Tính cấp thiết của đề tài
Minh bạch thông tin là nguyên tắc cơ bản của thị trường chứng khoán, giúp nhà đầu tư quyết định mua hoặc bán chứng khoán Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán còn non trẻ, việc minh bạch hóa thông tin chưa trở thành thói quen của các công ty niêm yết, gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc phân tích và đầu tư hiệu quả Mặc dù thị trường đã có những bước phát triển và quy định bắt buộc về thông tin công bố, nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người sử dụng Một số doanh nghiệp đã bắt đầu công bố thông tin tự nguyện để thu hút nhà đầu tư Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện, như quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, chủ thể kiểm toán và đòn bẩy tài chính Mặc dù đã có nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam, nhưng số lượng vẫn còn hạn chế Do đó, đề tài "Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" được chọn để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết này nhằm tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Tác giả tập trung vào việc đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện và đánh giá tình trạng công bố thông tin của các công ty này.
Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Dựa trên những phát hiện này, bài viết đề xuất các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết.
Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên các nghiên cứu trước đây và điều chỉnh, bài viết xây dựng danh mục thông tin tự nguyện để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết.
Dựa trên các lý thuyết về mức độ công bố thông tin tự nguyện và các yếu tố từ các nghiên cứu trước, bài viết này xác định những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện.
Mô hình hồi quy bội được áp dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Bố cục đề tài
Với phương pháp nghiên cứu được đưa ra ở trên, tác giả xây dựng luận văn gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công bố thông tin tự nguyện và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận.
Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây về công bố thông tin tự nguyện
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện, đặc biệt là ở các nước phát triển Nghiên cứu của Meek và cộng sự (1995) về "Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các tập đoàn đa quốc gia tại Mỹ, Anh và Châu Âu" đã xác định ba nhân tố chính: quy mô doanh nghiệp, quốc gia/khu vực và loại ngành công nghiệp Những yếu tố này có tác động đáng kể đến việc công bố thông tin chiến lược, tài chính và phi tài chính của các tập đoàn.
Nghiên cứu của Barako và cộng sự (2006) mang tên “Factors Influencing Voluntary Corporate Disclosure by Kenyan Companies” đã phân tích việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Kenya Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của các yếu tố quản trị doanh nghiệp, cơ cấu sở hữu và đặc điểm công ty đối với việc công bố thông tin Kết quả cho thấy rằng mức độ công bố thông tin tự nguyện chịu tác động từ các thuộc tính quản lý, cơ cấu sở hữu và tỷ lệ giám đốc không điều hành trong hội đồng quản trị.
Nghiên cứu của Alves và cộng sự (2012) đã phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm công ty, quản trị doanh nghiệp và công bố thông tin tự nguyện ở các công ty niêm yết tại Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Kết quả cho thấy quy mô công ty, mức độ tăng trưởng, hiệu quả tổ chức và số lượng cổ đông là những yếu tố quyết định chính ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện.
Trong nghiên cứu của Lan và cộng sự (2013) dựa trên các thông tin của
Năm 1066, các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến nhận thấy rằng việc công bố thông tin tự nguyện tại Trung Quốc đang diễn ra ngày càng tích cực Sự gia tăng này liên quan đến các yếu tố như quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và tỷ lệ sở hữu nhà nước.
Nghiên cứu của Ho và cộng sự (2009) về "Các yếu tố quyết định việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Malaysia" đã chỉ ra rằng mức độ độc lập của hội đồng quản trị và cơ cấu sở hữu là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty này.
Các nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, nghiên cứu về thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết phi tài chính còn hạn chế Nghiên cứu của Ta Quang Binh (2012) với đề tài "Voluntary Disclosure Information in the Annual Report of Non Financial Listed Companies: The Case of Vietnam" đã xây dựng danh mục thông tin tự nguyện và khảo sát tầm quan trọng của các mục thông tin này đối với người sử dụng và cung cấp thông tin Nghiên cứu chỉ ra những thông tin tự nguyện cần thiết mà doanh nghiệp nên cung cấp để thu hẹp khoảng cách thông tin Tuy nhiên, bài viết chưa đề cập đến mô hình và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện tại các doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012) về đề tài
Nghiên cứu về "Các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Việt Nam" đã chỉ ra rằng quy mô công ty, khả năng sinh lời và quyền sở hữu là những yếu tố quan trọng tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nghiên cứu của Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Hương Lan (2015) về "Các yếu tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Việt Nam" đã điều tra 205 công ty trên thị trường chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh năm 2012 Kết quả cho thấy quy mô công ty và tỷ lệ sở hữu nước ngoài là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện ở Việt Nam.
Mặc dù đã có một số nghiên cứu về đề tài này tại Việt Nam, nhưng các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các yếu tố như quy mô, lợi nhuận và cơ cấu sở hữu của công ty, mà chưa xem xét các yếu tố như giới tính của thành viên hội đồng quản trị hay ngành nghề kinh doanh Trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển nhanh chóng và ổn định, các quy định của Bộ Tài chính cũng thường xuyên thay đổi, dẫn đến việc một số thông tin trong các nghiên cứu trước đây không còn được coi là tự nguyện Nghiên cứu này sẽ bổ sung các yếu tố như giới tính của thành viên hội đồng quản trị và ngành nghề kinh doanh, đồng thời điều chỉnh danh mục thông tin tự nguyện để phù hợp với giai đoạn hiện nay.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN
KHÁI NIỆM VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN
Công bố thông tin là kênh giao tiếp quan trọng giữa các công ty và công chúng (Agca và Onder, 2007) Có nhiều định nghĩa về công bố thông tin tự nguyện; theo Meek và cộng sự (1995), đây là việc công bố thông tin vượt quá yêu cầu bắt buộc, được lựa chọn bởi nhà quản lý công ty nhằm cung cấp thông tin kế toán và các thông tin liên quan đến nhu cầu của người sử dụng báo cáo tài chính.
