1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện từ liêm thành phố hà nội

99 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Ở Huyện Từ Liêm, Thành Phố Hà Nội
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Quản Lý Di Tích
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản Năm 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 117,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu phơng ánquy hoạch hợp lý, Từ Liêm sẽ có những đóng góp vào công tác quản lý di tíchlịch sử văn hóa ở làng xã ven đô của Hà Nội; Những hạn chế và thành côngcủa Từ Liêm sẽ là bà

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống vật chất vàtinh thần của con ngời ngày càng phong phú thì nhu cầu hởng thụ văn hóa, tìmhiểu cội nguồn văn hóa dân tộc mà trong đó có di tích lịch sử văn hóa càng trởnên bức thiết Bởi lẽ, di tích lịch sử văn hóa là thành quả lao động sáng tạo củacon ngời trong quá khứ để lại; là bằng chứng vật chất sinh động phản ánhtrung thực quá trình đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta Di tích lịch

sử chính là tài sản vô giá, ở đó ẩn chứa những truyền thống tốt đẹp mà thế hệtrớc truyền lại cho thế hệ sau các giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm

mỹ những giá trị đó biểu hiện truyền thống văn hiến, lòng tự hào dân tộc từ

đó các thế hệ sau đón nhận tiếp thu và sáng tạo những giá trị văn hóa mới chonhân loại

1.2 Thủ đô Hà Nội đang trên đà phát triển, quá trình đô thị hóa diễn ranhanh chóng và mạnh mẽ Hiện nay, Thủ đô Hà Nội dẫn đầu cả nớc về số l-ợng di tích lịch sử văn hóa, với tốc độ đô thị hóa cao nh vậy đã dẫn đến tìnhtrạng các di tích lịch sử văn hóa bị lấn chiếm, xâm hại một cách nghiêm trọng

và có nguy cơ bị hủy hoại hoặc biến mất Đối với huyện Từ Liêm với vị trínằm ở phía Tây tây bắc Hà Nội- một huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nộicũng chịu tác động không nhỏ Với vị trí nh vậy, bớc vào những năm đầu củathế kỷ XXI, huyện Từ Liêm đứng trớc những thách thức mới đang đặt ra trongquá trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội Theo quy hoạch phát triển kinh

tế xã hội của Thủ đô đến năm 2020, hơn nửa huyện Từ Liêm nằm trong vành

đai phát triển đô thị, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp và chia cắt, các khu

đô thị, khu công nghiệp mọc lên ngày càng nhiều Với quá trình đô thị hóanhanh và mạnh - các đô thị mới mọc lên, sự di dân từ đô thị trung tâm ra ngoạithành đã làm đổi thay diện mạo của huyện và ảnh hởng đến mọi lĩnh vực của

đời sống xã hội nh kinh tế, văn hóa của huyện Từ Liêm cả về mặt tích cực lẫntiêu cực Các giá trị văn hóa ở nơi đây cũng dần bị mai một đi và biến mất.Vấn đề đặt ra là quá trình đô thị hóa nhanh, phát triển kinh tế nhng phải chútrọng bảo tồn phát huy giá trị văn hóa truyền thống và bản sắc văn hóa dântộc, quan tâm đến việc quản lý đô thị, quản lý trật tự xây dựng, quản lý quy

Trang 2

hoạch về kiến trúc và cảnh quan, quản lý các di tích Nghiên cứu phơng ánquy hoạch hợp lý, Từ Liêm sẽ có những đóng góp vào công tác quản lý di tíchlịch sử văn hóa ở làng xã ven đô của Hà Nội; Những hạn chế và thành côngcủa Từ Liêm sẽ là bài học kinh nghiệm cho các địa phơng khác.

Từ những vấn đề đã trình bày ở trên, đề tài luận văn thạc sỹ “Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội” sẽ góp phần làm

rõ thực trạng quản lý di tích và đề xuất giải pháp nâng cao chất lợng quản lýDTLS của huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội

di tích tại cơ sở, việc thành lập các tổ chức phối hợp bảo vệ tại di tích, tổ chứcphối hợp với các cơ quan, việc nghiên cứu triển khai phát hiện, nghiên cứudịch thuật tài liệu Hán Nôm ở di tích Bài viết tuy không nhiều, song đó là báocáo từ góc độ quản lý văn hóa

+ ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm (2009) : Báo cáo công tác quản lý di tích năm 2009 và phơng hớng nhiệm vụ năm 2010 của huyện Từ Liêm [68]

Những nội dung cơ bản thể hiện trong báo các này bao gồm:

- Tổng số có 184 di tích (06 chùa, 43 đình, 14 đền còn lại là miếu, vănchỉ, từ chỉ, nhà thờ họ, di tích cách mạng kháng chiến , trong đó 104 di tích

đã đợc xếp hạng)

Trang 3

- Tập trung báo cáo về kết quả thực hiện trong 2009 về kiện toàn tổchức BQL di tích cơ sở.

Về việc tu bổ tôn tạo di tích, trong đó phần này báo cáo đã tổng hợp đợcnguồn ngân sách do huyện trực tiếp đầu t là 42,2 tỷ đồng, kinh phí huy động18,95 tỷ đồng Về việc xếp hạng di tích, gắn biển cho các di tích cách mạngkháng chiến, vấn đề phối hợp nghiên cứu và t liệu hóa di sản của huyện TừLiêm, vấn đề kiểm tra và giải quyết những đơn kiến nghị có phần đánh giánhững u điểm, hạn chế và nguyên nhân của những mặt hạn chế đó

- Bản báo cáo đã đa ra phơng hớng nhiệm vụ trung tâm cho công tácquản lý di tích năm 2010 với 8 nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời kiến nghị và đềxuất với thành phố 05 vấn đề để triển khai các hoạt động quản lý di tích lịch

sử văn hóa vào năm 2010

+ ủy ban nhân dân huyện Từ Liêm (2008): “Kết quả triển khai thực hiện công tác quản lý di tích trên địa bàn và phơng hớng nhiệm vụ từ 2008

- 2010 huyện Từ Liêm”[67] Trớc tiên, báo cáo nêu ra những khái quát về đặc

điểm di tích LSVH huyện Từ Liêm, những thuận lợi và khó khăn trong triểnkhai quản lý: Những kết quả thực hiện trong đó quan trọng là chỉ đạo củaUBND huyện và sự phối hợp đồng bộ các tổ chức chính trị xã hội Những kếtquả trong lĩnh vực hoạt động quản lý: Bảo quản, bảo vệ, tu bổ, tôn tạo di tích,xếp hạng di tích, khai thác phát huy giá trị di tích, sau đó là phơng hớng vànhiệm vụ trọng tâm đến năm 2010

+ Phòng VH-TT (2009) : Báo cáo công tác văn hóa - thể thao và du lịch năm 2009 và phơng hớng nhiệm vụ năm 2010 [59] Trong báo cáo

chung về kết quả hoạt động trên các mặt (thông tin, tuyên truyền cổ động,hoạt động văn hóa văn nghệ, hoạt động quản lý văn hóa) Trang 15 bản báocáo có đề cập đến các hoạt động quản lý DTLSVH, trong đó có gắn biển chocác di tích, xuất bản sách giới thiệu về di sản văn hóa của huyện Từ Liêm, xâydựng dự án đề nghị thành phố, huyện cấp kinh phí tu bổ, tôn tạo di tích Trongphơng hớng nhiệm vụ năm 2010, đặc biệt nhân kỷ niệm 1000 năm ThăngLong - Hà Nội, về phơng diện quản lý di tích, kế hoạch đặt ra là tập trung tu

bổ, tôn tạo các di tích trọng điểm trên địa bàn huyện, trong đó có hai dự án:

Đình Đăm, xã Tây Tựu; đền Am, xã Tây Mỗ Gắn biển cho các di tích lịch sửcách mạng kháng chiến, hỗ trợ kinh phí tu bổ chống xuống cấp cho các di tích

có giá trị kiến trúc điêu khắc tiêu biểu Trong báo cáo còn có thêm bảng danh

Trang 4

mục các di tích tu bổ, tôn tạo năm 2009, trong đó có số liệu về nguồn vốn dongân sách huyện đầu t và vốn huy động từ nguồn xã hội hóa.

04 tài liệu báo cáo, tác giả đã tập hợp và phân tích trên đây rất cụ thể vàhữu ích cho việc sử dụng trong khi triển khai đề tài luận văn Tuy nhiên trongcác bản báo cáo này có những thông tin cha thống nhất, cụ thể là về số lợng ditích trên địa bàn huyện có báo cáo ghi là 195 di tích, có báo cáo ghi là 184 ditích (báo cáo ủy ban 2009), có báo cáo ghi là 179 di tích (báo cáo ủy ban2008) Về các di tích đã đợc xếp hạng, các con số cũng cha chuẩn xác, có báocáo ghi 105 di tích đã xếp hạng, có báo cáo ghi 104 di tích đã xếp hạng (báocáo ủy ban 2009), có báo cáo ghi 89 di tích đã xếp hạng (báo cáo ủy ban2008) Về lễ hội của huyện Từ Liêm cùng trong một báo cáo có trang ghi là

40 lễ hội, có trang ghi là 48 lễ hội (báo cáo Phòng VH,TT&DL năm 2009)

2.2 Các cuốn sách đã xuất bản

+ Cuốn sách “Từ Liêm với văn hóa Thăng Long - Hà Nội” [51] Cuốn

sách này có nhiều nội dung phù hợp với hớng nghiên cứu của đề tài, trong đóbao gồm: giới thiệu chung về huyện Từ Liêm qua các nội dung: Địa lý hànhchính, lịch sử vùng đất Từ Liêm, giới thiệu tổng quan về các địa danh cấp xãcủa huyện Về truyền thống học hành, khoa bảng và danh nhân Về các làngnghề thủ công truyền thống tiêu biểu của huyện Từ Liêm Về phong tục tậpquán, di tích và lễ hội tiêu biểu Cuốn sách đã tập trung giới thiệu 18 di tích,trong đó bao gồm: đình, chùa, đền thờ, miếu thờ, nhà thờ đạo thiên chúa ởhuyện Từ Liêm

+ Cuốn sách “Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội” [7] Trong cuốn sách này

tập trung giới thiệu một số di tích tiêu biểu của huyện Từ Liêm nh: Đình ợng Cát, đình - miếu làng Đăm và hội bơi Đăm, đình Chèm, đình Đông Ngạc.Ngoài ra, trong cuốn sách này đã giới thiệu danh mục các di tích lịch sử vănhóa đã đợc xếp hạng tính đến tháng 6 năm 2000, huyện Từ Liêm có 61 di tích[tr.673 - 676]

Th-+ Cuốn sách “Lịch sử cách mạng xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội (1930 - 2010)” [6] Trong cuốn sách này giới thiệu một số hình

ảnh về di tích lịch sử văn hóa, trong đó có đình Vẽ là nơi có hầm bí mật củacán bộ, nơi cất dấu vũ khí của du kích thời chống Pháp Chính nơi đây ngày

18 tháng 8 năm 1945, nhân dân xã Đông Ngạc mít tinh nghe tuyên bố giải thểHội đồng Hơng chính và thành lập chính quyền cách mạng nhân dân Giớithiệu di tích đình Nhật Tảo tại đây 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc tết và

Trang 5

nói chuyện với bà con nhân dân xã Đông Ngạc Chùa T Khánh còn gọi là chùa

“Toàn gia kháng chiến”, nơi đây là cơ sở bí mật của cán bộ thời kỳ khángchiến chống thực dân Pháp xâm lợc Ngoài ra, còn giới thiệu một số các hình

ảnh di tích khác nh: chùa Phúc Khánh làng Nhật Tảo, chùa Hoa Diên làngLiên Mạc

Ngoài ra, còn có các cuốn sách viết về hệ thống các di tích lịch sử vănhóa trên địa bàn huyện Từ Liêm nh:

- Lịch sử cách mạng huyện Từ Liêm, tập 1 (1925-1945), Nxb Hà Nội, 1990

- Lịch sử Đảng bộ huyện Từ Liêm (1930-2005), Nxb Hà Nội, 2006

- Di tích và văn vật vùng ven Thăng Long của tác giả Đỗ Thỉnh, NxbHội Văn học, Hà Nội, 1995

- Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX của Viện Nghiên cứu HánNôm, Nxb KHXH, 1984

- Làng xã ngoại thành Hà Nội của tác giả Bùi Thiết, xuất bản năm 1985

2.3 Khóa luận tốt nghiệp đại học

+ Tác giả Nguyễn Thị Mai Hơng khóa luận tốt nghiệp đại học với tiêu

đề “Vấn đề xã hội hóa hoạt động di tích ở huyện Từ Liêm trong những năm gần đây” Vấn đề xã hội hóa trong hoạt động bảo tồn di tích là một trong

những nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan quản lý di tích, khóa luận đã nghiêncứu cơ sở lý luận về xã hội hóa hoạt động văn hóa nói chung và xã hội hóahoạt động bảo tồn di tích nói riêng Trong công trình nghiên cứu này, những tliệu về thực trạng hoạt động xã hội hóa ở huyện Từ Liêm trong đó có nhữngkết quả về huy động nguồn lực chủ yếu là nguồn vốn từ cộng đồng c dân đã

đóng góp từ năm 1996 - 2003 (tr.38 của khóa luận) Các di tích đã đợc tu bổ

từ nguồn kinh phí xã hội hóa năm 2001 gồm có 06 di tích với tổng kinh phíhuy động là 700 triệu (tr.41 của khóa luận) 15 di tích đợc tu bổ từ số tiền huy

động từ nhân dân là 9.525.000đ

Khóa luận đã dành một tiểu mục để viết về sự hởng thụ các giá trị vănhóa các giá trị văn hóa của cộng đồng c dân huyện Từ Liêm Đó là một trongnhiều hoạt động trong quản lý di tích lịch sử văn hóa Khóa luận đã đề xuấtmột số giải pháp có liên quan đến việc nâng cao chất lợng quản lý di tích lịch

sử văn hóa (xã hội hóa công tác quản lý di tích) xã hội hóa nguồn lực bảo tồn,tôn tạo di tích

Trang 6

- Tác giả Đoàn Thị Thùy Trang với bài tốt nghiệp khóa luận đại học cử

nhân “Tiềm năng phát triển du lịch huyện Từ Liêm - Thành phố Hà Nội”.

