thuyết hành vi tiêu dùng và nhiều bối cảnh khác, cách tiếp cận gián tiếp có thể được sử dụng
để nghiên cứu những thay đổi trong hoàn cảnh kinh tế ảnh hưởng như thế nào đến hữu dụng
Do đó, các nghiên cứu khi sử dụng phương pháp CVM cần sử dụng lý thuyết hành vi tiêu dùng để lý giải về sở thích của người tiêu dùng đối với các hàng hóa phi thị trường được nghiên cứu Phần tiếp theo, nghiên cứu sẽ luận giải chi tiết về phương pháp CVM
Phương pháp định giá ngẫu nhiên
Phương pháp CVM là phương pháp phát biểu sở thích đầu tiên được áp dụng trong việc định giá các nguồn lực không có thị trường Nguồn gốc của phương pháp này có thể bắt nguồn từ nghiên cứu của Ciriacy-Wantrup (1947), sử dụng khảo sát ý kiến của cộng đồng để thu thập các giá trị cho hàng hóa công cộng Tuy nhiên, nghiên cứu của Davis (1963), ước tính giá trị giải trí ngoài trời ở khu rừng Maine (New England, Hoa Kỳ), được xem là nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương pháp CVM đầu tiên Sau đó, phương pháp CVM trở thành phương pháp phổ biến trong định giá giá trị giải trí và các lĩnh vực khác như kiểm soát ô nhiễm không khí, cảnh quan, vùng đất ngập nước và các hàng hóa công cộng khác không chỉ riêng hàng hóa liên quan đến môi trường (Smith, 2006)
Phương pháp CVM thu thập WTP/WTA của người trả lời sau khi trình bày kịch bản bằng năm dạng câu hỏi Các dạng câu hỏi gồm câu hỏi mở, câu hỏi dạng trò chơi đấu thầu, câu hỏi dạng thẻ, câu hỏi lựa chọn phân đôi một giới hạn, câu hỏi lựa chọn phân đôi hai giới hạn (Bateman, 2002) Nghiên cứu sử dụng dạng câu hỏi
mở sẽ tiến hành yêu cầu người trả lời tự đưa ra WTP/WTA cho hàng hóa Các kỹ thuật thống kê số liệu mức giá của dạng câu hỏi này đơn giản Tuy nhiên, tỷ lệ phản hồi của câu hỏi dạng này không cao bởi vì người trả lời gặp khó khăn để đưa ra WTP/WTA Ngược lại, câu hỏi dạng đóng (trò chơi đấu thầu, thẻ và lựa chọn phân đôi) giúp giải quyết được khó khăn mà người trả lời gặp phải ở câu hỏi dạng mở
Người trả lời chỉ quyết định đồng ý hay không đồng ý với mức Bid cho sẵn
(Bateman, 2002)
Trang 35Ở dạng câu hỏi mở, người trả lời không lựa chọn các mức Bid cho trước mà tự
đưa ra mức WTP tối đa hay WTA tối thiểu Vì vậy, người trả lời không bị chi phối bởi
mức bid cho trước Đồng thời, các phương pháp thống kê để ước tính mức WTP/WTA
thu thập được không quá phức tạp Tuy nhiên, các nghiên cứu sử dụng dạng câu hỏi này thường đối mặt với tỷ lệ từ chối trả lời cũng như tỷ lệ câu trả lời không đồng tình
và câu trả lời với giá trị 0 tương đối cao và nhìn chung những phản hồi không đáng tin cậy (Mitchell và Carson, 1989) Điều này là do người trả lời có thể rất khó khăn để đưa
ra WTP/WTA cho hàng hóa môi trường mà họ chưa biết đến và chưa bao giờ nghĩ đến việc định giá trước đây Hơn nữa, hầu hết các giao dịch thị trường hàng ngày liên quan đến việc quyết định mua hay không mua hàng hóa với giá nhất định (Pearce và cộng
sự, 2006)
Câu hỏi dạng trò chơi đấu giá là một trong những kỹ thuật được sử dụng rộng rãi nhất trong những năm 1970 và những năm 1980 Ở dạng này, giống như một cuộc đấu giá, người trả lời tham gia nhiều vòng câu hỏi lựa chọn rời rạc, với câu hỏi cuối cùng là dạng câu hỏi mở Việc lặp lại với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình suy nghĩ và suy xét một cách cẩn thận của người trả lời Nhược điểm
