1. Lý do chọn đề tài: Môn lịch sử có vai trò, vị trí quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ, giúp học sinh rèn luyện thêm nhân cách, bồi dưỡng lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc. Việc dạy môn lịch sử không chỉ để ghi nhớ một sự kiện, một vài chiến công hay nói lên tiếng trình đi lên của dân tộc hay chỉ ghi nhớ công lao của một số người làm nên sự nghiệp to lớn đó mà học sinh phải biết tìm hiểu, tiếp nhận những nét đẹp của đạo đức, đạo lý của người Việt Nam vì chính đó là cái gốc của cả dân tộc không chỉ ở thời xa xưa mà ngay ở cả ngày nay và mai sau. Thực tế giảng dạy cho thấy giờ học lịch sử chưa thật sự gây hứng thú trong học tập của học sinh do tâm lý xem đây là môn phụ, là môn không dễ kiếm tiền như các môn học khác (trong thời buổi kinh tế thị trường). Về phía giáo viên chỉ dạy theo kiểu truyền thống, chỉ thuyết trình hay liệt kê những sự kiện nên tiết học thường trầm lắng, không thu hút được sự chú ý của học sinh, không phát huy được sự hứng thú học tập, trong tiết học các em thường chán học dẫn đến kết quả học tập không cao. Vậy làm thế nào tạo được sự hứng thú học tập trong giờ dạy lịch sử? Đó là lý do tôi chọn đề tài này.
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỊ XÃ THỦ DẦU MỘT
TRƯỜNG THCS NGUYỄN VIẾT XUÂN
TỔ: VĂN – SỬ – ĐỊA
ĐỀ TÀI:
GIÚP HỌC SINH YÊU THÍCH MÔN LỊCH SỬ LỚP 6 QUA TIẾT DẠY
GIÁO VIÊN: LÊ THỊ YẾN
NĂM HỌC 2011 - 2012
Trang 2MỤC LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU:
1 Lý do chọn đề tài:
2 Mục đích của việc nghiên cứu:
3 Nhiệm vụ của đề tài:
4 Phương pháp nghiên cứu:
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
6 Đối tượng nghiên cứu:
7 Tính mới của đề tài:
II NỘI DUNG:
1 Cơ sở khoa học:
2 Cơ sở thực tiễn:
3 Thực trạng:
4 Nội dung:
5 Hiệu quả:
III KẾT LUẬN:
1 Kết quả đạt được:
2 Ý nghĩa sáng kiến đối với việc giáo dục, dạy học:
3 Nhận định chung về khả năng áp dụng SKKN:
4 Hướng phát triển của đề tài:
5 Đề xuất:
Trang 3I PHẦN MỞ ĐẦU:
1 Lý do chọn đề tài:
Môn lịch sử có vai trò, vị trí quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ, giúp học sinh rèn luyện thêm nhân cách, bồi dưỡng lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc
Việc dạy môn lịch sử không chỉ để ghi nhớ một sự kiện, một vài chiến công hay nói lên tiếng trình đi lên của dân tộc hay chỉ ghi nhớ công lao của một số người làm nên sự nghiệp to lớn đó mà học sinh phải biết tìm hiểu, tiếp nhận những nét đẹp của đạo đức, đạo lý của người Việt Nam vì chính đó là cái gốc của cả dân tộc không chỉ ở thời xa xưa mà ngay ở cả ngày nay và mai sau
Thực tế giảng dạy cho thấy giờ học lịch sử chưa thật sự gây hứng thú trong học tập của học sinh do tâm lý xem đây là môn phụ, là môn không dễ kiếm tiền như các môn học khác (trong thời buổi kinh tế thị trường) Về phía giáo viên chỉ dạy theo kiểu truyền thống, chỉ thuyết trình hay liệt
kê những sự kiện nên tiết học thường trầm lắng, không thu hút được sự chú ý của học sinh, không phát huy được sự hứng thú học tập, trong tiết học các em thường chán học dẫn đến kết quả học tập không cao
Vậy làm thế nào tạo được sự hứng thú học tập trong giờ dạy lịch sử? Đó là lý do tôi chọn đề tài này
2 Mục đích của việc nghiên cứu:
