Vậy, tìm hiểu các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến kết quả rèn luyện của sinh viên là rất cần thiết để có thể đưa ra các biện pháp toàn diện và cụ thể mang tính thực tế để c
Trang 1Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Bối cảnh nghiên cứu:
Để hội nhập quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa, trường đại học Thương mại là một trong các trường đại học lớn của Việt Nam rất chú trọng đào tạo ngoại ngữ cho sinh viên Sinh viên của trường không chỉ được đánh giá tốt về khả năng tiếng Anh
mà còn được trang bị ngôn ngữ thứ hai (tiếng Pháp hoặc tiếng Trung) để đáp ứng
yêu cầu cao của thị trường lao động
Sinh viên khoa Đào tạo quốc tế cũng đặc biệt chú trọng môn học này vì ngoại ngữ đóng vai trò rất quyết định đến thành công trong học tập của sinh viên: tiếng Anh hay tiếng Pháp sẽ là ngôn ngữ học tập các môn chuyên ngành kinh tế giảng dạy bởi giáo viên nước ngoài hoặc giáo viên Việt Nam Chuyên ngành tiếng Pháp thương mại mới tuyển sinh từ năm 2013, thu hút nhiều sinh viên theo học Chuyên ngành này yêu cầu sinh viên
từ năm thứ ba sẽ phải học một số môn chuyên ngành bằng tiếng Pháp Vì vậy, đối với sinh viên tiếng Pháp thương mại, ngoại ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp khi đi làm mà
còn là công cụ học tập vô cùng quan trọng để thành công
Kĩ năng diễn đạt nói là một trong bốn kĩ năng giao tiếp cơ bản khi học một
ngoại ngữ Theo Khung chuẩn đánh giá năng lực ngôn ngữ Châu Âu (CECRL), diễn đạt nói được đánh giá qua hai kĩ năng cơ bản: phản xạ giao tiếp và thuyết trình Để rèn luyện tốt hai kĩ năng nói này, người học không chỉ cần nắm chắc các kiến thức ngữ pháp từ vựng mà còn cần rèn luyện các kĩ năng riêng phù hợp với từng yêu cầu
giao tiếp: tìm ý, sắp xếp ý, đảm bảo tốc độ, sự trôi chảy, lưu loát, tự nhiên
Tuy nhiên, kết quả rèn luyện kĩ năng nói của sinh viên tiếng pháp thương mại thi
đầu vào khối A (chưa học tiếng Pháp ở phổ thông), còn hạn chế: lỗi phát âm, thiếu từ vựng và thiếu tự tin khi giao tiếp Sinh viên chưa thật chủ động phát biểu và rèn luyện trong giờ Giảng viên trực tiếp trên lớp phàn nàn về sự chuyên cần và hiệu quả rèn
luyện nói của sinh viên
Vậy, tìm hiểu các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến kết quả rèn
luyện của sinh viên là rất cần thiết để có thể đưa ra các biện pháp toàn diện và cụ thể mang tính thực tế để cải thiện kĩ năng diễn đạt nói, một trong số kĩ năng quan trọng
nhất khi học một ngoại ngữ
Trang 2Trong lĩnh vực nghiên cứu giảng dạy kĩ năng nói tiếng Pháp ở Việt Nam, đã có
nhiều nghiên cứu nhưng thường thiên về tìm hiểu thực trạng (nghiên cứu mô tả) hoặc đánh giá hiệu quả việc áp dụng một phương pháp mới (nghiên cứu hành động): “ Cải
tiến việc dạy diễn đạt nói cho sinh viên năm thứ ba ĐH Thăng Long” của tác giả Trịnh Thị Hồng Hạnh (2007); “Nghiên cứu khó khăn trong kĩ năng nói của sinh viên học tiếng Pháp ngoại ngữ hai ở trường ĐH Bách Khoa Hà Nội” của tác giả Dương Thị Quỳnh Nga (2007), “ Để cải thiện việc dạy và học kĩ năng nói cho sinh viên năm thứ nhất ĐH Y Thái Bình” của tác giả Lê Thị Hồng Minh (2010), “ Nghiên cứu lỗi sai trong diễn đạt nói của sinh viên song ngữ Pháp-Anh của sinh viên năm thứ nhất
ĐH Thái Nguyên” của tác giả Hoàng Thu Nga (2012) Vậy, hiện nay chưa có nghiên
cứu nào tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói tiếng Pháp (nghiên cứu tương
quan) ở Việt Nam nói chung và ở trường ĐH Thương mại nói riêng
Xuất phát từ thực tế dạy/học kĩ năng nói, nhu cầu mong muốn tìm hiểu các nhân
tố ảnh hưởng để cải thiện kĩ năng này cho sinh viên và khoảng trống trong nghiên
cứu hiện nay, đề tài chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ
năng diễn đạt nói tiếng Pháp của sinh viên chuyên ngành tiếng Pháp thương mại.”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả rèn luyện kĩ năng diễn đạt nói của sinh viên (năm thứ nhất và thứ hai) học tiếng Pháp cơ bản để tìm ra các biện pháp nâng cao hiệu quả học tập nhằm đảm bảo chuẩn đầu ra của sinh viên
cử nhân quản trị kinh doanh, chuyên ngành tiếng Pháp thương mại, một chuyên ngành học bằng tiếng Pháp mới mở của ĐH Thương mại
1.3 Câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu:
Nghiên cứu này khảo sát thông tin từ sinh viên và giáo viên nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu:
“ Những yếu tố nào ảnh hưởng đến kết quả kĩ năng nói tiếng Pháp của sinh viên chuyên ngành tiếng Pháp thương mại?”