Công bố thông tin tự nguyện, theo định nghĩa của năm 1995, là sự công bố có chủ ý của nhà quản lý về thông tin tài chính và phi tài chính cho các bên liên quan Adina P và Ion P (2008) cho rằng công bố này bao gồm các thông tin bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu của những người sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp, như các nhà phân tích tài chính, công ty tư vấn và các tổ chức đầu tư.
Công bố thông tin tự nguyện được định nghĩa là việc trình bày các thông tin vượt quá quy định bắt buộc trong báo cáo thường niên, bao gồm thông tin kế toán và các thông tin khác mà nhà quản lý cho là liên quan đến nhu cầu của các bên liên quan Điều này có nghĩa là công ty có thể tự do quyết định công bố thông tin mà luật pháp không yêu cầu Hiện nay, thông tin công bố tự nguyện đang thu hút sự quan tâm lớn từ người sử dụng thông tin nhờ vào tính hữu ích của nó.
Thông tư 52/2012/TT-BTC hướng dẫn việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giúp các tổ chức và cá nhân thu được nhiều lợi ích hơn từ việc công khai thông tin Việc này không chỉ nâng cao tính minh bạch mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.
VAI TRÒ CỦA VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN
Thị trường chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, với thông tin công bố là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả nguồn lực xã hội Việc công bố thông tin giúp giảm thiểu sự nhiễu loạn giữa doanh nghiệp và các bên sử dụng thông tin bên ngoài, đồng thời tạo điều kiện cho cá nhân và tổ chức hiểu rõ hơn về hoạt động, chính sách của doanh nghiệp cũng như mối quan hệ với cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động.
Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán là công cụ quan trọng giúp bảo vệ nhà đầu tư và nâng cao lợi ích cho doanh nghiệp niêm yết Việc công khai thông tin một cách minh bạch và hiệu quả không chỉ thu hút vốn đầu tư mà còn tạo dựng niềm tin Ngược lại, việc giấu giếm thông tin có thể dẫn đến hành vi kinh doanh không đạo đức, làm mất lòng tin của nhà đầu tư và gây thiệt hại cho cả doanh nghiệp lẫn nền kinh tế.
Các cá nhân và tổ chức tham gia thị trường, như nhà đầu tư, nhà xuất nhập khẩu, và ngân hàng, cần cập nhật thông tin hàng ngày để hoạt động hiệu quả Nếu thông tin không chính xác hoặc không có sẵn, họ có thể tìm đến các phương thức không trung thực để có được thông tin, thậm chí phát tán tin đồn để hạ gục đối thủ Điều này dẫn đến bất ổn kinh tế tại Việt Nam, một phần do thiếu dữ liệu kinh tế kịp thời và đáng tin cậy, cũng như sự yếu kém trong truyền thông về các chính sách thay đổi.
Việc công bố thông tin tự nguyện trên thị trường chứng khoán đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý Doanh nghiệp có cơ hội xây dựng mối quan hệ với cổ đông và thu hút sự quan tâm từ nhà đầu tư Nhà đầu tư được tiếp cận thông tin rõ ràng, giúp giảm xung đột thông tin và đưa ra quyết định đầu tư hợp lý Cơ quan quản lý nhận được thông tin cần thiết để giám sát và phát triển chính sách phù hợp cho thị trường Tuy nhiên, việc lựa chọn thông tin công bố tự nguyện vẫn phụ thuộc nhiều vào ý kiến chủ quan của nhà quản lý.
Verrecchia (1983) cho rằng quyết định của nhà quản lý về việc công bố hoặc che giấu thông tin tự nguyện phụ thuộc vào chi phí và lợi ích của việc cung cấp thông tin bổ sung.
Các công ty tham gia vào các hoạt động công bố thông tin tự nguyện sẽ hưởng nhiều lợi ích, bao gồm giảm chi phí vốn và chi phí nợ, cải thiện thanh khoản của thị trường, nâng cao giá trị công ty và hỗ trợ phát triển kinh tế tổng thể.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng công bố thông tin tự nguyện có thể nâng cao tính thanh khoản của thị trường vốn bằng cách giảm chi phí giao dịch, từ đó tăng nhu cầu đối với cổ phiếu của doanh nghiệp Nhu cầu cao hơn đối với cổ phiếu dẫn đến sự gia tăng giá cổ phiếu với chi phí vốn thấp hơn (Diamond và Verrecchia, 1991) Nghiên cứu của Haddad, Alshattarat và Nobanee (2009) cũng cho thấy rằng việc tăng cường công bố thông tin tự nguyện giúp giảm chênh lệch giữa giá bán và giá mua cổ phiếu, qua đó giảm chi phí vốn và cải thiện tính thanh khoản của thị trường trong các thị trường mới nổi.
Việc công bố thông tin tự nguyện giúp giảm chi phí nợ, như nghiên cứu của Sengupta (1998) chỉ ra rằng lãi suất thấp liên quan đến mức độ công bố thông tin tự nguyện cao Khi thông tin bất đối xứng tồn tại, chủ nợ có thể nghi ngờ rằng các công ty đang che giấu thông tin, dẫn đến chi phí vay tăng cao để bảo vệ tài sản Ngược lại, việc công bố thông tin tự nguyện giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí tìm kiếm thông tin.
