Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh giá chỉ số khối cơ thể và sự phân bố mỡ cơ thể trên các bệnh nhân sỏi túi mật, đồng thời tìm hiểu mối liên quan của một số kích thước nhân trắc với một số chỉ số sinh hoá máu của nhóm bệnh nhân này. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được tiến hành trên 60 bệnh nhân tuổi từ 22 đến 85, gồm 17 nam, 43 nữ, được chẩn đoán sỏi túi mật đơn thuần và đã được loại trừ các bệnh cấp - mãn tính khác kèm theo bằng lâm sàng, siêu âm và xác định chẩn đoán bằng phẫu thuật mở hoặc nội soi tại Bệnh viện Trường Đại học Y khoa Huế và Bệnh viện Trung ương Huế trong thời gian từ tháng 4/2004 đến tháng 6/2005. Thiết kế nghiên cứu theo kiểu tiền cứu. Thu thập một số kích thước nhân trắc (chiều cao đứng, trọng lượng, vòng cánh tay trái, vòng bụng, vòng mông, đường kính trước sau bụng, bề dày nếp da sau cánh tay, dưới bả vai, trên mào chậu) và một số thông số sinh hoá máu (cholesterol toàn phần, triglyceride, HDL-c, protide, glucose). Tính chỉ số khối cơ thể (BMI), tỷ lệ Vòng bụng/Vòng mông. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa trên phân loại của Tổ chức béo phì quốc tế (IOTF) đối với người châu Á. Đánh giá tình trạng tập trung mỡ bụng dựa trên tỷ lệ Vòng bụng/Vòng mông dựa theo ngưỡng 0,95 cho nam và 0,85 cho nữ. Phân loại cholesterol toàn phần, triglyceride, HDL-c theo Hội tim mạch Việt Nam. Kết quả thu được cho thấy trong nhóm bệnh nhân sỏi túi mật, tỷ lệ thừa cân là 10,0%, tỷ lệ béo phì là 6,67%. Phân loại bệnh nhân theo tỷ lệ Vòng bụng/Vòng mông: 20% bình thường và 80% nguy cơ. Tỷ lệ bệnh nhân ở mức giới hạn và nguy cơ là 30,0% đối với cholesterol toàn phần, 3,33% đối với HDL - c, 53,33% đối với triglyceride. Chỉ số BMI có tương quan với vòng bụng (r=0,64, p