1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Do hạn chế về thời gian, nghiên cứu này chỉ giới hạn trong phạm vi kĩ năng nói của sinh viên thi đầu vào khối A (chưa học tiếng Pháp ở phổ thông) Đối tượng sinh viên tập trung vào sinh viên năm thứ nhất (52Q) và năm thứ hai (51Q), đối tượng sinh viên đang học tiếng Pháp cơ bản Vậy, các kĩ năng khác (nghe, đọc, viết) của
Trang 3tiếng Pháp cơ bản, giai đoạn 2 (tiếng Pháp thương mại) và đối tượng sinh viên khác (sinh viên thi đầu vào khối D; sinh viên cử nhân thực hành) không phải đối tượng nghiên cứu của đề tài
1.5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: phiếu điều tra định lượng toàn bộ sinh viên hai năm đầu (chưa học tiếng Pháp ở phổ thông) và phỏng vấn sinh viên giáo viên để xây dựng bảng hỏi
- Phương pháp xử lý dữ liệu: tác giả sử dụng phương pháp phân tích mô tả để tìm hiểu vai trò của từng nhân tố và phương pháp phân tích hồi quy (hồi quy đa biến, hồi quy đơn biến và hồi quy tương quan nội) để tìm hiểu nhân tố nào, mục hỏi nào có mối quan hệ tuyến tính với kết quả kĩ năng nói của sinh viên
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Tác giả hi vọng sẽ nghiên cứu và xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói của sinh viên cũng như tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố trong
mô hình nghiên cứu Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả có thể đưa ra các đề xuất mang ý nghĩa thực tế nhằm cải thiện kĩ năng nói cho sinh viên chưa được học tiếng Pháp ở phổ thông sẽ thuận lợi hơn trong học tập để có thể theo học tốt chuyên ngành tiếng Pháp thương mại Mặt khác, kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tham khảo cần thiết cho các giảng viên bộ môn tiếng Pháp để có một số điều chỉnh phù hợp nâng hiệu quả giảng dạy của mình
1.7 Kết cấu báo cáo đề tài
Đề tài gồm 5 chương trong đó:
- Chương 1 giới thiệu tổng quan nghiên cứu
- Chương 2 cung cấp lí thuyết về phương pháp giảng dạy kĩ năng nói theo đường hướng giao tiếp gồm khái niệm, đặc điểm của kĩ năng nói, các yếu tố cấu thành
kĩ năng nói Sau đó, tác giả tổng hợp các yếu tố khách quan và chủ quan của các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói
- Chương 3 mô tả phương pháp nghiên cứu gồm đối tượng nghiên cứu, công
cụ nghiên cứu, phương pháp thu thập và xử lý, phân tích dữ liệu
Trang 4- Chương 4 là phần kết quả phân tích dữ liệu của nhiều công cụ nghiên cứu (bảng hỏi định lượng và phỏng vấn sâu) để tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói của sinh viên
- Chương 5 tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đưa ra một số biện pháp đề xuất nhằm nâng cao kỹ năng nói cho sinh viên chuyên ngành tiếng Pháp thương mại
Trang 5Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói của sinh viên Vì vậy, tác
giả nghiên cứu khái niệm, đặc điểm chính của kĩ năng nói Sau đó, tác giả tìm hiểu
mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả rèn luyện thực hành nói của người học làm cơ sở để lựa chọn, xây dựng công cụ nghiên cứu và đề xuất các biện pháp cải thiện kĩ năng
2.1 Kĩ năng diễn đạt nói trong học ngoại ngữ
2.1.1 Khái niệm:
Đường hướng giao tiếp khẳng định ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, công cụ tương
tác trong xã hội Học ngoại ngữ nhằm mục đích cuối cùng là học kĩ năng giao tiếp, gồm 4 kĩ năng cơ bản: nghe hiểu, đọc hiểu, diễn đạt viết và diễn đạt nói Theo
Christine Tagliante (1994), “ kĩ năng nói là khả năng diễn đạt nói trong các tình
huống giao tiếp khác nhau, có sự tương tác qua lại giữa người nói và người nghe, giúp người nghe có thể hiểu được ý cần truyền đạt” Vậy, kĩ năng nói liên quan đến
khả năng phát âm, ngữ điệu, khả năng hiểu ngữ cảnh giao tiếp, đến năng lực từ vựng, cấu trúc
2.1.2 Các yếu tố cấu thành kĩ năng diễn đạt nói
“ Kĩ năng diễn đạt nói bao gồm yếu tố nào?” Theo Christine Tagliante (1994),
kĩ năng nói bao gồm toàn bộ các thành tố của kĩ năng giao tiếp: yếu tố ngôn ngữ, yếu
tố văn hóa-xã hội, yếu tố liên kết, yếu tố chiến lược
2.1.2.1 Yếu tố ngôn ngữ:
Yếu tố ngôn ngữ bao gồm yếu tố ngữ pháp, từ vựng và ngữ âm
- Nội dung ngữ pháp: gồm kiến thức và khả năng sử dụng ngữ pháp trong giao
tiếp (cấu trúc câu, liên kết câu, cấu trúc từ, sắp xếp từ loại trong câu )
- Nội dung từ vựng: gồm kiến thức và khả năng sử dụng từ vựng: từ đơn, từ
ghép, thành ngữ và từ loại ngữ pháp ( mạo từ, đại từ, từ chỉ chỏ, từ chỉ số lượng )
- Nội dung ngữ âm: gồm kiến thức và khả năng nhận biết và sử dụng các âm
vị, cấu tạo ngữ âm của từ (kết hợp âm tiết, nhấn từ ), ngữ điệu của câu ( nhịp điệu của câu, nối âm )
Trang 62.2.2.2 Yếu tố văn hĩa-xã hội:
Yếu tố xã hội bao gồm các quy tắc lời nĩi trong các tình huống giao tiếp: vị trí xã
hội, vai trị, tuổi, tầng lớp trong xã hội, giới tính, mơi trường giao tiếp Ai nĩi? Nĩi
với ai? Nĩi ở đâu? Nĩi như thế nào? Mục đích và thời điểm nĩi? Yếu tố xã hội này
gắn với vốn sống của người học ngoại ngữ, ví dụ như hiểu biết về các quy tắc lịch
sự trong giao tiếp: hỏi han về sức khỏe, biết tránh làm mất lịng người đối thoại (sử dụng “cám ơn”, “ làm ơn” )
2.2.2.3.Yếu tố liên kết
Tùy theo từng mục đích, người tham gia giao tiếp biết sử dụng các thể loại văn bản và các mẫu câu phù hợp Yếu tố này bao gồm kiến thức về sắp xếp câu, nối giữa các câu, ý chính/ý phụ, lập dàn ý tùy theo mục đích (để miêu tả, kể chuyện, giải thích hay để lập luận)