Việc công bố thông tin tự nguyện giúp các công ty huy động vốn bên ngoài, giảm chi phí vốn và nợ, từ đó tăng giá trị công ty và cải thiện tính thanh khoản của thị trường Điều này góp phần vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế Barako (2007) nhấn mạnh rằng trong nền kinh tế mới nổi, việc tăng cường công bố thông tin là cần thiết để hỗ trợ sự phát triển kinh tế, vì nó tác động tích cực đến tính thanh khoản thị trường và thúc đẩy tăng trưởng, đặc biệt quan trọng trong thị trường vốn mới nổi như Việt Nam.
ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY VÀ CÁC YẾU TỐ CẢN TRỞ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN
Quyền quản lý doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng, theo nghiên cứu của DeAngelo (1988), cổ đông và những người bất đồng ý kiến thường gây áp lực lên nhà quản lý khi công ty hoạt động kém hiệu quả Để đối phó với nguy cơ mất việc và tình hình tài chính suy giảm, nhà quản lý thường công bố thông tin tự nguyện nhằm giảm thiểu áp lực từ công chúng và giải thích về tình hình tài chính không tốt của công ty.
Để đánh giá năng lực của nhà quản lý, nhà đầu tư thường xem xét tài năng của họ qua khả năng quản lý tài chính và phản ứng trước những thay đổi trong môi trường kinh doanh Điều này thúc đẩy nhà quản lý công bố thông tin tự nguyện nhằm thể hiện năng lực và tăng giá trị công ty trên thị trường.
Việc công bố thông tin bắt buộc theo quy định pháp luật thường không đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin của nhà đầu tư, vì chỉ cung cấp những thông tin tối thiểu Điều này dẫn đến nhu cầu công bố thông tin tự nguyện, nhằm lấp đầy những khoảng trống mà thông tin bắt buộc không thể cung cấp (Graham và cộng sự, 2005) [19].
1.3.2 Yếu tố cản trở việc công bố thông tin tự nguyện
Nghiên cứu của Edwars và Smith (1996) chỉ ra rằng các chi phí như thu thập, xử lý thông tin và chi phí cạnh tranh có thể cản trở việc công bố thông tin tự nguyện Cụ thể, việc công bố thông tin về kế hoạch phát triển sản phẩm chính có thể tạo cơ hội cho đối thủ cạnh tranh phát triển sản phẩm tương tự, gây bất lợi cho công ty Theo Beyer, Cohen, Lys và Walther (2010), chi phí công bố thông tin cũng bao gồm những hậu quả từ việc tiết lộ thông tin độc quyền cho các đối thủ, công đoàn lao động và quản lý.
CÁC LÝ THUYẾT GIẢI THÍCH MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN
Nhiều lý do giải thích việc các công ty công bố thông tin tự nguyện ngoài yêu cầu bắt buộc Việc áp dụng các lý thuyết nền để giải thích là một trong những phương pháp hợp lý nhất Tuy nhiên, không có lý thuyết nào có thể hoàn toàn giải thích hiện tượng này.
Các nghiên cứu trước đây đã áp dụng nhiều lý thuyết khác nhau để giải thích tình hình công bố thông tin tự nguyện, bao gồm lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu, lý thuyết tính hợp lý và lý thuyết các bên liên quan.
1.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency Theory)
Lý thuyết đại diện phân tích mối quan hệ giữa nhà quản lý và chủ sở hữu, nhấn mạnh rằng mặc dù cả hai bên đều hướng tới lợi ích chung, nhưng lợi ích của họ không phải lúc nào cũng trùng khớp Theo lý thuyết này, khi cả chủ sở hữu và người quản lý đều muốn tối đa hóa lợi ích cá nhân, có khả năng người quản lý sẽ không luôn hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông.
Lý thuyết đại diện giải thích rằng các báo cáo thường niên được cung cấp tự nguyện cho các chủ nợ và cổ đông nhằm tăng cường sự minh bạch và xây dựng lòng tin giữa các bên liên quan.
1976) và nó cũng giải thích cho việc công bố thông tin tự nguyện trong bối cảnh có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát (Sukthomya, 2011) [26],
Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát trong một công ty có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa các bên liên quan Để giảm thiểu xung đột này, các chủ sở hữu cần thiết lập các ưu đãi phù hợp cho các nhà quản lý, từ đó phát sinh chi phí giám sát nhằm hạn chế các hành vi bất thường của họ.
Trong môi trường doanh nghiệp, sự bất đối xứng thông tin giữa các nhà quản lý và cổ đông là một vấn đề nghiêm trọng, với các nhà quản lý nắm giữ thông tin vượt trội Điều này khiến cho các chủ sở hữu gặp khó khăn trong việc đánh giá và xác định giá trị của các quyết định được đưa ra Hệ quả là, các nhà quản lý có thể lợi dụng sự thiếu khả năng quan sát của cổ đông để theo đuổi lợi ích cá nhân của mình.
Để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu, hành vi của các nhà quản lý cần được kiểm soát thông qua cơ chế giám sát trong quản trị doanh nghiệp và các yêu cầu công bố thông tin bắt buộc Bên cạnh đó, các nhà quản lý cũng có thể có động cơ để làm hài lòng cổ đông hoặc thể hiện năng lực quản lý của mình bằng cách công bố thêm thông tin tự nguyện.