Môn lịch sử là môn học hỗ trợ đắc lực cho các môn học khác, nó không chỉ có tác dụng quan trọng trong việc phát triển trí tuệ mà còn cả giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ…với những người thật, việc thật, là cơ sở vững chắc cho việc giáo dục niềm tin, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, truyền thống dân tộc, truyền thống yêu nước, giáo dục tinh
Trang 4thần và thái độ lao động đúng đắn, lòng biết ơn với tổ tiên, với những người có công với Tổ quốc Do vậy việc khơi dậy niềm say mê, tìm tòi tiếp thu kiến thức của học sinh, tạo sự hứng thú trong giờ học lịch sử là nhiệm vụ và mục đích của người giáo viên trong sự nghiệp đào tạo thế hệ mới, con người mới xã hội chủ nghĩa
3 Nhiệm vụ của đề tài:
Trang bị, cung cấp cho học snh những kiến thức lịch sử để hiểu và yêu thích bộ môn Điều này góp phần tạo cho học sinh hiểu quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào, ghi nhớ công ơn của tổ tiên, với những người có công với Tổ quốc
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Tham khảo tài liệu
- Vận dụng đổi mới các phương pháp giảng dạy thực tế, qua quá trình giảng dạy trên lớp
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
“Giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử lớp 6 qua tiết dạy” Khi giảng
dạy, giáo viên vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy, tùy tình huống kết hợp nhiều phương pháp nhằm tạo sự hứng thú trong học tập cho học sinh qua tiết Lịch sử lớp 6
6 Đối tượng nghiên cứu:
Hình thành và phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục Việc tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học lịch sử là một vấn đề cần thiết Đối tượng là học sinh lớp 6 Chính vì vậy, mỗi giáo viên cần phải vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy để khơi dậy lòng say mê, ham học hỏi, học sinh không chỉ học bộ môn để biết, để hiểu mà còn yêu thích
Trang 57 Tính mới của đề tài:
Học sinh thường chán học môn lịch sử, do đó giáo viên phải làm sao khơi gợi được niềm đam mê hăng say trong học tập, cảm thấy mỗi giờ học sử là một sự khám phá kỳ diệu Nhất là đối với thời buổi kinh tế thị trường hiện nay
II NỘI DUNG :
1 Cơ sở khoa học:
Trong bộ môn lịch sử, nếu giáo viên chỉ đơn thuần sử dụng một phương pháp giảng dạy, học sinh chỉ rập khuôn máy móc nghe giáo viên thuyết trình rồi ghi chép thì sẽ sinh nhàm chán Từ đó không gây được hứng thú trong tập cho các em dẫn đến chất lượng học tập không cao
2 Cơ sở thực tiễn:
Việc học lịch sử ít được học sinh quan tâm Đại đa số các em thích học các môn tự nhiên hoặc ngoại ngữ hơn, đây là xu hướng chung của xã hội và cho rằng đây là môn phụ không cần thiết Tình trạng học sinh không biết những sự kiện lịch sử nước nhà là khá phổ biến trong tình hình hiện nay
3 Thực trạng:
Thuận lợi:
a Giáo viên :
- So với các môn học khác, môn Lịch sử có lợi thế là các đề mục trong sách giáo khoa đã được các nhà biên soạn sắp xếp thành một hệ thống có sẳn và rất khoa học Giáo viên cứ thế mà bám theo
- Được học tập các chuyên đề về đổi mới phương pháp giảng dạy
b Học sinh:
- Sách giáo khoa có những kênh hình minh họa rõ ràng
Trang 6- Bài học dễ nhớ, dễ thuộc vì dàn bài khá rõ ràng.