Khi học ngoại ngữ, người học cĩ thể bắt đầu học các câu ngắn, sau đĩ ở mức cao hơn, người học phải chú trọng tiếp thu yếu tố liên kết, sắp xếp ý để tăng hiệu quả khi giao tiếp
2.2.2.4.Yếu tố chiến lược trong giao tiếp:
Người tham gia giao tiếp sử dụng một số phương pháp để cải thiện những thiếu sĩt
về ngơn ngữ và làm tăng hiệu quả lời nĩi của mình bằng chiến lược tương tác, chiến lược tâm lí ngơn ngữ, các phương tiện hỗ trợ lời nĩi và phương tiện phi ngơn ngữ
- Chiến lược khi tương tác nĩi: người nĩi sẽ sử dụng đến chiến lược này nếu
muốn thể hiện ý nhưng sợ khơng đủ khả năng diễn đạt nên sử dụng đến các phương pháp khác như từ đồng nghĩa, từ vay mượn, nĩi tránh
- Chiến lược tâm lý ngơn ngữ: người nĩi kéo dài thời gian (nĩi chậm lại, kéo
dài từ, các từ euh, hm ) để cĩ thời gian suy nghĩ chọn lựa yếu tố ngơn ngữ tiếp theo Người nĩi cĩ thể sử dụng các cấu trúc nhằm cải chính, bổ sung các ý vừa diễn đạt (dùng “ c’est-à-dire”, “je veux dire” )
- Các phương tiện hỗ trợ lời nĩi (nhận biết qua thính giác): các âm thanh (như
“Chut!” để yêu cầu im lặng, ‘Bof” để thể hiện sự khơng quan tâm, “aÏe” để thể hiện
sự đau đớn ); ngữ điệu thể hiện thái độ như giọng nĩi (dễ chịu, gằn tiếng, chĩi tai, càu nhàu, vui vẻ ), âm lượng (thì thầm, hét lên ), độ dài (nhấn từ, kéo dài từ ); im lặng, nghỉ giữa chừng, thở dài, cười vang,
Trang 7- Các phương tiện phi ngôn ngữ (nhận biết bằng thị giác): cử chỉ (vung tay để
phản đối, xua tay để không đồng ý ), ánh mắt (nháy mắt đồng lõa hay ánh mắt sợ sệt ), tư thế (người rũ xuống thất vọng, nghiêng người phía trước thể hiện sự thích thú ), chạm người (ôm hôn, bắt tay, ) et nét mặt (mỉm cười, không hài lòng ); khoảng cách giao tiếp (tùy vào văn hóa, cấp bậc, môi trường); các dấu hiệu bên ngoài khác ( trang phục, đầu tóc, trang điểm, sự sạch sẽ, )
Tóm lại, yếu tố ngôn ngữ, yếu tố văn hóa-xã hội, yếu tố liên kết, yếu tố
chiến lược là bốn thành tố quan trọng để giao tiếp được hiệu quả Tùy theo tình huống, người học phải biết sử dụng bốn yếu tố này cho phù hợp với mục tiêu giao tiếp
2.1.3 Tiêu chí đánh giá kĩ năng nói theo Khung tham chiếu ngôn ngữ Châu Âu
Khung tham chiếu ngôn ngữ Châu Âu (CECRL ) được Hội đồng Châu Âu thiết
kế nhằm cung cấp các tiêu chuẩn tham chiếu cho việc học tập, giảng dạy và đánh giá cho tất cả các ngôn ngữ chính của Châu Âu Theo đó, kiến thức và kỹ năng ngoại ngữ của một người được đánh giá rất chi tiết và cụ thể, bao gồm 6 cấp độ chính: A1: căn bản ; A2: sơ cấp , B1: trung cấp, B2: trung cao cấp, C1: Cao cấp , C2: Thành thạo (Phụ lục X) Khung tham chiếu xem ngôn ngữ như là một công cụ mà thông qua đó mỗi người có thể đạt mục tiêu của mình, vì vậy những mô tả về năng lực ngôn ngữ
trong Khung này đánh giá học viên có thể làm và đạt được gì bằng ngôn ngữ đó
Do mỗi cấp độ CEFRL bao hàm một loạt các khả năng ngôn ngữ khác nhau, thời gian cần để đạt được cho mỗi cấp độ là khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố, gồm động cơ, năng lực ngôn ngữ cá nhân, độ tuổi, cường độ học, phương pháp giảng dạy
và học tập, … Theo nghiên cứu của Cambridge, thời gian cần thiết để đạt trình độ A1 là 75 giờ, đạt trình độ A2 là 180-200 giờ, đạt trình độ B1 là 350-400 giờ, đạt trình
độ B2 là 500-600 giờ, đạt trình độ C1 là 700-800 giờ và C2 là 1000-1200 giờ
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói của sinh viên
2.2.1 Nhóm yếu tố liên quan đến người học:
Theo phương pháp giao tiếp, người học là trung tâm của quá trình dạy/học Người
học từ vai trò thụ động theo phương pháp truyền thống trở thành nhân vật chính, độc lập, tự chủ trong quá trình học Người học trở thành người chịu trách nhiệm trong việc tổ chức, quản lí, đánh giá quá trình học của mình
Trang 82.2.1.1 Động cơ người học:
Động cơ (nhu cầu học tập) là điều kiện quan trọng trong quá trình học tập Động cơ có ảnh hưởng lớn đến định hướng, sự nghiêm túc và hiệu quả của các hoạt động học Theo Harmer (1991), động cơ là động lực bên trong thúc đẩy người học tiến tới hành động
Theo Sophie Moirand (1990), động cơ bao gồm các yếu tố về nhận thức cũng như tình cảm, gồm hai loại: động cơ đến từ bên ngoài và động cơ bên trong
Động cơ bên ngoài là ham muốn học ngoại ngữ của người học do các yếu tố
bên ngoài môi trường tác động: gia đình, xã hội, thi cử, định hướng học tập và nghề nghiệp, gặp gỡ với người bản địa, đi du lịch, sự hấp dẫn về văn hóa và người cùng giao tiếp Đây là các yếu tố thường trở thành động cơ của người học nhưng nó rất
dễ bị tác động, thay đổi
Động cơ bên trong đến từ bản thân người học Chính nhu cầu và mong muốn
học hỏi sẽ duy trì lâu dài sự tập trung và nghiêm túc của người học bất chấp các khó khăn về nhận thức trong quá trình học tập Động cơ này sẽ lâu dài và mạnh mẽ hơn
vì nó gắn liền với niềm vui học tập, sự tò mò khám phá, sự thỏa mãn sáng tạo Nó
sẽ khiến người học tập trung chú ý và ghi nhớ kiến thức mới dễ dàng hơn
Để xây dựng và duy trì được động cơ học tập, về ngắn hạn người học phải tự nhận thức đánh giá được bản thân và có môi trường học tập tích cực Người học cần phải có nhiều động viên tích cực, những đánh giá làm tăng sự tự tin và thu được kết quả tốt trong học tập Về lâu dài, người học phải nhận thức được sự hiệu quả và lợi ích của việc học mang lại Chính vì vậy, trong quá trình học tập, người học cần phải được ôn tập, kiểm tra đánh giá, kiểm soát được hiệu quả học tập của mình (lợi ích của hoạt động, hiểu được độ khó của nhiệm vụ, đo được mức cố gắng cần phải đầu tư) Chính các đánh giá này sẽ duy trì hay làm mất đi động cơ của người học
