1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng

80 673 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Cao Bằng
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 733,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rất Rất Hay!

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực

phẩm, cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao, có khả năng cải tạo đất tốt Cây lạcchiếm vị trí hàng đầu trong các cây có hạt lấy dầu và chiếm một vị trí quantrọng trong nền kinh tế nông nghiệp, không chỉ do được gieo trồng trên diệntích lớn ở nhiều quốc gia mà còn vì lạc được sử dụng rộng rãi để làm thựcphẩm và nguyên liệu cho công nghiệp Một giá trị vô cùng quan trọng của câylạc về mặt sinh học là có khả năng cố định đạm khi cộng sinh với vi khuẩn

(Rhizobium) Chính vì vậy, cây lạc không đòi hỏi bón nhiều phân đạm, trồng ở

đất nghèo dinh dưỡng vẫn có thể cho năng suất, đồng thời cải tạo đất tốt

Ở Việt Nam sản xuất lạc được phân bố trên tất cả các vùng sinh tháinông nghiệp của nước ta, diện tích lạc chiếm khoảng 28% tổng diện tích gieotrồng các cây công nghiệp hàng năm (Nguyễn Thị Chinh, 2005) [7] và có xuhướng tăng trong giai đoạn từ 2001 - 2011 Theo số liệu thống kê năm 2012diện tích lạc toàn quốc là (223.700 ha) sản lượng (465.900 tấn), năng suất trungbình (20,8 tạ/ha)

Tổng cục thống kê năm 2010 [25], lạc có ý nghĩa lớn trong xuất khẩu vàsản xuất dầu ăn, hiện nay chúng ta vẫn còn phải nhập Hơn nữa, cây lạc lạithích ứng tốt với vùng đất nhiệt đới bán khô hạn như ở Việt Nam nơi mà khíhậu biến động và canh tác gặp nhiều khó khăn Trong những năm gần đây, nhờ

sự chuyển dịch theo hướng nền kinh tế thị trường, sản xuất nông nghiệp củanước ta đã thu được những thành tựu đáng kể

Đối với cây lạc, các nhà khoa học đã và đang tập trung nghiên cứu, khảonghiệm tìm ra những bộ giống thích hợp nhất cho từng vùng lãnh thổ Sản xuấtlạc Việt Nam đang tiếp cận dần đối với tiến bộ khoa học trên thế giới, góp phầnđẩy mạnh sản xuất, tăng năng suất và sản lượng lạc, dần đáp ứng được nhu cầu

về lạc cho tiêu dùng và công nghiệp chế biến trong nước và xuất khẩu Hiệnnay cây lạc đã được trồng nhiều phổ biến ở các tỉnh như là vùng đồng bằng

Trang 2

sông Hồng, các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên,Thái Bình, Hà Nam sản xuất lạc ở những tỉnh này đang phát triển theo hướnghàng hóa, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Quảng Uyên là một huyện miền núi của tỉnh Cao Bằng, nơi có điều kiệnkhí hậu và đất đai rất thuận lợi cho cây lạc sinh trưởng và phát triển, trong đócây lạc là một loại cây trồng có vai trò rất quan trọng trong công thức luân canhtăng vụ, cho hiệu quả kinh tế cao và tăng thu nhập trên đơn vị diện tích Đặcbiệt nó phát huy hiệu quả cao trong luân canh với cây ngô, góp phần cải tạođất, nâng cao năng suất cây trồng Người dân ở đây trồng ngô và một vụ trồngcác cây trồng khác như: lạc, hoặc khoai lang… Trong đó, cây lạc vẫn đượcngười dân sử dụng nhiều nhất do đặc tính phù hợp với chất đất, mức đầu tưthấp, nhưng cho thu nhập cao hơn các cây trồng khác Tuy nhiên, người dânvẫn sử dụng các giống cũ và canh tác theo phương thức truyền thống Năngsuất cây lạc rất thấp, chủ yếu để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của gia đình, tựcung tự cấp Sản xuất manh mún và hiệu quả kinh tế thấp

Từ thực tế đó, việc nghiên cứu tính thích ứng và khả năng cho năng suấtcao của các giống lạc và các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với điều kiệnđịa phương là rất thiết thực vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng”

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích

Xác định giống và biện pháp kỹ thuật phù hợp như (mật độ, thời vụ vàliều lượng phân bón) nhằm nâng cao năng suất và chất lượng lạc vụ hè thu tạihuyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng

2.2.Yêu cầu

- Nghiên cứu một số giống lạc để lựa chọn ra giống có năng suất cao, phù

hợp với vùng đất rẫy, góp phần bổ sung vào cơ cấu giống lạc của huyện QuảngUyên tỉnh Cao Bằng

Trang 3

- Nghiên cứu xác định tổ hợp phân bón vô cơ, (N,P,K) và mật độ, thời vụ

trồng thích hợp đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc giống L14trên đất rẫy của huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1.Ý nghĩa khoa học

- Đề tài góp phần bổ xung cơ sở lý luận cho việc phát triển các giống lạcmới vụ hè thu ở tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam Qua trên kết quả nghiên cứu

về khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc mới vụ

hè thu trên đất rẫy

- Xác định được một giống lạc có năng suất cao, chất lượng hạt tốt vàmột số biện pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất lạc trên đất rẫy củahuyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua kết quả đề tài, khuyến cáo cho người nông dân trong vùng sửdụng giống lạc mới, áp dụng một số biện pháp kỹ thuật phù hợp như mật độ,thời vụ, liều lượng phân bón (N,P,K) cho cây lạc, để góp phần nâng cao năngsuất, sản lượng và hiệu quả sản xuất lạc trên đất rẫy ở huyện Quảng Uyên tỉnhCao Bằng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài được nghiên cứu trong vụ hè thu năm 2012 và vụ hè thu năm

2013 tại huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng

- Vật liệu nghiên cứu một số giống lạc do viện nghiên cứu nông nghiệpcung cấp

- Mật độ, thời vụ và lượng phân bón cho lạc trong thí nghiệm sử dụngquy phạm khảo nghiệm giống cây trồng QCVN 01-57 : 2011/BNNPTNT do BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành năm 2011 làm cơ sở khoa học

để thực hiện

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Cây lạc được trồng ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước, để nâng caonăng suất, tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng lạc được đặt lên hàng đầu.Mặc dù có thể trồng được ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, song điều kiệnsinh thái phù hợp với cây lạc sẽ cho năng suất cao

Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và kinh nghiệm trồng trọt chothấy, lạc không yêu cầu khắt khe về độ phì của đất Do đặc điểm sinh lý củalạc, đất trồng lạc phải đảm bảo cao ráo, thoát nước nhanh khi có mưa to Thànhphần cơ giới của đất trồng lạc tốt nhất là loại đất thịt nhẹ, cát pha, để đất luôntơi, xốp và có độ pH từ 5,5 - 7 nhằm thoả mãn 4 yêu cầu của cây lạc:

- Rễ phát triển mạnh cả về chiều sâu và chiều ngang

- Đủ ôxy cho vi sinh vật nốt sần hoạt động cố định đạm

- Tia quả đâm xuống đất dễ dàng

- Dễ thu hoạch

Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có ảnh hưởng đến thời gian sinhtrưởng của lạc Nhiệt độ trung bình thích hợp cho suốt đời sống cây lạc làkhoảng 25 – 300C và thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng của cây Nhiệt độtrung bình thích hợp cho thời kỳ nảy mầm 25 – 300C, thời kỳ sinh trưởng dinhdưỡng 20 - 300C, thời kỳ ra hoa 24 – 330C, thời kỳ chín 25 – 2800C Tích ônhữu hiệu của lạc 2.600 - 4.8000C thay đổi tuỳ theo giống

Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lạc Tuylạc được coi là cây trồng chịu hạn, song thực ra lạc chỉ chịu hạn ở một giaiđoạn nhất định Độ ẩm đất trong suốt thời gian sinh trưởng của lạc yêu cầukhoảng 70 - 80% độ ẩm giới hạn đồng ruộng Yêu cầu này có cao hơn một chút

ở thời kỳ ra hoa, kết quả (80 - 85%) và giảm ở thời kỳ chín của hạt

Trang 5

Tổng nhu cầu về nước trong suốt thời gian sinh trưởng của cây lạc từ khimọc đến thu hoạch (không kể thời kỳ nảy mầm) là 450 – 700 mm Lạc là câyngắn ngày song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu và đối với nhiềutrường hợp là phản ứng trung tính với quang chu kỳ Số giờ nắng/ngày có ảnhhưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc Quá trình nở hoa thuận lợikhi số giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng.

Để thâm canh tăng năng suất cây lạc, cũng như thâm canh bất kỳ mộtloại cây trồng nào khác, người ta phải áp dụng một hệ thống biện pháp kỹthuật, trong đó có những biện pháp tác động lên đất, có những biện pháp nhằmchủ yếu vào cây lạc, có những biện pháp nhằm vào những loài sinh vật kháctrong hệ sinh thái đồng ruộng…nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi nhất cho câylạc phát triển và tạo ra năng suất hạt lạc cao nhất

Hệ thống các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng xuất lạc bao gồm:

- Gieo trồng các giống lạc tốt.

- Chọn đất thích hợp, làm đất kỹ.

- Gieo đúng thời vụ, đúng kỹ thuật.

- Bón phân đầy đủ, cân đối, hợp lý.

- Chăm sóc chu đáo kịp thời.

- Thu hoạch đúng thời vụ, kỹ thuật, bảo quản lạc tốt.

- Phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại đúng kỹ thuật.

- Thực hiện luân canh, xen canh, tăng vụ có cơ sở khoa học và thực tế

Điều đầu tiên cần lưu ý là tính hệ thống của các biện pháp Trong một hệthống hợp lý, các biện pháp riêng rẽ ngoài việc phát huy các tác động tích cựccủa mình, còn cần tạo ra sự cộng hưởng, sự hỗ trợ trong việc phát huy hiệu quảcác biện pháp khác Khi áp dụng một biện pháp nào đó không thích hợp, chẳngnhững không phát huy được hiệu quả của biện pháp đó mà còn làm giảm tácdụng có ích của các biện pháp khác Vì vậy, hệ thống biện pháp thâm canh cầnđược áp dụng một cách đồng bộ và liên hoàn

Trang 6

Việc áp dụng hệ thống các biện pháp thâm canh cần cơ động và linhhoạt Không có bất kỳ một công thức có sẵn nào có thể đúng và phát huy đượcmọi tác dụng ở bất cứ điều kiện sản xuất cụ thể nào Các điều kiện cụ thể củasản xuất vô cùng phong phú và đa dạng Vậy không nên áp dụng hệ thống cácbiện pháp thâm canh một cách cứng nhắc, máy móc, dập khuôn, nhưng cũngkhông nên tự do tuỳ tiện Tiềm năng thâm canh cây lạc ở nước ta còn nhiều.Khi nông dân dành cho cây lạc sự chú ý thích đáng, sự quan tâm chăm sóc cầnthiết và áp dụng một cách sáng tạo các biện pháp thâm canh, chắc chắn năngsuất lạc sẽ tăng cao.