1.4.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory)
Lý thuyết tín hiệu cho rằng quyết định tài chính của công ty là tín hiệu từ các nhà quản lý gửi đến nhà đầu tư, phản ánh thông tin quan trọng cho chính sách truyền thông tài chính Theo lý thuyết này, các công ty có hiệu suất tốt thường sử dụng thông tin tài chính để truyền đạt tín hiệu tích cực đến thị trường (Ross, 1997) Khi công ty cần huy động vốn, việc công bố thông tin nhiều hơn sẽ thu hút sự chú ý của nhà đầu tư, từ đó làm cho quá trình huy động vốn trở nên dễ dàng hơn.
Nhà quản lý có thể tự nguyện công bố thông tin có lợi cho doanh nghiệp, giúp người sử dụng báo cáo thường niên đánh giá chính xác tình hình hoạt động Điều này hỗ trợ họ trong việc đưa ra các quyết định có lợi cho doanh nghiệp.
1.4.3 Lý thuyết chi phí chính trị (Political Economy Theory)
Chi phí chính trị, theo lý thuyết kế toán thực chứng của Watts và Zimmerman (1986), đề cập đến việc các nhà quản lý, bao gồm nhà nước, nghiệp đoàn và các nhóm cộng đồng, ra quyết định dựa trên lợi ích của công ty Họ thường dựa vào thông tin công bố từ các công ty để đưa ra các chính sách như thuế, hạn chế độc quyền và cạnh tranh Các công ty có khả năng thu hút sự chú ý của cơ quan chức năng thường công bố thông tin tự nguyện nhiều hơn nhằm tránh sự thanh tra và kiểm tra, từ đó giảm thiểu chi phí phát sinh Ngược lại, việc công bố thông tin tự nguyện nhiều có thể dẫn đến kỳ vọng rằng các chính sách quản lý của cơ quan nhà nước sẽ trở nên linh hoạt hơn.
1.4.4 Lý thuyết chi phí sở hữu ( Property Cost Theory )
Nhiều nghiên cứu toàn cầu đã chỉ ra rằng chi phí sở hữu là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên (Verrecchina, 1983) [69] Chi phí sở hữu được coi là một rào cản lớn đối với việc công bố thông tin, trong khi những bất lợi từ cạnh tranh có thể tác động đến quyết định cung cấp thông tin riêng tư.
Khi công bố thông tin tự nguyện, công ty có thể phải chịu chi phí do dòng tiền tương lai giảm sút, nhưng điều này cũng có thể dẫn đến những lợi ích khác Ví dụ, việc công bố thông tin xấu có thể làm giảm số lượng nhà đầu tư tiềm năng, nhưng đồng thời cũng có thể ngăn cản các công ty mới tham gia thị trường và hạn chế sự mở rộng của các đối thủ cạnh tranh.
Các công ty lớn và có sức cạnh tranh mạnh thường có mức độ công bố thông tin tự nguyện cao, điều này giúp lợi nhuận tăng lên và dòng tiền tương lai của họ được cải thiện.
1.4.5 Lý thuyết tính hợp lý (Legitimacy Theory)
Lý thuyết tính hợp lý nhấn mạnh rằng sự tồn tại của các công ty phụ thuộc vào việc giá trị của chúng được xã hội công nhận Do đó, các công ty cần thực hiện những hành động phù hợp với mong đợi của xã hội để đảm bảo sự bền vững và phát triển lâu dài.
Theo Suchman (1995), tính hợp lý được hiểu là một nhận thức tổng quát hoặc giả định rằng hành động của một thực thể được xem là mong muốn, thích hợp hoặc phù hợp trong các hệ thống xã hội, được hình thành từ các giá trị và niềm tin.
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết, bao gồm quy mô doanh nghiệp, mức độ tăng trưởng, tỷ lệ quyền sở hữu và loại ngành công nghiệp Tác giả sẽ dựa vào kết quả của các nghiên cứu trước để phân tích sâu hơn từng yếu tố này và tác động của chúng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết.
1.5.1 Nhóm nhân tố thuộc về quản trị công ty a Nhân tố mức độ độc lập của hội đồng quản trị
Trong quản trị doanh nghiệp, số lượng thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành được xem là yếu tố quan trọng để bảo vệ lợi ích cổ đông Một cơ chế quản trị hiệu quả nên có nhiều thành viên hội đồng không tham gia điều hành hơn so với các thành viên tham gia điều hành, theo nghiên cứu của Armstrong, Guay và Weber.
Các thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành thường mang đến kinh nghiệm và chuyên môn trong các lĩnh vực như chiến lược kinh doanh, tài chính, tiếp thị, hoạt động và cơ cấu tổ chức Họ đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát hành vi và hiệu suất của các nhà quản lý Nghiên cứu cho thấy rằng một cơ chế quản trị doanh nghiệp hiệu quả có thể nâng cao mức độ tiết lộ thông tin, đặc biệt là thông tin tự nguyện, tại các công ty ở cả các nước phát triển phương Tây và thị trường vốn mới nổi Châu Á.
Mức độ độc lập của hội đồng quản trị là một yếu tố quan trọng trong các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Các nghiên cứu của Vu (2012), Lan và cộng sự (2013), Hiếu và Lan (2015) đã chỉ ra rằng có mối quan hệ tích cực giữa mức độ độc lập của hội đồng quản trị và mức độ công bố thông tin tự nguyện Bên cạnh đó, nhân tố sở hữu của người quản lý cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến công bố thông tin.