Tóm lại, tiêu chí đánh giá động cơ sẽ gồm các nội dung liên quan đến nhận thức và
tình cảm của người học, yếu tố đến từ bên ngoài cũng như từ bên trong
2.1.2 Sự lo lắng và tự tin của người học:
Theo Gardner(1993:5), sự lo lắng trong việc học ngôn ngữ có liên quan đến mức
độ thành công của người học Theo ông, lo lắng là đặc điểm tính cách khiến người học có xu hướng trở nên bối rối và bị kích thích khi phải nói bằng tiếng ngoại ngữ
Trang 9Những phản ứng điển hình của sự lo lắng là cảm giác lo sợ, thậm chí tim đập nhanh hơn Người học hay lo lắng thường không sẵn sàng giao tiếp và luyện tập ngôn ngữ Littlewood (1984:59) cho rằng “Mức độ lo lắng phụ thuộc vào bản thân tình huống giao tiếp” Trong lớp học, nếu người học được giao nhiệm vụ độc lập và không được giáo viên hỗ trợ sẽ dẫn tới cảm giác bị bỏ rơi Khi không làm được như yêu cầu, người học bị nhận xét và sửa lỗi vì những nguyên nhân họ thấy mơ hồ Họ thường bị hạn chế trong các tình huống giao tiếp thực và cần phản xạ tức thì Kinh nghiệm học tập cũng là yếu tố ảnh hưởng đến sự tự tin của họ Những thất bại hay kết quả kém sẽ khiến học lo lắng và ngược lại thành công trong học tập khiến họ tự tin, tăng khao khát học tập, tham gia vào hoạt động giao tiếp và chấp nhận rủi ro
Tóm lại, hai tác giả đã khẳng định yếu tố tâm lý có ảnh hưởng đến kĩ năng nói của
người học, giúp xây dựng và khám phá các biến liên quan đến tình huống giao tiếp gây khó khăn cho người sử dụng ngôn ngữ
2.1.3 Phương pháp học:
Phương pháp là cách tiếp cận ngôn ngữ đích của người học Phương pháp học nói nên sở thích cá nhân, thói quen của người học, khả năng tiếp cận ngôn ngữ mới của người học
Năm 1984, Joy Reid đã tiến hành một khảo sát mang tên “ Phong cách học tri giác” giúp người học phân loại cách học của mình theo các nhóm sau:
- Người học thị giác: có kết quả tốt hơn khi đọc từ vựng trong sách, trên bảng
hay trong sách bài tập, có khả năng nhớ, hiểu thông tin và chỉ dẫn tốt hơn nếu được đọc chúng Người học này nên học từ sách vở và ghi chép lại bài giảng nếu họ muốn nhớ được lượng thông tin được cung cấp đó
- Người học thính giác: thích nghe phát âm các từ và giải thích bằng lời hơn
và ghi nhớ thông tin bằng cách đọc to và chuyển động môi khi đọc Họ có lợi thế trong giao tiếp
- Người học cảm giác vận động: có thể ghi nhớ thông tin tốt hơn nếu có cơ
hội được tham gia vào các hoạt động vận động và các hoạt động như đóng vai Việc kết hợp các tác nhân kích thích (như đĩa hình và hoạt động giao tiếp) sẽ làm họ hiểu bài nhanh hơn
Trang 10- Người học xúc giác thành công khi làm việc trong phòng thí nghiệm, được
tiếp xúc và làm việc với tài liệu thực tế
- Người học nhóm có thể học dễ dàng hơn theo nhóm Họ đánh giá cao các
hoạt động tương tác nhóm và bài tập dành cho cả lớp
- Người học cá nhân có xu hướng suy nghĩ và ghi nhớ tốt hơn khi làm việc một
mình Họ sẽ tiến bộ hơn khi tự học
Tương tự, theo Nancy (được Richard Duda trích dẫn,2001:111), có rất nhiều kiểu nhận thức khác nhau (cách tiếp nhận và xử lý thông tin) gắn với phương pháp học ngoại ngữ của từng cá nhân
Kiểu tiếp thu qua thị giác
- Bạn có cảm tưởng nghe kém tiếng Pháp
Kiểu tiếp thu qua thính giác
- Bạn có cảm tưởng nghe khá tốt tiếng Pháp
- Khi bạn đọc bằng tiếng Pháp, bạn nghe thấy âm thanh nội dung mà bạn đọc trong đầu
- Nhìn và nghe một hội thoại là đủ hiểu với bạn
Kiểu phân tách
- Để hiểu và nói, bạn có xu hướng phải
thông qua tiếng Việt
- Bạn cần phải nghĩ trước từ và câu trước
khi nói hoặc viết
Kiểu hoàn hảo
- Bạn sẽ thất vọng nếu không luôn luôn
hiểu rõ ràng mọi chi tiết
Kiểu thực tế
- Bạn chấp nhận việc không công cố hiểu hết mà chỉ cần hiểu ý chính
Tóm lại, hai tác giả cùng nhấn mạnh sự phong phú của các phương pháp học tập
khác nhau, giúp xây dựng các thang đo liên quan đến phương pháp học tập của sinh viên có ảnh hưởng như thế nào đến kết quả rèn luyện kĩ năng nói
2.3.2 Nhóm yếu tố liên quan đến giảng viên
Trang 11Nhiệm vụ của người giáo viên rất phức tạp: là người “ lãnh đạo” trong việc lập
kế hoạch, tổ chức và đánh giá các hoạt động dạy/học
2.3.2.1.Trình độ của giảng viên
Wilkins (1976:53) cho rằng một trong những yếu tố ảnh hưởng đến người học là bản thân người dạy Kĩ năng, kiến thức, khả năng giao tiếp trôi chảy ngôn ngữ đích của người dạy đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp thu ngoại ngữ của người học Người dạy cần cho người học thấy kiến thức sâu rộng của mình về môn học, có khả năng giải thích rõ ràng và trả lời được các câu hỏi thì càng tạo lòng tin của người học
2.3.2.2.Phương pháp giảng dạy của giáo viên
Theo Sophie Moirand (1990), giáo viên cần phải là người lập kế hoạch, tổ chức quản lý và đánh giá người học:
- Lập kế hoạch: Giáo viên là người cân nhắc và quyết định Người giáo viên
phải hiểu rõ nội dung chương trình: hiểu rõ kiến thức người học đã có, khả năng nhận thức, nhu cầu của người học, mục tiêu chương trình, yêu cầu của nhiệm vụ học tập, phương pháp học, phương tiện hỗ trợ phù hợp Khi hiểu rõ nội dung, giáo viên cần giảng dạy phù hợp với nhu cầu và khả năng của người học chứ không phải tuân thủ cứng nhắc nội dung giáo khoa Trên cơ sở đó, người dạy sẽ quyết định nội dung, các
giai đoạn tổ chức để đạt được mục tiêu học tập
- Tổ chức và quản lý: Giáo viên cần trở thành người khuyến khích, là hình
mẫu, người đánh giá, người tổ chức và giúp đỡ người học Giáo viên cần khuyến