Khó khăn:
a Giáo viên:
- Sách giáo khoa trình bày rất đầy đủ những diễn biến, nguyên nhân, ý nghĩa và kết quả vì thế mà kiến thức rất dài, kiến thức quá nhiều Do đó giáo viên không thể truyền đạt hết trong thời gian 45 phút của một tiết dạy
b Học sinh :
- Thực trạng học sinh còn học vẹt, quen với kiểu đọc – chép còn khá phổ biến, nhất là với học sinh lớp 6 (từ bậc tiểu học các em đã quen với kiểu học này) Vì vậy cho nên giáo viên muốn uốn nắn phải mất rất nhiều thời gian
Chuẩn bị:
Giáo viên:
+ Nghiên cứu kỹ nội dung bài học trong sách giáo khoa để từ đó định ra hướng giải quyết, lựa chọn phương pháp cho phù hợp với từng nội dung bài
+ Nghiên cứu kỹ sách giáo viên để nắm được những điều cần lưu ý khi tiến hành giảng dạy bài học
+ Sưu tầm những tư liệu có liên quan đến bài sẽ dạy
+ Soạn giáo án, tiến hành trình tự các bước lên lớp, xác định phương pháp cụ thể cho nội dung bài trong quá trình dạy học
+ Xây dựng hệ thống câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với trình độ học sinh
Trang 7+ Chuẩn bị phiếu thảo luận cho từng nhóm.
+ Phân chia thời gian hợp lý cho từng khâu, từng phần
Học sinh:
+ Giáo viên yêu cầu học sinh dọc kỹ bài cũ để từ đó dễ dàng liên hệ đến bài mới
+ Nghiên cứu kỹ bài mới ở nhà, chú ý quan sát các hình ảnh trong bài và những câu hỏi xen kẽ, câu hỏi cuối bài
+ Sưu tầm những tranh ảnh, tư liệu để minh họa cho bài học (có thể lên mạng, vào thư viện…)
+ Chia sẵn nhóm học tập (khoảng từ 5 – 6 học sinh) và chuẩn bị giấy để khi tiến hành thảo luận được nhanh gọn, trành mất thời gian
Biện pháp thực hiện:
- Để tiết dạy môn lịch sử đạt hiệu quả cao thì phải tạo cho học sinh thích thú say mê môn học
- Đây là yêu cầu cấp thiết đối với giáo viên Đòi hỏi giáo viên cần phải có giọng nói truyền cảm, thái độ vui vẻ hòa nhã tránh gây căng thẳng, tạo áp lực cho học sinh, tuy vậy cũng không được xuề xòa, dễ dãi quá học sinh sẽ coi thường
- Như vậy việc tạo không khí thoải mái trong tiết học là rất cần thiết, góp phần thúc đẩy học sinh có ý thức học tập tốt hơn
Ví dụ: Khi dạy bài: “Văn hóa cổ đại” (Lịch sử lớp 9) giáo viên giới
thiệu bài bằng cách đặt vấn đề: “Các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây ra đời trong điều kiện tự nhiên hoàn toàn khác nhau dẫn đến sự khác nhau về nhiều mặt: kinh tế, xã hội, nhà nước…song người cổ đại đã để lại cho loài người một di sản đồ sộ, phong phú Trong đó có Việt
Trang 8Nam đã minh chứng điều đó Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu đó là những thành tựu gì.”