Trong công trình nghiên cứu này đã giới thiệu về tài nguyên du lịch nhân văn,trong đó có các di tích kiến trúc nghệ thuật (tr.25 - 30 của khóa luận) Giớithiệu một số kiến trúc đình làng, các ngôi chùa tiêu biểu của huyện Từ Liêm,trong đó có các chùa Đình Quán, đình Chèm, đình Vẽ/Đông Ngạc

Khóa luận cũng đề cập đến các giải pháp khai thác hiệu quả tài nguyên

du lịch huyện Từ Liêm, trong đó có khai thác giá trị di tích lịch sử văn hóa đểphục vụ phát triển du lịch

Những tập hợp trên đây cho thấy đã có những công trình, những bảnbáo cáo, những sách xuất bản viết về tình hình đặc điểm về DTLSVH củahuyện Từ Liêm

Trong các công trình, các báo cáo đã phần nào nêu ra những hoạt độngthuộc về lĩnh vực quản lý di tích lịch sử văn hóa nói riêng và di sản văn hóanói chung Cho tới nay vẫn cha có một công trình, một đề tài nào nghiên cứu

đầy đủ, hệ thống về DTLSVH huyện Từ Liêm và vấn đề quản lý DTLSVH củahuyện trong những năm gần đây, kế thừa những kết quả của các nhà nghiêncứu, các nhà quản lý và vận dụng những kết quả đó trong giải quyết nhữngmục tiêu đặt ra của đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở nhận thức đúng vai trò của công tác quản lý di tích lịch sửvăn hóa trong giai đoạn hiện nay, luận văn đi sâu khảo sát, phân tích, đánh giánhững kết quả đạt đợc và hạn chế trong công tác quản lý di tích lịch sử vănhóa ở huyện Từ Liêm từ năm 2003 đến nay, từ đó đề xuất một số giải phápkhả thi, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ởhuyện Từ Liêm trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ

Luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Tìm hiểu khái quát về huyện Từ Liêm và hệ thống di tích lịch sử vănhóa trên địa bàn huyện;

- Trình bày những vấn đề về cơ sở khoa học và pháp lý trong công tácquản lý di tích lịch sử văn hóa;

Trang 7

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích lịch

sử văn hóa ở huyện Từ Liêm từ năm 2003 đến nay;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tácquản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Từ Liêm trong thời gian tới

4 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tợng

Đối tợng nghiên cứu của luận văn là quản lý di tích lịch sử văn hóa ởhuyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa quốc gia trên

địa bàn huyện Từ Liêm và các di tích lịch sử văn hóa do UBND Thành phố HàNội phân cấp cho UBND huyện Từ Liêm quản lý theo Quyết định số2618/QĐ-UB của UBND Thành phố Hà Nội

5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận: Vận dụng hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa

Mác - LêNin và t tởng Hồ Chí Minh về duy vật lịch sử và duy vật biện chứng;vận dụng đờng lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nớc về quản lý di sảnvăn hóa dân tộc

- Đa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý

di tích lịch sử văn hóa ở huyện Từ Liêm trong thời gian tới

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong công tác quản lý di tíchlịch sử văn hóa cho các quận, huyện thuộc Thành phố Hà Nội cũng nh độc giả

Trang 8

muèn t×m hiÓu vÒ c«ng t¸c qu¶n lý di tÝch lÞch sö v¨n hãa ë huyÖn Tõ Liªm,Thµnh phè Hµ Néi.

Trang 9

Chơng 1 Tổng quan về huyện Từ Liêm

và hệ thống Di tích lịch sử văn hóa

1.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên xã hội và lịch sử của huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Huyện Từ Liờm được thành lập theo Quyết định số 78/QĐ-CP ngày31/5/1961 của Chớnh phủ trờn cơ sở Quận 5, Quận 6 và một số xó của huyệnHoài Đức, huyện Đan Phượng - tỉnh Hà Đụng (nay là Hà Nội); huyện đượcthành lập gồm 26 xó, cú diện tớch đất trờn 114 km2, dõn số 12 vạn người Năm

1974, huyện đó bàn giao xó Yờn Lóng về quận Đống Đa Đầu năm 1996, bàngiao xó Nhõn Chớnh về quận Thanh Xuõn Năm 1997, 4 thị trấn Cầu Giấy,Mai Dịch, Nghĩa Đụ, Nghĩa Tõn và 3 xó Dịch Vọng, Yờn Hũa, Trung Hũa đótỏch khỏi huyện để thành lập quận Cầu Giấy Sau 42 năm thành lập, với tốc

độ đụ thị húa nhanh trờn địa bàn, huyện đó gúp phần thành lập 3 quận mới củaThủ đụ, chuyển gần 1/3 diện tớch đất tự nhiờn và một nửa dõn số ở nhữngvựng kinh tế phỏt triển về nội thành

Sau nhiều lần chia tỏch đất đai và cư dõn để lập nờn cỏc quận mới, hiệnnay, trờn bản đồ địa lý, huyện Từ Liờm nằm ở phớa Tõy-Tõy Bắc Thủ đụ (1060kinh Đụng và 21010 Vĩ Bắc); phớa Bắc giỏp huyện Đụng Anh; phớa Đụng giỏpquận Cầu Giấy, Tõy Hồ; phớa Tõy giỏp hai huyện Hoài Đức và Đan Phượng;phớa Nam giỏp quận Thanh Xuõn Từ Liờm cú 16 đơn vị hành chớnh cấpxó/phường là thị trấn Cầu Diễn và 15 xó: Tõy Mỗ, Mỹ Đỡnh, Phỳ Diễn,Thượng Cỏt, Thụy Phương, Cổ Nhuế, Mễ Trỡ, Xuõn Phương, Đụng Ngạc, TõyTựu, Minh Khai, Liờn Mạc, Xuõn Đỉnh, Trung Văn, Đại Mỗ với diện tớch đất

tự nhiờn là 7.532 ha

Nằm ở cửa ngừ phớa Tõy của Thủ đụ Hà Nội Từ Liờm chiếm một vị trớhết sức quan trọng, với nhiều tuyến đường giao thụng huyết mạch: đường

Trang 10

Phạm Hùng - Phạm Văn Đồng - Cầu Thăng Long đi sân bay quốc tế Nội Bài;đường 32 (Hồ Tùng Mậu - Cầu Diễn) nối Hà Nội với các tỉnh Tây Bắc, đườngLáng - Hòa Lạc (Trần Duy Hưng) nối với đường Hồ Chí Minh, đường số 6 điHòa Bình

Với vị trí như vậy, trong hiện tại và tương lai, Từ Liêm đã và sẽ cónhiều cơ quan, trường đại học của Trung ương và thành phố đóng trên địa bànnhư Khu liên hiệp thể thao Quốc gia Mỹ Đình, Trung tâm hội nghị quốc gia,khu ngoại giao đoàn, Khu đô thị thành phố giao lưu, Khu đô thị đại học, Khu

đô thị Nam Thăng Long, Khu đô thị Mỹ Đình - Mễ Trì, Khu công nghiệpNam Thăng Long, công viên Hoà Bình, công viên động vật bán hoang dã

1.1.2 LÞch sö h×nh thµnh

Từ Liêm là một địa danh cổ Trong cuốn sách “Từ Liêm huyện lý thiênvương sự tích (Thụy Phương xã biệt ký)” ghi: “Lý Ông Trọng Hy Khangthiên vương, Từ Liêm huyện, Từ Liêm xã nhân” Như vậy Từ Liêm có tên xãthời cổ của làng Thụy Phương, xã Thụy Phương ngày nay Thụy Phương cótên là Chèm Theo các nhà ngôn ngữ học và dân tộc học cho rằng Chèm vốn

là từ Tlem hay Blem, sau này biến âm thành Từ Liêm Tên gọi Từ Liêm xuấthiện với tư cách là địa danh hành chính từ đầu thế kỷ VII cho đến cuối thế kỷXVIII đầu thế kỷ XIX thì gọi là làng Thụy Hương, một trong tám xã thuộctổng Phú Gia, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây, sau năm 1831 thìthuộc về tỉnh Hà Nội và gọi là xã Thụy Phương như hiện nay

Chèm hay Trèm là tên Nôm, còn Từ Liêm là tên tự (chữ Hán) Từ Liêmtheo ngữ nghĩa thì Từ có nghĩa là người trên thương yêu người dưới hay tìnhthương chung hoặc xưng mẹ là từ; còn Liêm có nghĩa là trong sạch, ngay thẳnghay không tham của người Từ Liêm, với ý nghĩa ấy, thì cái tên gọi của làngChèm hay tên của cả huyện đặt ra là xuất phát từ cả niềm tin, ước vọng, lẽ sốngcủa con người thuở trước và cũng là mong muốn truyền lại cho đời sau

Trang 11

Huyện Từ Liêm, mảnh đất có bề dày lịch sử hàng mấy ngàn năm Tênhuyện Từ Liêm xuất hiện từ năm 621 là một trong ba huyện của Từ Châu,huyện Từ Liêm tồn tại đến thế kỷ X Nhà Trần đặt Từ Liêm là một trong haihuyện của phủ Đông Đô (hay Lộ An Nam La Thành); thời Lê, Từ Liêm là mộttrong năm huyện của phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây Năm 1831 là một trong bahuyện của phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội Từ năm 1888 đất huyện Từ Liêm lệ vàophủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông, tên huyện Từ Liêm bị bỏ Năm 1961 lập lạihuyện Từ Liêm trên đất trung tâm của huyện Từ Liêm qua các thời.

Có tên gọi là huyện Từ Liêm là vì có sông Từ Liêm chảy qua Đất TừLiêm rộng, người Từ Liêm đông Đây là mảnh đất cổ có tuổi đời cao, có sựsống lâu bền bởi con người đã có mặt ở đây từ rất sớm

Kết quả của khảo cổ học, các di chỉ Bá Hội (nay là xã Hồng Hà - ĐanPhượng - Hà Nội); Kim Ngọc (nay là xã Tân Lập - Đan Phượng - Hà Nội,Ngọa Long (xã Minh Khai) cho chúng ta biết được khu đất này đã có vào giaiđoạn Phùng Nguyên hay đầu thời đại đồng thau, tức là cách ngày nay khoảng3.500 năm đến 4.000 năm

Khi đào mở rộng sông Tô Lịch (1978) ở địa phận Hạ Yên Quyết (YênHòa - Cầu Giấy), các nhà khảo cổ tìm thấy chiếc quan tài bằng cả cây gỗkhoét rỗng cùng các di vật xác định khoảng đầu công nguyên và những ngôi

mộ cổ xây bằng gạch hoa văn thời Hán (Trung Quốc) ở xã Xuân Đỉnh, ở chùa

Do, Thanh Quang, An Thượng, Hoài Đức Nhiều thư tịch cổ như các bản thầntích, ngọc phả cho ta biết thời Hùng Vương thứ 6 vua Hùng Huy Vương và

em Hùng Duệ Vương đã qua đất Thượng Trì; đến đời vua Hùng thứ 18, cáctướng của Hùng Duệ Vương như Côn Lang, Du Di, Phổ Huệ đã về đất Hạ Trìgiúp dân đánh giặc cướp, diệt giảo long, chống lũ lụt Và trên đất Thị Cấm (xãXuân Phương) đời Hùng Duệ Vương có Phan Tây Nhạc, tướng của vua Hùng

đã ở đây lập hành cung Vợ chồng Phán Quan (tức Phan Tây Nhạc) đã dạy

Trang 12

dân về lễ nghi, sửa sang phong tục và canh tác, các vị thần được thờ ở TrungKính (xã Trung Hòa nay là phường Trung Hòa quận Cầu Giấy) là Non ChiếtĐại Vương, tướng trẻ vua Hùng thứ 18 đã từng đặt đồn ở đây; ở làng NgãiCầu (nay là xã An Khánh, Hoài Đức) như ông Cả, ông Hai, ông Ba, ông Tư

và thánh Bà Út là những nhân vật sống vào thời Hùng Duệ Vương; anh emMinh Tuất là những bộ tướng giỏi của Hùng Vương 18 đã lấy đất La Nhuế(tức La Dương nay là xã Dương Nội, huyện Hoài Đức) làm thực ấp (theongọc phả các làng Thị Cấm, Hòe Thị xã Xuân Phương và tư liệu trong làng xãngoại thành Hà Nội, Nxb Hà Nội, 1981)

Huyện Từ Liêm vào đầu thế kỷ XIX có 13 tổng gồm 91 xã, thôn, trang,phường, sở (tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnhtrở ra) Tổng Thượng Hội (có 6 xã); tổng Thượng Trì (có 5 xã); tổng Hạ Trì (có