Những tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) để phát triển nông nghiệphàng hóa đa dạng, đáp ứng nhu cầu lạc cho công nghiệp chế biến và nhu cầutiêu dùng của nhân dân Vì vậy, cần mở rộng các vùng trồng lạc chuyên canhtrong cả nước

Mục tiêu của đề tài này là đánh giá khả năng thích ứng của một số giốnglạc năng suất cao và các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, nhằm chuyểndịch cơ cấu cây trồng có giá trị trên vùng đất nương rẫy, phù hợp với điều kiệncủa nông dân và vùng sinh thái, thay thế giống cây trồng hiện có chưa đáp ứngđược nhu cầu thực tiễn

Khi đưa giống mới và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt mới vào sản xuất,người ta quan tâm đến hiệu quả kinh tế của nó và việc nó có phù hợp với điềukiện sản xuất của người dân địa phương hay không Đó cũng chính là cơ sở đểthực hiện đề tài này

1.2 Tầm quan trọng và vị trí của cây lạc

1.2.1 Giá trị cây lạc trong hệ thống trồng trọt

Cây lạc thuộc họ đậu, bộ rễ có vi khuẩn nốt sần (Rhizobium) sống cộng

sinh, có khả năng cố định nitơ phân tử ở ngoài không khí để cung cấp dinhdưỡng cho cây Nhờ khả năng đặc biệt này mà trồng lạc không cần bón nhiềuđạm như các loại cây trồng khác nhưng vẫn đảm bảo năng suất, đồng thời còncung cấp trở lại cho đất một lượng đạm đáng kể

Trang 7

Lạc là cây trồng được sử dụng nhiều trong các công thức luân canh trồngtrọt, việc luân canh cây họ đậu với cây trồng khác đã góp phần cải thiện chế độdinh dưỡng khoáng với các loại cây trồng, có khả năng làm giảm mức độ sóimòn của đất, nâng cao độ phì của đất đặc biệt trong mùa mưa [14].

Theo kết quả nghiên cứu cơ cấu cây trồng tại Trung Quốc, đặc biệt làviệc thử nghiệm công thức luân canh các cây trồng cạn đã rút ra được nhữngkết luận có ý nghĩa khoa học và thực tiễn là: đưa các cây họ đậu vào luân canhvới ngô, sắn giúp cải thiện tính chất lý, hoá của đất một cách rõ rệt, làm thayđổi pH của đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần cơ giới, tănglượng lân, kali dễ tiêu trong đất

Ngô Đức Dương (1984) [12] khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở các vùngchuyên canh lạc phía Bắc nước ta đã kết luận: Cây lạc luân canh tốt nhất vớicây trồng họ hoà thảo đặc biệt là với lúa nước, ở thời điểm một năm sau khiluân canh với cây lúa chế độ dinh dưỡng đất được cải thiện rõ rệt, pH đất tăng,lượng chất hữu cơ tăng, hàm lượng đạm tổng số và hàm lượng lân dễ tiêu trongđất đều tăng

Theo tác giả Lê Văn Diễn và cộng sự (1991) [13] khi so sánh hiệu quảkinh tế của các công thức luân canh trên các chân đất khác nhau ở một số vùngchuyên canh lạc vùng đồng bằng Bắc Bộ đã chỉ ra rằng: ở tất cả các công thứcluân canh có lạc Xuân đều cho tổng thu nhập, lãi thuần và hiệu quả đồng vốnđầu tư cao hơn so với các công thức luân canh khác trên cùng một loại đất.Đồng thời, khi so sánh hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính ở vụ Xuânnhư: lúa, lạc, đậu tương, ngô, các tác giả cũng ghi nhận việc trồng lạc trong vụXuân cho thu nhập thuần cao hơn so với trồng các cây trồng khác Từ đó có thểthấy, lạc là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là với các côngthức luân canh nền lúa và trồng lạc trong vụ xuân cho hiệu quả kinh tế cao hơn

so với các cây trồng khác cùng thời vụ

Trang 8

1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lạc trên thế giới và trong nước

1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới.

Cây lạc là một cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao và chiếm một vị trí quantrọng trong nền kinh tế thế giới Cây lạc mặc dù có nguồn gốc từ Nam Mỹnhưng hiện nay được phân bố rộng trong phạm vi từ 400 vĩ Bắc đến 400 vĩNam Hiện nay, cây lạc được trồng ở hơn 100 nước và là cây trồng đứng thứ 2sau cây đậu tương về diện tích trồng cũng như sản lượng trên thế giới

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới

Tên nước

Diện tích (triệu/ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

2009 2010 2011 2009 2010 2011 2009 2010 2011

Thế Giới 23,93 25,30 21,78 1,52 1,66 1,77 36,45 41,89 38,61

Ấn Độ 5,47 5,94 4,19 1.00 1,39 1,65 5,42 8,26 6,93Trung Quốc 4,40 4,55 4,67 3,36 3,45 3,45 14,76 15,70 16,11Nigeria 2,64 2,79 2,34 1,12 1,36 1,26 2,98 3,79 2,96Senegal 1,05 1,19 0,86 0,97 1,07 0,60 1,03 1,28 0,52Châu Mỹ 0,98 1,01 0,99 2,95 3,09 3,06 2,90 3,13 3,04Indonesia 0,62 0,62 0,54 1,25 1,25 1,28 0,77 0,78 0,70Việt Nam 0,24 0,23 0,22 2,08 2,10 2,08 0,51 0,49 0,46

Nguồn: Faostat, http://faostat.fao.org [38]

Qua bảng 2.1 cho thấy: Diện tích trồng lạc của các nước trên trên thế giớiđều có xu hướng giảm dần Chỉ riêng Trung Quốc là nước có diện tích trồng lạctăng liên tục năm 2011 tăng (0,27 triệu ha) so với năm 2009 Ấn Độ có diệntích trồng lạc năm 2011 chiếm (4,19 triệu ha) giảm (1,28 triệu ha) so với 2009.Nigeria diện tích tăng năm 2009 và 2010 tuy nhiên tốc độ tăng chậm, nhưngđến năm 2011 lại giảm (0,3triệu ha) so với 2009 Senegal diện tích năm 2011(0,86 triệu ha) giảm so với 2010 (0,33 triệu ha) và (0,19 triệu ha) so với năm

2009 Với Châu Mỹ có diện tích trồng lạc nhỏ, năm 2009 (0,98 triệu ha) năm

2010 có sự tăng diện tích (0,02 triệu ha) so với năm 2011 Indonesia là nước códiện tích trồng lạc giảm liên tục qua các năm từ 2009 đến 2011 tính đến năm

2011 đã giảm (0,08 triệu ha) so với 2009 Điều đó chứng tỏ cây lạc không được

Trang 9

chú trọng đầu tư mở rộng diện tích ở đây Ở Việt Nam diện tích cây lạc cũnggiảm liên tục, năm 2009 diện tích chiếm 1,0% tổng diện tích trồng lạc thế giới.Đến năm 2010 diện tích lại giảm (0,01 triệu ha) so với năm 2009 Năm 2011lúc này diện tích của Việt Nam chiếm 1,01% tổng diện tích trồng lạc thế giới

Giai đoạn từ 2009 - 2011, năng suất lạc thế giới hầu như không tăng, chỉdiao động từ (1,52 tấn/ha đến 1,77 tấn/ha) Chứng tỏ trong giai đoạn gần đâykhông có biến động nào lớn trong sản xuất làm thay đổi năng suất Các nước cónăng suất lạc tăng đó là: Ấn Độ, Indonesia Trong đó năng suất tăng nhiều nhất

là Ấn Độ năm 2011 tăng (0,65 tấn/ha) so với năm 2009 Các nước có năng suấttăng, giảm không ổn định là: Nigeria, Senegal, Châu Mỹ Trong đó Nigerianăm 2011 giảm (0,1 tấn/ha) so với năm 2010 Về Senegal năm 2011 giảm (0,37tấn/ha) so với năm 2009 Còn Châu Mỹ năng suất lạc năm 2011 cũng giảm(0,11 tấn/ha) so với năm 2009 Ở các nước này, sản xuất lạc sớm được đầu tưcho nghiên cứu, ứng dụng và sớm có những thành công vượt trội Tuy nhiên,giai đoạn này đang bị chững lại Ở Việt Nam năng suất giai đoạn này tăng giảmkhông đáng kể, năm 2011giảm (0,02 tấn/ha) so với 2010

Sản lượng lạc thế giới giai đoạn 2011 giảm (3,28 triệu tấn) so với năm

2010 tăng (2,16 triệu tấn) so với năm 2009 Sản lượng giảm không phải donăng suất lạc giảm mà chủ yếu do diện tích trồng lạc giảm Trung Quốc là nước

có sản lượng lạc lớn Tuy những năm gần đây có xu hướng giảm nhưng vẫnluôn chiếm vị trí đứng đầu thế giới đạt (16,11 triệu tấn) trong năm 2011, trongkhi sản lượng lạc của Việt Nam chỉ đạt (0,46 triệu tấn)

Tất cả các nước đã thành công trong phát triển và nâng cao hiệu quả kinh

tế sản xuất lạc đều rất chú ý đầu tư cho công tác nghiên cứu và ứng dụng cácthành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Rõ ràng rằng, tiềm năng to lớn củacây lạc trong sản xuất chỉ có thể được khơi dậy thông qua việc áp dụng rộng rãicác tiến bộ kỹ thuật trên đồng ruộng

Hiện nay, lạc là một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn.Trong những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, sản lượng lạc xuất khẩu trên thế

Trang 10

giới bình quân chỉ đạt (1,11 - 1,16 triệu tấn/năm) đến năm 1997 - 1998 tăng lên(1,39 triệu tấn) và đến năm 2001 - 2002 đạt (1,58 triệu tấn) Trong đó châu Mỹ

và châu Á là 2 khu vực xuất khẩu nhiều nhất chiếm 70% sản lượng lạc xuấtkhẩu của thế giới Ở khu vực Đông Nam Á, trong những năm 80 của thế kỷ 20,xuất khẩu lạc hàng năm ở chỉ đạt (0,32 triệu tấn/năm)

Trong đó, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Singapore là các nước xuấtkhẩu lạc nhiều Trung Quốc, Mỹ, Achentina, Ấn Độ, Việt Nam là những nướcxuất khẩu lạc nhiều trên thế giới Ngược lại, Hà Lan, Canada, Đức, Nhật,Singapore, Pháp là những nước nhập khẩu lạc nhiều trên thế giới