chính của dạng câu hỏi này là khả năng sai lệnh mức Bid khởi điểm mà nó dẫn đến các phản hồi dị biệt và hiện tượng người trả lời chấp nhận mức Bid để tránh sự xấu
hổ khi họ trả lời là không
Câu hỏi dạng thẻ được xem là dạng cải tiến thay thế của câu hỏi dạng mở và câu hỏi dạng trò chơi đấu giá Ở dạng câu hỏi này, người trả lời lựa chọn từ nhiều
mức Bid cho trước Cách này tránh được sự sai lệnh mức Bid khởi điểm cũng như
phản hồi dị biệt Tuy nhiên, câu hỏi dạng thẻ dễ bị sai lệch liên quan đến phạm vi của các con số được sử dụng trong thẻ và vị trí của các điểm chuẩn
Việc sử dụng câu hỏi lựa chọn phân đôi một giới hạn trở nên phổ biến vào những năm 1990 Ở dạng câu hỏi này, người trả lời chỉ cần đưa ra quyết định chấp
nhận hay không chấp nhận với mức Bid cho sẵn Khi WTP/WTA của người trả lời cao hơn mức Bid cho trước nào đó, họ sẽ chấp nhận mức bid đó và ngược lại Dạng
câu hỏi này trở thành dạng câu hỏi tối ưu cho định giá hàng hóa môi trường khi nó được công nhận bởi hội đồng NOAA (Arrow và cộng sự, 1993) Nó giúp các nghiên cứu giảm thiểu hiện tượng không phản hồi và tránh được những phản hồi dị biệt Tuy nhiên, giá trị ước tính từ cách thu thập số liệu này được cho là cao hơn nhiều so với thực tế và cao hơn đáng kể so với giá trị ước tính từ dạng câu hỏi mở và câu hỏi dạng thẻ tương ứng (Bateman và cộng sự, 1999)
Câu hỏi lựa chọn phân đôi hai giới hạn là một dạng khác của câu hỏi lựa chọn
phân đôi Ở dạng này, người trả lời được yêu cầu trả lời hai câu hỏi đưa ra mức bid đầu tiên và câu hỏi đưa ra mức Bid thứ hai Dạng câu hỏi này đã phát huy được hiệu
quả hơn so với việc sử dụng câu hỏi lựa chọn phân đôi một giới hạn vì nó có thêm
Trang 36thông tin liên quan đến sở thích cá nhân của từng người trả lời (Bateman và cộng
sự, 1999) Tuy nhiên, Pearce và cộng sự (2006) cho rằng dạng câu hỏi này vẫn còn hạn chế của dạng câu hỏi lựa chọn phân đôi đơn giới hạn Người trả lời có thể
không quan tâm và không phản hồi câu hỏi mức Bid thứ hai do họ nghĩ rằng câu hỏi
mức bid đầu tiên và câu hỏi mức bid thứ hai là độc lập Hơn nữa vẫn có khả năng
xảy ra sai lệnh ở mức Bid khởi điểm và những câu trả lời đồng ý để cho qua vấn đề
Dựa vào ưu và nhược điểm của mỗi dạng câu hỏi của phương pháp CVM, nghiên cứu này lựa chọn dạng câu hỏi lựa chọn phân đôi một giới hạn để thu thập
số liệu WTA của người dân để thực hiện hoạt động phân loại CTR tại nguồn Bởi
vì, việc đưa ra quyết định chấp nhận hay không chấp nhận mức Bid cho trước của
hàng hóa môi trường giống với cách mà người trả lời đưa ra quyết định mua hay không mua hàng hóa thị trường với giá nhất định trong điều kiện ràng buộc về ngân sách Đồng thời, mặc dù câu hỏi dạng lựa chọn phân đôi một giới hạn chỉ thu thập được ít thông tin từ mỗi người trả lời, chỉ biết được WTP/WTA là lớn hơn hay nhỏ
hơn mức Bid nào đó, nhưng với cỡ mẫu lớn các nghiên cứu vẫn có thể thực hiện
việc ước lượng WTP/WTA một cách đáng tin cậy
2.1.3.3 Phương pháp mô hình lựa chọn
Lý thuyết cầu của Lancaster là nền tảng lý thuyết của phương pháp CM Nội dung của lý thuyết cầu này được trình bày dưới đây
Lý thuyết cầu của Lancaster
Lancaster (1966) đã đưa ra lý thuyết mới về hành vi của người tiêu dùng, lý thuyết này được tóm tắt như sau:
Thứ nhất, hàng hóa không đem lại hữu dụng cho người tiêu dùng; hàng hóa có các thuộc tính, và những thuộc tính này đem lại hữu dụng cho người tiêu dùng Thứ hai, một hàng hóa nào đó sẽ sở hữu nhiều hơn một thuộc tính và một thuộc tính nào đó sẽ có trong nhiều hàng hóa
Thứ ba, khi kết hợp nhiều hàng hóa khác nhau thì sẽ có được nhiều thuộc tính
và những thuộc tính này là những thuộc tính của từng hóa hóa riêng lẻ
Lý thuyết của Lancaster còn được gọi là lý thuyết hữu dụng đa thuộc tính (multi-attribute utility) cho rằng mức hữu dụng xuất phát từ thuộc tính hàng hóa mang lại thay vì số lượng hàng hóa được tiêu dùng như giả định trong kinh tế học vi
mô cổ điển Người tiêu dùng không quan tâm đến hàng hóa trên thị trường bằng chính những thuộc tính hay đặc điểm của chúng Ví dụ, những thuộc tính của một loại thực phẩm được người tiêu dùng quan tâm gồm hàm lượng calo, protein,
vitamin, v.v… hoặc mức hữu dụng khi ăn một trái cam phụ thuộc vào mức độ ngọt,
tươi, cảm nhận an toàn, và mức giá của trái cam đó
Trang 37Người tiêu dùng hài lòng với những đặc điểm tiêu dùng của hàng hóa và sẽ lựa chọn hàng hóa theo nguyên tắc tối đa hóa mức hữu dụng Mối quan hệ giữa mức hữu dụng của người tiêu dùng và những đặc điểm tiêu dùng được xác định bằng hàm hữu dụng:
U = U (Z i , … , Z m) (2.5) Trong đó:
Z i là tổng lượng của đặc điểm hoặc thuộc tính i đã tiêu dùng
Z m là tổng lượng của đặc điểm hoặc thuộc tính m đã tiêu dùng
Giả sử: mỗi thuộc tính đều được lượng hóa dễ dàng Tổng lượng thuộc tính i trong một rổ hàng hóa là tổng của các lượng mà thuộc tính i có trong mỗi hàng hóa riêng biệt Tổng lượng của thuộc tính i đã tiêu dùng (Z i)) được tính bằng công thức:
Z i = bi1Q 1 + bi2Q 2 + … + binQ n = ∑ Q j ; i= 1, 2, …, n (2.6) Trong đó:
bij là khối lượng của thuộc tính thứ i trong một lượng đơn vị hàng hóa thứ j
Q j là số lượng hàng hóa thứ j.
Người tiêu dùng sẽ lựa chọn mua số lượng từng loại sản phẩm trong rổ hàng hóa để có mức hữu dụng cao nhất Tuy nhiên, sự lựa chọn này bị giới hạn bởi thu nhập
và mức thu nhập để có được lượng tối đa của mỗi thuộc tính và tạo ra mức hữu dụng tối đa Giả định rằng, người tiêu dùng có khác nhau về thị hiếu và sở thích đối với đặc điểm tiêu dùng nhưng không khác nhau về trình độ sành sỏi mua sắm
Để minh họa thực chất sự cân bằng của người tiêu dùng trong mô hình Lancaster, giả sử thị trường chỉ có hai loại thực phẩm và mỗi loại có hai thuộc tính
là chất dinh dưỡng 1 và chất dinh dưỡng 2 (Z 1 , Z 2) Ở hình 2.6, sản phẩm Q1 cung cấp các chất dinh dưỡng theo tỷ lệ OM, trong khi Q2 cung cấp với tỷ lệ ON Nên lưu ý rằng, có thể tính toán được từng đơn vị của các đặc điểm trên hai trục tọa độ
Trang 38họ Người tiêu dùng có 3 lựa chọn: thứ nhất, chỉ mua sản phẩm Q1, mua tổ hợp cả hai loại sản phẩm, chỉ mua sản phẩm Q2
Lý thuyết cầu của Lancaster trong một số lĩnh vực mà lý thuyết cổ điển còn bỏ trống Trước hết, lý thuyết Lancaster cho rằng những hàng hóa có những thuộc tính như nhau thì có liên quan mật thiết trong tiêu dùng (và nhất là có các hệ số co giãn giá chéo lớn hơn) Như vậy, nhu cầu đối với thịt bò và thịt gà có liên quan mật thiết hơn là nhu cầu đối với thịt bò và tờ báo chẳng hạn Dù đó dường như là điều hoàn toàn đương nhiên nhưng với lý thuyết cổ điển vẫn không rút ra kết luận đó được Lý thuyết cổ điển không nêu được vấn đề gì về sản phẩm có tính thay thế gần gũi