6 xã); tổng Phú Gia (có 8 xã, sở); tổng Minh Cảo (có 8 xã thôn, châu, sở); tổng

Cổ Nhuế (có 6 xã, thôn); tổng Dịch Vọng (có 10 xã, sở, trại); tổng Hương Canh(có 5 xã); tổng Tây Đàm (có 7 xã, thôn); tổng Thượng Ốc (có 7 xã); tổng YênLũng (có 6 xã); tổng La Nội (có 6 xã); tổng Thiên Mỗ (có 7 xã, thôn)

1.1.3 C d©n

Do nhiều điều kiện về đất đai, khí hậu con người đã quần cư sinh sống

ở đây từ rất sớm, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một tài liệu nào có thể nêu

ra một cách chính xác thời điểm hình thành cộng đồng cư dân đầu tiên trênmảnh đất này Theo tư liệu hồi cố đã ghi chép lại được trong cộng đồng cưdân thì có một số dòng họ đã xuất hiện ở khu vực huyện Từ Liêm từ rất sớmnhư dòng họ Phạm, Đỗ, Đặng, Nguyễn Công là những dòng họ định cư vàsinh sống lâu đời ở đây Trong quá trình phát triển, vùng đất này đã dung nạpthêm vào cộng đồng của mình các nhóm cư dân thuộc các dòng họ khác như:

Họ Nghiêm, họ Trần, họ Lưu, họ Nguyễn Hữu, họ Nguyễn Công, họLê Tính đến nay, cả huyện có khoảng 275.000 người, trong tổng số khoảng

Trang 13

trờn 20.000 hộ gia đỡnh Vỡ gắn với nụng nghiệp trồng lỳa nước từ lõu đời nờnngười dõn vựng này chất phỏc, thật thà, coi trọng nghĩa tỡnh và cỏc giỏ trị vănhúa truyền thống Trong huyện cú nhiều dũng họ cú hệ thống gia phả và nhàthờ họ đều được xõy dựng khỏ khang trang Một số dũng họ lõu đời vớitruyền thống tiờu biểu như dũng họ Phạm, Đỗ, Nguyễn Quý, Đặng

Cỏc dũng họ trong huyện tuy khụng cú mối quan hệ mật thiết song cỏcdũng họ lại cú mối quan hệ đan xen với nhau và mỗi nột văn húa truyền thốngriờng của cỏc dũng họ gúp phần tạo nờn sự đa dạng, phong phỳ trong đời sốngvăn húa của huyện Từ Liờm

1.1.4 Đời sống kinh tế

Xác định đợc mục tiêu trong những năm gần đây, Từ Liêm là một đơn

vị có tốc độ đô thị hóa nhanh, là cơ hội thuận lợi để huyện đẩy mạnh tốc độchuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động từ lĩnh vực sản xuấtnông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất công nghiệp và thơng mại, dịch vụ và đócũng là điều kiện để Từ Liêm phát triển mạnh kết cấu cơ sở hạ tầng thực hiệnquá trình công nghiệp hóa -hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Qua đó nângcao đời sống vật chất và tinh thần cho ngời dân trong huyện

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch từ nông nghiệp - cụng nghiệp - thơngmại, dịch vụ (1994) chuyển thành công nghiệp - thơng mại, dịch vụ (2009).Trong đó, tỷ trọng ngành công nghiệp năm 1994 chỉ chiếm 26,8 % đến năm

2009 tăng lên 61,6% Tỷ trọng ngành thơng mại, dịch vụ năm 1994 chiếm18,2% tăng lên 31,7% năm 2003 Tỷ trọng ngành nông nghiệp năm 1994chiếm 55% giảm xuống còn 13,2% năm 2009 Xu hớng trong những năm tới

tỷ trọng ngành nông nghiệp còn tiếp tục giảm mạnh Nhịp độ tăng trởng kinh

tế và cơ cấu kinh tế là cơ cấu tiến bộ nhất và có tốc độ tăng trởng cao nhấttrong các huyện ngoại thành

Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp: Đầu t đổi mới khoa học côngnghệ và tích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất,thu hút vốn đầu t nớc ngoài vào các doanh nghiệp trong và ngoài thành phố,

điển hình nh cụm công nghiệp tập trung vừa và nhỏ của huyện với 21ha, thuhút 32/32 doanh nghiệp vào hoạt động; khu công nghiệp Nam Thăng Long thu

Trang 14

hút trên 50 doanh nghiệp vào hoạt động Do đó, công nghiệp của huyện ngàycàng khởi sắc, giá trị sản xuất bình quân hàng năm tăng trên 33% năm 2007;

đạt 40% năm 2009

Trong lĩnh vực thơng mại - dịch vụ: Đây là ngành phát triển mạnh cả về

bề rộng cũng nh chiều sâu, bên cạnh đó Từ Liêm đã huy động vốn đầu t xâydựng một số cơ sở hạ tầng nh một số chợ đầu mối buôn bán nhằm thu hútnguồn hàng từ các tỉnh phía Bắc và phía Tây cung cấp cho thủ đô Hà Nội nh :Chợ Nhổn, Minh Khai, Tây Tựu Tốc độ tăng trởng của ngành thơng mại -dịch vụ bình quân 10 năm qua 1999 - 2009 đạt 37%, tăng gấp hơn hai lần tốc

độ bình quân chung của thành phố

Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp cũng đã có những bớc tiến dài

đáng kể Toàn huyện đã hình thành vùng chuyên canh rau sạch, hoa cảnh và

đã bớc đầu đa khoa học công nghiệp vào trong nông nghiệp Điển hình nh xãTây Tựu kết quả trồng hoa đạt 120 triệu/ha; ngoài ra còn trồng các cây ăn quảkhác nh cam Canh, bởi Diễn, Hồng xiêm ở Phú Diễn, Minh Khai, Xuân Ph-

ơng doanh thu đạt 82 triệu/ha Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1ha đấtcũng không ngừng đợc nâng cao từ 39,6 triệu năm 1994 đến năm 2004 là 67triệu, năm 2009 đạt 97 triệu Thu nhập bình quân theo đầu ngời đạt 12,3 triệu/năm, giảm hộ nghèo xuống 0,9%, góp phần đa 15/15 xã đạt danh hiệu xãnông thôn mới Hội nông dân huyện đợc nhà nớc tặng thởng huân chơng Lao

Trang 15

tiền biên - bản chũ Hán - ký hiệu A507 - th viện Hà Nội] Có đợc nh vậy bởingời Từ Liêm thuần hậu, phong tục chất phác, thấm nhuần những t tởng lớn

của dân tộc: “Nhân tài là nguyên khí của quốc gia, học thức là tài sản lớn nhất của quốc gia”.

Nhân dân Từ Liêm có truyền thống hiếu học, nhiều ngời học giỏi, đỗcao, ngay từ xa xa đã có câu ca: “Mỗ, La, Canh, Cót - tứ danh hơng”, “Thơ

Mỗ, phú Cách, sách Vẽ” Đó là những ngời làm nên sự nghiệp, đóng gópnhiều công lao với đất nớc, làm dạng danh quê hơng, xóm làng Việc này đợc

phản ảnh qua một số t liệu sách, văn bia nh: Tấm bia “Học điền bi ký” ở xã Cổ

Nhuế, nội dung phản ánh tình hình dân làng góp ruộng nuôi thầy giáo để dạy

học cho ngời trong làng; Cuốn sách “Bạch liên khảo chí” cho biết: làng này đã

để ra ba mẫu ruộng để biếu cho những ngời làng đỗ tiến sĩ, để khuyến khíchviệc học Ngoài ra, dân làng còn góp 100 quan tiền để mừng các quan nghè

khi vinh quy; “Phân tháp vận sự bi” (dựng năm Tự Đức thứ 17 - 1864) tại

làng Tiên Tân mục ba ghi rõ: Trong làng, ngời nào học đỗ đạt sẽ đợc xem xétmiễn giảm nghĩa vụ tùy tình hình cụ thể

Truyền thống tôn s trọng đạo đã trở thành nếp sống của mọi ngời, ở mọithời kỳ Các bậc cha mẹ cũng kính trọng thầy giáo và coi nh thầy giáo của

chính mình và của cả gia đình Đối với thầy “sống tết, chết giỗ”, các thế hệ

môn sinh đều theo giỗ suốt đời Về việc học hành thi cử và đỗ đạt thành danhkhông thể không nhắc đến làng khoa bảng Đông Ngạc, cả làng có tới 22 tiến

sĩ Từ thi Thái học sinh khoa thi Quý Mùi, đời Trần (năm 1393) cho đến khoathi tiến sĩ khoa thi năm Canh Tuất niên hiệu Duy Tân (năm 1910) cả huyện TừLiêm xa có tới 114 vị đỗ đại khoa từ Đình nguyên, Bảng nhãn đến Hoànggiáp, Tiến sĩ, chiếm 3,9% tổng số tiến sĩ trong cả nớc

Có đợc những nhân tài cho đất nớc nh các tiến sĩ, cử nhân, tú tài khi

tr-ớc cũng nh ngày nay, ngời Từ Liêm tự hào về truyền thống hiếu học của mình

từ đời này sang đời khác nhng cũng không bao giờ quên đợc công lao của từnggia đình, từng ngời cha, ngời mẹ đã dốc lòng nuôi dạy con cháu nên ngời.Trong thời phong kiến, một nhà có ba ngời đỗ tiến sĩ đã là hiếm, bố dạy con

đỗ tiến sĩ lại càng hiếm nh gia đình ông Đỗ Văn Tổng và hai ngời con là ĐỗVăn Luận và Đỗ Công Toản đều đỗ tiến sĩ vào thời Hậu Lê; các thế hệ của gia

đình ông Đặng Trần Diễm, Đặng Công Toản, Đặng Trần Quán, Đặng TrầnDự; gia đình ông Nguyễn Huy Vinh; dòng họ Nguyễn Quý: Quý Đức, Quý

Trang 16

Ân, Quý Kính nhân dân Từ Liêm rất tự hào về những bậc tiền bối đã thi đỗlàm quan là ngời địa phơng, có những ngời đợc cử đi sứ, đã từng giữ các chức

vụ quan trọng trong bộ máy hành chính phong kiến

Ngoài ra, còn phải kể đến ở Từ Liêm từ xa đến nay có nhiều làng, nhiềudòng họ khoa bảng, nhiều danh nhân nổi tiếng Một số làng, một số dòng họ,gia đình cùng một số danh nhân đại diện cho vờn hoa muôn sắc muôn màu đấtkhoa bảng Từ Liêm nh: làng khoa bảng Đông Ngạc (22 tiến sĩ); Làng khoabảng La Cả (07 tiến sĩ và 44 cử nhân); dòng họ Phạm có 09 ngời đỗ tiến sĩ; gia

đình có ba thế hệ đỗ tiến sĩ làm thành hoàng làng Đại Mỗ; cùng hàng trăm các

vị cử nhân, tú tài và trạng nguyên trong toàn huyện

Thời cận đại chống thực dân Pháp, nhiều ngời đã sáng tác tuồng, chèo,thơ ca để khích lệ lòng yêu nớc của nhân dân nh: Hoàng Tăng Bí, NguyễnHữu Tiến (Đông Ngạc), Nguyễn Phan Lãng (Tây Tựu) với tập thơ Tiếng Cuốckêu Thời hiện đại có Tô Hoài (Nghĩa Đô), Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng(Nhân Chính), Xuân Thủy (Xuân Phơng)

* Truyền thống chống giặc ngoại xâm

Từ bao đời nay người dõn Từ Liờm đó cú truyền thống yờu nước chốnggiặc ngoại xõm, cỏc địa danh như ở làng cổ như Canh, Cút, Mọc, Chốm,Vũng đó tạo nờn một vựng văn húa trự phỳ mang nhiều dấu ấn của lịch sửtồn tại qua nhiều thế kỷ và đúng gúp nhiều vào kỳ tớch trong lịch sử dựngnước, giữ nước của dõn tộc

Vào thời cỏc vua Hựng dựng nước, khi giặc phương Bắc đem quõnsang xõm lược nước ta, Phan Tõy Nhạc - một danh tướng của Hựng DuệVương (đời Hựng Vương thứ 18) cựng vợ là Hoa Dung cụng chỳa đó chọnHũe Thị, Thị Cấm (xó Xuõn Phương) làm nơi đúng quõn chống quõn xõmlược Vỡ vậy, đến nay, tại đỡnh thụn Hũe Thị và Thị Cấm vẫn cũn thờ PhanTõy Nhạc và Hoa Dung cụng chỳa

Năm 40 sau Cụng nguyờn, Hai Bà Trưng đó lónh đạo nhõn dõn đứnglờn khởi nghĩa chống quõn xõm lược nhà Hỏn Từ vựng Mờ Linh cuộc khởinghĩa của Hai Bà Trưng đó lan tỏa ra khắp nơi, cựng với nhõn dõn Giao Chỉ,

Trang 17

đông đảo nhân dân các vùng trong huyện Từ Liêm cũng hưởng ứng tham giakhởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của các tướng Quách Lãng, Đinh Bạch Nương,Đinh Tĩnh Nương, Tạ Vĩnh Giang, Ả Lã Nàng Đê Vì có công dẹp giặc giữnước, các vị tướng này được nhân dân nhiều xã trong huyện tôn thờ làm thànhhoàng làng Hàng năm, các làng Phú Diễn, Thượng Cát, Đại Cát (Liên Mạc)

đã tổ chức hội thi bơi thuyền để diễn tả cảnh luyện quân thời Hai Bà Trưngchống quân xâm lược nhà Hán