Tỷ lệ cổ phần nắm giữ của Ban giám đốc phản ánh sở hữu của quản lý Theo lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling (1976), các công ty có tỷ lệ sở hữu quản lý cao thường ít công bố thông tin tự nguyện cho cổ đông Điều này xảy ra vì khi quản lý vừa là chủ sở hữu vừa là người điều hành, các quyết định kinh tế của họ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích cá nhân Mối quan hệ chuyển từ quản lý và cổ đông sang giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số, dẫn đến việc các nhà quản lý có thể ưu tiên lợi ích của cổ đông lớn, làm thiệt hại cho cổ đông thiểu số Do đó, họ có xu hướng thao túng thông tin để bảo vệ lợi ích của mình, hạn chế việc cung cấp thông tin tự nguyện cho cổ đông.
Nghiên cứu của Alves và cộng sự (2012), Vu (2012), Hiếu và Lan (2015) chỉ ra rằng quyền sở hữu quản lý có ảnh hưởng ngược chiều đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Thêm vào đó, nhân tố công ty kiểm toán cũng đóng vai trò quan trọng trong việc này.
Mặc dù việc lập và trình bày báo cáo tài chính hàng năm là trách nhiệm của người quản lý, công ty kiểm toán thuê ngoài có thể ảnh hưởng lớn đến thông tin tự nguyện công bố ra bên ngoài Nghiên cứu của Singhvi và Desai (1971) cho thấy mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết phụ thuộc vào sự lựa chọn công ty kiểm toán.
Theo DeAngelo (1988), các công ty kiểm toán lớn thường chú trọng đến danh tiếng, vì vậy họ khuyến khích khách hàng công bố thêm thông tin để nâng cao uy tín về chất lượng dịch vụ Lý thuyết đại diện chỉ ra rằng các công ty chọn đối tác kiểm toán nhằm giảm xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý, từ đó giúp cổ đông giám sát công ty hiệu quả hơn (Watts và Zimmerman, 1990; Jensen và Meckling, 1976).
Wallace và Naser (1995) chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ của các công ty kiểm toán Big Four thường thúc đẩy khách hàng công bố thông tin tự nguyện nhiều hơn.
1.5.2 Nhóm nhân tố thuộc về cơ cấu sở hữu a Nhân tố sở hữu nhà nước
Một số nghiên cứu của Vu (2012), Zhang (2013) nhận thấy mối quan hệ nghịch giữa sở hữu nhà nước và mức độ công bố thông tin tự nguyện [70],
[78] Các nghiên cứu này có chung lập luận rằng: luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Sở hữu nhà nước là sở hữu toàn dân, dẫn đến việc không có chủ sở hữu thực, điều này làm giảm quyền kiểm soát trực tiếp và có thể dẫn đến tham nhũng cũng như quản trị doanh nghiệp kém Khi người quản lý hành động vì lợi ích cá nhân thay vì lợi ích của cổ đông, mức độ công bố thông tin tự nguyện sẽ giảm Lập luận này phù hợp với lý thuyết đại diện.
Các công ty sở hữu nhà nước thường thiếu động lực tối đa hóa lợi nhuận do nguồn vốn tái đầu tư được đảm bảo bởi nhà nước Điều này dẫn đến việc các công ty không có khuyến khích để công bố thông tin ra bên ngoài, từ đó ảnh hưởng đến giá trị công ty và khả năng thu hút đầu tư.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Jiang và cộng sự (2009), Wang và cộng sự
Nghiên cứu năm 2013 chỉ ra rằng có mối quan hệ tích cực giữa các mức độ sở hữu nhà nước và mức độ công bố thông tin tự nguyện Bên cạnh đó, nhân tố sở hữu nước ngoài cũng đóng vai trò quan trọng trong việc này.
Sở hữu nước ngoài được xác định qua tỷ lệ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng yếu tố sở hữu nước ngoài có mối liên hệ với mức độ công bố thông tin tự nguyện, trong đó các công ty có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài thường có xu hướng công bố thông tin tự nguyện cao hơn.
Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng cổ đông nước ngoài phải đối mặt với rủi ro cao hơn so với cổ đông trong nước La Porta và các cộng sự (2000) đã xác định những rủi ro tiềm tàng mà cổ đông nước ngoài phải chịu, bao gồm rủi ro chính trị và sự bảo vệ pháp lý không chặt chẽ.
Cổ đông nước ngoài tại Việt Nam phải đối mặt với mức độ bất đối xứng thông tin cao hơn so với cổ đông trong nước, do sự tách biệt về quyền sở hữu và kiểm soát, cũng như các rào cản ngôn ngữ và văn hóa Trong bối cảnh thị trường vốn mới nổi, vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng Do đó, các công ty có sở hữu nước ngoài cần tăng cường công bố thông tin để theo dõi hoạt động của nhà quản lý và tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó thu hút thêm cổ đông.
Kết quả nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002), Ho và cộng sự
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN
CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Dựa trên tổng quan các lý thuyết về công bố thông tin tự nguyện và kết quả từ các nghiên cứu trước, tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu mới.
2.1.1 Giả thuyết nghiên cứu liên quan đến nhóm nhân tố thuộc về quản trị công ty a Mức độ độc lập của hội đồng quản trị:
Mức độ độc lập của hội đồng quản trị là yếu tố quan trọng trong quản trị doanh nghiệp, thường được đo lường qua tỷ lệ thành viên không tham gia điều hành so với tổng số thành viên trong hội đồng.