Từ chỗ đặt vấn đề giáo viên dẫn dắt vấn đề, đặc biệt liên quan đến Việt Nam (dân tộc phương Đông) Tôi tin rằng học sinh sẽ có sự tìm tòi, chú ý nhằm thúc đẩy các em có thái độ học tập tốt hơn
Trong tiết học, giáo viên cũng không quên động viên khích lệ những
em tích cực xây dựng bài học Nếu câu trả lời của học sinh chưa gãy gọn, chưa đầy đủ, giáo viên cần tìm cách giải thích tránh rầy la, trách mắng, làm cho các em bi quan, chán nản, thiếu tự tin khi giao tiếp
Cuối tiết học, giáo viên động viên kịp thời bằng cách tuyên dương và cho điểm
Trong quá trình truyền thụ kiến thức, giáo viên có thể lồng ghép những câu chuyện lịch sử có liên quan đến nội dung bài, hoặc thường xuyên cập nhật thông tin trên mạng, báo chí, đài…về tình hình thế giới, khu vực hoặc trong nước, học sinh sẽ rất thích thú
Trong quá trình dạy học, giáo viên giữ vai trò hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tự học và hợp tác hoc tập với các bạn bằng hình thức sinh hoạt nhóm Giáo viên phải tạo ra những tình huống học tập có tác dụng kích thích tính tò mò và tư duy độc lập của học sinh, giúp các em cảm thụ được cái hay, cái đẹp của vấn đề, từ đó sẽ có hứng thú học tập say mê với môn học thì việc tiếp thu nội dung kiến thức của bài sẽ rất dễ dàng
Ví dụ: Khi dạy bài 8 – Sử 6:
THỜI NGUYÊN THỦY TRÊN ĐẤT NƯỚC TA.
- Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm
- Phát phiếu học tập cho từng nhóm (2 bàn/ nhóm); thời gian : 5 phút
Trang 9Nội dung:
Ở giai đoạn đầu người tinh khôn sống như thế nào? Dấu tích được tìm thấy ở đâu? Nhận xét công cụ lao động của họ ở hình 19 – 20
Giáo viên yêu cầu một số nhóm nhỏ trình bày kết quả, nhóm khác bổ sung, chấm điểm 2 nhóm
Sau đó giáo viên kết luận, rút ra ý chính
Để phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết học giáo viên cần có hệ thống câu hỏi đi từ dễ đến khó nhằm thu hút mọi đối tượng học sinh đều được tham gia xây dựng bài, hiểu thêm kiến thức mới Cần động viên khích lệ nhóm làm đúng bằng cách cho điểm, học sinh sẽ rất phấn khởi, tiết học sẽ sinh động hơn
Bài giảng minh họa Lịch sử lớp 6
Bài 8: THỜI NGUYÊN THỦY TRÊN ĐẤT NƯỚC TA
Để giảng dạy tốt tiết dạy trên, tôi đã tiến hành như sau:
- Chuẩn bị đồ dùng dạy học:
o Bản đồ Việt Nam
o Vẽ lược đồ hình 24 ra giấy to
- Phương pháp: Thuyết trình – Trực quan
- Bài học có 3 phần chính
+ Những dấu tích của người tối cổ
+ Ở giai đoạn đầu người tinh khôn sống như thế nào?
+ Giai đoạn phát triển của người tinh khôn có gì mới?
- Giáo viên giới thiệu bài: Trong các bài trước, các em đã tìm hiểu về lịch sử thế giới cổ đại và biết được quá trình hình thành những thành tựu văn hóa của các quốc gia này Cũng như một số nước trên thế giới, nước ta cũng có một lịch sử lâu đời trải qua các thời kỳ của xã hội nguyên thủy Các thời kỳ đó diễn ra như thế nào
Trang 10Bài học hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu vấn đề này.
Hoạt động của thầy – trò Nội dung bài học
Hoạt động 1 : Trực quan + thuyết
trình:
- Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát
hình 18 – 19 SGK/tr 22 và cho biết nội
dung hình ảnh
- Giáo viên dùng phương pháp vấn:
+ Nước ta xưa kia là vùng đất như thế
nào? (rừng núi rậm rạp, nhiều nhang
động, mái đá, sông suối, khí hậu thuận lợi
cho con người, muông thú sinh sống)
- Giáo viên mở rộng: Năm 1960 – 1965
các nhà khảo cổ lần lượt phát hiện hàng
loạt các di chỉ
+ Em có thể nhắc lại Người tối cổ là
người như thế nào? (học sinh trả lời theo
kiến thức đã học ở bài trước)
- Giáo viên treo bản đồ Việt Nam và chỉ
các địa danh phát hiện được di tích của
Người tối cổ
- Cho học sinh nhận xét về địa điểm sinh
sống của họ? (Trên khắp đất nước ta)
- Giáo viên sơ kết phần I – dùng bản đồ
Việt Nam để trình bày: Trải qua hàng
chục vạn năm lao động, địa bàn sinh sống
của Người tối cổ được mở rộng Giáo
viên chỉ trên bản đồ từng vùng và kết
I Những dấu tích của Người tối cổ được tìm thấy ở đâu?