Giữa thế kỷ thứ VI, Lý Nam Đế (Lý Bí) lãnh đạo nhân dân xây thành,đắp lũy trên cửa sông Tô Lịch chống quân nhà Lương sang xâm chiếm nước

ta, nhân dân huyện Từ Liêm đã tham gia tích cực hưởng ứng cuộc khángchiến này

Nửa sau thế kỷ thứ VIII, trong cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lượcnhà Đường do anh em Phùng Hưng (766-779) lãnh đạo, Từ Liêm là nơiPhùng Hưng tập trung, chiêu mộ binh sĩ để tấn công thành Tống Bình (Thủ đô

Hà Nội ngày nay) Các nghĩa quân huyện Từ Liêm đã chiến đấu và anh dũng

hy sinh góp phần đưa cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi hoàn toàn

Năm 980, nhà Tống kéo đại binh sang đánh nước ta Lê Hoàn đã lãnhđạo nhân dân kháng chiến, nhân dân huyện Từ Liêm đã gia nhập nghĩa quâncủa Lê Hoàn chiến đấu chống giặc Tống

Giữa thế kỷ XIII, nhà Trần lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống quânxâm lược Nguyên Mông, nhiều trai tráng Mễ Trì, Liên Mạc đã trực tiếp thamgia cuộc kháng chiến, trong đó có một vị tướng nhà Trần là Đinh Tuấn, người

xã Thượng Cát đã chỉ huy 5 vạn quân chặn đánh giặc và hy sinh ở vùng BạchHạc (Phú Thọ ngày nay)

Cuối năm 1426, hai lần nghĩa quân Lam Sơn đánh trận Cầu Mọc bắtsống tướng nhà Minh là Viên Lượng, đánh bại tướng Sơn Thọ và Mã Kỳ,

Trang 18

Xuân Kỷ Dậu 1789, dưới sự thống lĩnh của vua Quang Trung (NguyễnHuệ), một cánh kỳ binh của đô đốc Đặng Tiến Đông đã ém quân tại NhânMục để sau đó đánh đồn Khương Thượng (Đống Đa) bằng trận rồng lửa.Người hiến kế là một thợ mộc ở Quan Nhân Khi 20 vạn quân Thanh sangxâm chiếm nước ta, vua Quang Trung đem quân ra thành Thăng Long phágiặc, đội quân Tây Sơn tiên phong đã được nhân dân Phùng Khoang (TrungVăn), Mễ Trì che chở, cung cấp lương thảo.

Giữa thế kỷ XIX, hai lần quân Pháp mang quân đánh thành Hà Nội,huyện Từ Liêm là căn cứ chống Pháp của phái chủ chiến và nghĩa quân Bắc

Hà do Hoàng Kế Viêm và Tôn Thất Thuyết chỉ huy Nhân dân vùng Canh Diễn - Chèm - Noi (Minh Khai, Phú Diễn, Thụy Phương, Đông Ngạc, CổNhuế) đã tham gia kháng chiến, lập phòng tuyến sông Nhuệ chặn đường địchtiến lên Sơn Tây, Khi thực dân Pháp đặt ách thống trị ở Bắc Kỳ, quân và dânhuyện Từ Liêm đã liên tiếp nổi dậy chống lại chúng

-Đầu thế kỷ XX, một trào lưu chống thực dân mới dội vào Từ Liêm Mởđầu là phong trào Đông Kinh nghĩa thục, từ trường chính ở phố Hàng Đào,phong trào lan ra Phương Canh (nay là xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm và

xã Vân Canh huyện Hoài Đức), Đông Ngạc, Phú Diễn, Nguyên Xá (MinhKhai), Cổ Nhuế có một số nhà nho yêu nước người Từ Liêm tham giaphong trào như Hoàng Tăng Bí, Phan Tuấn Phong, Phan Trọng Phiên (ĐôngNgạc), Vũ Trác (Phương Canh)

Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền cách mạng tháng 8 -1945,

Từ Liêm trở thành An toàn khu (ATK) của Trung ương Đảng Cộng sản ĐôngDương và xứ ủy Bắc Kỳ ATK đã trở thành nơi ăn, ở, hội họp và lãnh đạocách mạng của các đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng như: Trường Chinh,Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt Từ Liêm có nhiều cơ sở cách mạng,

thậm chí là nơi đặt cơ sở in báo Cờ Giải Phóng và báo Chiến đấu của Ban

Trang 19

Binh vận trung ương (ở Thượng Cỏt, Xuõn Tảo- Xuõn Đỉnh), cơ sở in bỏo

Hồn nước, cơ quan tuyờn truyền của thanh niờn thành Hoàng Diệu (ở Văn Trỡ

- Minh Khai) Thỏng 8/1945, từ chiến khu Việt Bắc vượt sụng Hồng trở về Hà

Nội để chuẩn bị cho ngày đọc bản “Tuyờn ngụn độc lập” khai sinh ra nước

Việt Nam Dõn chủ Cộng hũa, Hồ Chủ Tịch đó đặt chõn lờn đất Phỳ Thượng(Từ Liờm) ngày 25/8/1945 Khi thời cơ đến, nhõn dõn Từ Liờm liờn tiếp nổidậy lật đổ bộ mỏy tay sai của phỏt xớt Nhật, gúp phần khởi nghĩa giành chớnhquyền ở Thủ đụ

Trong khỏng chiến chống Phỏp, Từ Liờm đó cựng cả nước đứng lờnchống Phỏp bằng cỏch giam chõn địch trong thành phố, chiến đấu chặn địch

mở rộng chiếm đúng ra phớa tõy Thủ đụ, xõy dựng, phỏt triển cơ sở khỏngchiến trong lũng địch, diệt tề trừ gian phỏt động chiến tranh du kớch, phối hợpvới toàn quốc phản cụng chiến lược giải phúng Từ Liờm gúp phần giải phúngThủ đụ

Trong khỏng chiến chống Mỹ, nhõn dõn Từ Liờm vừa chiến đấu vừabỏm ruộng, bỏm làng giữ vững sản xuất, đồng thời tớch cực chi viện cho đồngbào miền Nam Sau khi Mỹ buộc phải ký kết Hiệp định Paris và rỳt quõn vềnước, Từ Liờm bước vào khắc phục hậu quả chiến tranh, khụi phục và phỏttriển kinh tế Với truyền thống anh hựng trong chiến đấu chống giặc ngoại

xõm, Từ Liờm đó được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu “Đơn vị Anh hựng lực lượng vũ trang nhõn dõn”.

* Phong tục tập quán

Phong tục tập quán là nét đặc trng văn hóa của cộng đồng, biểu hiệntính cách và trình độ văn minh của cộng đồng đó Điều này đợc thể hiện trongcác hơng ớc làng Hơng ớc là văn bản pháp lý của mỗi làng, trong đó bao gồmcác điều ớc về dân sự, hình sự, các điều ớc về giữ gìn đạo lý, về phong tục tậpquán có liên quan đến tổ chức xã hội cũng nh đến đời sống nhân dân trong

Trang 20

làng Hơng ớc là tấm gơng phản chiếu bộ mặt cũng nh đời sống văn hóa củamỗi làng.

Đối với phong tục tập quán ở huyện Từ Liêm có những nét đặc trngriêng Các lệ tục ở đây từ xa xa rất phong phú và phức tạp Có thể nêu ra trongmột hơng ớc của xã Đại Mỗ để làm ví dụ điển hình:

- Về tang lễ: Xa đợc quy định trong mục 9, tang lễ trong tổng, nếu ngờinào có việc hiếu hoặc hung tang hoặc cát tang, thì mổ bò hoặc mổ lợn bầy 100

đĩa thịt, không kể đầy đặn hay mỡ nạc, 1 mâm xôi khoảng 20 bát to nhỏ gạo,

10 vò rợu, 100 miếng trầu Mức vừa phải, lệ dùng 50 đĩa thịt lợn, 1 mâm xôikhoảng 10 bát gạo, 5 vò rợu, 100 miếng trầu Mức thấp, lệ dùng 30 đĩa thịt, 1mâm xôi mỏng chừng 10 bát, 3 vò rợu, 100 miếng trầu và 1 quan 2 mạch tiền

mà thôi Bốn mực nêu trong lễ trên tùy theo tấm lòng hậu mà đa lại cho đồnggiáp ba nhiêu cũng xin ng thuận Xã Tây Mỗ, nếu có ngời nào có việc hiếu,phải lo sắm sửa 2 con lợn, 2 mâm xôi, 10 vò rợu trị giá khoảng 30 đồng bạc.Sau khi chôn cất xong quay về nhà chủ uống rợu Nếu là nhà nghèo quá thìchỉ cần sắm bện 100 miếng trầu, 3 quan tiền để sung vào hơng lệ Các xã PhúThứ, Ngọc Trục, Vạn Phúc, Mỗ Lao, Phùng Khoang cũng có tục lệ giống nh ởxã Tây Mỗ

Ngày nay, việc tổ chức tang lễ cho ngời quá cố đã trở thành một phongtục tập quán đối với ngời dân nơi đây Khi gia đình ai đó có ngời mất thì chủtang báo cho ngời lãnh đạo cơ sở cấp thôn đợc biết Nếu là ngời cao tuổi thì tr-ởng thôn báo trên loa đài của thôn xã còn nếu là ngời trẻ tuổi thì dân làng tựthông báo cho nhau biết và việc mai táng ngời quá cố đợc bà con xa gần giúp

đỡ đến khi mồ yên mả đẹp Những ngời thân trong gia đình ngời quá cố mặcquần áo tang bằng vải xô trắng, đội khăn tang màu trắng, vàng, đỏ tùy theomối quan hệ của ngời đó với ngời quá cố Lễ đa tang đợc diễn ra với sự chiabuồn của chính quyền thôn, xã, bà con hàng xóm xa gần Mai táng xong thì ai

về nhà nấy chỉ những ngời họ hàng thân thích với ngời quá cố, đội kèn trốngmới kéo về nhà tang chủ ăn cỗ Cỗ đám ma làm rất đơn giản và không khíkhông ồn ào Tiếp đó vào ngày hôm sau gia đình tang chủ làm lễ ba ngày chongời quá cố

- Về cới xin: Xa cũng đợc quy định trong mục 8 của hơng ớc xã Đại

Mỗ Trong tổng, ngời nào có việc cới gả con thì các đồ sính lễ và cỗ bàn ănuống theo giàu nghèo mà lo liệu, không có tục lệ cố định Các xã Phú Thứ,

Trang 21

Phú Đô, Ngọc Trục, Vạn Phúc, Mỗ Lao, Phùng Khoang cũng theo lệ này XãTây Mỗ, nếu nh có ngời nào cới gả, nếu là nhà giàu thì phải mổ, ba bốn conlợn, 3 mâm xôi, trầu cau, rợu làm cỗ ăn uống đầy đủ, trị giá khoảng 60 đồngbạc, sính lễ khoảng 100 đồng bạc Nếu là nhà nghèo thì sắm biện 3 con gà, 3mâm xôi, mấy trăm cau, 3 vò rợu, tất cả đáng giá 7 đồng bạc, sính lễ trị giá 20

đồng bạc

Ngày nay, lễ cới của ngời dân nơi đây cũng rất phức tạp với nhiều tục lệ

nh có tục lệ làm lễ ăn hỏi nhà trai rớc lễ gồm trầu cau, bánh kẹo, thuốc lá (số lợng tùy theo từng gia đình) sang nhà gái xin dạm hỏi cô gái về làm dâu.Sau đó hai bên gia đình cùng bàn bạc ngày lễ cới Ngày cới đợc tổ chức tngbừng với sự chia vui của ngời dân với đôi bạn trẻ Cỗ cới không mở quá rộng

và không quá lãng phí Sau lễ cới cô dâu chú rể tự tay mời trầu bà con đến dự

lễ cới

- Về tục lệ ngời già: xã Đại Mỗ trong tổng nếu nh có ngời trên 50 tuổi,hàng năm đến ngày mồng 1 tháng Giêng sắm sửa 40 miếng trầu, 1 chai rợu

đem đến đình sở làm lễ yết thần kính dân, rồi mới đợc dự vào lễ hội lão

Xã Tây Mỗ nếu nh có ngời nào đến 50 tuổi, phải sắm biện 1 con lợn, 1mâm xôi, 1chai rợu, 100 miếng trầu đem đến đình sở làm lễ yết thần, trìnhbáo cho dân làng cùng biết, rồi mới đợc dự vào hàng hơng lão Ba xã Phú Thứ,Phú Đô, Ngọc Trục cũng có tục lệ này giống nh ở xã Tây Mỗ Xã Vạn Phúcnếu nh có ngời nào đến 50 tuổi đợc vào hàng hơng lão thì phải nộp 3 mạchtiền, đến lúc 60 tuổi, 70 tuổi, 80 tuổi thì phải sắm biện 1 con lợn, mâm xôimang đến đình sở làm lễ yết thần kính dân

Quy ớc ngày nay là những điều ớc của một tập thể dân c sống trong mộtkhu vực Khu vực này có thể có một làng cổ truyền, có thể là một làng mới đ-

ợc hình thành, có thể là khối phố, một xóm từ xã cũ mới tách ra Trong đóbao gồm các điều ớc về văn hóa xã hội, về trật tự an ninh, về vệ sinh môi tr-ờng, về cới hỏi, việc tang ma và lễ hội, về bảo vệ sản xuất và hoa màu, về xâydựng gia đình văn hóa để xây dựng làng văn hóa khu dân c, xóm văn hóa Đócũng là những luật tục mới hình thành sẽ tồn tại song song với luật pháp củanhà nớc