khích, truyền cảm hứng và tạo động lực cho người học Khi tiến hành một hoạt động dạy học, người dạy phải giải thích rõ ý nghĩa của hoạt động trong thực tế cuộc sống
mà người học sẽ sử dụng và giao tiếp sau này Người dạy cần tạo ảnh hưởng tích cực đến niềm tin, sự tự tin ở người học vào năng lực của mình Giáo viên xử lý lỗi mắc phải của người học như thông tin phản hồi giúp quá trình học hiệu quả hơn Giáo viên cần minh họa để người học hiểu rõ yêu cầu của nhiệm vụ và phương pháp để hoàn thành nhiệm vụ học tập; cần thảo luận với người học về khó khăn của nhiệm vụ đặt
ra, cơ hội cũng như phương pháp để hoàn thành tốt nhiệm vụ; giúp người học tìm ra giải pháp cho khó khăn đặt ra Giáo viên còn đóng vai trò dẫn dắt và giúp đỡ người học: thảo luận và chọn lựa các hoạt động với người học, cho lời khuyên, định hướng
nếu cần thiết; cung cấp tài liệu cần thiết, khuyến khích người học đặt câu hỏi,
Trang 12- Kiểm tra, đánh giá: Giáo viên cần đánh giá chất lượng diễn đạt của người
học, không cần quá chú trọng đến lỗi câu Giáo viên cần giải thích rõ tiêu chí đánh
giá để người học hoặc người cùng học tham gia tự đánh giá
Có thể khái quát chân dung giáo viên giỏi qua khả năng và phương pháp sư phạm Nếu người học thấy phương pháp sư phạm của giáo viên buồn tẻ, động cơ học
sẽ giảm và ngược lại Tuy nhiên, mỗi cá nhân người học có quan điểm và nhận xét khác nhau về phương pháp dạy nên bí quyết là người giảng viên cần tạo dựng lòng tin của người học vào phương pháp giảng dạy của mình cũng như qua phẩm chất và tính cách cá nhân
2.3.3 Nhóm yếu tố liên quan đến trang thiết bị học tập
2.3.3.1 Giáo trình:
Giáo trình đóng vai trò quan trọng trong các chương trình giảng dạy vì giáo trình bao hàm cả mục tiêu và mục đích dạy/học Theo Christine Tagliante (1994:62), một giáo trình theo đường hướng giao tiếp nói cần phải:
- Đưa ra nhiều hoạt động giúp người học thực hiện các nhiệm vụ giao tiếp
- Khuyến khích được giao tiếp tự nhiên, thực tế giữa người học với nhau
- Cân bằng được giữa hoạt động giao tiếp và các hoạt động học về ngôn ngữ
- Đưa ra nhiều dạng bài tập để hệ thống hóa kiến thức và kĩ năng
- Có nhiều tài liệu từ thực tế (văn bản viết, nghe-nhìn) đa dạng và hấp dẫn
- Đưa được nhiều kiến thức văn hóa-xã hội
- Có hệ thống tự đánh giá kết quả học tập
Những tiêu chí này sẽ đánh giá được hiệu quả của giáo trình trong học diễn đạt nói của sinh viên
2.3.3.2 Tài liệu tham khảo:
Ngoài giáo trình chính, người học có thể tham khảo thêm một số tài liệu dạy/học ngoại ngữ trên Internet hoặc ở các trung tâm học liệu Việc sử dụng các tài liệu thực
tế có ưu điểm là rất sống động, giúp người học tiếp xúc thật sự với ngôn ngữ trong cuộc sống, tạo môi trường thực tế cho các hoạt động giao tiếp
2.3.3.3 Phương tiện kĩ thuật
Bảng đen, bảng tương tác, đài, máy tính, máy quay, tivi, máy chiếu hiện nay đang sử dụng rất phổ biến trong các lớp học ngoại ngữ Tuy nhiên, cách khai thác các
Trang 13tài liệu này còn nhiều hạn chế Ví dụ, đài có hai chức năng: nghe và ghi âm thì chức năng ghi thường không được sử dụng Người học và người dạy có thể ghi âm lại hội thoại trên lớp (cuộc phỏng vấn, đọc to, ) để phân tích và sửa lỗi phát âm Điện thoại thông minh có nhiều chức năng đa dạng hơn: nghe, nhìn, ghi âm, tải tài liệu, tra từ điển Dạy/học nói rất cần các phương tiện này để bổ trợ cho các hoạt động giao tiếp
2.3.4 Nhóm yếu tố liên quan đến môi trường học tập:
Ngôn ngữ học tập có thể là ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai Trong môi trường ngôn ngữ thứ hai, người học có nhiều thuận lợi được tiếp xúc liên tục với ngôn ngữ được học Điều này sẽ giúp tăng động cơ và nhu cầu giao tiếp của người học Ngược lại, nếu ngôn ngữ được học là một ngoại ngữ, tiếng Pháp hiếm khi được thực hành và giao tiếp bên ngoài lớp học Nếu không xây dựng được môi trường giao tiếp năng động và hấp dẫn, động cơ chỉ còn là kết quả của sự chủ động của giáo viên và là mong muốn thành công hoặc lo sợ thất bại của người học (Ellis, 1996) Môi trường giao tiếp nhiều hạn chế của tiếng Pháp là thách thức lớn đối với giáo viên và người học
2.3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói tiếng Pháp còn ít được đề cập đến bởi các nhà nghiên cứu Pháp ngữ
Sophie Moirand (1990) đưa ra mô hình về các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình rèn luyện nói của người học ngoại ngữ gồm 4 nhóm yếu tố chính: người học, giáo viên, trang thiết bị và môi trường ngoại ngữ Trong đó, người học có ảnh hưởng lớn nhất
Jean-Marc Dewaele (2010) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói gồm: môi trường, tuổi học ngoại ngữ, tuần suất sử dụng, đối tượng giao tiếp, sự lo lắng, động lực học tập Kết quả hồi quy cho thấy người học càng học sớm, càng sử dụng nhiều, càng nhận thức được lợi ích và có nhiều tình cảm với ngoại ngữ, càng có nhiều đối tượng thực hành giao tiếp, càng ít lo lắng thì kết quả rèn luyện nói càng cao Mô hình này chưa nghiên cứu được ảnh hưởng của yếu tố giáo viên, giáo trình đến kĩ năng nói của sinh viên
Trên cơ sở các nghiên cứu các biến độc lập và phụ thuộc, các mô hình nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói, tác giả đề xuất các giả thuyết nghiên cứu sau:
Trang 14Giả thuyết H1: Yếu tố động cơ thái độ học tập có ảnh hưởng đến kết quả rèn
luyện nói tiếng Pháp của sinh viên
Giả thuyết H2: Yếu tố tâm lý có ảnh hưởng đến kết quả rèn luyện nói tiếng
Pháp của sinh viên