Hai là, lý thuyết Lancaster giúp ta nắm được hai hiện tượng rất phổ biến trong đời sống hằng ngày: sự đa dạng hóa sản phẩm và quảng cáo Bởi lẽ, người tiêu dùng
có thị hiếu khác nhau đối với những thuộc tính của hàng hóa nên nhiều doanh nghiệp hoặc thậm chí một doanh nghiệp thường sản xuất ra những nhóm mặt hàng
mà các thuộc tính chỉ khác nhau đôi chút Và đó cũng không phải là sắc thái duy nhất ở thị trường hàng hóa phải qua gia công, chế biến Chủng loại phong phú của thực phẩm bán lẻ cũng là bằng chứng của sự đa dạng hóa sản phẩm Thậm chí đối với những loại thực phẩm gần như không qua chế biến như hoa quả, rau xanh, nhà trồng trọt còn luôn luôn tìm kiếm giống cây trồng mới, không phải nhằm đạt năng suất cao hơn (tuy cũng có khi đây là mục đích chủ yếu) mà là để cho các thuộc tính
của sản phẩm như màu sắc, hương vị, độ chắc mịn, v.v… đổi khác đi
N
Trang 39Cuối cùng, mô hình Lancaster có thể được sử dụng để làm cơ sở phân tích nhu cầu đối với những sản phẩm hiện có Hành vi của người tiêu dùng đối với hàng hóa hiện có có thể được dùng để làm thước đo nhu cầu các thuộc tính của hàng hóa mới hoặc hàng hóa cải tiến
Lưu ý rằng việc ứng dụng mô hình Lancaster sẽ gặp một số trở ngại vì điều quan trọng là phải xác định và đo lường được tất cả các thuộc tính có liên quan của hàng hóa Ví dụ, các thuộc tính của của thực phẩm gồm mẫu mã, màu sắc, hương
vị, quy cách và thành phần dinh dưỡng có tác động đến lượng mua sắm nhưng một
số thuộc tính lại khó lượng hóa (Colman & Young, 1989)
Phương pháp mô hình lựa chọn
Phương pháp CM là phương pháp phát biểu sở thích được sử dụng để định giá giá trị kinh tế của các thuộc tính của hàng hóa môi trường Các thuộc tính cùng với các mức độ của thuộc tính là cơ sở cho việc xây dựng các lựa chọn thay thế tương ứng với kịch bản khác nhau của chương trình quản lý CTR Vì vậy, khi người trả lời thực hiện việc chọn lựa giữa các lựa chọn thay thế đồng nghĩa với việc họ thực hiện việc đánh đổi giữa các mức độ của các thuộc tính trong các lựa chọn thay thế khác nhau trong mỗi nhóm lựa chọn Từ sự đánh đổi này, giá trị tiền tệ của từng thuộc tính trong các lựa chọn thay thế được ước tính Các lựa chọn thay thế thường bao gồm lựa chọn ―không tham gia‖ hoặc ―không đổi‖ Lựa chọn thay thế này ngụ ý rằng người trả lời có thể bày tỏ sự không hài lòng với các lựa chọn thay thế khác trong tập hợp lựa chọn Do đó, tình huống lựa chọn này giống với tình huống thị trường thực tế, mọi người có thể chọn tham gia và không tham gia vào bất kỳ giao dịch cụ thể nào
Các dạng câu hỏi của phương pháp CM bao gồm thí nghiệm lựa chọn, xếp hạng ngẫu nhiên, cho điểm ngẫu nhiên và so sánh theo cặp Thí nghiệm lựa chọn là một hình thức lập mô hình lựa chọn trong đó người trả lời được trình bày với một loạt các lựa chọn thay thế và được yêu cầu chọn lựa chọn thích nhất Xếp hạng ngẫu nhiên là một hình thức lập mô hình lựa chọn trong đó người trả lời được yêu cầu xếp hạng một bộ lựa chọn Cho điểm ngẫu nhiên là một dạng lập mô hình lựa chọn trong đó người trả lời được trình bày với một số tình huống và được yêu cầu cho điểm các lựa chọn một cách riêng lẻ trên thang điểm được nghiên cứu quy định Ở dạng so sánh theo cặp, người trả lời được trình bày đồng thời hai lựa chọn và được yêu cầu chọn một lựa chọn và cho điểm mức độ ưa thích đối với lựa chọn đó Dạng