* Tôn giáo tín ngỡng

- Tôn giáo

Trang 22

Phật giáo: Phật giáo ảnh hởng sâu đậm trong đời sống của ngời dân nơi

đây Sự sùng đạo Phật thể hiện là cả huyện có rất nhiều những ngôi chùa, hầuhết ở các làng, xã trong huyện đều có những ngôi chùa thờ Phật nh: ChùaPhùng, chùa Đông Ngạc, chùa Chèm, chùa La Cả, chùa Đại Mỗ, chùa TâyMỗ Nhân dân đi lễ Phật rất đông và thờng xuyên không chỉ vào ngày rằm,mồng một, ngày lễ tết mà vào bất cứ ngày nào Vào buổi tối cuối tuần dânlàng, đặc biệt là các cụ già tập trung tại các chùa đọc kinh, niệm Phật và thờngxuyên tổ chức các chuyến đi sang các địa điểm chùa ở các xã, huyện, tỉnhkhác để tham quan, thắp hơng dâng phật

Nho giáo: Huyện Từ Liêm có nhiều văn chỉ, từ chỉ thờ các nhân vật đỗ

đạt cao qua con đờng thi cử của nho giáo làm quan cho triều đình phong kiếnnh: Văn chỉ La Cả, Văn chỉ Đại Mỗ và các nhân vật này cũng đợc phối thờtrong các đền, miếu hoặc nhà thờ trong các nhà thờ dòng họ nh: Nhà thờNguyễn Quý, nhà thờ họ Đỗ, nhà thờ họ Phạm ảnh hởng của nho giáo trong

đời sống hàng ngày của ngời dân không nhỏ ở đạo làm con phải hiếu thảo vớicha mẹ, làm thầy phải gơng mẫu, làm trò phải tiên học lễ hậu học văn, tôn strọng đạo

Đạo giáo: Đạo giáo cũng ăn sâu vào đời sống của ngời dân nơi đây từbao đời nay từ việc ma chay cới hỏi, xem tớng số, bùa chú ma thuật, yểm triệt

ma quỷ Tuy nhiên trong huyện cũng không có nhiều quán đạo thờ riêng cácnhân vật đạo giáo

- Tín ngỡng: Cũng nh bao huyện ngoại thành khác của Thành phố HàNội, ngời dân nơi đây trớc hết theo tín ngỡng thờ cúng tổ tiên Gia đình nàocũng có bàn thờ cúng tổ tiên, con cái thờ cúng cha mẹ, ông bà và cứ thế đờinày qua đời khác Tín ngỡng thờ thành hoàng làng là nét đặc trng của cộng

đồng c dân nơi đây nh: Đình Đông Ngạc thờ Lý Ông Trọng, đình La Cả thờ

Đơng Cảnh Công , tín ngỡng thờ Mẫu cũng rất phát triển Các điện thờ Mẫuquy mô nhỏ đợc xây dựng nhiều nh điện thờ Mẫu trong các chùa ở các làngtrong các xã của huyện và các điện thờ Mẫu t gia khác

Nói chung, hoạt động văn hóa tín ngỡng của ngời dân huyện Từ Liêm

xa cũng nh ngày nay thể hiện rất rõ truyền thống đạo lý sống cao đẹp của dântộc Việt Nam ta đoàn kết nhân ái, luôn ghi nhớ tôn vinh những ngời có côngvới nớc với xóm làng, quê hơng

Trang 23

* Di tÝch vµ lÔ héi

Huyện Từ Liêm là nơi có hệ thống di tích lịch sử văn hóa phong phú(195 di tích), trong đó có 92 di tích được Bộ Văn hóa xếp hạng như: đìnhChèm (Thụy Phương), đình Đông Ngạc, đình Đại Cát (Liên Mạc), các đìnhThượng Cát, Đông Ba (Thượng Cát), đình Miêu Nha (Tây Mỗ); các chùaThanh Lâm (Minh Khai), Tu Hoàng, Thị Cấm, Hòe Thị (Xuân Phương),Thánh Quang (Liên Mạc); Miếu Nguyên Xá và cụm di tích nhà thờ họNguyễn Quý (Đại Mỗ)

Các di tích lịch sử văn hóa ở huyện Từ Liêm gắn liền với các tục thờcác danh nhân, những người có công với đất nước, các vị thánh nhân, tổ nghề,phúc thần, nhiên thần của cư dân trong vùng như đình Hòe Thị, Thị Cấm (xãXuân Phương) thờ tướng Phan Tây Nhạc thời Hùng Vương thứ 18, đìnhChèm thờ Lý Ông Trọng (cùng vợ và 6 người con), người đã có công giúpvua Tần dẹp quân Hung Nô, các đình làng Ngà (xã Tây Mỗ), đình Tu Hoàng(xã Xuân Phương), đình Phú Mỹ (xã Mỹ Đình) thờ vua Lý Bí, các đìnhThượng Cát (xã Thượng Cát), Đại Cát (xã Liên Mạc), đình làng Tây Mỗ (xãTây Mỗ) thờ các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng là Đinh Bạch Nương, ĐinhTĩnh Nương và Ả Lã Nàng Đê, những người đã đứng ra chiêu mộ quân ởvùng Từ Liêm nổi dậy khởi nghĩa, cụm di tích xã Đại Mỗ bao gồm Lạc thọđình, miếu vườn chùa, miếu nhà Cảnh, nhà thờ họ thờ các danh nhân quêhương là Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Ân, Nguyễn Quý Kính ; đình HòeThị, Thị Cấm (xã Xuân Phương) thờ bà tổ nghề dệt Hoa Dung công chúa, đềnPhú Thứ (xã Tây Mỗ) thờ bà tổ nghề thiếc Hồng Đồng Bạch Tính TiênThánh ; miếu Vũ (Xuân Đỉnh) thờ các vị phúc thần: Vũ Phục và PhươngDung (ông Dầu, bà Dầu), đình Vẽ thờ Phan Phu Tiên ; đình Tây Tựu thờBạch Hạc Tam Giang, đình Liên Ngạc thờ Hải Độc Long Vương là các vịnhiên thần

Trang 24

Cỏc đỡnh, chựa ở huyện Từ Liờm khụng chỉ cú giỏ trị về mặt kiến trỳc

mà cũn cú giỏ trị về nghệ thuật vỡ cú những cổ vật quý như cỏc tranh vẽ thời

Lờ ở đỡnh Đụng Ngạc (xó Đụng Ngạc), bức hoành phi của thống đốc Hoàng

Kế Viờm tặng ở đỡnh Hũe Thị (xó Xuõn Phương), quả chuụng khắc di chỳc cúgiỏ trị nghiờn cứu xó hội thời Trần của cụng chỳa Tỳc Trịnh con vua TrầnThỏnh Tụng (thế kỷ XVIII) ở chựa Thỏnh Quang (xó Liờn Mạc), một số cổvật đặc sắc thời Tõy Sơn ở chựa Linh Ứng, Hương Đỗ (xó Xuõn Phương),Thanh Lõm (xó Minh Khai)

Truyền thống sinh hoạt văn húa dõn gian lõu đời của người dõn TừLiêm gắn liền với một số lễ hội tiêu biểu của các làng quê vùng đồng bằngBắc Bộ:

“Bơi đăm, rớc Giá, hội Thầy

Vui thì vui vậy, chẳng tày giã La”

Từ Liêm có tới hơn 50 lễ hội lớn với nội dung, hình thức phong phú.Tiêu biểu là các lễ hội nh hội bơi Đăm, hội thề Đồng Cổ (xã Minh Khai), hội

Kẻ (làng Thợng Cát, xã Liên Mạc) diễn lại cách luyện quân đánh giặc hồikhởi nghĩa Hai Bà Trng, hội thổi cơm thi Thị Cấm, hội cờ ngời Hòe Thị, hộivật Mễ Trì, hội thả chữ Đông Ngạc, hội 5 làng Mọc, hội Chèm, hội Cổ Nhuế,hội làng Yên Hòa, hội làng Vẽ, Nhật Tân Từ xa xa, giống nh các làng quêkhác ở đồng bằng Bắc Bộ, hàng năm các làng ở Từ Liêm vẫn tổ chức lễ hội đểtởng nhớ và tỏ lòng biết ơn các vị thần thành hoàng làng có công với quê h-

ơng, đất nớc, để giáo dục con cháu truyền thống “Uống nớc nhớ nguồn”, cầumong cho dân làng luôn có cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc Trong lễ hội th-ờng có các trò chơi, múa hát dân gian nh thả chim, đánh cờ ngời, đấu vật, chọi

gà, hát tuồng, chèo đó không chỉ là những trò vui chơi giải trí mà còn thểhiện đời sống văn hóa phong phú, tinh thần thợng võ, trí thông minh, sáng tạo

sự tài hoa, khéo léo của ngời dân Từ Liêm Cùng với hệ thống di tích lịch sửvăn hóa, lễ hội, những sinh hoạt văn hóa dân gian của Từ Liêm thể hiện đờisống tín ngỡng phong phú, vốn văn hóa truyền thống giàu bản sắc của nhândân Từ Liêm

* Làng nghề và văn hóa ẩm thực

Trang 25

Từ Liêm xa và nay luôn là vùng đất gắn bó chặt chẽ với Thăng Long

-Hà Nội Bên cạnh c dân bản địa, còn có c dân từ khắp các địa phơng, quanhiều thời đại đến làm ăn sinh sống, đùm bọc lẫn nhau Là địa bàn tiếp giápvới kinh kỳ, trải qua hàng ngàn năm lao động với bàn tay khéo léo và sáng tạongời dân Từ Liêm đã làm nên những sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp nổi tiếng Về nghề thủ công truyền thống nh: thêu, ren ở Miêu Nha(Tây Mỗ), Đại Mỗ; làng Vẽ (xã Đông Ngạc), làng Dộc Cơ (Ngọc Trục) thạonghề hàng nan với các sản phẩm: chẻ quang song, đan mũ nan, quạt lá đề, đĩamây; nghề làm liềm seo giấy ở làng Cáo (Xuân Đỉnh), nghề làm bún ở Phú Đô(Mễ Trì), nghề rèn sắt ở Xuân Phơng, nghề đan bồ ở Ngọc Trục (Đại Mỗ),nghề ép dầu ở Đông Ba (Thợng Cát), nghề làm thừng (Trung Văn), nghề làm

đậu phụ ở Đại Cát (Liên Mạc), nghề tráng gơng, làm vàng bạc và đồ trang sức

ở các làng Thị Cấm, Ngọc Mạch (Xuân Phơng) với nhiều sản phẩm kỹ nghệcao nh: giấy Cót, quạt Vẽ, lĩnh Bởi, lụa Mỗ nổi tiếng khắp trong nớc Nghềmay ở Cổ Nhuế mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX nhng đã phát triển nhanh trởthành một làng chuyên may quần áo cho quân đội và hiện nay may hàng tiêudùng trong nớc và phục vụ xuất khẩu

Về văn hóa ẩm thực, ngời dân Từ Liêm đã khéo léo chế biến đợc nhữngmón ăn nổi tiếng nh cốm Vòng (làng Vòng nay thuộc quận Cầu Giấy), giòChèm, nem Vẽ (Đông Ngạc, Thụy Phơng), bánh đúc làng Kẻ (Thợng Cát),bánh tẻ làng Diễn (Minh Khai), bánh mứt kẹo (Xuân Đỉnh)

Từ Liêm là đất khoa bảng, đất lắm nghề, đất có nhiều di tích lịch sử vănhóa, kiến trúc tạo hình, gắn liền với những danh nhân quê hơng Với truyềnthống lịch sử văn hóa lâu đời nhân dân Từ Liêm đã sở hữu những di sản tinhthần vô giá đợc gìn giữ và phát huy qua các thế hệ, những di sản văn hóa đó

đã có những tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến thế hệ trẻ của Từ Liêm hômnay vững bớc đi lên trên con đờng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc

1.2 Tổng quan về di tích lịch sử văn hoá huyện Từ Liêm

1.2.1 Về loại hình di tích

Những thống kê bớc đầu hiện nay cho biết toàn huyện Từ Liêm có 195

di tích lịch sử văn hóa trong đó bao gồm các di tích đã đợc nhà nớc, thành phố

ra quyết định xếp hạng Căn cứ vào quy định phân loại di tích lịch sử văn hóa

đã đợc nêu ra trong Luật Di sản văn hóa Di tích lịch sử văn hóa đợc phân chia

Trang 26

làm 04 loại hình: Loại hình di tích văn hóa khảo cổ, loại hình di tích lịch sử,loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình di tích danh lam thắng cảnh.