Giả thuyết H3: Yếu tố tự học có ảnh hưởng đến kết quả rèn luyện nói tiếng
Pháp của sinh viên
Giả thuyết H4: Yếu tố giáo viên có ảnh hưởng đến kết quả rèn luyện nói tiếng
Pháp của sinh viên
Giả thuyết H5: Yếu tố giáo trình có ảnh hưởng đến kết quả rèn luyện nói tiếng
Pháp của sinh viên
Giả thuyết H6: Yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến kết quả rèn luyện nói
tiếng Pháp của sinh viên
Trong đó, giả thuyết H1, H2, H3 thuộc nhóm yếu tố người học, giả thuyết H4 liên quan đến giáo viên và H5, H6 liên quan đến giáo trình và môi trường học tập
H6 H5
H1 H4
H2 H3
Sơ đồ 2.1: Mô hình nghiên cứu của đề tài
Chương 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tìm kiếm và sử dụng phương pháp nghiên cứu phù hợp, tác giả tiến hành nghiên cứu tài liệu có sẵn để hiểu rõ hơn về hoàn cảnh và đối tượng nghiên cứu Sau
đó, tác giả sử dụng nhiều công cụ và phương pháp phân tích khác nhau để bổ sung và
Tự học Tâm lý
Giáo trình Môi trường
Kĩ năng nói
Trang 15hoàn thiện kết quả nhằm có câu trả lời đầy đủ và khách quan nhất cho câu hỏi nghiên cứu
3.1.Phương pháp nghiên cứu định tính
Nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói của sinh viên để phục
vụ việc xây dựng bảng câu hỏi gắn liền với thực tiễn đối tượng tiếng Pháp thương mại khoa Q, tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu một số sinh viên, giáo viên vào tháng 2/2017
3.1.1 Mẫu và công cụ nghiên cứu định tính
3.1.1.1 Phỏng vấn bán cấu trúc (đối với sinh viên)
Phỏng vấn bán cấu trúc là một trong những phương pháp phỏng vấn sâu giúp tác giả thu thập đầy đủ thông tin nhưng vẫn cho phép độ linh hoạt cần thiết để thảo luận về các yếu tố mới nảy sinh, thông tin thu được có thể dễ dàng hệ thống hóa và phân tích Tác giả đã xây dựng bảng hỏi (Phiếu điều tra số 1) gồm 7 chủ đề chính với nhiều câu hỏi chi tiết nhằm tìm hiểu tối đa các yếu tố có thể ảnh hưởng đến kĩ năng nói của sinh viên Ảnh hưởng có thể 2 chiều : tích cực và tiêu cực Tác giả luôn yêu
cầu sinh viên giải thích và cho ví dụ cụ thể minh họa (« Tại sao ? », « Em có thể giải
thích kĩ hơn không ? », « Em có thể cho ví dụ ? » ) Các chủ đề trong bảng hỏi có
thể linh hoạt thay đổi theo mạch trả lời của người được phỏng vấn để không khí luôn cởi mở và tự nhiên Cuối buổi phỏng vấn, tác giả tóm tắt lại các yếu tố ảnh hưởng cả hai chiều Sau đó tác giả yêu cầu sinh viên sắp xếp những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất (số 1) đến các yếu tố ảnh hưởng ít nhất (số 6,7,8) để nhằm thu được dữ liệu số nhằm tham khảo, lựa chọn các yếu tố tiêu biểu nhất vào bảng hỏi định lượng
Tác giả chọn mẫu phỏng vấn ngẫu nhiên theo số thứ tự trong danh sách sinh viên (khoảng cách thứ tự giữa các sinh viên là 5) và phỏng vấn đến điểm bão hòa (thời điểm trong quá trình thu thập thông tin khi dữ liệu mới không cung cấp thêm thông tin có giá trị cho vấn đề nghiên cứu nữa) Kích thước mẫu là 16 sinh viên, gồm
9 sinh viên năm thứ 1 và 7 sinh viên năm thứ 2 chuyên ngành tiếng Pháp thương mại,
có điểm thi đầu vào khối A và chưa từng học tiếng Pháp ở phổ thông
3.1.1.2 Phỏng vấn phi cấu trúc (đối với giáo viên)
Sau khi phỏng vấn sinh viên, tác giả đã tiến hành phỏng vấn giáo viên nhằm tìm hiểu quan điểm, nhận xét của đối tượng có rất nhiều ảnh hưởng đến kết quả học
Trang 16nói của sinh viên Ý kiến của giáo viên được so sánh với ý kiến của sinh viên và thu được các kết quả phân tích ý kiến từ 2 góc nhìn khác nhau để từ đó hiểu sâu hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến kĩ năng học nói của sinh viên Tác giả đã chọn phương pháp phỏng vấn phi cấu trúc, chỉ xây dựng trước chủ đề phỏng vấn và có thể chủ động thay đổi thứ tự của các chủ đề tùy theo hoàn cảnh phỏng vấn và câu trả lời của giáo viên Phương pháp này giúp buổi phỏng vấn như buổi nói chuyện trao đổi chuyên môn tự nhiên giữa đồng nghiệp, giúp người được phỏng vấn thấy thoải mái và cởi
mở
Tác giả đã tiến hành phỏng vấn 3 giáo viên : 1 giáo viên đang dạy sinh viên năm thứ nhất, 1 giáo viên dạy năm thứ hai và 1 giáo viên đã dạy năm học trước để có các góc nhìn khác nhau về vấn đề cần nghiên cứu
Bảng hỏi phi cấu trúc (Phiếu điều tra số 2) gồm 7 chủ đề chính gần như tương ứng với 7 chủ đề trong bảng hỏi dành cho sinh viên Kết quả thu được sẽ gồm những đánh giá nhận xét của giáo viên về chủ đề nghiên cứu và những đề xuất, yêu cầu của giáo viên để cải thiện kĩ năng nói cho sinh viên
3.1.1.3 Sử dụng thông tin có sẵn
Tác giả đã tiến hành thu thập các tài liệu văn bản như Chuẩn đầu ra chuyên ngành tiếng Pháp thương mại, chương trình đào tạo, giáo trình, thống kê giáo viên, sinh viên Các tài liệu này giúp tác giả hiểu khái quát hoàn cảnh và đối tượng nghiên cứu hơn
3.1.2 Phương pháp phân tích
Tác giả đã tiến hành phỏng vấn 16 sinh viên và 3 giáo viên giảng dạy đối tượng sinh viên nghiên cứu Dữ liệu thu được rất phong phú cần phải được tổ chức sắp xếp, thu gọn, nhóm lại thành các chủ đề tương ứng với mô hình nghiên cứu và có sự liên kết chặt chẽ với nhau Quá trình xử lý và phân tích dữ liệu phỏng vấn gồm 3 bước
chính: mã hóa dữ liệu (tìm kiếm chủ đề và mã hóa ngắn gọn), tạo nhóm thông tin (lập bảng chủ đề chủng loại thông tin theo nhóm), kết nối dữ liệu (so sánh kết quả dữ liệu
thu được với kết quả được mong đợi)
Kết quả thu được gồm hai nhóm nhân tố ảnh hưởng chính: ảnh hưởng tích cực
và ảnh hưởng tiêu cực liên quan đến các chủ đề như động cơ học tập (lí do chọn
chuyên ngành, lợi ích học tiếng Pháp, thái độ tình cảm với tiếng Pháp nói chung và