Từ năm 1991 đến năm 2000, Trung Quốc là nước xuất khẩu lạc nhiềunhất, hàng năm trung bình xuất khẩu gần (78 nghìn tấn), chiếm trên 26,5% tổngsản lượng lạc xuất khẩu của thế giới Đứng thứ 2 là Mỹ, trung bình hàng nămxuất khẩu (67,3 nghìn tấn), chiếm 22,9% tổng lượng xuất khẩu lạc thế giới.Achentina là nước đứng thứ 3 về xuất khẩu lạc, trung bình hàng năm xuất khẩu(36,2 nghìn tấn), chiếm 12,3% lượng lạc xuất khẩu thế giới Hà Lan là nướcnhập khẩu lạc lớn nhất thế giới từ năm 1991 - 2000, trung bình hàng năm nhậpkhẩu (39,8 nghìn tấn), chiếm 13,9% tổng lượng lạc nhập khẩu của thế giới.Đứng thứ 2 là Indonesia, bình quân hàng năm nhập khẩu (34,3 nghìn tấn) Từnăm 2000 - 2005, châu Âu là thị trường nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới, chiếm60% tổng lượng nhập khẩu lạc của thế giới với khoảng (460 nghìn tấn) mỗinăm, tiếp theo là thị trường Nhật Bản, nhập khẩu (130 nghìn tấn) lạc mỗi năm[48]

1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ những năm 1980, sản xuất lạc có chiều hướng phát triểnngày càng tăng Tuy nhiên, do trước đây cây lạc chưa được chú ý nhiều nênnăng suất còn thấp Trong 10 năm từ năm 1981 đến năm 1990, diện tích lạctăng bình quân (7%/năm), sản lượng tăng (9%/năm) Từ năm 1990 - 1995, sảnxuất lạc tăng cả về diện tích và sản lượng, song năng suất còn thấp, chỉ đạt

Trang 11

khoảng (1 tấn/ha) Những năm từ 1996 - 1998 diện tích và sản lượng lạc tăng

rõ rệt, năng suất đạt gần (1,5 tấn/ha)

Theo Ngô Thế Dân và CS, (2000) [5], sự biến động về diện tích, năngsuất và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 1975 đến 1998 chia làm 4 giai đoạn:

Từ năm 1975 - 1979: Giai đoạn này diện tích gieo trồng có xu thế giảm từ (97,1ngàn ha) năm 1976, xuống còn (91,8 ngàn ha) năm 1979, giảm bình quân(2,0%/năm) Năng suất và sản lượng giai đoạn này cũng giảm, năm 1976 năngsuất đạt (10,3 tạ/ha), đến năm 1979 chỉ còn (8,8 tạ/ha), giảm 5,0% Nguyênnhân chính là thực trạng phong trào hợp tác xã hoá bị sa sút, yêu cầu giải quyết

đủ lương thực cần thiết đặt lên hàng đầu, sản xuất lạc lúc này chủ yếu mangtính tự cung, tự cấp nên cây lạc không được đầu tư phát triển

Từ năm 1980 - 1987: Thời kỳ này diện tích trồng lạc tăng nhanh từ (91,8ngàn ha) năm 1979 lên (237,8 ngàn ha) năm 1987 Tốc độ tăng trưởng hàngnăm từ (5,6%/ năm đến 24,8%/ năm) Diện tích năm 1987 tăng gấp 2 lần so vớinăm 1980 và sản lượng tăng 2,3 lần Mặc dù diện tích gieo trồng tăng lênnhanh chóng, nhưng năng suất không tăng, chỉ dao động từ (8,8 - 9,7 tạ/ha), sảnxuất lạc lúc này còn mang tính quảng canh truyền thống

Từ năm 1988 - 1993: Trong ba năm đầu diện tích trồng lạc giảm từ(237,8 ngàn ha) năm 1987 xuống còn (201,4 ngàn ha) 1990 giảm với tốc độ2,0% năm và sau đó phục hồi trở lại Nguyên nhân chủ yếu là do mất thị trườngtiêu thụ truyền thống, thị trường mới chưa kịp tiếp cận, giá lạc thế giới giảmtrong 2 năm 1988 - 1989 Từ năm 1994 - 1998: Giai đoạn này diện tích trồnglạc năm 1998 tăng 8% so với 1994 và sản lượng tăng 25% Tốc độ tăng trưởngchủ yếu là do sự tăng trưởng về năng suất Do chúng ta đã tiếp cận được với thịtrường quốc tế và nhu cầu cho chế biến trong nước cũng tăng lên

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam Giai đoạn

2001 - 2011

Trang 12

Năm (1.000ha) Diện tích Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (1.000tấn)

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam 2012 [322]

Qua số liệu bảng 2.2: Trong giai đoạn từ 2001 - 2011, sản xuất lạc ở ViệtNam đã có những chuyển biến tích cực, năng suất và sản lượng có chiều hướngtăng Trong năm 2011 diện tích (223,7 nghìn ha) có chiều hướng giảm (20,9nghìn ha) so với năm 2001 Vế năng suất tăng (4,9 tạ/ha) so với 2001, sảnlượng (465,9 nghìn tấn), tăng (102,8 nghìn tấn) so với 2001 Năm 2011 so với

2010 thì diện tích giảm (7,7 nghìn ha) và năng suất giảm (1,4 tạ/ha), sản lượnggiảm (21,3 nghìn tấn)

Sản suất lạc được phân bố ở trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệpViệt Nam ở nước ta đã hình thành 6 vùng sản xuất lạc chính như sau:

Vùng 1: Đồng bằng sông Hồng

Vùng 2: Trung du và miền núi phía Bắc

Vùng 3: Bắc trung Bộ và Duyên hải miền Trung

Vùng 4: Tây Nguyên

Vùng 5: Đông Nam Bộ

Vùng 6: Đồng bằng sông cửu Long

Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở 6 vùng sản xuất lạc của Việt

Nam giai đoạn 2001 - 2011

Vùng 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011

Trang 13

Nguồn: Web, http://vukehoach.mard.gov.vn [2]

- Vùng 1: Đồng bằng sông Hồng có diện tích đứng thứ 3 trong cả nướcvới (29400 ha), chiếm (13,1%) cả nước năm 2011 Lạc được trồng tập trung ởcác tỉnh: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình

- Vùng 2: Trung du và miền núi phía Bắc với diện tích (371000 ha)chiếm (16,5%) đứng thứ 2 cả nước, tăng (0,2 ha) so với năm 2001 Lạc được

trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên

- Vùng 3: Bắc trung Bộ và Duyên hải miền Trung là vùng có diện tích(993000 ha) cũng là vùng có diện tích trồng lạc lớn nhất chiếm (44,4%) so với

cả nước, diện tích cũng giảm (9,8 ha) so với năm 2001 Lạc được trồng tậptrung chủ yếu ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh

- Vùng 4: Tây Nguyên là vùng cây lạc ít được chú trọng đầu tư phát

triển, với diện tích (16900 ha) và chiếm (7,5%) cả nước Lạc được trồng tậptrung chủ yếu ở tỉnh Đắc Lắc

- Vùng 5: Có diện tích (15400 ha), chiếm (6,9%) cả nước, năm 2011 diệntích giảm (18,6 ha) so với 2001 Lạc được trồng tập trung ở 2 tỉnh: Tây Ninh,

Bình Dương

- Vùng 6: Đồng bằng sông cửu Long (12600 ha) chiếm (5,6%) cả nước

Có diện tích trồng lạc nhỏ nhất so với cả nước trong năm 2011, lạc được trồngtập trung ở các tỉnh như Long An, Trà Vinh

Trang 14

6 20,5 23,2 23,3 26,5 29,2 29,6 32,0 31,7 33,1 36,4 32,1

Vùng 1 : Đồng bằng sông Hồng, có năng suất (25,5 tạ/ha) có tăng (7,9 tạ/

ha) so với năm 2001 Như vậy cây lạc từ năm 2004 đến 2011 có biến động về

năng suất không ngừng tăng, điều đó cho thấy cây lạc được chú trọng và đầu

Vùng 2: Trung du miền núi phía Bắc, năng suất (25,0 tạ/ha) tăng hơn so

với năm 2001 (12,8 tạ/ha) Năm 2011 chỉ thấp hơn vùng 1 là (0,5tạ/ha)

Vùng 3: Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung, năng suất (19,2 tạ/ha),

tăng (5,8 tạ/ha) so với năm 2001, năng suất đứng thứ 5 trong cả nước

Vùng 4: Tây Nguyên, là vùng có năng suất thấp nhất trong cả nước (17,7

tạ/ha) nhưng cũng đã tăng (5,2 tạ/ha) so với năm 2011, chính tỏ vùng này cây

lạc chưa được quan tâm chăm sóc đúng kỹ thuật

Vùng 5: Đông Nam Bộ, có năng suất (25,2 tạ/ha) gần tương đương với

năng suất vùng 1, trong năm 2011cũng tăng (6,1 tạ/ha) so với năm 2001,

Vùng 6: Đồng bằng sông Cửu Long, năng suất cao nhất cả nước (32,1 tạ/

ha), tăng (11,6 tạ/ha) so với năm 2001, cũng là vùng được chú trọng nhất về

Sản lượng của vùng 3: Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung là vùng

có sản lượng lớn nhất cả nước (191000 tấn), tăng hơn (45000 tấn) so với 2001

Đứng thứ 2 về sản lượng trong cả nước là vùng 2: Trung du miền núi phía Bắc,

Trang 15

sản lượng (92500 tấn) tăng (47,3 tấn) so với năm 2001 Tiếp theo là vùng 1:Đồng bằng sông Hồng, sản lượng (74900 tấn), tăng (15,9 tấn) so với năm 2001,đứng thứ 3 trong nước Vùng đứng thứ 4 trong nước: Đồng bằng sông CửuLong, sản lượng (41500 tấn) Vùng đứng thứ 5: Đông Nam Bộ, với (38900tấn), vùng này có sản lượng giảm (28,6 tấn) so với năm 2001 Vùng 4 là vùng:Tây Nguyên, có sản lượng thấp nhất cả nước sản lượng năm 2011 là (29900tấn), tăng (1,1 tấn) so với năm 2001.