Đối chiếu với quy định phân loại trong Luật Di sản văn hóa trong 195 di tíchcủa huyện Từ Liêm chủ yếu tập trung vào 03 loại hình di tích:

* Loại hình di tích văn hóa khảo cổ: Năm 1978, Bảo tàng lịch sử Việt

Nam phối hợp với Viện Khảo cổ học và Sở Văn hóa thông tin Hà Nội (nay là

Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội) đã khai quật di chỉ khảo cổ học thônNgọa Long (Minh Khai, huyện Từ Liêm) cho thấy di chỉ này thuộc giai đoạnmuộn của văn hóa Phùng Nguyên - đầu thời đại đồng thau, cách ngày naykhoảng 4.000 - 3.500 năm trớc công nguyên Kết quả khai quật đã thu đợc 63hiện vật đồ đá và 9.085 mảnh gốm

Qua hiện vật, ta có thể thấy di chỉ này có nhiều nét gần gũi với di chỉVăn Điển và chùa Gio của Hà Nội Theo tiến trình phát triển của lịch sử ViệtNam, giai đoạn này chính là cội nguồn để tạo thành nền văn minh sông Hồngsau này

Ngoài ra, ở phía tây bắc Hà Nội, các khu vực cầu Giếng, Thụy Phơng,

Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh, Vẽ đã tìm thấy khá nhiều ngôi mộ gạch Dựa vào các tàiliệu khai quật và điều tra khảo cổ học, chúng ta biết rằng, những ngôi mộ cổnằm trong khu vực này có niên đại vào thời Hán đến thời Đờng (thế kỷ I đến

VI SCN), chứng tỏ khu vực này là một vùng có lịch sử phát triển quan trọngtrong thời Bắc thuộc của thủ đô Hà Nội Tháng 4/1976 trong khi đào hào đểphục vụ xây dựng công trình ở Nam Thăng Long thuộc địa phận xã ĐôngNgạc, huyện Từ Liêm đã phát hiện một ngôi mộ Hán khá lớn có quy mô dài4,5m, rộng 1,2m, cao 1,15m Tại thôn Đình Quán, xã Phú Minh của huyện đãphát hiện đợc một ngôi mộ, quách một là một khung gỗ dài 3,40m, rộng 0,8m.Tại địa điểm làng Cót, xã Yên Hòa (nay là phờng Yên Hòa, quận Cầu Giấy)

đã phát hiện một ngôi mộ cổ hình thuyền nằm theo hớng tây bắc - đông nam.Năm 1976 tại địa phận xóm Đông nằm dọc trong đê sông Hồng, trong khinhân dân đào ao phát hiện ở độ sâu từ 0,9m đến 1,2m có một hàng gạch chạytheo hớng bắc nam Trong vách ao còn xuất lộ 4 lớp gạch vữa Vị trí này cách

đê 500m Niên đại di tích khoảng thời Lý

Tại địa điểm thôn Nhân Mỹ - Mỹ Đình đã phát hiện đợc một số di chỉkhảo cổ học nh: 1 chiếc vò gốm trên thân đợc trang trí hoa văn in ô vuôngnhỏ, sắc cạnh Gốm màu xám, xơng cứng thờng đợc gọi là gốm Hán, 10 đồng

Trang 27

Ngũ Thù, Hóa Tuyền, một sanh đồng, một trống, chậu đồng Tháng 10/2007,Bảo tàng lịch sử Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa thông tin Hà Nội và Vănphòng Ban chỉ đạo Quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội tiếnhành giám sát và khai quật di tích miếu Đồng Cổ thờ thần trống đồng (thônNguyên Xá, xã Minh Khai)

Qua những di tích khảo cổ học và những di tích lịch sử văn hóa đợcphát hiện ở huyện Từ Liêm đã chứng minh rằng, ngay từ buổi đầu dựng nớc,

c dân trên vùng đất này đã cùng nhau chung sức khai khẩn đất hoang, chốngchọi với thiên tai địch họa để lập nên những xóm làng trù phú

di tích lu niệm Bác Hồ ở Kiều Mai đợc thành lập, phân công ngời trông coibảo vệ Công trình thủy lợi Chèm, xã Thụy Phơng, nơi Bác Hồ đến thăm vàquan tâm đến phát triển hệ thống thủy lợi - điều kiện cần thiết cho phát triểnnông nghiệp và động viên bà con nông dân tích cực làm hệ thống thủy lợi đểphục vụ cho phát triển cây lúa Đình Mễ Trì Hạ - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh

đến thăm (thôn Mễ Trì Hạ, xã Mễ Trì) Ngày 12 tháng 1 năm 1958, khi vàothăm đình, Bác đã dịch và cắt nghĩa hoành phi câu đối cho cán bộ các xãngoại thành đến họp về việc chống hạn nghe Bác xem xét và căn dặn các cụphụ lão và cán bộ cần bảo quản ngôi đình quý giá Chủ tịch Hồ Chí Minh vềthăm Nhà máy bê tông đúc sẵn (nay là Công ty bê tông xây dựng Hà Nội - xã

Đông Ngạc) Sáng mồng 1 tết năm Nhâm Dần tức ngày 05 tháng 2 năm 1962,Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và chúc tết công nhân nhà máy bê tông đúcsẵn Để ghi nhớ chuyến thăm của Bác Hồ, Đảng ủy, Ban giám đốc và công

đoàn Công ty Bê tông xây dựng Hà Nội đã xây dựng đài lu niệm Bác Hồ trongkhuôn viên sân của nhà máy Trên bia lu niệm có ghi lời của Bác

- Các di tích lịch sử cách mạng: có 30 di tích lịch sử cách mạng khángchiến, các di tích tiêu biểu trong loại di tích này gồm có: Cây đa đình Hòe Thị

Trang 28

- nơi tổ chức Nông Hội Đỏ treo cờ búa liềm của Đảng ngày 01/5/1930 (xãXuân Phơng) Nhân dịp kỷ niệm ngày quốc tế Lao động mồng 01/5/1930 cácHội viên Nông Hội Đỏ ở Phơng Canh đã treo cờ đỏ búa liềm ở cây đa đầulàng Hoè Thị và Ngã T Canh, đây là một địa chỉ đỏ của phong trào cách mạngngoại thành Hà Nội, là minh chứng sinh động của phong trào đấu tranh nhữngnăm đầu sau khi thành lập Đảng bộ Hà Nội (1930 - 1935) Nhà mẹ Vũ ThịBảy - cơ sở in báo “Hồn Nớc”, ba ngời con của mẹ đã hy sinh cho cách mạng

ở xã Minh Khai; nhà bà Trần Thị Sáu - cơ sở an toàn khu Trung ơng năm 1939

- 1945 (thôn Hoàng Liên, xã Liên Mạc) đã đợc UBND thành phố gắn biển là

di tích cách mạng kháng chiến Đền Hoàng cơ sở liên lạc an toàn khu trung

-ơng năm 1941 - 1945 (thôn Hoàng Xá, xã Liên Mạc) Cây đa làng Giàn (xãXuân Đỉnh) - hộp th và địa điểm liên lạc bí mật của đồng chí Trờng Chinh,Hoàng Văn Thụ từ năm 1941 - 1945 Nhà ông Nguyễn Văn Thận - cơ sở cáchmạng năm 1941 - 1945 (xã Thụy Phơng) đã từng là địa chỉ đỏ là cơ sở liên lạctin cậy của các cán bộ cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa Di tích đã đợc gắnbiển là di tích cách mạng kháng chiến T gia cụ Đàm Thị Nghiêm xã ThợngCát là cơ sở in báo cờ giải phóng của trung ơng Đảng và xứ ủy Bắc kỳ năm

1942 - 1943 Đình Xuân Tảo (thôn Trung, xã Xuân Đỉnh) - cơ sở cách mạngcủa Đảng thời kỳ chống Pháp Di tích pháo đài Xuân Tảo (xã Xuân Đỉnh) làtrận địa pháo nổ súng vào các cơ sở Thực dân Pháp đêm 19/12/1946 Trận địatên lửa Chèm (xã Thụy Phơng) đã có nhiều thành tích trong thời kỳ chống Mỹcứu nớc, bắn rơi tổng cộng 21 máy bay Mỹ, trận địa đã đợc nhà nớc xếp hạng

là di tích lịch sử

* Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật, có thể nhận thấy đây là loại

hình chiếm số lợng lớn 185/195 di tích Trong đó bao gồm các loại di tích cụthể nh:

+ Đình: Có 43/195 di tích, trong đó có những đình tiêu biểu nh đình

Tây Mỗ thờ Đông Hải đại vơng phối thờ ả Lã Nàng Đê, phong cách nghệthuật thế kỷ XIX Đình Giàn thuộc thôn Cáo Đỉnh, xã Xuân Đỉnh thờ vị thầnthành hoàng làng là Lý Phục Man, đây là ngôi đình cổ có niên đại cuối thế kỷXVIII đầu thế kỷ XIX, đặc biệt ở đây còn lu giữ đợc 28 đạo sắc phong của cáctriều đại Lê Trung Hng, Tây Sơn và triều Nguyễn Đình làng Đăm xã Tây Tựu

đợc xây dựng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là nơi thờ thành hoàng làng

Trang 29

là thánh Bạch Hạc Tam giang Đình nổi tiếng với lễ hội bơi chải trên sôngNhuệ.

Đình Phú Đô, đình Đại Mỗ, đình Đông Ngạc, đình Yên Nội, đình ợng Cát thờ vị thần là Quách Lãng, Đinh Bạch Nơng và Đinh Tĩnh Nơng

Th-Đình có niên đại thế kỷ XIX Th-Đình Thợng Cát nổi tiếng với các trò chạy quân

và hội đua thuyền Đình Cổ Nhuế có niên đại xây dựng từ thời vua Lê CảnhHng (1745) để thờ thành hoàng Hoàng tử Đông Chính Vơng và phối thờ côngchúa Tả Minh Hiếu Ngoài ra, còn có nhiều ngôi đình khác có giá trị kiến trúcnghệ thuật nh: Đình Nhật Tảo, đình Đại Cát, đình Ngọc Trục

+ Chùa: Cùng với kiến trúc đình làng, huyện Từ Liêm còn có 48/195 di

tích chùa Trong đó có những ngôi chùa tiêu biểu đã đợc xếp hạng: ChùaNgọa Long, xã Minh Khai; chùa có niên đại khởi dựng khá sớm vào nhữngnăm 1973, 1893 đã đợc trùng tu lớn Trong chùa có nhiều pho tợng cổ có giátrị đặc biệt có 04 pho tợng Phật bằng đá phong cách niên đại thời Nguyễn

Đây là những tác phẩm điêu khắc hiếm thấy trong hệ thống tợng Phật của thủ

đô Chùa Phúc Khánh, thôn Nhật Tảo, xã Đông Ngạc; chùa Đại Cát, thôn ĐạiCát, xã Liên Mạc; chùa Thợng Cát, thôn Thợng Cát, xã Thợng Cát; chùa ĐìnhQuán, thôn Đình Quán, xã Phú Diễn

Chùa thôn Cổ Nhuế, xã Cổ Nhuế - chùa đợc xây dựng lại vào thời CảnhHng (1740 - 1786), trong chùa có 54 pho tợng Phật, 2 quả chuông đồng đúcniên hiệu vua Thành Thái (1892) và năm Duy Tân (1914) với nhiều đồ sứ cógiá trị

Chùa Hòe Thị, xã Xuân Phơng có phong cách kiến trúc vào thời Lê, đặcbiệt là hệ thống tợng Phật rất có giá trị: Bộ tợng Tam thế, tợng Adidà, tợngQuán Âm với 12 đôi tay, đặc biệt có đôi tay mọc vơn quá đầu, một hình tợnghiếm thấy ở tợng Quán Âm các ngôi chùa khác, với giá trị kiến trúc và nghệthuật, chùa đã đợc Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng cùng với quần thể kiếntrúc đình làng Hòe Thị Chùa Yên Nội, xã Liên Mạc - chùa thờ Phật và phốithờ công chúa Túc Chính - vì đã có công vâng lệnh vua cha ra ngoài thànhThăng Long tổ chức khai hoang, lập ra làng Cổ Nhuế Viên, làng Yên Nội vàlàng Bần (Đông Anh) Chùa Yên Nội đã đợc Bộ Văn hóa Thông tin (nay là BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa năm 1992

Trang 30

+ Đền thờ: Toàn huyện có 14 kiến trúc đền trong tổng 195 DTLSVH,

trong đó có những ngôi đền tiêu biểu đã đợc xếp hạng nh: Đền Sóc, thôn Đôngxã Xuân Đỉnh; đền Ngọc Trục, thôn Ngọc Trục, xã Đại Mỗ; đền Bà Chúa,thôn Yên Nội, xã Liên Mạc; đền Bà Chúa thôn Viên, xã Cổ Nhuế; đền Amthôn Tây Mỗ, xã Tây Mỗ Đền Thợng Cát, thôn Thợng Cát xã Thợng Cát; đềnSòng Sơn, thôn Phú Thứ xã Tây Mỗ; đền Đông Ba, thôn Đông Ba xã ThợngCát

+ Văn chỉ: Toàn huyện có 06 văn chỉ kể cả những văn chỉ đã đợc xếp

hạng và cha xếp hạng Trong đó, bao gồm: Văn chỉ thôn Nhật Tảo, xã ĐôngNgạc; văn chỉ Từ Vũ thôn Mễ Trì Thợng xã Mễ Trì, văn chỉ làng Tây Mỗ,làng Phú Thứ Văn chỉ làng Miêu Nha xã Tây Mỗ, văn chỉ thôn Phúc Lý xãMinh Khai

+ Nhà thờ họ: Toàn huyện có 52/195 nhà thờ họ trong đó có 5 nhà thờ

họ đã đợc nhà nớc xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố tiêu biểu

nh nhà thờ và mộ Thái y Nguyễn Hữu Đạo, nhà thờ và mộ Danh y Nguyễn

Đạo An Trờng hợp hai di tích này có thể xếp vào dạng các công trình tởngniệm danh nhân Tuy nhiên, các dòng họ Nguyễn ở đây đã sử dụng công trìnhtởng niệm danh y với chức năng là nhà thờ họ khác nh nhà thờ họ NguyễnCông ở thôn Nhang, xã Xuân Đỉnh, nhà thờ họ Nguyễn Hữu thôn Trung xãTây Tựu

Ngoài ra, trong danh mục các di tích lịch sử văn hóa cha đợc xếp hạng,nhà thờ họ đã có số lợng 47/92 di tích Trong đó, xã Cổ Nhuế có 10 nhà thờhọ