Trang 17kĩ năng nói nói riêng) ; hoạt động học (ở lớp, ở nhà), hoạt động dạy (phương pháp, phong cách sư phạm của giáo viên), môi trường học tập, giáo trình, cơ sở vật chất
Các nhóm chủ đề này được xếp loại và thống kê theo mức độ ảnh hưởng (từ ảnh hưởng nhiều nhất đến ảnh hưởng thấp nhất) Bảng dữ liệu phỏng vấn của sinh viên
và giáo viên được so sánh để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa 2 góc nhìn khác nhau Bảng dữ liệu này rất có ích để tác giả có thể soạn Phiếu điều tra định lượng hiệu quả hơn và sẽ là cơ sở giải thích được ý nghĩa của kết quả nghiên cứu định lượng
3.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Sau khi phân tích dữ liệu phỏng vấn và cơ sở lý thuyết của mô hình nghiên cứu, tác giả đã xây dựng bảng hỏi điều tra thử cho nhóm sinh viên năm thứ nhất vào tuần đầu tháng 3/2017, Sau khi tổng kết điều tra thử, tác giả đã chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện phiếu điều tra chính thức và phát cho 86 sinh viên để thu được dữ liệu số trả lời cho câu hỏi nghiên cứu
3.2.1 Mẫu nghiên cứu
Để thu thập được các dữ liệu số về các nhân tố ảnh hưởng đến kĩ năng nói của sinh viên, phiếu điều tra số 3 đã được phát cho toàn bộ 2 nhóm sinh viên tiếng Pháp thương mại: 37 sinh viên năm thứ nhất, 49 sinh viên năm thứ hai bắt đầu học tiếng Pháp khi học đại học, thi đầu vào khối A Vậy, tổng số đối tượng nghiên cứu chính
của đề tài là 86 sinh viên (gồm 10,4% sinh viên nam)
3.2.2 Công cụ nghiên cứu
Phiếu điều tra gồm 8 câu hỏi sử dụng thang đo khoảng (Likert 5 cấp độ), trong
đó :
- Câu hỏi số 1(gồm 4 mục) liên quan đến động cơ học tập tiếng Pháp Đây là
các yếu tố thuộc nhóm động cơ bên ngoài của Sophie Moirand (1990)
- Câu hỏi số 2 nhằm tìm hiểu thái độ, tình cảm của sinh viên đối với tiếng Pháp
và các lí do dẫn đến thái độ đó Câu hỏi này sẽ cung cấp dữ liệu về động cơ bên trong của sinh viên (gắn với niềm vui học tập, sự tò mò khám phá, thỏa mãn sáng tạo) dựa trên thang đo của Jean-Marc Dewaele (2010) và Sophie Moirand (1990)
Câu số 1 và 2 sẽ giúp tác giả hiểu rõ động cơ, tình cảm hiện của sinh viên đối với tiếng Pháp
Trang 18- Câu hỏi số 3 (gồm 5 mục) tìm hiểu tâm lý khi sinh viên thực hành tiếng Pháp
và nguyên nhân tâm lý ảnh hưởng đến kĩ năng nói Littlewood (1984) khẳng định yếu
tố tâm lý phụ thuộc vào bản thân tình huống giao tiếp Dựa vào kinh nghiệm thực tế
và kết quả phỏng vấn, tác giả xây dựng các biến nghiên cứu tâm lý theo phụ thuộc hoàn cảnh giao tiếp của sinh viên
- Câu hỏi số 4 (gồm 8 mục) được thiết kế để tìm hiểu kĩ năng tự rèn luyện nói
tiếng Pháp ở nhà như thế nào, ảnh hưởng đến kết quả ra sao Dựa vào nghiên cứu của Joy Reid (1984) và Nancy (được Richard Duda trích dẫn,2001) và kết quả phỏng vấn, các mục hỏi và thang đo liên quan đến các phương pháp học tập khác nhau: kiểu học thính giác, thị giác, xúc giác, cảm giác vận động
- Câu hỏi số 5 (gồm 10 mục) giúp khám phá ảnh hưởng của trình độ, phương
pháp, thái độ giáo viên đến kết quả học kĩ năng nói của sinh viên Các biến quan sát dựa vào nghiên cứu của Sophie Moirannd (1990)
- Câu hỏi số 6 (gồm 7 mục) liên quan đến giáo trình tiếng Pháp trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm về nội dung và hình thức của Alter Ego+ và các tiêu chí đánh giá hiệu quả giáo trình của Christine Tagliante (1994)
- Câu hỏi số 7 (gồm 8 mục) tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng thuộc về môi
trường học tập (lớp, trường và xã hội) gắn liền với thực tiễn học tập và giao tiếp của sinh viên tiếng Pháp thương mại
7 câu hỏi trên liên quan đến các biến độc lập gồm 3 nhóm yếu tố : yếu tố liên quan đến người học (gồm câu hỏi 1 đến câu hỏi 4), yếu tố giảng viên (câu hỏi 5), yếu
tố giáo trình và môi trường (câu hỏi số 6, 7)
- Câu hỏi số 8 (gồm 8 mục) tìm hiểu ý kiến tự đánh giá của sinh viên về khả năng nói của mình Đây là câu hỏi để tìm hiểu biến phụ thuộc Câu hỏi này sẽ chia làm 2 phần :
Phần 8A (dành cho sinh viên năm thứ nhất): gồm 8 mục hỏi liên quan đến khả năng phát âm, sử dụng cấu trúc câu và các mục tiêu học tập trong 2 phần tiếng Pháp 1.1 và 1.2
Phần 8B (dành cho sinh viên năm thứ hai) : thiết kế cấu trúc tương tự phần 8A ; gồm 8 mục hỏi liên quan đến khả năng phát âm, sử dụng cấu trúc câu và dựa vào các tiêu chí đánh giá kĩ năng diễn đạt nói cấp độ 1(A1) theo Khung chuẩn năng lực Châu Âu
Trang 193.2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu
Việc làm sạch dữ liệu, mã hóa những thông tin trong phiếu điều tra, nhập dữ liệu và phân tích dữ liệu được xử lý thông qua phần mềm SPSS18 (phân tích độ tin cậy, phân tích nhân tố, phân tích hồi quy, kiểm định so sánh T-test)
3.2.3.1 Phân tích nhân tố và kiểm định độ tin cậy
Trước khi kiểm định giả thuyết khoa học, nhà nghiên cứu cần phải kiểm định
thang đo các biến số trong mô hình Một trong các thủ tục kiểm định thang đo là phân
tích độ tin cậy của thang đo Phương pháp này sử dụng hệ số Cronbach’s anpha, giúp kiểm định mức độ tin cậy và tương quan trong giữa các biến quan sát trong thang đo
Nó cho biết sự chặt chẽ và thống nhất trong các câu trả lời nhằm đảm bảo người được hỏi đã hiểu cùng một khái niệm Hệ số Cronbach’s anpha của một thang đo cần hai yêu cầu cơ bản:
- Hệ số Cronbach’s anpha tổng đạt > 0,6
- Hệ số tương quan biến-tổng > 0,3 (loại các item có hệ số tương quan <0,3)
Phân tích nhân tố(EFA) là một trong những phương pháp phân tích thống kê