Trong bối cảnh thị trường vốn mới nổi ở Châu Á, nhiều nghiên cứu cho thấy mức độ độc lập của hội đồng quản trị có mối quan hệ tích cực với mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết Sự hiện diện của các thành viên độc lập trong hội đồng quản trị hỗ trợ các công ty trong các quyết định chiến lược, từ đó cải thiện hiệu suất kinh tế và tài chính, tạo động lực cho việc công bố thông tin nhiều hơn Hơn nữa, các thành viên độc lập giúp giám sát hoạt động của nhà quản lý, giảm khả năng lạm dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân Các nghiên cứu của Cheng và Courtenay (2006) tại Singapore, Chau và Gray (2010) tại Hồng Kông, và Akhtaruddin cùng cộng sự (2009) tại Malaysia đều khẳng định rằng mức độ độc lập của hội đồng quản trị ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết Dựa trên lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu và các kết quả nghiên cứu trước đây, tác giả đưa ra giả thuyết.
Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có mối quan hệ tích cực giữa mức độ độc lập của hội đồng quản trị và mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên Điều này cho thấy rằng sự độc lập của hội đồng quản trị có thể thúc đẩy tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý thông tin.
Theo lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling (1976), việc sở hữu của nhà quản lý trong công ty có thể khiến họ quan tâm hơn đến hiệu quả kinh tế từ các quyết định của mình, vì lợi ích của họ gắn liền với giá trị công ty Điều này dẫn đến động cơ thao túng thông tin theo hướng có lợi cho bản thân, đồng thời hạn chế việc cung cấp thông tin tự nguyện Trong bối cảnh Việt Nam, một quốc gia đang phát triển với cơ cấu sở hữu tập trung cao và hoạt động bảo vệ cổ đông thiểu số còn yếu kém, quyền sở hữu quản lý cao có thể làm giảm khả năng công bố thông tin tự nguyện.
Theo các nghiên cứu trước đây của Leung và Horwitz (2004) tại Hồng Kông, Akhtaruddin và Haron (2010) tại Malaysia, và Vu (2012) tại Việt Nam, tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý có tác động ngược chiều đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết Dựa trên những kết quả này và lý thuyết đại diện, tác giả đề xuất một giả thuyết mới.
Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có tỷ lệ sở hữu quản lý cao thường có mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên thấp Bên cạnh đó, tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị cũng là một yếu tố quan trọng cần được xem xét.
Vấn đề về sự hiện diện của thành viên nữ trong hội đồng quản trị đã được nghiên cứu nhiều, cho thấy rằng sự đa dạng do các thành viên nữ mang lại là rất quan trọng (Dutta và Bose, 2006) Smith và các cộng sự (2006) chỉ ra ba lý do chính về tầm quan trọng của phụ nữ trong hội đồng quản trị: (1) quản trị nữ có khả năng hiểu thị trường tốt hơn so với quản trị nam; (2) hình ảnh tích cực mà các thành viên nữ tạo ra trong cộng đồng có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; (3) sự bổ nhiệm thành viên nữ giúp tăng cường hiểu biết về môi trường kinh doanh cho các thành viên khác trong hội đồng quản trị.
Nhận thức được tầm quan trọng của nữ giới trong quản trị doanh nghiệp, nhiều quốc gia đã ban hành luật khuyến khích sự tham gia của phụ nữ vào hội đồng quản trị Năm 2003, Na Uy thông qua đạo luật yêu cầu tối thiểu 40% thành viên hội đồng quản trị là nữ, có hiệu lực từ năm 2006 Pháp cũng áp dụng tỷ lệ 40% nữ giới trong hội đồng quản trị của 40 công ty lớn nhất vào năm 2011 Tây Ban Nha yêu cầu mỗi giới chiếm ít nhất 40% trong hội đồng quản trị vào năm 2015, trong khi Ý yêu cầu 33% nữ giới cho các công ty niêm yết và nhà nước Đức đã quy định tỷ lệ 30% nữ giới trong ban lãnh đạo các công ty lớn từ năm 2014, và Australia đề xuất hạn ngạch 25% cho năm 2013, tăng lên 35% vào năm 2018 Tại Malaysia, từ năm 2016, các công ty có trên 250 công nhân phải có ít nhất 30% nữ giới trong hội đồng quản trị hoặc ban giám đốc.
Tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty và quản trị doanh nghiệp Nghiên cứu của Girlie Ndoro (2012) chỉ ra rằng giới tính lãnh đạo, đặc biệt là khi lãnh đạo là nữ, có ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất kinh doanh Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào xem xét tác động của giới tính đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Do đó, nghiên cứu này sẽ tìm hiểu xem tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị có phải là yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết hay không.
Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị cao hơn sẽ có mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên nhiều hơn.
2.1.2 Nhóm nhân tố thuộc về cơ cấu sở hữu a Tỷ lệ sở hữu nhà nước
Sở hữu nhà nước là đặc trưng nổi bật của nền kinh tế Việt Nam Kể từ chính sách đổi mới năm 1986, chính phủ đã thực hiện lộ trình giảm can thiệp vào nền kinh tế, dẫn đến việc giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp Mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời vào năm 2000 nhằm thúc đẩy cổ phần hóa, tỷ trọng sở hữu nhà nước trong các doanh nghiệp niêm yết vẫn cao, với nhiều công ty sau cổ phần hóa vẫn giữ trên 50% sở hữu nhà nước Dù sở hữu tư nhân gia tăng, sở hữu nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Nghiên cứu của Vu (2012), Zhang (2013) nhận thấy mối quan hệ ngược chiều giữa sở hữu nhà nước và mức độ công bố thông tin tự nguyện
[70], [78] Các nghiên cứu này có chung lập luận rằng:
Sở hữu nhà nước là sở hữu toàn dân, dẫn đến việc không có chủ sở hữu thực, điều này làm giảm quyền kiểm soát trực tiếp và tạo điều kiện cho tham nhũng cũng như quản trị doanh nghiệp kém hiệu quả Người quản lý thường hành động vì lợi ích cá nhân thay vì vì lợi ích của cổ đông, dẫn đến mức độ công bố thông tin tự nguyện thấp.