1.3.3 Tình hình sản xuất lạc ở Cao Bằng

Qua số liệu thống kê ở bảng 2.4: Trong giai đoạn từ 2001 - 2011, sảnxuất lạc ở Cao Bằng đã có những chuyển biến tích cực, diện tích có chiềuhướng tăng dao động từ (0,7 - 1,7 nghìn ha) Năm 2011 tăng (10.000 ha) so vớinăm 2001 Tuy diện tích này còn nhỏ so với một số địa phương khác nhưng nócũng đánh dấu sự phát triển trong sản xuất lạc của tỉnh Cao Bằng trong 10 nămqua, năng suất lạc của tỉnh đã tăng (7,8 tạ/ha), tuy nhiên, năng suất lạc của CaoBăng còn ở mức thấp Năm 2011 năng suất (13,5 tạ/ha), thấp hơn năng suấtbình quân của cả nước (7,3 tạ/ha) Sở dĩ năng suất lạc của tỉnh thấp là do sảnxuất lạc chưa được quan tâm đầu tư thích đáng Phần đa người dân vẫn sử dụngcác giống lạc cũ, năng suất thấp và chưa được đầu tư thâm canh

Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Cao Bằng giai đoạn

Trang 16

Nguồn: Thống kê tỉnh Cao Bằng 2012 [90]

Do diện tích và năng suất lạc có xu hướng tăng nên sản lượng cũng tăngdần từ năm 2001 đến nay Tính đến năm 2011, sản lượng lạc của tỉnh đạt (2300tấn), tăng (1,900 tấn) so với năm 2001

1.3.4.Tình hình sản xuất lạc ở Quảng Uyên

Qua số liệu bảng 2.5: Từ năm 2001 trở lại đây, diện tích trồng lạc củahuyện có tăng nhưng tốc độ chậm và không đều, thậm chí có năm diện tích còngiảm mạnh (năm 2004 và 2005) Năng suất lạc của huyện nhìn chung còn thấp,cao nhất là (11,5 tạ/ha) vào năm 2012 Sản lượng tăng từ năm (2007 đến 2009).Sau đó, năm 2010 lại giảm mạnh Từ năm 2011 đến nay, cả năng suất và sảnlượng đều tăng

Qua điều tra tình hình sản xuất lạc ở một số xã điển hình của huyện, saukhi tổng hợp kết qủa điều tra cho thấy, nguyên nhân hạn chế sản xuất lạc ởhuyện Quảng Uyên

- Thiếu giống có năng suất cao phù hợp cho các vùng sinh thái khácnhau Thực tế điều tra, chúng tôi thấy các giống lạc mới đưa vào sản xuất ởQuảng Uyên còn ít, hầu hết các xã chỉ trồng bằng giống lạc đỏ địa phương

Bảng 2.5 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc huyện Quảng Uyên năm

Trang 17

- Lượng phân hữu cơ, phân khoáng, đặc biệt là hàm lượng kali và vôibón bổ sung cho lạc còn thấp so với tiêu chuẩn ngành do Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn khuyến cáo (Bón 5000kg phân chuồng + 30kg N + 90kgP2O5 + 60kg K2O + 500kg vôi bột cho 1 ha) Hầu hết các hộ nông dân khôngquen bón vôi cho cây lạc, bón phân theo cảm tính chứ không bón theo nhu cầucủa cây Do vậy, không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cung cấp cho quátrình sinh trưởng phát triển của cây lạc dẫn đến năng suất thấp và nhiều sâubệnh

- Người dân thường có thói quen gieo trồng không đúng khoảng cách,mật độ Phần đa trồng thưa hơn so với quy trình gây lãng phí đất, giảm năngsuất trên đơn vị diện tích

1.4 Tình hình nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và trong nước

1.4.1 Tình hình nghiên cứu về cây lạc trên thế giới

1.4.1.1.Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới

Việc cải tiến giống lạc, tạo ra các giống mới có năng suất cao, phẩm chấttốt, thời gian sinh trưởng ngắn, kháng được sâu bệnh, thích ứng rộng với điềukiện ngoại cảnh đã góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất và sản lượng lạctrên thế giới Do đó, việc nghiên cứu về chọn tạo giống lạc đang ngày càngđược chú trọng

Viện nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn (ICRISAT) là cơ

sở lớn nhất nghiên cứu về cây lạc Tính đến năm 1993, Viện đã thu thập được(13.915) lượt mẫu giống lạc từ 99 nước trên thế giới, trong đó châu Phi (4.078);châu Á (4.609); châu Âu (53); châu Mỹ (3.905); châu Úc và châu Đại Dương(59); còn (1.245) mẫu giống chưa rõ nguồn gốc [43]

Trong số (13.915) lượt mẫu giống đã thu thập, bằng các đặc tính hìnhthái - nông học, sinh lý - sinh hoá và khả năng chống chịu sâu bệnh (ICRISAT)

đã phân lập theo các nhóm tính trạng khác nhau phục vụ cho nghiên cứu chọntạo giống như: nhóm kháng bệnh, nhóm chống chịu hạn, nhóm hàm lượng dầu

Trang 18

cao, nhóm chín trung bình, nhóm chín muộn, nhóm chín sớm… Trong đó, cácgiống chín sớm điển hình là Chico, 91176, 91776, ICGS (E) 71 [47].

Hiện nay, công tác chọn tạo giống lạc của Trung Quốc được tập trungvào các mũi nhọn như: năng suất cao, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, mốcvàng, chịu hạn Con đường tạo giống chủ yếu vẫn là lai hữu tính Nhưng gầnđây, Trung Quốc quan tâm nhiều đến việc lai xa, lai khác loài để tạo ra cácgiống mới có khả năng chống chịu cao, 4 giống lạc mới ra đời có tiềm năngnăng suất 14 tấn/ha (Huayu 19, Huayu 16, Huayu 17, Huayu 14) (Li Jianping(1992) [46]

Ấn Độ cũng là một nước đã đạt được nhiều thành tựu lớn lao trong côngtác chọn tạo giống lạc nói chung và giống lạc chín sớm nói riêng bằng nhiềucách: nhập nội, lai, đột biến… Trong chương trình hợp tác nghiên cứu với(ICRISAT), bằng con đường thử nghiệm các giống lạc của (ICRISAT), Ấn Độ

đã phân lập và phát triển được hai giống lạc chín sớm phục vụ cho sản xuất đó

là ICGV 86014 và ICGV 86143 Hiện nay hai giống này đang được phát triểnrộng rãi trong sản xuất [49]

Ở Australia, theo số liệu FAO năm 1991 đã thu thập được (12.160) lượtmẫu giống từ nhiều nước trên thế giới như: châu Phi, Trung và Bắc Mỹ, Nam

Mỹ, châu Á, châu Âu, châu Đại Dương Hầu hết các mẫu giống đều thuộc 2kiểu phân cành liên tục và xen kẽ, đó là nguồn vật liệu khởi đầu phong phú đểtạo các con lai cho loại hình trung gian có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suấtcao và phân cành liên tục

Tại Inđônêxia, việc chọn tạo giống cũng được tập trung vào các mục tiêunhư: Năng suất cao, chín sớm, phẩm chất tốt và kháng bệnh héo xanh do vikhuẩn, đốm lá muộn và gỉ sắt Các giống triển vọng đã được khuyến cáo và đưavào sản xuất từ năm 1991 là Mahesa, Badak, BiaWar và Koinodo [38]

Mỹ đã đưa vào sản suất 16 giống lạc mới (9 giống thuộc loại hình Runer,

5 giống thuộc loại hình Virginia, 2 giống thuộc loại hình Spanish) (S,Y

Trang 19

-Nigam, 1992) Hiện đang có 3 chương trình nghiên cứu sử dụng lạc dại lai vớilạc trồng để tạo ra giống chống chịu sâu bệnh ở Carolina Oklahoma và Texas.

Viện nghiên cứu nông nghiệp Quốc gia Benin (gọi tắt là INRAB) đãđược hai giống lạc chín sớm đó là: ICGV - SM83011 và ICGV 86072 cho năngsuất cao (2 tấn/ha) và rất ổn định [41]

1.4.1.2 Tình hình nghiên cứu mật độ và khoảng cách trồng lạc trên thế giới.

A’Brook (1964) cho rằng mật độ trồng lạc quá cao, trồng dày làm tỷ lệbệnh hại lá và môi giới truyền bệnh tăng, năng suất không tăng so với trồng ởmật độ trung bình

Tại Ấn Độ, họ cho rằng trồng lạc trong điều kiện nhờ nước trời thìkhoảng cách (30 cm x 7,5 cm) là tốt nhất [40]

Ở miền Bắc Trung Quốc mật độ thích hợp của giống lạc thuộc kiểu hìnhVirginia được gieo trồng trong vụ Xuân như Luhua 4, Hua 17 trên đất có độ phìtrung bình thì mật độ khoảng (220.000 - 270.000 cây/ha), còn đối với đất giàudinh dưỡng mật độ là (200.000 - 240.000 cây/ha) Các giống lạc thuộc loại hìnhSpanish như Baisha 1016, Luhua 8, 12, 13 và 15 thì mật độ trồng là (360.000 -420.000 cây/ha) Trong điều kiện trồng phụ thuộc vào nước trời mật độ là(300.000 - 380.000 cây/ha) [5]

Miền Nam Trung Quốc, với giống đứng cây trồng trong vụ Xuân trên đấtđồi hoặc trong vụ lạc Thu ở đất lúa, mật độ trồng thích hợp là (270.000 -300.000 cây/ha) [40]

Ở Mỹ, lạc có năng suất cao nhất khi trồng với khoảng cách (45 - 68 cm x

10 - 15 cm) Trong điều kiện có tưới thì khoảng cách trồng là (22,5 cm x 10cm) tương đương mật độ (44 cây/m2) đạt năng suất cao nhất [50]

1.4.1.3 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng và bón phân cho cây lạc trên thế giới.

a, Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng của cây lạc

Trang 20

Hầu hết đất trồng lạc có thành phần cơ giới nhẹ nên nghèo dinh dưỡng,

vì vậy sự sinh trưởng của cây lạc phụ thuộc nhiều vào chế độ dinh dưỡng màcây được cung cấp trong một vụ canh tác Cũng như các loại cây trồng khác,cây lạc cần dưỡng chất khoáng đa lượng lẫn vi lượng, đặc biệt là P, Ca, Mo Vì

thế trong dân gian có câu "không lân không vôi thì thôi trồng lạc"

Đạm (N): Thời kỳ lạc hấp thu đạm nhiều nhất là thời kỳ ra hoa, làm quả

và hạt, thời kỳ này chỉ chiếm 25% tổng thời gian sinh trưởng của cây lạc,nhưng hấp thụ từ 40 - 45% nhu cầu đạm của cả chu kì sinh trưởng [1] Nguồnđạm do vi khuẩn cộng sinh cố định đạm cung cấp có thể đáp ứng được 50 -70% nhu cầu đạm của cây và sau khi thu hoạch nó để lại trong đất một lượngđạm đáng kể [14]

Tuy nhiên các nốt sần chỉ xuất hiện khi lạc có cành nhánh và phát triểnnhiều khi lạc bắt đầu ra hoa Do vậy, ở giai đoạn đầu sinh trưởng của cây cònnhỏ (3 - 5 lá) cần được bổ sung một lượng đạm hoặc bón một lượng đạm kếthợp với phân chuồng, nhằm tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triểnmạnh, thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn cộng sinh ở giai đoạn sau [15]