dùng để rút gọn một tập hợp nhiều biến quan sát phụ thuộc lẫn nhau thành một tập biến (nhân tố) ít hơn để chúng có ý nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết thông tin của tập biến ban đầu Các tác giả Mayers, L.S., Gamst, G., Guarino A.J (2000)
đề cập rằng: trong phân tích nhân tố, phương pháp trích Pricipal Components
Analysis đi cùng với phép xoay Varimax là cách thức được sử dụng phổ biến nhất Theo Hair & ctg (1998, 111), Factor loading (hệ số tải nhân tố hay trọng số nhân tố) là chỉ tiêu để đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA:
• Factor loading > 0.3 được xem là đạt mức tối thiểu
• Factor loading > 0.4 được xem là quan trọng
• Factor loading > 0.5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn
Điều kiện để phân tích nhân tố khám phá là phải thỏa mãn các yêu cầu:
- Hệ số tải nhân tố (Factor loading ) > 0.5
- 0.5 ≤ KMO ≤ 1: Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) là chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố Trị số KMO lớn có ý nghĩa phân tích nhân tố là thích hợp
Trang 20- Phần trăm phương sai toàn bộ (Percentage of variance) > 50%: Thể hiện phần trăm biến thiên của các biến quan sát Nghĩa là xem biến thiên là 100% thì giá trị này cho biết phân tích nhân tố giải thích được bao nhiêu %
3.2.3.2 Phân tích hồi quy
Phân tích hồi quy đa biến là phân tích để xác định quan hệ phụ thuộc của một biến (biến phụ thuộc) vào nhiều biến khác (biến độc lập) Phân tích này nhằm mục
đích ước lượng hoặc tiên đoán giá trị kì vọng của biến phụ thuộc (kĩ năng nói) khi biết trước giá trị của biến độc lập (tâm lý, tự học, giáo viên, giáo trình và môi trường)
Các hệ số cần tính toán :
- hệ số R2 (hệ số xác định điều chỉnh)
- Sig (< 0.05) là kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (ý nghĩa của hệ số
R2) Đây là một đại lượng thống kê dùng để xem xét giả thuyết các biến không có tương quan trong tổng thể Nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê (Sig < 0.05) thì các biến quan sát có mối tương quan với nhau trong tổng thể
- Bêta : hệ số hồi quy chuẩn hóa, giải thích tầm quan trọng của mỗi biến độc lập trong mô hình
- t : kiểm định ý nghĩa của hệ số Bêta
3.2.3.3 Phân tích thống kê mô tả
Tác giả đã tiến hành phân tích thống kê mô tả các yếu tố, các mục hỏi, và kết quả kĩ năng nói Trên cơ sở đó, tác giả áp dụng so sánh T-test để tìm sự khác biệt
trong từng nhóm sinh viên :
- - Sự khác nhau về các yếu tố trong bảng hỏi và toàn bảng hỏi giữa 2 nhóm
sinh viên
- - Sự khác nhau về kết quả nói giữa 2 nhóm sinh viên
- - Sự khác nhau về kết quả nói giữa nhóm sinh viên có điểm yếu tố động cơ
Trang 21- Sự khác nhau về kết quả nói giữa nhóm sinh viên có điểm yếu tố giáo viên
Tóm lại, tác giả đã sử dụng nhiều công cụ nghiên cứu để thu thập dữ liệu sơ
cấp : phỏng vấn nhiều sinh viên và giáo viên, phát phiếu điều tra thử, chỉnh sửa bộ câu hỏi và phát phiếu điều tra toàn bộ đối tượng sinh viên nghiên cứu Tác giả cũng
sử dụng nhiều phương pháp phân tích dữ liệu : phân tích định tính kết quả phỏng vấn ; phân tích nhân tố, phân tích thống kê mô tả để so sánh kết quả các nhóm, phân tích hồi quy đa biến tìm yếu tố ảnh hưởng để trên cơ sở đó có đề xuất hợp lý và phù hợp Các kết quả phân tích sẽ bổ sung nhau, xem xét câu hỏi nghiên cứu ở nhiều góc độ
và khía cạnh để có câu trả lời đầy đủ nhất cho câu hỏi nghiên cứu
Trang 22Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1.Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo
4.1.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo nhóm yếu tố động lực
Kiểm định độ tin cậy của các thang đo biến động lực (Phụ lục 2.1) cho thấy tất cả 5 biến quan sát đều có hệ số Cronbach’s anpha lớn hơn 0,3 và hệ số Cronbach’s anpha tổng là 0,624 ( thỏa mãn điều kiện >0,6) Vậy, cả 5 biến thuộc nhóm yếu tố động lực đều đảm bảo sự tin cậy
4.1.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo nhóm yếu tố tâm lý
Kiểm định độ tin cậy của các thang đo biến tâm lý (Phụ lục 2.2) cho thấy có
4 biến quan sát có hệ số Cronbach’s anpha lớn hơn 0,3 ; biến TL5 (« Tôi lo lắng khi
tự luyện nói ở nhà ») có hệ số Cronbach’s anpha là 0,23 ( không thỏa mãn điều kiện
> 0,3) nên không đảm bảo độ tin cậy, bị loại khỏi bảng hỏi Sau khi loại biến TL5, hệ
số Cronbach’s anpha tổng là 0,734 ( thỏa mãn điều kiện >0,6) Vậy, có 4 biến (TL1, TL2, TL3, TL4) thuộc nhóm yếu tố tâm lý đảm bảo sự tin cậy
4.1.3 Đánh giá độ tin cậy của thang đo nhóm yếu tố tự học
Kiểm định độ tin cậy của các thang đo biến tự học (Phụ lục 2.3) cho thấy tất
cả 8 biến quan sát đều có hệ số Cronbach’s anpha lớn hơn 0,3 và hệ số Cronbach’s anpha tổng là 0,798 ( thỏa mãn điều kiện >0,6) Vậy, cả 8 biến thuộc nhóm yếu tố tự học đều đảm bảo sự tin cậy
4.1.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đo nhóm yếu tố giáo viên
Kiểm định độ tin cậy của các thang đo biến giáo viên (Phụ lục 2.4) cho thấy tất cả 10 biến quan sát đều có hệ số Cronbach’s anpha lớn hơn 0,3 và hệ số Cronbach’s anpha tổng là 0,902 ( thỏa mãn điều kiện >0,6) Vậy, cả 10 biến thuộc nhóm yếu tố giáo viên đều đảm bảo sự tin cậy
4.1.5 Đánh giá độ tin cậy của thang đo nhóm yếu tố giáo trình
Kiểm định độ tin cậy của các thang đo biến giáo trình (Phụ lục 2.5) cho thấy tất cả 7 biến quan sát đều có hệ số Cronbach’s anpha lớn hơn 0,3 và hệ số Cronbach’s anpha tổng là 0,873 ( thỏa mãn điều kiện >0,6) Vậy, cả 7 biến thuộc nhóm yếu tố giáo trình đều đảm bảo sự tin cậy