+ Miếu: Toàn huyện có 20 miếu thờ trong đó tiêu biểu có miếu thôn

Ngọc Trục xã Đại Mỗ; miếu Ông Trạng, miếu nhà Cảnh, thôn Phú Thứ, xã

Đại Mỗ; miếu vờn Chùa, thôn Đình Xá, Đại Mỗ; miếu Miêu Nha, thôn MiêuNha, xã Tây Mỗ; Thái y miếu, thôn Phú Diễn thờ Danh y Nguyễn Đạo An - làthầy thuốc chữa mắt rất nổi tiếng đã đợc vời vào phủ chúa để khám chữa bệnhcho thế tử chúa Trịnh Tạc Sau khi chữa mắt cho thế tử thành công, ông đợcmời ở lại để dạy học cho con vua Lê và con chúa Trịnh, vừa có nhiệm vụ trôngcoi Thái y viện Khi thái tử lên ngôi là Lê Huyền Tông, hiệu Cảnh Trị,Nguyễn Đạo An đợc phong chức Công bộ Thợng th, Quốc s Phái quận công.Khi về già ông xin về trí sĩ tại quê nhà, vẫn tiếp tục bốc thuốc chữa bệnh chodân không lấy tiền Triều đình vẫn thờng xuyên cho ngời đón ông ra kinh đô

Trang 31

để bắt mạch, xem bệnh, bốc thuốc cho các hoàng thân, công chúa, thế tử tronghoàng cung Khi Nguyễn Đạo An ốm sắp mất, chúa Trịnh Tạc đã về thăm, khi

ông mất, triều đình đã cho xây dựng miếu thờ ở làng Phú Diễn và cho phép họNguyễn đợc đặc cách thu thuế trong làng để hơng khói phụng thờ, hàng năm

cử các quan về tế lễ trong ngày kỵ húy 26 tháng Giêng

+ Nhà thờ đạo Thiên chúa

- Hiện nay ở huyện Từ Liêm cha có nhà thờ nào đợc nhà nớc xếp hạng

di tích cấp thành phố và cấp quốc gia Tuy nhiên có thể trong tơng lai, nhữngnhà thờ công giáo có giá trị kiến trúc, nghệ thuật cũng sẽ đợc nhà nớc xếphạng Với số lợng hiện nay, toàn huyện có 5000 giáo dân, chia làm 2 xứ đạo,

9 họ đạo Tiêu biểu phải kể tới nhà thờ Phùng Khoang, xây dựng từ 1905

-1910 thì hoàn thành Nhà thờ xây dựng theo kiến trúc Gôtích, nhng có các hoavăn trang trí mà chúng ta thờng gặp trong các công trình kiến trúc cổ truyền

nh hoa văn trang trí lá lật, hoa bèo, hoa cúc Trong nhà thờ bên tờng có 4 tợngthánh Giuse, Phao Lo, Phê Rô Gio An Sân nhà thờ có núi đá, tợng đức mẹMaria, dãy nhà tám mái, nhà xứ Nhà thờ thôn Viên Xá, xã Cổ Nhuế đợc xâydựng theo kiểu Gôtích, gác chuông cao vút, phía trong nhà thờ có 14 tợng phù

điêu tròn biểu tợng cho 14 nỗi thơng khó của các vị thánh đã cùng chúa từngtrải Ngoài ra, còn các nhà thờ công giáo khác nh: nhà thờ thôn Đống (xâydựng năm 1881), nhà thờ thôn Viên (năm 1883), nhà thờ thôn Trù (năm1886), nhà thờ Tây Tựu (năm 1886), nhà thờ Ngọa Long (năm 1886), nhà thờthôn Hoàng (năm 1887), nhà thờ thôn Xuân Tảo (năm 1892), nhà thờ MiêuNha (năm 1911) Hiện nay chỉ đạo chung của ngành cần quan tâm đến các ditích lịch sử cách mạng kháng chiến, nhà thờ dòng họ, nhà thờ đạo công giáo,nếu xét thấy có giá trị kiến trúc, nghệ thuật thì nhà nớc cần quan tâm xếphạng

Gắn với các di tích đặc biệt là các di tích kiến trúc nghệ thuật là cơ sởtôn giáo tín ngỡng, là hoạt động lễ hội đợc lu truyền từ xa xa và tồn tại tớingày nay Những thống kê bớc đầu cho biết, huyện Từ Liêm hiện nay có 48 lễhội đợc tổ chức hàng năm, mà chủ yếu là các lễ hội diễn ra tập trung vào mùaxuân và mùa thu Lễ hội của các địa phơng trên địa bàn huyện vẫn lu giữ đợcnhững phong tục cổ truyền, tuy nhiên trên thực tế luôn có sự sàng lọc và sángtạo trong một số nghi lễ cho phù hợp với điều kiện xã hội hiện nay Có lễ hội 3năm, 5 năm mới tổ chức lễ hội chính một lần Hội thờ Đồng Cổ (Minh Khai)

Trang 32

ngày 04 tháng 4, hội giao hiếu Phú Mỹ, Kiều Mai 7/1 và 10/2 Đặc biệt có lễhội truyền thống làng Đăm, Tây Tựu và lễ hội đình Thợng Cát (xã Thợng Cát)mang tập tính văn hóa, thể thao và tinh thần thợng võ gắn với việc luyện tậpsức khỏe đua thuyền trên sông Hội đình Chèm xa cũng có thi bơi chải:

“Ba dân mở hội tháng Năm Mời hai hạ chải, hôm Rằm thi bơi”.

Ba dân là ba làng: Làng Chèm (anh cả), làng Hoàng Xá (anh hai), làngMạc (anh ba) Trong những năm trớc đây, do điều kiện lịch sử, kinh tế xã hội,nhiều lễ hội truyền thống có nguy cơ bị mất dần, trong những năm gần đây,với chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc ta về bảo tồn và phát huy giátrị văn hóa phi vật thể trong cộng đồng c dân, nhiều lễ hội đã đợc phục hồi vàphát triển Trên thực tế, di tích và lễ hội diễn ra ở các di tích lịch sử văn hóaluôn là một thực thể không tách rời, vì vậy quản lý hoạt động bảo tồn di tíchlịch sử văn hóa cũng là một hoạt động quan trọng trong việc bảo tồn khônggian thiêng, nơi diễn ra lễ hội hàng năm, nơi thờ các vị thần linh đợc cộng

đồng c dân địa phơng tởng niệm trong lễ hội

- Ngoài ra, tại xã Cổ Nhuế còn có một Thái y miếu rất đáng quan tâm,nơi đây thờ Thái y nguyễn Hữu Đạo, ngời đã dành trọn đời cho y học, cụ đã

viết cuốn sách “Gia th hợp lý”, cuốn sách ghi lại các bài thuốc hay để truyền

lại cho con cháu làm thuốc gia truyền Với giá trị và ý nghĩa to lớn đợc bồi

đắp theo thời gian và không gian, Thái y miếu đã đợc Bộ Văn hóa Thông tin

ra quyết định xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa vào tháng 3 năm 1994

1.2.2 Tình hình xếp hạng di tích lịch sử văn hoá ở huyện Từ Liêm

Điều 29 Luật Di sản văn hóa quy định; Căn cứ vào giá trị lịch sử, vănhóa, khoa học, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi là ditích) đợc chia thành:

- Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phơng

- Di tích cấp quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia

- Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểucủa quốc gia [49]

Căn cứ vào quy định này: Các di tích lịch sử văn hóa của huyện TừLiêm hiện nay đợc chia làm 03 nhóm:

Trang 33

+ Nhóm các di tích đã đợc xếp hạng, trong đó có các di tích đợc xếphạng cấp quốc gia và các di tích xếp hạng cấp thành phố Trong số 102 di tích

đã đợc xếp hạng trong đó có 9 di tích đợc xếp hạng cấp thành phố và 93 ditích đợc Bộ Văn hóa ra quyết định xếp hạng Thông qua danh mục các di tích

đã đợc xếp hạng, để xác định giá trị và tình trạng bảo quản của từng di tích

+ Nhóm các di tích cha đợc nhà nớc ra quyết định xếp hạng tổng số có

92 di tích, trong số 92 di tích này đã có đến 45 di tích là các nhà thờ dònghọ

+ Nhóm các di tích đang đề nghị thành phố ra quyết định xếp hạng nằmtrong chơng trình đề nghị vào năm 2009 - 2010, bao gồm: 09 di tích lịch sửcách mạng kháng chiến và lu niệm danh nhân và 15 di tích thuộc loại hình ditích kiến trúc nghệ thuật

Trang 34

tôn tạo không theo sự chỉ đạo của cán bộ địa phơng đã dẫn đến sự sai lệch cácgiá trị nguyên gốc của di tích Chính vì vậy, hiện nay từ góc độ quản lý vănhóa, các di tích dù đợc nhà nớc xếp hạng hay cha đợc nhà nớc xếp hạng cũngcần phải có sự quan tâm từ phía các nhà quản lý văn hóa nói chung, quản lý ditích lịch sử văn hóa nói riêng.

Thực tế hiện nay, ở huyện Từ Liêm vấn đề sở hữu các di tích lịch sử vănhóa cũng cần quan tâm Có thể nhận thấy, trong 195 di tích có 52 di tích làcác nhà thờ dòng họ sở hữu Trong số các nhà thờ dòng họ này có những nhàthờ có niên đại sớm nh: Nhà thờ dòng họ Nguyễn Quý ở xã Đại Mỗ, nhà thờNguyễn Hữu, nhà thờ họ Nguyễn Công Tuy nhiên trong số các nhà thờ tồntại trong huyện cũng có những nhà thờ có niên đại muộn (nửa cuối thế kỷ XX)nh: Nhà thờ họ Đỗ, nhà thờ họ Đoàn, nhà thờ họ Trần, nhà thờ họ NguyễnGia, nhà thờ họ Nghiêm, nhà thờ họ Vũ Vì vậy, vấn đề tu bổ, tôn tạo, bảo vệ

di tích cần áp dụng khác hơn đối với di tích của cộng đồng làng xã, các dòng

họ có thể tự vận động đợc nguồn kinh phí để tu bổ tôn tạo di tích, tuy nhiênvấn đề là cần có sự phối hợp giữa các tổ chức quản lý nhà nớc và chủ sở hữu

cụ thể ở đây là các dòng họ Thậm chí việc trông coi, chăm sóc cho di tích lạichính là những ngời trong dòng họ Ngay cả trong vấn đề sinh hoạt tín ngỡngthờ cúng tổ tiên của các dòng họ cũng cần phải đợc chính những ngời trongdòng họ, cùng chính quyền địa phơng phối hợp quản lý Đối với các di tích màchủ sở hữu là cộng đồng làng xã thì việc thiết lập các tổ chức cấp thôn kết hợpvới xã, huyện để quản lý tốt các di tích lịch sử văn hóa lại là vấn đề áp dụngtheo một cơ chế quy định của nhà nớc mà đại diện ở đây là các cơ quan chủquản của địa phơng

1.2.3 Hiện trạng, tình trạng kỹ thuật các di tích lịch sử văn hóa huyện Từ Liêm

Di tích lịch sử văn hóa ở huyện Từ Liêm đợc hình thành và phát triểnqua các thời kỳ lịch sử khác nhau Về niên đại di tích trong tổng số 195 di tích

có các di tích có niên đại thế kỷ XVII, tuy nhiên các công trình kiến trúc cóniên đại ở thế kỷ này còn lại là rất hiếm, trong đó tiêu biểu là đình làng TâyTựu, đình làng Thợng Cát, đình Chèm Các công trình có niên đại thế kỷXVIII tiêu biểu có đình làng Đông Ngạc, đình làng Phú Diễn, đình làng Tây

Mỗ, Đại Mỗ Các kiến trúc có niên đại thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chiếm số ợng nhiều nhất

Trang 35

l-Về chất liệu, các di tích lịch sử văn hóa huyện Từ Liêm cũng ở trongtình trạng chung với các di tích lịch sử văn hóa Việt Nam Việc sử dụng cácloại chất liệu sẵn có của địa phơng để làm các công trình là một đặc điểm đợcthể hiện rất rõ trong các di tích Trờng hợp nh các di tích ở các huyện QuốcOai, Thạch Thất, Ba Vì Bên cạnh các chất liệu gỗ và gạch thì ngời dân còn

sử dụng các chất liệu sẵn có nh đá ong để xây dựng công trình, loại chất liệunày thậm chí có thể thay thế gạch để xây tờng, bó vỉa công trình kiến trúc và ở

đây chất liệu đá ít đợc sử dụng trong xây dựng Có thể nói đá là vật liệu hiếm

đợc dùng ở vùng Hà Nội cũ Ngợc lại ở các tỉnh nh Thanh Hóa thì vật liệu đátrong kiến trúc đợc dùng nhiều hơn Một loại vật liệu phổ biến dùng trong xâydựng các công trình kiến trúc đó là gỗ, gỗ đợc sử dụng để làm khung kết cấucủa công trình, đồng thời trên chất liệu gỗ, những nghệ nhân dân gian cònchạm khắc các đề tài, các con vật linh thiêng, các hình tợng thực vật, chính

điểm này đã tạo nên giá trị thẩm mỹ cho di tích So với gạch và đá, gỗ là loạivật liệu dễ bị h hỏng, thực tế cho thấy, gỗ tốt thuộc nhóm một cũng chỉ tồn tại

từ 200 đến 300 năm, chúng ta có thể nhận thấy các biểu hiện xuống cấp, hhỏng do tác động của các yếu tố tự nhiên, nóng ẩm ma nhiều của nớc ta Mặtkhác, cho dù chất liệu gỗ không chịu sự tác động mạnh của các yếu tố tựnhiên, thì chính các vật liệu tự nó cũng có những biến đổi theo thời gian, tuynhiên những biến đổi này diễn ra một cách chậm chạp đôi khi chúng ta cũngkhông nhận ra đợc Một đặc điểm nữa cũng cần phải xác định, ở các côngtrình kiến trúc có niên đại sớm, trong quá trình tồn tại cũng luôn đợc ngời dânquan tâm trùng tu tu bổ, thậm chí còn mở rộng xây dựng bổ sung thêm chophù hợp với công năng sử dụng cho cộng đồng Ngay trong một kiến trúc cụthể nh đình làng, chùa thờng có nhiều lớp niên đại khác nhau Vì vậy, tìnhtrạng kỹ thuật trong từng đơn nguyên kiến trúc cũng ở nhiều cấp độ h hỏngkhác nhau