Mặc dù yêu cầu về đạm của cây lạc là rất lớn, song cũng chỉ cần bón mộtlượng nhỏ (25 - 30kg N/ha) tuỳ từng giống hay từng loại đất là đủ Nhiều nhànghiên cứu đã cho thấy năng suất quả lạc chỉ tăng khi có một tỉ lệ thích hợpgiữa N và P, không nên chỉ bón đơn lẻ mỗi loại yếu tố đó Bón đạm có thể bónvào đất và bón qua lá Hiệu lực 1kg đạm nguyên chất tăng từ (5 đến 8,6kg) lạc

vỏ [20]

Lân: là yếu tố dinh dưỡng chủ đạo của cây lạc Lân có tác dụng kíchthích sự sinh trưởng của cây lạc, làm cho lạc chín sớm, lân thúc đẩy sự pháttriển của nốt sần, tăng sức sống của hạt [28] Bón lân cho lạc làm tăng khả năngtích luỹ chất khô của cây, kéo dài thời gian ra hoa và tăng tỷ lệ đậu quả [8].Tuy nhiên khi nghiên cứu nhu cầu về lân của cây lạc, rất nhiều tác giả cho rằng,lạc hút một lượng lân tương đối nhỏ Bởi trong thực tế cây lạc có thể mọc bìnhthường dù trong đất rất ít lân dễ tiêu, điều này có thể được là nhờ sự hình thành

Trang 21

liên kết rễ - nấm, hay vi khuẩn (photphobacteria) sống ở vùng rễ và làm lân

khó tiêu chuyển thành lân dễ tiêu

Lạc hấp thụ lân nhiều nhất ở thời kỳ ra hoa, hình thành quả Trong thờigian này, lạc hấp thu tới 45% lượng hấp thụ lân của cả chu kỳ sinh trưởng Sựhấp thu lân giảm rõ rệt ở giữa thời kỳ quả chín [1] Theo kết quả nghiên cứu vềlân đối với lạc cho thấy rằng, đất càng nghèo lân thì hiệu lực của phân lân càngcao Mặc dù cây lạc chỉ cần một lượng lân nhỏ dễ tiêu để sản xuất ra lượng lạcquả lớn Song đối với cây lạc, vẫn phải bón một một lượng phân lân lớn vì hiệuquả hấp thụ lân từ phân bón rất thấp

Kali: Có vai trò quan trọng trong sự quang hợp của lá và sự phát triển

của quả, tăng khả năng giữ nước của tế bào, làm cho thành tế bào vững chắc,tăng thêm tính chịu hạn và chống xuất hiện nhiều quả 1 hạt [4] Thiếu kali cũng

sẽ làm cho cây sinh trưởng chậm lại, các lá bị chết khô và chuyển màu [27] Ởnhững lá già, khi bị thiếu kali thì phần mép lá xuất hiện các đốm vàng nhạt,phần còn lại vẫn có màu xanh đặc trưng Còn trên các lá non thì hiện tượngchuyển màu lại tương đối đều hơn, có khi còn có những chấm nhỏ màu nâuhoặc vàng, lá chét sẽ uốn cong như hình thìa

Bón kali cho lạc trên đất có độ phì trung bình đã làm tăng khả năng hấpthu N và P Nếu thừa K sẽ cản trở sự hấp thụ Ca, Mg, đặc biệt ở vùng quả, làmthối quả, quả không mẩy [4]

Can xi: Là nguyên tố không thể thiếu khi trồng lạc Việc bón vôi cho lạc

đã được nông dân ta sử dụng từ thập kỷ 60 lại đây và đã được đưa vào quytrình kỹ thuật từ nhiều năm nay Bón vôi cho lạc không chỉ có ý nghĩa là để làmtăng trị số pH của đất mà còn là chất dinh dưỡng cần thiết cho lạc, đồng thờitạo môi trường thích hợp cho vi khuẩn cố đinh đạm phát triển dễ dàng [27] Ca

là một trong những yếu tố quan trọng nhất để sản xuất lạc hạt to Nhu cầu Cacủa lạc cao nhất là thời kỳ hình thành quả và hạt [4] Kết quả nghiên cứu thửnghiệm (1991 - 1993) của Viện KHKTNNVN tại Nghệ An và Hà Bắc cho thấy:

Trang 22

Bón vôi cho lạc ở hầu hết các điểm đều cho năng suất tăng lên đáng kể, từ (8,5

- 36%) ở Nghệ An và (13 - 19,5%) ở Hà Bắc

Magiê, lưu huỳnh và các nguyên tố vi lượng: Có liên quan trực tiếp đếnquang hợp của cây Tuy nhiên, ít thấy có biểu hiện thiếu magiê trên đồngruộng, tuy rằng lượng magiê cây hấp thu là tương đương hoặc cao hơn chút ít

so với lượng lân hấp thu

Lưu huỳnh (S): Là thành phần của nhiều loại axitamin quan trọng trongcây, vì vậy, nó có mặt trong thành phần prôtêin của lạc Thiếu lưu huỳnh, sựsinh trưởng của lạc bị cản trở, lá có biểu hiện vàng nhạt, cây chậm phát triển[2]

Các nguyên tố vi lượng có vai trò điều chỉnh các hoạt động sống củacây Đối với lạc, có hai nguyên tố vi lượng quan trọng nhất là molipđen và bo.Molipđen có tác dụng tăng hoạt tính vi khuẩn nốt sần, tăng khả năng đồng hóanitơ Ở Việt Nam, phần lớn đất trồng lạc thiếu molipden Khi lạc được phunmolipden lên lá giai đoạn trước ra hoa sẽ làm tăng năng suất từ 10 - 16% [4]

Bo là yếu tố giúp quá trình phát triển rễ, tăng khả năng chịu hạn, giúpcho quả không bị nứt, hạn chế nấm bệnh xâm nhập Thiếu bo làm giảm tỉ lệ đậuquả, hạt lép, sức sống của hạt giảm Phun dung dịch Axit Boric có thể làm tăngnăng suất 4 - 10% [4] Ngoài ra, một số nguyên tố vi lượng khác như sắt, đồng,kẽm, sulphat mangan cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với năng suất lạc

b, Tình hình nghiên cứu về bón phân cho lạc trên thế giới.

Chokhey Singh và Pathak (1969) cho rằng, việc bón phân cho lạc cóhiệu quả kinh tế, dù trong điều kiện nước trời Kết quả của 200 thí nghiệm bónphân cho lạc ở Ấn Độ dẫn tới kết luận là: Bón trên 22kg N cho một ha thìkhông có hiệu quả Cũng theo 2 tác giả này, trên đất nhẹ hoặc trung bình, khibón phối hợp 11,0kg N/ha, 10kg P2O5/ha và 19kg K2O/ha tăng năng suất lạcnước trời 154% so với đối chứng và cao hơn một cách có ý nghĩa khi bón đơnđộc N, P và K hoặc khi bón cùng lúc 2 trong 3 yếu tố trên [17]

Trang 23

Ở Ấn Độ, kết quả các thí nghiệm phân bón cho thấy, việc bón phối hợp30kg N/ha với 17kg P2O5/ha thì năng suất lạc tăng gấp đôi so với chỉ bón 30kgN/ha Bón phối hợp 10 - 40kg N, 30 - 40kg P2O5, 20 - 40kg K2O cho 1 ha làmức bón tối ưu cho lạc ở Ấn Độ [40].

Ở Trung Quốc, bón Gypsun (hợp chất có hàm lượng Canxi cao) vớilượng 375kg/ha cho đất nâu ở Wubei đã làm tăng năng suất quả lạc 4,61 tấn/ha,tăng 11,8% so với đối chứng không bón Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng,

so với bón riêng lẻ N, P, K thì bón kết hợp đã làm tăng khả năng hấp thu đạmcủa cây lên 77,33%, của lân lên 3,75% Tỷ lệ bón phối hợp (N,P,K) thích hợpnhất đối với lạc là 1:1, 5:2 [36]

Theo Cornejo (1961), người Tây Ban Nha trồng lạc sau khoai tây và tậptrung phân bón cho cây khoai tây với lượng: 60 tấn phân chuồng, 600kg Supelân, 200 - 300kg KCl cho 1 ha thì vẫn có thể đạt năng suất của lạc (trồng saukhoai tây) là 2,5 - 3,5 tấn/ha

Ở Mỹ, nhiều vùng trồng lạc cũng cho thấy bón P, K cho cây bông là câytrồng trước của lạc có hiệu quả hơn bón trực tiếp cho lạc

Qua phân tích các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy:

Công tác nghiên cứu chọn tạo giống lạc và các biện pháp kỹ thuật canhtác đã được các Quốc gia, các tổ chức và các nhà khoa học trên thế giới quantâm nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ Các kết quả nghiên cứu đã đượcứng dụng thành công và mang lại hiệu quả sản xuất to lớn tại nhiều nước như

Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ

Bên cạnh việc nghiên cứu chọn tạo ra giống có năng suất cao, chất lượngtốt, có tính chống chịu các nhà khoa học còn đầu tư nghiên cứu nhiều về cácbiện pháp kỹ thuật canh tác gồm: Bón phân khoáng, bón vôi, gieo trồng vớimật độ thích hợp

1.4.2 Tình hình nghiên cứu về cây lạc ở Việt Nam

1.4.2.1 Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống ở việt nam

Trang 24

Trước kia, do điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, công tác nghiêncứu, chọn tạo giống cây trồng chưa được đầu tư thích đáng Nên sản xuất nôngnghiệp nói chung hay sản xuất lạc nói riêng của Việt Nam chủ yếu áp dụngnhững tiến bộ của các nước bạn, chủ yếu là Trung Quốc, Thái Lan.