Các công ty sở hữu nhà nước thường thiếu động lực tối đa hóa lợi nhuận do lợi nhuận và nguồn vốn tái đầu tư được đảm bảo bởi nhà nước Điều này dẫn đến việc các công ty không có khuyến khích để công bố thông tin ra bên ngoài, từ đó ảnh hưởng đến giá trị công ty và khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư Giả thuyết nghiên cứu được đưa ra là:
Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao thường có mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên thấp Điều này cũng tương tự với tỷ lệ sở hữu nước ngoài.
ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.2.1 Đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam a Xây dựng danh mục thông tin tự nguyện
Có ba phương pháp chính để xây dựng danh mục thông tin công bố tự nguyện Thứ nhất, tự xây dựng danh mục thông tin, như nghiên cứu của Yuen và cộng sự (2009) đã tạo ra danh sách 51 mục thông tin sau khi tham khảo các doanh nghiệp quan trọng và kiến nghị từ các tổ chức Thứ hai, dựa vào danh sách có sẵn từ các nghiên cứu trước đó và điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu, như nghiên cứu của Hiếu và Lan (2015) cùng Vu (2012) Cuối cùng, phương pháp thứ ba là xây dựng danh mục bởi một tổ chức khác, ví dụ như cơ quan đánh giá hoặc hiệp hội chuyên nghiệp; nghiên cứu của Lokman (2011) đã sử dụng danh mục thông tin tự nguyện từ Watchdog Group (MSWG) tại Malaysia để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại đây.
Bài nghiên cứu này sử dụng danh mục thông tin tự nguyện được xây dựng bởi Vu (2012) có điều chỉnh [70] Danh mục thông tin tự nguyện của Vu
Năm 2012, tác giả đã xây dựng một danh mục thông tin công bố tự nguyện gồm 119 mục dựa trên các nghiên cứu nổi tiếng như của Meek và cộng sự (1995), Ferguson, Lam và Lee (2002), và nhiều nghiên cứu khác Danh sách này được gửi cho các chuyên gia kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam để tham khảo ý kiến Sau khi so sánh với các quy định của Việt Nam, tác giả đã loại bỏ những thông tin bắt buộc và rút ra danh sách cuối cùng gồm 84 mục, trong đó có 14 mục về thông tin doanh nghiệp và chiến lược, 29 mục về thông tin tài chính, 3 mục về thông tin người quản lý cấp cao, 14 mục về dự báo tương lai, và 24 mục về trách nhiệm xã hội Nghiên cứu này dựa vào danh mục của Vu (2012) và loại trừ một số thông tin bắt buộc theo Thông tư số 52/2012/TT-BTC, dẫn đến danh sách cuối cùng gồm 60 mục thông tin tự nguyện.
- Thông tin chung về doanh nghiệp và chiến lược
- Thông tin tài chính và nguồn vốn doanh nghiệp
- Thông tin dự báo trong tương lai
- Thông tin về trách nhiệm xã hội
- Thông tin về quản lý cấp cao b Đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện
Tiến hành thu thập dữ liệu về các mục công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các công ty đã được chọn mẫu
Việc công bố thông tin là một khái niệm trừu tượng, không có đặc tính cụ thể để xác định số lượng và chất lượng thông tin Trong nghiên cứu luận văn thạc sĩ, chỉ số công bố thông tin tự nguyện được coi là một chỉ số quan trọng, cần thiết phải xây dựng phương pháp đo lường hợp lý.
Trong các nghiên cứu trước đây, có hai quan điểm khác nhau về cách đo lường mức độ công bố thông tin Nhóm nghiên cứu thứ nhất cho rằng mức độ quan trọng của các thông tin khác nhau cần được đo lường bằng cách cho điểm trọng số từng khoản mục Tuy nhiên, phương pháp này có thể dẫn đến thiên lệch trong việc đánh giá thông tin Ngược lại, nhóm nghiên cứu thứ hai nhấn mạnh rằng điều quan trọng là thông tin có được công bố tự nguyện trên báo cáo thường niên hay không, do đó, tất cả các khoản mục thông tin được đánh giá ngang bằng mà không sử dụng trọng số.
Trong bài nghiên cứu này, tác giả áp dụng phương pháp tính không trọng số dựa trên bảng danh mục thông tin tự nguyện Cụ thể, thông tin được công bố sẽ được gán giá trị 1, trong khi thông tin không được công bố sẽ nhận giá trị 0 Do đó, chỉ số công bố thông tin tự nguyện của công ty sẽ được tính toán dựa trên cách này.
Chỉ số công bố thông tin của công ty j, ký hiệu là \$I_j\$, nằm trong khoảng từ 0 đến 1, với \$d_{ij} = 1\$ nếu mục thông tin i được công bố và \$d_{ij} = 0\$ nếu không Số lượng mục thông tin tự nguyện mà công ty j có thể công bố là \$n_j\$, tối đa là 60 Để xác định một thông tin không được công bố là do doanh nghiệp không công bố hay không liên quan, cần dựa vào đặc điểm của công ty và sự xét đoán của người khảo sát Ví dụ, thông tin về sản lượng đầu ra và công suất sử dụng máy móc có thể được công bố bởi các công ty sản xuất, nhưng lại không liên quan đối với các công ty thương mại và dịch vụ.