Trờng hợp nh đình Chèm (xã Thụy Phơng) và chùa Thợng Cát (xã ợng Cát) Đây là hai DTLSVH đã đợc xếp hạng cấp quốc gia, song các hạngmục trong di tích đã bị xuống cấp nghiêm trọng do tác động của những điềukiện tự nhiên khắc nghiệt và chiến tranh tàn phá Hệ thống cột đã bị mục nát,kết cấu các bộ vì kèo bị mối mọt, hoành, rui, mè đã bị h hỏng dẫn đến các lớpngói lợp đã bị xô vỡ nhiều Hệ thống tờng gạch đã bị nứt, phấn hóa các mảngtờng do độ ẩm cao, rêu mọc phủ dày trên các mảng tờng

Trang 36

ThĐình Phúc Lý (xã Minh Khai) nằm trong quần thể DTLSVH đình chùa Phúc Lý Đình có niên đại thời Lê Trung Hng đã có thời gian đình đợcchọn làm cơ sở tập hợp cách mạng, trong kháng chiến chống Pháp đình là nơiluyện tập dân quân, là nơi thành lập đội cảm tử quân Đình đã bị tiêu thổkháng chiến, hòa bình lập lại đình đợc trùng tu và dựng lại tòa đại đình nhng

-do kinh phí có hạn nên việc trùng tu có tính chất tạm bợ, không đảm bảo tínhthẩm mỹ và cấu trúc truyền thống Từ đó đến nay đình đã bị xuống cấp, hệthống cột mục nát, nền bị sụt lún, kết cấu gỗ bị xiêu lệch nên cần có dự án cấpthiết để tiến hành tu bổ Đình thôn Viên (xã Cổ Nhuế) đã đợc Bộ Văn hóa(nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là DTLSVH, tuy đợc sửachữa tôn tạo nhiều lần song đến nay đình thôn Viên đã có nhiều biểu hiệnxuống cấp trầm trọng, thậm chí đã dùng đến biện pháp dùng cột chống đỡ tạmthời Mái ngói bị xô lệch, dột cục bộ gây ảnh hởng xấu đến kết cấu gỗ Cácchân cột do bị ẩm nên đã bị mục rũa Vì vậy, di tích này đã nằm trong hạngmục đợc tu bổ tôn tạo di tích

Đình thôn Nhân Mỹ (xã Mỹ Đình) là một di tích có giá trị lịch sử vănhóa, kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, tuy nhiên thực trạng và tình trạng kỹ thuậtcủa ngôi đình này rất đáng đợc quan tâm đúng mức Hiện tại, sân của tòa Đại

đình thấp hơn so với đình nên thờng xuyên bị ngập lụt, hầu hết các chân cột bịmục, hiện tợng bị tiêu tâm bong rộp Tờng có nhiều vết nứt, rêu mọc dày, lớpvữa bên ngoài bị bong tróc, một số ngói lợp bị gãy vỡ đã gây nhiều chỗ dột gây

ảnh hởng đến tình trạng kỹ thuật của kết cấu gỗ Di tích này đợc xếp trong hạngmục tu bổ tôn tạo cấp thiết Trên đây là một số trờng hợp nêu ra nh một điểnhình trong toàn bộ hệ thống các DTLSVH của huyện Từ Liêm

Nhìn chung, căn cứ vào thực trạng và tình trạng kỹ thuật của các di tích

có thể chia làm ba nhóm:

+ Nhóm 1: Các di tích có niên đại sớm (thế kỷ XVII - XVIII) Di tích

thuộc nhóm này tình trạng h hỏng nhiều, xuống cấp Vì vậy, cần phải có các

dự án tu bổ cấp thiết để tránh tình trạng các di tích bị h hại nhiều nh: Đình ợng Cát, đình làng Đăm, đình Phú Diễn, đình Đông Ngạc, đình Xuân Tảo,

Th-đình Chèm

+ Nhóm 2: Các di tích có niên đại muộn (thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX).

Nhìn chung các di tích này còn trong tình trạng khá tốt, có chăng chỉ là nhữngbiểu hiện của sự h hỏng nhỏ, hoặc tình trạng nấm mốc sau những mùa ma kéo

Trang 37

dài và những tháng có độ ẩm và nhiệt độ cao Những di tích thuộc nhóm nàycần thực hiện chế độ bảo quản phòng ngừa, bảo quản định kỳ (thời gian 2 đến

3 năm/ lần có tiến hành kiểm tra toàn bộ và xử lý theo chế độ bảo quản, khôngthay thế các đơn nguyên kết cấu trong công trình)

+ Nhóm 3: Các di tích đợc xây dựng có niên đại nửa đầu thế kỷ XX.

Thậm chí trong nhóm này còn có các di tích đợc xây bằng chất liệu hiện đạinh: Cột, kèo, xà đều đợc làm bằng bê tông, cốt thép sau đó sơn màu nâu giả

gỗ Vì vậy, loại di tích này đợc xếp vào các di tích còn tốt Về giá trị của các

di tích thuộc nhóm này qua phong cách và nghệ thuật không cao, vấn đề cơbản ở đây là đáp ứng chức năng phục vụ các hoạt động tín ngỡng cho cộng

đồng c dân địa phơng Trờng hợp ở Từ Liêm có nhiều nhà thờ họ đã đợc xâydựng muộn trong khung niên đại này đã đợc thống kê trong danh mục các di

tích cha đợc xếp hạng (xem bảng danh mục các di tích cha đợc xếp hạng trong phụ lục của luận văn)

Từ những đánh giá, khái quát chung về hiện trạng và tình trạng kỹ thuậtcủa các di tích thuộc huyện Từ Liêm đã đặt ra cho công tác quản lý di tích lịch

sử văn hóa cần phải tiến hành khảo sát tổng thể hệ thống các di tích nói chung

và cá thể từng di tích nói riêng Trên cơ sở đó, lập kế hoạch bảo quản, tu bổ,tôn tạo di tích trong những năm tiếp theo

Trang 38

trạng kỹ thuật của hệ thống di tích này để có kế hoạch bảo quản tu bổ tôn tạo,nhằm mục tiêu khai thác và phát huy những giá trị to lớn về mặt lịch sử, vănhóa, thẩm mỹ Chúng có tác dụng lớn trong việc giáo dục truyền thống yêu nớc,lòng tự hào dân tộc, truyền thống văn hóa cho các thế hệ ngời dân Từ Liêm.Các di tích ấy có vai trò to lớn trong việc gắn kết cộng đồng, làng xóm và sựphát triển văn hóa đa dạng của Thủ đô Hà Nội nói chung và Từ Liêm nói riêngtrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.

Chơng 2 Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa

ở huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội

2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý cho công tác quản lý

di tích lịch sử văn hóa ở huyện Từ Liêm

2.1.1 Cơ sở khoa học

Trong mọi hoạt động quản lý nói chung thì cơ sở khoa học và cơ sởpháp lý luôn luôn là các điều kiện đi đầu và là tiền đề cho các hoạt động tiếptheo Vì vậy công tác quản lý văn hóa nói chung và công tác quản lý DTLSVHnói riêng cũng đợc tiến hành trên cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý nhất định

2.1.1.1 Quản lý

Thuật ngữ “Quản lý” có thể hiểu theo nhiều cách diễn đạt khác nhau.Theo nghĩa thông thờng, trong tiếng Việt thuật ngữ “Quản lý” đợc hiểu làtrông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, theo dõi; Nếu hiểu theo nghĩa Hán

- Việt thì “Quản” là lãnh đạo một việc, “Lý” là trông nom, coi sóc ở phơngTây ngời ta dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là bàn tay hoặc liênquan đến hoạt động của bàn tay, tức là hành động theo một quan điểm tác

Trang 39

lập của nó Một ngời độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dànnhạc thì cần có nhạc trởng” [20, T23, tr.480].

Theo F.Angghen cho rằng: Quản lý là một động thái tất yếu phải có khinhiều ngời cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hiệp tác của một số đôngngời, khi có hoạt động phối hợp của nhiều ngời

Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý ở một góc độ riêng nào đóthì chúng đều có những định nghĩa riêng về quản lý Khái niệm quản lý trong

Điều khiển học đợc hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quá trình để

điều khiển, chỉ đạo sự vận động (diễn biến) của nó theo những quy luật nhất

định nhằm đạt đợc những mục đích hay kế hoạch mà ngời quản lý đã đề ra từtrớc

Điểm qua một số quan điểm, chúng ta thấy rõ bản chất của quản lý vàhoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Quản lý làmột hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mụctiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ

đơn giản đến phức tạp Đối với xã hội có trình độ càng cao, do đó yêu cầuquản lý ngày càng lớn và vai trò của quản lý ngày một tăng lên

Theo ý nghĩa thông thờng, phổ biến thì quản lý đợc hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hớng của chủ thể quản lý vào một

đối tợng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con ngời nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tợng theo những mục tiêu đã

định [35, tr.3].

Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:

Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn làcon ngời hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tợng quản lý bằng cáccông cụ với những phơng pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định

Đối tợng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý.Tùy từng loại đối tợng khác nhau mà ngời ta chia thành các dạng quản lý khácnhau

Khách thể quản lý chịu sự tác động hay điều chỉnh của chủ thể quản lý,

đó là hành vi của con ngời hoặc quá trình xã hội

Mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định

do chủ thể quản lý định trớc Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các

Trang 40

động tác quản lý cũng nh lựa chọn các phơng pháp quản lý thích hợp Quản lý ra

đời chính là hớng đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc

2.1.1.2 Quản lý di tích lịch sử văn hóa

* Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa

Sở dĩ gọi là DTLSVH vì chúng đợc tạo ra bởi con ngời (tập thể hoặc cánhân), là kết quả của hoạt động sáng tạo lịch sử, văn hóa của con ngời Vănhóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

Các nớc trên thế giới đều đặt chung cho DTLSVH là dấu tích, vết tíchcòn lại Trong tiếng Anh viết là “Vestige”; tiếng Pháp cũng viết “Vestige”;tiếng Nga viết “Pomiatnik”; tiếng Trung Quốc viết “Cổ tích”, do đó mỗi quốcgia đã đa ra những khái niệm, qui định về DTLSVH của dân tộc mình Trong

điều I của Hiến chơng Vernice (Italia) đã quy định rằng: “DTLSVH bao gồmnhững công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn,

là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ýnghĩa hay là một biến cố về lịch sử”

Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều khái niệm quy định về DTLSVH

nh-ng theo Từ điển Bách khoa Việt Nam cho biết: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tợng nghiên cứu của chuyên ngành khảo cổ học, sử học

Di tích là di sản văn hóa lịch sử đợc pháp luật bảo vệ, không ai đợc tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [36, T1, tr.667].

Pháp lệnh số 14 - LCT/HĐNN của Hội đồng Nhà nớc, nớc CHXHCNViệt Nam ban hành ngày 31/3/1984 về bảo vệ và sử dụng DTLSVH và danh

lam thắng cảnh quy định rõ: “DTLSVH là những công trình xây dựng, địa

điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng

nh có giá trị văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội” [57, tr.3].

Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam ban hành

năm 2001, tại điều 4 quy định: “DTLSVH là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [49, tr.7].

Tại điều 28 của Luật Di sản văn hóa quy định: DTLSVH phải có mộttrong các tiêu chí sau đây:

Ngày đăng: 18/07/2023, 12:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Bảng thống kê số lợng các di tích đã xếp hạng và cha xếp hạng theo - Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện từ liêm thành phố hà nội
Bảng 1.1 Bảng thống kê số lợng các di tích đã xếp hạng và cha xếp hạng theo (Trang 33)
Bảng 2.1: Kế hoạch tu sửa chống xuống cấp bằng nguồn vốn - Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện từ liêm thành phố hà nội
Bảng 2.1 Kế hoạch tu sửa chống xuống cấp bằng nguồn vốn (Trang 56)
Bảng 2.5: Thống kê nguồn lực cho việc tu bổ,  tôn tạo di tích từ năm 1996 - 2003 - Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện từ liêm thành phố hà nội
Bảng 2.5 Thống kê nguồn lực cho việc tu bổ, tôn tạo di tích từ năm 1996 - 2003 (Trang 58)
Bảng 2.6: Thống kê di tích đợc tu bổ năm 2003 TT Tên di tích Hạng mục đợc cấp - Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện từ liêm thành phố hà nội
Bảng 2.6 Thống kê di tích đợc tu bổ năm 2003 TT Tên di tích Hạng mục đợc cấp (Trang 59)
Bảng 2.9: Danh mục tu bổ, tôn tạo di tích năm 2009 - Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện từ liêm thành phố hà nội
Bảng 2.9 Danh mục tu bổ, tôn tạo di tích năm 2009 (Trang 60)
Bảng 2.7: Thống kê các di tích đợc tu bổ, tôn tạo  từ nguồn kinh phí do nhân dân đóng góp năm 2004 - Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện từ liêm thành phố hà nội
Bảng 2.7 Thống kê các di tích đợc tu bổ, tôn tạo từ nguồn kinh phí do nhân dân đóng góp năm 2004 (Trang 60)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w