Gần đây, công tác nghiên cứu, chọn tạo giống ở Việt Nam đã được Đảng

và Nhà nước quan tâm đầu tư phát triển Mặc dù còn một số hạn chế nhất địnhsong đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Nhiều giống lạc mới có năngsuất cao, thích ứng rộng và chống chịu sâu bệnh đã được giới thiệu cho sảnxuất và được nông dân chấp nhận Bên cạnh đó, hàng loạt các giống địaphương cổ truyền và số lượng đáng kể các vật liệu di truyền từ các nước khácnhau đã được thu thập và bảo quản trong ngân hàng gen cây trồng của ViệnKHKTNNVN trước đây và ngày nay là Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam(VAAS) là nguồn vật liệu quý phục vụ cho công tác chọn tạo giống lạc hiện tại

và tương lai

Thời gian qua, chúng ta đã nhập nội nhiều mẫu giống lạc từ các nơi trênthế giới Trên cơ sở đó, các nhà chọn tạo giống Việt Nam đã tập trung chọn tạogiống hướng theo các mục tiêu: Giống lạc năng xuất cao thích hợp cho từngvùng sinh thái, thời gian sinh trưởng ngắn, có khả năng kháng sâu bệnh hại, tỷ

lệ nhân và hàm lượng dầu cao dùng cho xuất khẩu [5]

Từ những năm 1980, Trung tâm giống cây trồng Việt Xô - Viện Khoahọc Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VKHKTNNVN) đã tiến hành thu thập có

hệ thống và nhập nội nguồn vật liệu từ nước ngoài Số lượng mẫu giống lạc thuthập và nhập nội đã lên tới 1.271 mẫu, trong đó gồm 100 giống địa phương và1.171 giống nhập từ 40 nước trên thế giới [4]

Từ năm 1974, bộ môn Cây Công nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp

I Hà Nội đã bắt đầu nghiên cứu chọn tạo giống lạc bằng phương pháp lai hữutính và phương pháp đột biến phóng xạ

Các giống được chọn tạo bằng phương pháp đột biến: Từ giống Bạch Sa,

sử dụng phương pháp đột biến phóng xạ tạo ra giống B5000 có hạt to, vỏ lụa

Trang 25

màu hồng, năng suất cao ổn định [10] Từ 1986 đến 1990, Viện KHNN MiềnNam đã xử lí đột biến 3 giống: Lì, Bạch Sa 77, Trạm Xuyên đã chọn được cácdòng triển vọng là: L15-2-1, L25-4-1, TX15-1-2, TX 10-7-2BS 1-1-1 Giống

4329 được chọn tạo từ xử lý đột biến giống Hoa 17, giống có nguồn gốc TrungQuốc, có thời gian sinh trưởng 130 - 140 ngày, năng suất đạt trên 20 tạ/ha, tỷ lệhạt cao [22]

Các giống được chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính: Giống lạc SenLai 75/23 được chọn tạo từ việc lai hữu tính 2 giống Mộc Châu Trắng và TrạmXuyên, có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tương đối chịu rét, vỏ lạc màuhồng, hạt to phù hợp xuất khẩu [10] Giống L12 được chọn tạo từ tổ hợp laigiữa V79 và ICGV 87157, có năng suất trung bình là 30 tạ/ha, chịu hạn khá,nhiễm trung bình một số bệnh như đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt, khối lượng 100hạt 50 - 60g [27]

Giai đoạn 1996 - 2004 chương trình giống Quốc gia đã chọn tạo được 16giống lạc, trong đó các giống lạc có năng suất vượt trội là L18, L14; giống cókhả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn năng suất khá MD7, giống chất lượngcao L08, giống chịu hạn L12 hiện đang phát triển mạnh ở các tỉnh Phía Bắc.Các giống lạc VD1, VD2 năng suất cao hơn Lỳ địa phương, phù hợp cho cáctỉnh phía Nam [24]

Một số giống tiến bộ kỹ thuật điển hình đang trồng phổ biến ngoài sảnxuất trên cả nước:

Giống L02: Năng suất trung bình đạt (35 tạ/ha), trong điều kiện thâmcanh tốt, năng suất có thể đạt tới 50 tạ/ha, kháng khá với bệnh đốm lá, gỉ sắt,héo xanh vi khuẩn [3]

Giống L08: Năng suất trung bình đạt (30 tạ/ha), kháng sâu chích hút,bệnh hại lá và bệnh héo xanh vi khuẩn ở mức trung bình [21]

Giống MD7: Là giống có tính thích ứng rộng, trồng thuần hay trồng xenđều có năng suất, trung bình đạt (35 tạ/ha), kháng bệnh héo xanh rất cao hiệnđược trồng phổ biến ở nhiều vùng sinh thái của nước ta [22]

Trang 26

Giống L14: Là giống có năng suất tương đối cao, thích ứng rộng có thểđạt (40 tạ/ha), có khả năng chịu hạn khá, kháng bệnh hại lá khá [3]

Giống L18: Là giống thích hợp cho vùng thâm canh, năng suất cao từ (50

- 55 tạ/ha), nhiễm trung bình với các bệnh hại lá [28]

Giống VD1: Chọn lọc từ giống Lỳ địa phương, có thời gian chín rất sớm,năng suất trung bình đạt (30 tạ/ha), thích hợp với các tỉnh phía Nam [12]

1.4.2.2.Tình hình nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng lạc ở Việt Nam

Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu để xác định khoảng cách, mật độ trồnglạc tối ưu Theo Ưng Định và Đăng Phú 1987 [15], tổng hợp các nghiên cứucho biết, tăng mật độ từ (22 cây/m2, 30cm x 15 cm x 1 cây) lên (33 cây/m2 với

30 cm x 10 cm x 1 cây), năng suất lạc tăng từ (15,0 lên 22,0 tạ/ha) Mật độtrồng (44 cây/m2, 30 cm x 15 cm x 2 cây), năng suất tăng lên (29,0 tạ/ha) Trênđất bạc màu Bắc Giang, lạc trồng với mật độ 25 cây/m2 (40 cm x 20 cm x 2 hạt)năng suất đạt 12,0 tạ/ha, trồng với mật độ 42 cây/m2 (30 cm x 15 cm x 2 hạt)năng suất tăng lên 15,0 tạ/ha

Lê Song Dự (1991) [10] xác định mật độ trồng thích hợp nhất cho giốnglạc Sen Lai 75/23 trên đất cát biển Nghệ An là (35 cây/m2) theo khoảng cách(30 cm x 10 cm x 1 hạt) Những nghiên cứu ở vùng Đông Nam Bộ, kết quả chothấy năng suất lạc đạt cao nhất (28,1 tạ/ha) ở khoảng cách gieo (20 cm x 20 cm

x 2 hạt/hốc) đối với giống lạc VD1 [14]

Theo Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh và CS, (1999) [23], mật độgieo thích hợp trong điều kiện có che phủ nilon là (25cm x 18cm x 2cây/hốc)

và không che phủ nilon là (25cm x 10cm x 1cây/hốc)

1.4.2.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón cho lạc ở Việt Nam

Lạc là cây có khả năng cố định đạm nhưng giai đoạn đầu cây rất cần đạm

do lượng dự trữ trong hạt không đáp ứng được nhu cầu phát triển bình thườngcủa cây Tuy nhiên, việc bón đạm phải có chuẩn mực, vì bón đạm quá ngưỡng,thân lá phát triển mạnh làm ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành quả và hạtdẫn đến năng suất thấp Kết quả nghiên cứu của Viện Nông hoá thổ nhưỡng

Trang 27

trên đất bạc màu Bắc Giang, trên nền 8 - 10 tấn phân chuồng, lượng bón thíchhợp là 30kg N/ha, nếu tăng lên 40kg N/ha thì năng suất không tăng và hiệu lựcgiảm đi rõ rệt [5].

Ngô Thế Dân (2000) [5], Trần Danh Thìn (2001) [29] đều cho rằng, đểviệc bón đạm thực sự có hiệu quả cao, cần bón kết hợp các loại phân khoángkhác như lân, canxi và phân vi lượng khác

Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Thìn (2001) [29] trên đất đồi bạc màu

ở tỉnh Thái Nguyên cho thấy, bón 100 kg N/ha năng suất tăng (6,5 - 11,3 tạ/ha),bón 40kg N/ha năng suất tăng (5,7 lên 7,1 tạ/ha) so với không bón phân

Trên đất nghèo dinh dưỡng, hiệu lực của lân càng cao khi bón 60kg P2O5/

ha sẽ cho hiệu quả kinh tế cao nhất và bón ở mức 90kg P2O5/ha cho năng suấtcao nhất trên nhiều loại đất [8] Trung bình hiệu suất 1kg P2O5 là 4 - 6kg lạc

vỏ Nếu bón 90kg P2O5 năng suất cao nhưng hiệu quả không cao [3]

Theo Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn và CS (1979) [9], phân kali thường

có hiệu lực cao đối với lạc trồng trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ vànghèo dinh dưỡng như: Đất cát thô ven biển, đất bạc màu Hiệu lực 1kg K2Otrong các thí nghiệm biến động từ (5,0 - 11,5kg) quả khô Lượng kali bón thíchhợp cho lạc ở các tỉnh phía Bắc là 40kg K2O trên nền 20kg N và 80kg P2O5

Bón phân cân đối là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của phân bón

và nâng cao năng suất lạc Theo Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên (1991) [6], trênđất cát ven biển Thanh Hoá, bón 10 tấn phân chuồng và 30kg N + 90kg P2O5 +60kg K2O/ha làm tăng năng suất lạc (6,4 - 7,0 tạ/ha) so với không bón

Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Thìn (2000) [29] cho biết, trên đấtđồi Thái Nguyên, vụ Xuân nếu bón riêng rẽ từng loại phân N, P, vôi thì năngsuất lạc tăng 14 - 31,5%, khi kết hợp lân với vôi năng suất tăng 64,9%, lân vớiđạm năng suất tăng 110,5%, nếu bón kết hợp cả lân, đạm, vôi thì năng suất tăng140,3% so với không bón

Trang 28

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Thí nghiệm trên 5 giống:

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cưu một số giống lạc vụ hè thu tại huyện quảng Uyên tỉnh CaoBằng

Trang 29

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất lạc vụ hè thuhuyện Quảng Uyên.