2.2.2 Đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Mức độ độc lập của hội đồng quản trị được xác định thông qua tỷ lệ thành viên không kiêm nhiệm các chức vụ trong Ban giám đốc so với tổng số thành viên của hội đồng Phương pháp này đã được áp dụng trong nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002).
Sở hữu của người quản lý được xác định qua tỷ lệ cổ phần mà ban giám đốc nắm giữ so với tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
Tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị được xác định bằng cách tính số lượng thành viên nữ tham gia so với tổng số thành viên trong hội đồng.
Sở hữu nhà nước được xác định qua tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nhà nước nắm giữ so với tổng số cổ phần của doanh nghiệp Các nghiên cứu của Lan và cộng sự (2013), Vu (2012), cùng Hiếu và Lan (2015) đều áp dụng phương pháp đo lường này.
Sở hữu nước ngoài được xác định qua tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nước ngoài nắm giữ so với tổng số cổ phần của doanh nghiệp Phương pháp này đã được áp dụng trong các nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002).
Lợi nhuận của doanh nghiệp có thể được đo lường bằng nhiều cách khác nhau, trong đó ROA (tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản) và ROE (tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) là hai chỉ số phổ biến Nghiên cứu này sử dụng ROA để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp, nhằm loại trừ ảnh hưởng của cấu trúc vốn so với ROE Phương pháp này cũng đã được áp dụng trong các nghiên cứu trước đây, như của Haniffa và Cooke (2002).
Tỷ suất nợ được xác định bằng tỷ số giữa nợ phải trả và tổng tài sản Các nghiên cứu trước đây của Vu (2012) và Hiếu cùng Lan (2015) cũng đã áp dụng phương pháp đo lường này.
Quy mô doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng được nhiều tác giả nghiên cứu và đo lường theo nhiều cách khác nhau Nghiên cứu của Meek và cộng sự (1995) đã sử dụng tổng doanh thu hàng năm để đo lường quy mô, trong khi các nghiên cứu khác lại áp dụng tổng tài sản (Vu, 2012; Zhang, 2013; Hossain & Hammami, 2009) hoặc vốn hóa thị trường (Sukthomya, 2011) như những chỉ số thay thế.
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thường sử dụng mô hình hồi quy bội Các yếu tố độc lập như quy mô công ty, sở hữu nước ngoài, sở hữu nhà nước và đòn bẩy tài chính có thể tác động đến mức độ công bố thông tin này Nhiều nghiên cứu trước đây, như của Barako và cộng sự (2006), Vu (2012), Hiếu và Lan (2015), cũng áp dụng mô hình hồi quy bội để phân tích vấn đề tương tự Do đó, nghiên cứu này sẽ tiếp tục sử dụng mô hình hồi quy bội để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện.
Trong nghiên cứu này, biến phụ thuộc được xác định là biến liên tục, trong khi biến độc lập có thể là biến liên tục hoặc nhị phân Do đó, mô hình hồi quy tổng thể sẽ có dạng như sau:
Y : Chỉ số công bố thông tin
X1, X2X3 Xn: Biến độc lập của mô hình lần lượt
X1 : Mức độ độc lập hội đồng quản trị
X2 : Tỷ lệ sở hữuquản lý
X3 : Tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT
X4 : Tỷ lệ sở hữu nhà nước
X5 : Tỷ lệ sở hữu nước ngoài
X9 là ngành nghề kinh doanh với các tham số chặn ò0, ò1, ò2, ò3 và các tham số chưa biết của mô hình Sai số ngẫu nhiên e cũng được đề cập Để tải luận văn tốt nghiệp mới nhất, vui lòng liên hệ qua email z z @gmail.com.
CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, loại trừ các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán và ngân hàng do các doanh nghiệp này phải lập báo cáo thường niên theo quy định khác (Quyết định số 02/VBHN-NHNN ngày 21/01/2015) Tính đến ngày 31/12/2015, có 650 công ty niêm yết đủ điều kiện trên hai sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh Theo nghiên cứu của Hair và cộng sự (2010), nếu tổng thể xác định được và nhỏ hơn 100.000, cỡ mẫu sẽ được xác định theo công thức cụ thể.
1 + 𝑁𝑒 2 Trong đó N : số lượng tổng thể n : số lượng mẫu e : sai số tiêu chuẩn
Nghiên cứu này sẽ được thực hiện trên mẫu 100 công ty, bao gồm 50 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và 50 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán khác Mặc dù cỡ mẫu được xác định là 87 công ty với sai số tiêu chuẩn ±10%, việc tăng cỡ mẫu lên 100 công ty sẽ đảm bảo độ tin cậy cao hơn cho kết quả nghiên cứu.
Hồ Chí Minh, chiếm tỷ lệ 15,38% tổng thể
Dựa trên lý thuyết về công bố thông tin tự nguyện và các nghiên cứu trước, tác giả đã phát triển 9 giả thuyết nghiên cứu với 9 nhân tố độc lập, bao gồm: mức độ độc lập của hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu của quản lý, tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, khả năng sinh lời, tỷ suất nợ, quy mô doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh Để thu thập và phân tích dữ liệu, tác giả đã xây dựng danh mục thông tin tự nguyện và phương pháp đo lường các chỉ số liên quan, từ đó hoàn thiện mô hình nghiên cứu và tiến hành thu thập dữ liệu.