- Lạng Sơn, Thanh Hóa, Đồng Nai
Người tối cổ sống ở khắp mọi nơi trên đất nước ta
Trang 11luận: điều đó chứng tỏ Việt Nam là quê
hương của loài người
- Để chuyển sang phần II, giáo viên hỏi:
Tiếp theo giai đoạn tiến hóa của Người tối
cổ là người gì? (Người tinh khôn)
- Giáo viên chuyển ý sang phần II:
Trải qua hàng chục năm lao động Người
tối cổ dần mở rộng vùng sinh sống ra
nhiều nơi => trở thành Người tinh khôn
Hoạt động 2 : Trực quan + thuyết
trình
+ Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đoạn 2
SGK, mục 2 trang 23
+ Giáo viên liệt kê sẵn trên bảng các ý:
Thời gian, địa điểm, công cụ
+ Cho học sinh quan sát hình 19 – 20 và
so sánh về công cụ
+ Học sinh trả lời – Sau đó giáo viên uốn
nắn và chốt lại: Như vậy, ở giai đoạn đầu
địa bàn sinh sống của Người tinh khôn tập
trung ở Mái đá Ngườn (Thái Nguyên)
Sơn Vi (Phú Thọ) và nhiều nơi khác
Công cụ sản xuất của học về cơ bản vẫn
như Người tối cổ nhưng đã có hình thù rõ
ràng
+ Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát
hình 21, 22, 23 và so sánh với hình 20 về
II Ở giai đoạn đầu người tinh khôn sống như thế nào?
- Thời gian: 3-2 vạn năm trước đây
- Địa điểm:
- Công cụ: Vẫn là đá đẻo nhưng hình thù rõ ràng hơn
III Giai đoạn phát triển của người tinh khôn có gì mới.
- Công cụ sản xuất được cải tiến
Trang 12công cụ của Người tinh khôn ở giai đoạn
đầu và giai đoạn phát triển có tiến bộ gì?
+ Học sinh trả lời: công cụ được cải tiến
với việc dùng nhiều chủng loại đá, biết
mài cho sắc hình dáng phù hợp với sản
xuất
+ Giáo viên giới thiệu bộ ảnh công cụ đá
được phục chế
+ Công cụ sản xuất cải tiến có tác động
như thế nào tới đời sống, sản xuất? Học
sinh trả lời: sản xuất thuận lợi, năng suất
cao hơn, đời sống được cải thiện
+ Gọi đại diện nhóm lên quan sát chỉ trên
bản đồ Việt Nam những địa danh có dấu
vết sinh sống của Người tinh khôn
+ Giáo viên mở rộng: chỉ trên bản đồ
những địa danh: Bắc Sơn và Quỳnh Văn
và cho biết tại đây người ta còn tìm thấy
đồ gốm và lưỡi cuốc đá
+ Giáo viên hỏi tiếp: ở giai đoạn này có
điểm gì mới so với giai đoạn đầu của
Người tinh khôn? – Học sinh trả lời: Chỗ
ở lâu dài, xuất hiện các loại hình công cụ
mới là đồ gốm Giáo viên chốt lại: Trên
đất nước ta, từ xa xưa đã có con người
sinh sống
+ Học sinh thảo luận nhóm:
mở rộng sản xuất, cải thiện cuộc sống
- Nhiều loại hình công cụ, biết làm đồ gốm