so sánh cặp là dạng kết hợp giữa thí nghiệm lựa chọn và cho điểm ngẫu nhiên (Bateman và cộng sự, 2002)
Phương pháp CM được thực hiện qua sáu bước, bao gồm (i) lựa chọn các thuộc tính, (ii) lựa chọn các mức độ của thuộc tính, (iii) thiết kế thí nghiệm, (iv) xây
Trang 40dựng các bộ lựa chọn, (v) lựa chọn các dạng câu hỏi và (vi) lựa chọn mô hình ước lượng Các bước này được trình bày ở Bảng 2.2 dưới đây
Bảng 2.2 Các bước thực hiện của phương pháp mô hình lựa chọn
Lựa chọn các thuộc tính
Xác định các thuộc tính của hàng hóa cần định giá Việc lược khảo tài liệu, thảo luận nhóm và tham vấn chuyên gia có thể được sử dụng để xác định và
chọn lựa những thuộc tính phù hợp Thuộc tính mức Bid là một thuộc tính
cần được lựa chọn
Xác định các mức độ của thuộc tính
Các mức độ của thuộc tính cần khả thi, thực tế, có khoảng cách không tuyến tính và trải dài trong phạm vi bản đồ tùy chọn của người trả lời Thảo luận nhóm, khảo sát thử, lược khảo tài liệu và tham vấn chuyên gia là công cụ hỗ trợ để xác định các mức độ của thuộc tính Mức độ ―hiện trạng‖ là mức độ cần được lựa chọn
Lựa chọn cách thiết kế
Lý thuyết thiết kế thống kê được sử dụng để kết hợp các mức độ của các thuộc tính thành một số lựa chọn thay thế khác nhau sẽ được trình bày cho người trả lời
Thiết kế giai thừa hoàn chỉnh cho phép ước lượng sự tác động đầy đủ của
các thuộc tính khi lựa chọn: bao gồm tác động của từng thuộc tính riêng lẻ được nêu ra (tác động chính) và mức độ mà hành vi được kết nối với sự thay đổi của các kết hợp các thuộc tính khác nhau được nêu ra (sự tương tác) Những thiết kế này thường bắt đầu từ một số lượng lớn các kết hợp giả thuyết để được định giá
Thiết kế giai thừa phân số có thể làm giảm số lượng các lựa chọn đồng thời
làm giảm sai số khi ước tính các tham số
Xây dựng bộ lựa chọn
Các lựa chọn được xác định bởi thiết kế thử nghiệm sau đó được nhóm lại thành các bộ lựa chọn để trình bày cho người trả lời Các lựa chọn có thể được trình bày riêng lẻ, theo cặp hoặc theo nhóm
Lựa chọn dạng câu hỏi
Lựa chọn một dạng câu hỏi trong các dạng: thí nghiệm lựa chọn, xếp hạng ngẫu nhiên, cho điểm ngẫu nhiên và so sánh cặp
Lựa chọn mô hình ước lượng
Các mô hình ước lượng có thể được sử dụng: ước lượng bình phương bé nhất hay ước lượng thích hợp cực đại (như logit, probit, logit điều kiện, nest logit,
mô hình dữ liệu bảng, v.v… Biến không thay đổi giữa các lựa chọn thay thế
phải tương tác với các thuộc tính được sử dụng trong lựa chọn
Nguồn: Bateman và cộng sự (2002)
Dạng câu hỏi thí nghiệm lựa chọn
Việc phân tích dữ liệu thu được từ dạng câu hỏi thí nghiệm lựa chọn là phần
mở rộng của việc phân tích hữu dụng ngẫu nhiên thuộc phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) Sự khác biệt cơ bản trong phân tích dữ liệu của dạng câu hỏi thí nghiệm lựa chọn là sự phản hồi từ mỗi cá nhân, đưa ra lựa chọn giữa nhiều hơn hai lựa chọn thay thế tại một thời điểm
Việc phân tích dữ liệu từ thí nghiệm lựa chọn xuất phát từ lý thuyết kinh tế học Lancaster (1966), trong đó, cá nhân nhận được lợi ích từ các thuộc tính của hàng hoá chứ không phải trực tiếp từ chính hàng hoá đó Lý thuyết Lancaster về giá trị của các mô hình hữu dụng ngẫu nhiên của người tiêu dùng đối với sự lựa chọn rời rạc/liên tục (Hanemann, 1984 và 1999) Nhìn chung, quyết định của một cá nhân