- Nghiên cứu một số thời vụ trồng lạc L14, vụ hè thu tại huyện Quảng Uyên

- Nghiên cứu liều lượng (N,P,K) thích hợp cho vụ hè thu của huyện QuảngUyên

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: các thí nghiệm được thực hiện trên đất rẫy vụ hè thunăm 2012 và vụ hè thu năm 2013 tại xã phi hải huyện Quảng Uyên tỉnh CaoBằng

- Thời gian nghiên cứu từ tháng 6/2012 đến tháng 8 năm 2013

2.4 Đặc điểm thời tiết khí hậu và đất đai nơi nghiên cứu

2.4.1 Đặc điểm thời tiết nơi nghiên cứu

Qua bảng số liệu 2.6 :

Khí hậu trên địa bàn huyện Quảng Uyên Có nhiệt độ trung bình hàngnăm 20,80 C, lượng mưa bình quân hàng năm từ (1.452 - 1.805 mm), độ ẩm cao81% Trong 3 năm 2010 - 2012, thời gian từ tháng 1 đến tháng 3 thời tiết khôngthuận lợi cho sinh trưởng phát triển của lạc: nhiệt độ thấp (7,10C - 18,70C),lượng mưa thấp (6,9 mm - 108,8 mm)

Bảng 2.6 Diễn biến một số yếu tố khí hậu ở huyện Quảng Uyên

Trang 30

10 184,0 20,1 24,3 20,8 73,3 21,2

Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn Cao Bằng

Từ tháng 4 trở đi đến tháng 6, nhiệt độ có tăng lên từ (19,9 - 26,10C),lượng mưa từ (58,9 mm - 370,9 mm), rất thuận lợi cho cây lạc sinh trưởng vàphát triển ở trên đất nương rẫy

Từ tháng 7 trở đi đến tháng 9, nhiệt độ trung bình 25,80C đây cũng lànhiệt độ thích hợp cây lạc ra hoa và vào chắc Lượng mưa trung bình (233,5mm/tháng) lượng mưa phân bố không đều, tuy nhiên trong tháng 7 và tháng 8thường gặp những đợt mưa lớn có thể gây sói mòn, ứ nước ở những vùng đấtrẫy thấp, cần phải tiêu nước kịp thời sau khi mưa, tránh hiện tượng lạc bị thối

và nẩy mầm trên rẫy

Nhìn chung: vụ hè thu có điều kiện thời tiết thuận lợi cho cây lạc sinhtrưởng phát triển, tuy nhiên vụ hè thu thường gặp lượng mưa nhiều làm ảnhhưởng tới sự ra hoa và thụ phấn của lạc, vì vậy nên trồng đúng thời vụ

2.4.2 Đặc điểm đất đai nơi nghiên cứu

Tổng diện tích đất tự nhiên trên địa bàn huyện là: 38587,84 ha chủ yếu lànúi đá cao, trong đó đất nông nghiệp: 34964,57 ha chiếm 90,6% diện tích đất tựnhiên; diện tích đất sản xuất nông nghiệp là: 7272,04 ha chiếm 18,8% Đất trênđịa bàn huyện có 6 loại đất: đất phù xa (FL) 216,88 ha, đất xám (X) 7653,34,đất đỏ (F) 291,90 ha, đất nâu (R) 4781,15, đất tích vôi (V) 3025,59 ha, đất sóimòn trơ sỏi đá 12.182,70 ha (phòng địa chính huyện Quảng Uyên)

2.5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 31

NL2

NL3

*Thí nghiệm 1: Nghiên cứu một số giống lạc vụ hè thu năm 2012

Thí nghiêm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh

(RCBD) gồm có 5 công thức tương ứng với 5 giống, 3 lần nhắc lại

Công thức 1: Giống lạc đỏ Cao Bằng (Đ/c)

- Tổng diện tích thí nghiệm: 112,5 m2 không kể dải bảo vệ

* Các biện pháp kỹ thuật thực hiện trong thí nghiệm:

Các thí nghiệm đồng ruộng được gieo trồng, chăm sóc đồng đều, áp dụngtheo quy trình chung đối với cây lạc [8]

Trang 32

sẵn, sau đó bón phân chuồng, sau khi bón phân lấp một lớp đất nhẹ phủ kínphân rồi mới gieo hạt để tránh tiếp súc với phân làm giảm sự nẩy mầm.

- Bón thúc lần 1: 50% đạm + 50% kali bón vào thời kì cây lạc 2 - 3 láthật, kết hợp sới nông khắp mặt luống

- Bón thúc lần 2: 50% vôi bột, bón vào thời kì cây lạc ra hoa rộ, kết hợp

với xới và vun nhẹ quanh gốc

*Thí nghiệm 2 : Nghiên cứu thời vụ trồng giống lạc L14 vụ hè thu năm 2012

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngấu nhiên hoàn chỉnh(RCBD) gồm 5 thời vụ 3 lần nhắc lại

- Mỗi thời vụ cách nhau 7 ngày (25/6; 2/7; 9/7; 16/7; 23/7)

- Mật độ trồng 30 cây/m2 khoảng cách gieo: 33cm x 10cm x 1 hạt

- Về phân bón/ha: Bón 5 tấn phân hữu cơ + 30kg N + 80kg P2O5 + 60kgK2O + 500kg vôi bột

Chăm sóc đều áp dụng giống nhau đối với tất cả các công thức và các lần nhắclại

- Diện tích ô thí nghiệm 7,5m2 (1,5m x 5m) không kể rãnh Số thínghiệm: 3 x 5 = 15 ô

*Riêng thí nghiệm 2: Thêm chỉ tiêu theo dõi về chiều cao cây.

Trang 33

Diện tích ô thí nghiệm 7,5m2 (1,5m x 5m) không kể rãnh

Số ô thí nghiệm: 3 x 5 = 15 (ô) Các biện pháp kỹ thuật như thí nghiệm 1

Trang 34

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngấu nhiên hoàn chỉnh(RCBD) gồm 5 công thức 3 lần nhắc lại.

Công thức 1: 5 tấn phân hữu cơ + 500kg vôi bột/ha = Nền

Công thức 2: Nền + 400kg NPK (5:10:3)/ha (Đ/c)

Công thức 3: Nền + 20kg N+ 60kg P2 O5 + 40kg K2O/ha

Công thức 4: Nền + 30kg N + 80kg P2 O5 + 60kg K2O/ha

Công thức 5: Nền + 40kg N + 100kg P2 O5 + 80kg K2O/ha

- Diện tích ô thí nghiệm là 7,5m2 (1,5m x 5m), số ô thí nghiệm: 3 x 5 = 15 (ô)

- Tổng diện tích thí nghiệm: 112,5m2 (không kể dải bảo vệ) Các biện pháp kỹthuật như thí nghiệm 1

2.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi

2.5.2.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển

- Thời gian từ gieo đến mọc (Ve) có khoảng 50% số cây/ô có 2 lá mangxòe ra trên mặt đất

- Thời gian từ gieo đến ra hoa (R1) Có khoảng 50% số cây/ô có ít nhấtmột hoa ở bất kỳ đốt nào trên thân chính

- Thời gian sinh trưởng tính từ gieo đến chín (R8) Có khoảng 80 - 85%

số quả có gân điển hình, mặt trong vỏ quả có màu đen, vỏ lụa hạt có màu đặctrưng của giống Tầng lá giữa và gốc chuyển màu vàng và rụng

Các giai đoạn sinh trưởng tính theo quy định của Boote K.J, 1990.

- Tổng số cành cấp 1 (đếm số cành hữu hiệu mọc từ thân chính của 10cây mẫu/ô)

- Tổng số cành cấp 2 (đếm số cành hữu hiệu mọc ra từ cành cấp 1 của 10cây mẫu/ô)

- Tất cả các chỉ tiêu trên được theo dõi và thời kỳ chín (R8) Mỗi ô theodõi 10 cây kế tiếp nhau, được cố định dấu bằng cọc và được theo dõi trên cả 3lần nhắc lại

Trang 35

- Số nốt sần/cây (đếm số nốt sần trên rễ của 10 cây mẫu/ô ở thời kỳ rahoa và vào chắc rồi lấy giá trị trung bình 1 cây).

- Số nốt sần hữu hiệu/cây (đếm số nốt sần hữu hiệu của 10 cây mẫu/ô ởthời kỳ ra hoa và vào chắc rồi lấy giá trị trung bình 1 cây)

2.5.2.2 Đánh giá mức độ sâu hại

Theo dõi sâu hại lá chính theo quy chuẩn ngành QCVN 0138:2010/BNNPTVN[9]

- Sâu cuốn lá (Cacocia micaceana Walk)

- Sâu khoang (Prodenia litura Fabr)

- Sâu đo xanh (Plusia eriosoma Doubleday)

Điều tra định kì 7 ngày 1 lần theo phương pháp 5 điểm chéo góc, mỗiđiểm điều tra 1m2

Mật độ dịch hại, thiên địch (con/m2) =

Tổng số sâu, thiên địch điều tra

Tổng số m2 điều tra

2.5.2.3 Đánh giá mức độ bệnh hại

Theo dõi bệnh hại lá chính theo tiêu chuẩn ngành QCVN 057:2011/BNNPTNT[5]

- Bệnh gỉ sắt (Puccinia arachidis) Speg: Điều tra, ước lượng diện tích lá

bị bệnh của 10 cây mẫu trên ô Điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo phươngpháp 5 điểm chéo góc

- Bệnh đốm đen (Cercospora personatum), điều tra ít nhất 10 cây đại diện

theo phương pháp 5 điểm chéo góc thời điểm trước thu hoạch

Rất nhẹ: Cấp 1 (<1% diện tích lá bị hại)

Nhẹ: Cấp 3 (1- 5% diện tích lá bị hại)

Trang 36

Trung bình: Cấp 5 (>5 - 25% diện tích lá bị hại)

Nặng: Cấp 7 (>25 - 50% diện tích lá bị hại)

Rất nặng: Cấp 9 (>50% diện tích lá bị hại)

- Bệnh đốm nâu (Cercospora archidicola) Hori: Điều tra ít nhất 10 cây

đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc thời điểm trước thu hoạch

- Bệnh héo xanh (Ralstonia solanacearum) Smith (%): Số cây bị bệnh/tổng số

cây điều tra Điều tra toàn bộ số cây/ô giai đoạn trước thu hoạch

Nhẹ : Điểm 1 (<30%)

Trung bình: Điểm 2 (30 - 50%)

Nặng: Điểm 3 (>50%)

2.5.2.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

- Số quả/cây: đếm tổng số quả/cây của 10 cây mẫu trên mỗi ô lúc thuhoạch, tính trung bình 1 cây

- Số quả chắc/cây: đếm tổng số quả chắc/cây của 10 cây mẫu trên mỗi ôthu hoạch, tính trung bình của 1 cây

- Tỉ lệ quả 1 hạt (%): số quả có 1 hạt/tổng số quả 10 cây mẫu trên mỗi ô thu lúc thu hoạch, tính trung bình 1 cây

- Khối lượng 100 quả (g): cân 10 mẫu, bỏ quả lép, non, chỉ lấy quả chắc,mỗi mẫu 100 quả khô vớ i ẩm độ đạt (14%), sau đó tính trung bình

- Khối lượng 100 hạt (g): cân 10 mẫu hạt nguyên vẹn không bị sâu bệnh,được tách làm 3 mẫu quả mỗi mẫu 100 hạt ở ẩm độ khoảng (14%)

- Tỉ lệ nhân (%); Tỉ lệ hạt/quả (%) = khối lượng hạt khô/khối lượng quảkhô của 100 quả mẫu, khối lượng hạt ở ẩm độ (14%)

Trang 37

- Năng suất cá thể (g/cây): cân khối lượng quả khô của 10 cây mẫu, lấytrung bình 1 cây.

- Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = Năng suất cá thể (g/cây) x Mật độ (cây/

m2) x 10.000 m2

- Năng suất thực thu (ta/ha): Năng suất quả khô thu hoạch trên các ô thínghiệm (thu riêng từng ô, bỏ quả lép, non chỉ lấy quả chắc, phơi khô tới độ ẩmkhoảng (14 - 15%), cân số lượng để tính ra năng suất ô sau đó quy ra năng suấttạ/ha)

2.5.2.5 So sánh của các tổ hợp phân bón khác nhau đến hiệu quả kinh tế của giống lạc L14 năm 2013.

Lãi thuần = Tổng thu nhập – Tổng chi phí

2.5.2.6 Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu thí nghiệm được xây dựng thành cơ sở dữ liệu trong Excel vàPhân tích thống kê tiến hành theo phương pháp thí nghiệm đồng ruộng và xử lýphần mềm IRRISTAT

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1: Kết quả thí nghiệm so sánh năm giống lạc tại huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng, vụ hè thu 2012.

3.1.1 Khả năng mọc mầm và các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống lạc vụ hè thu năm 2012.

Sự mọc mầm của các giống lạc cao hay thấp sẽ quyết định mật độ cây và

từ đó ảnh hưởng đến năng suất của lạc Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển

Trang 38

tiếp theo của cây phụ thuộc chủ yếu vào đặc tính di truyền của giống, kỹ thuậtcanh tác, đất đai và đặc biệt là yếu tố khí hậu của từng vùng sinh thái cụ thể.

Theo dõi về khả năng mọc mầm và các giai đoạn sinh trưởng, phát triểncủa các giống lạc thí nghiệm vụ hè thu 2012 tại huyện Quảng Uyên, kết quảđược trình bày ở bảng 3.1

Bảng 3.1 Khả năng mọc mầm và các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của

các giống lạc thí nghiệm vụ hè thu 2012.

Công

thức

Tên giống

Tỉ lệ mọc mầm (%)

Giai đoạn sinh trưởng Thời gian

sinh trưởng (ngày)

Gieo đến mọc (ngày)

Mọc đến

ra hoa (ngày)

Thời gian

ra hoa (ngày)

Tuy nhiên, do chất lượng hạt giống tốt và ẩm độ trung bình đạt 81%thích hợp cho quá trình nảy mầm của hạt nên các giống vẫn có tỉ lệ nảy mầmkhá cao (92,3 - 94,0%), cao nhất là giống lạc L26 tỷ lệ nảy mầm đạt tới(94,0%) cao hơn (0,7%) so với giống đối chứng lạc đỏ Giống L23 và TB25 có

tỷ lệ nẩy mầm tương đương nhau Còn giống L14 về tỷ lệ nẩy mầm chỉ thấphơn đối chừng 0,3%

Vào thời gian này, mưa xuất hiện nhiều, nhiệt độ tăng trung bình đạt(25,9 đến 26,60C), thời tiết ấm áp, ẩm độ cao (82%) nên lạc sinh trưởng, pháttriển khá thuận lợi Thời gian mọc đến ra hoa của các giống lạc tham gia thí

Trang 39

nghiệm dao động từ (22 - 24 ngày) Các giống tham gia thí nghiệm đều ra hoasớm hơn giống đối chứng từ 1 đến 2 ngày Giống TB25 và L26 ra hoa sớm nhất(22 ngày), sớm hơn giống đối chứng là 2 ngày Còn lại giống L14 và L23 rahoa sớm hơn đối chứng 1 ngày.

Thời gian ra hoa là thời gian từ lúc lạc bắt đầu ra hoa đến khi lạc tắthoa Thời gian ra hoa ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất của lạc Thời gian rahoa có sự dao động giữa các giống Thời gian ra hoa của các giống nằm gọntrong tháng 7, vì khi đó các yếu tố khí tượng như nhiệt độ tăng cao, lượng mưanhiều rất thuận lợi cho sự ra hoa của lạc nên hầu hết ở các giống, lạc ra hoatương đối tập trung với thời gian ra hoa dao động từ (23 - 26 ngày) Tất cả cácgiống thí nghiệm đều có thời gian ra hoa ngắn hơn giống đối chứng từ 2 - 3ngày Giống có thời gian ra hoa ngắn nhất (23 ngày) là L26 và L14 Còn giốngL23 và TB25 có thời gian ra hoa ngắn hơn đối chứng 2 ngày

Thời gian sinh trưởng của các giống lạc dao động từ (97 - 103 ngày).Giống có thời gian sinh trưởng dài nhất là giống đối chứng 103 ngày, dài hơncác giống thí nghiệm khác từ 5 đến 6 ngày Giống có thời gian sinh trưởngngắn nhất là L14 và L23 (97 ngày), ngắn hơn giống đối chứng 6 ngày GiốngTB25 và L26 có thời gian sinh trưởng ngắn hơn đối chứng 5 ngày

Nhìn chung các giống lạc tham gia thí nghiệm đều có thời gian sinhtrưởng trung bình (97 - 98 ngày) Với thời gian sinh trưởng như vậy, các giốngnày đều có thể gieo trồng thích hợp trong vụ hè thu, đất rẫy tại huyện QuảngUyên

3.1.2 Khả năng phân cành của các giống lạc thí nghiệm 2012

Khả năng phân cành của cây lạc phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm di truyềncủa từng giống và cũng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh Số cành của lạcliên quan trực tiếp đến số quả

Qua số liệu bảng 3.2: Khi theo dõi khả năng phân cành của các giống lạcvào thời điểm thu hoạch chúng tôi nhận thấy, số cành cấp 1 trên cây của cácgiống biến động từ (4,8 – 5,3 cành/cây) Trong đó, giống có khả năng phân

Trang 40

cành lớn nhất vẫn là giồng L14 Các giống có số cành cấp 1 trên cây tươngđương nhau là L23 và TB25 Có khả năng phân cành thấp nhất là giống L26.

Bảng 3.2 Khả năng phân cành của các giống lạc thí nghiệm vụ hè thu 2012

Công thức Tên giống Số cành cấp 1

(Cành/cây)

Số cành cấp 2 (Cành/cây)

Số cành cấp 2 trên cây có sự khác nhau giữa các giống, dao động từ (1,6

- 1,8 cành/cây), cao nhất là giống L14 với (1,8 cành/cây), các giống có số cànhcấp 2 trên cây tương tự giống đối chứng là L26 và TB25 với (1,6 cành/cây).Qua kết quả cho thấy, giống L14 có khả năng phân cành cấp 2 mạnh hơn sovới giống đối chứng và so với các giống khác

3.1.3 Khả năng hình thành nốt sần của các giống lạc thí nghiệm 2012

Quá trình hình thành nốt sần ở rễ lạc do vi khuẩn (Rhizobium) vigna tạo

nên khi tiếp xúc với rễ cây lạc trong điều kiện thuận lợi, vi khuẩn nốt sần sảnsinh nhanh làm tăng mật độ tại điểm tiếp xúc, đồng thời tiết ra một số chất làmmềm lớp biểu bì của lông hút, sau đó xâm nhập vào rễ lạc, làm cho các tế bàotại đây phân chia nhanh để khu trú vi khuẩn, tại đó rễ bị phình to hình thành nốtsần

Nốt sần thường bắt đầu hình thành khoảng 25 - 30 ngày sau gieo, sốlượng nốt sần tăng dần trong quá trình sinh trưởng và tăng nhanh nhất từ thời

kỳ ra hoa đến đâm tia hình thành quả, thời kỳ chín đến thu hoạch nốt sần già,

vỡ hoặc rụng lại trong đất

Khả năng hình thành nốt sần của lạc có vai trò quan trọng trong quá trìnhsinh trưởng phát triển và năng suất của lạc Nhờ khả năng cố định đạm, giúpcho việc cung cấp đạm cho lạc sinh trưởng phát triển, vì vậy sự hình thành nốtsần sớm hay muộn, nhiều hay ít, ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển

và năng suất lạc

Ngày đăng: 30/05/2014, 23:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1  .     Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế  giới - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 2.1 . Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới (Trang 8)
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở 6 vùng sản xuất lạc của Việt  Nam giai đoạn 2001 - 2011 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở 6 vùng sản xuất lạc của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2011 (Trang 12)
Bảng 2.5. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc huyện Quảng Uyên năm  2003 - 2012 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 2.5. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc huyện Quảng Uyên năm 2003 - 2012 (Trang 16)
Bảng 2.6. Diễn biến một số yếu tố khí hậu ở huyện Quảng Uyên  tỉnh Cao Bằng - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 2.6. Diễn biến một số yếu tố khí hậu ở huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng (Trang 29)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm 2 (Trang 32)
Bảng 3.1.  Khả năng mọc mầm và các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của  các giống lạc thí nghiệm vụ hè thu 2012. - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 3.1. Khả năng mọc mầm và các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống lạc thí nghiệm vụ hè thu 2012 (Trang 38)
Bảng 3.3. Tổng số nốt sần, nốt sần hữu hiệu của các giống lạc thí nghiệm  năm 2012 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 3.3. Tổng số nốt sần, nốt sần hữu hiệu của các giống lạc thí nghiệm năm 2012 (Trang 41)
Bảng 3.4. Các loại sâu hại chính các giống lạc vụ hè thu tại Quảng Uyên  năm 2012 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 3.4. Các loại sâu hại chính các giống lạc vụ hè thu tại Quảng Uyên năm 2012 (Trang 42)
Bảng 3.6.  Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất các giống lạc vụ hè thu năm 2012 Công - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 3.6. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất các giống lạc vụ hè thu năm 2012 Công (Trang 45)
Bảng 3.8. Chiều cao cây và khả năng phân cành của các thời vụ lạc L14  vụ hè thu 2012 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 3.8. Chiều cao cây và khả năng phân cành của các thời vụ lạc L14 vụ hè thu 2012 (Trang 48)
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của thời vụ trồng tới sự sinh trưởng, phát triển của giống lạc L14 vụ hè thu năm 2012 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của thời vụ trồng tới sự sinh trưởng, phát triển của giống lạc L14 vụ hè thu năm 2012 (Trang 48)
Bảng 3.9. Sâu hại chính trên giống lạc L14 qua các thời vụ tại huyện  Quảng Uyên 2012 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 3.9. Sâu hại chính trên giống lạc L14 qua các thời vụ tại huyện Quảng Uyên 2012 (Trang 49)
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức độ nhiễm bệnh lạc giống  L14 vụ hè thu 2012 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức độ nhiễm bệnh lạc giống L14 vụ hè thu 2012 (Trang 50)
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của thời  vụ trồng đến cấu thành năng suất giống lạc L14 năm 2012 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến cấu thành năng suất giống lạc L14 năm 2012 (Trang 52)
Bảng 3.12.  Ảnh  hưởng của mật độ khác nhau đến các giai đoạn sinh trưởng,  phát triển của giống lạc L14 năm 2013 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc tại huyện quảng uyên tỉnh cao bằng
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của mật độ khác nhau đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống lạc L14 năm 2013 (Trang 53)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w