Rất Rất Hay!
Trang 1DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các quốc gia sản xuất lúa gạo nhiều nhất trên thế giới năm 2010 6
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam trong mấy
thập kỷ gần đây 20
Bảng 2.1 Tên, loài phụ, nguồn gốc và đặc điểm các giống lúa thí nghiệm 32
Bảng 3.1 Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2011, 2012 tại huyện
Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái 42
Bảng 3.2 Tình hình sinh trưởng phát triển của mạ 44
Bảng 3.3 Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của các dòng, giống lúa 47
Bảng 3.4 Chiều cao cây cuối cùng của các giống lúa thí nghiệm 49
Bảng 3.5 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa vụ Xuân 2011 50
Bảng 3.6 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa vụ Xuân 2012 51
Bảng 3.7 Tình hình sâu bệnh hại các giống lúa thí nghiệm 53
Bảng 3.8 Tính chịu lạnh của các giống lúa tham gia thí nghiệm 54
Bảng 3.9 Các yếu tố cấu thành năng suất các giống lúa thí nghiệm
vụ Xuân 2011 55
Bảng 3.10 Các yếu tố cấu thành năng suất các giống lúa thí nghiệm
vụ Xuân 2012 56
Bảng 3.11 Chất lượng gạo các giống lúa thí nghiệm 61
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Mù Cang Chải là địa phương nằm trong 61 huyện nghèo của cảnước, tổng diện tích tự nhiên là 119.908,75 ha, trong đó diện tích đồi núi ở độcao trên 1.000 m so với mặt nước biển chiếm 84% dưới 1.000 m chiếm 16 %diện tích đất tự nhiên, dân số toàn huyện 50.107 người, có 9 dân tộc anh emsinh sống, dân tộc H’Mông chiếm đa số với 89,5 %, dân tộc Thái chiếm 5,5%,dân tộc Kinh chiếm 4,48 % và các dân tộc khác chiếm 0,52 %, tỷ lệ trẻ emsuy dinh dưỡng là 27%, số hộ 10.924 với khoảng 4.916 khẩu, số hộ đói giáphạt là 3.615 hộ chiếm 33,1%
Là địa phương đặc biệt khó khăn của cả nước, thuần nông, điều kiệnkinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn, địa hình bị chia cắt mạnh trên 90% diệntích là đồi núi, thời tiết khắc nghiệt, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếukém do đó việc phát triển kinh tế xã hội gặp rất nhiều khó khăn, sản xuấtnông nghiệp chưa chuyển dịch mạnh, người dân vẫn trông chờ sự hỗ trợ củanhà nước, chưa hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung hiệu quả kinh tếcao, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn thường xuyên xẩy ra tìnhtrạng đói giáp hạt
Công tác ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất còn nhiều hạn chếđặc biệt công tác thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật về giống mới, giống lúa laichiếm trên 90% cơ cấu giống lúa trên địa bàn chủ yếu là giống Nhị ưu 838.Tuy nhiên giống Nhị ưu 838 được người dân sử dụng đã lâu từ năm 2000,giống đã có những biểu hiện thoái hoá như năng suất giảm, không chống chịuđược điều kiện khắc nghiệt đặc biệt khả năng chịu lạnh trong vụ Xuân, nhiễmnặng bệnh bạc lá trong vụ Mùa Nguồn giống lúa lai chủ yếu nhập từ TrungQuốc, người dân hoàn toàn không chủ động được nguồn giống cung ứng, giá
Trang 3giống cao và không ổn định, hàng năm nguồn ngân sách của tỉnh phải hỗ trợkinh phí mua giống cho người dân rất lớn khoảng 4 - 4,5 tỷ đồng/năm.
Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, trong những năm gần đâyhay xảy ra rét đậm rét hại kéo dài trong vụ Xuân, so với các địa phương kháctrong toàn tỉnh huyện Mù Cang Chải thường bị thiệt hại nặng nề nhất, cụ thểtrong vụ Xuân 2008 và vụ Xuân 2011, diện tích lúa mới cấu bị chết 300 ha,khoảng 40 tấn giống lúa lai đã gieo mạ bị chết rét, ảnh hưởng của rét đậm réthại kéo dài đã làm thiệt hại kinh tế rất lớn đối với người dân đặc biệt ảnhhưởng đến công tác tăng vụ, an ninh lương thực vùng cao
Nhằm giải quyết vấn đề tăng vụ ở vùng cao từ năm 2002 đến nay SởNông nghiệp và Phát triển nông thôn Yên Bái đã phối hợp với Ủy ban nhândân huyện Mù Cang Chải tổ chức xây dựng mô hình tăng vụ bằng các giốnglúa, ngô ngắn ngày nhưng không thành công nguyên nhân do nền nhiệt độthấp và điều kiện thời tiết khắc nghiệt vụ Xuân nên các loại cây trồng sinhtrưởng kéo dài không đảm bảo cơ cấu 2 vụ/năm Năm 2010 diện tích lúaruộng là 2.400 ha, trong đó: diện tích gieo cấy lúa đông xuân 700 ha, diện tíchlúa mùa ruộng 2.400 ha Như vậy có thể đánh giá tiềm năng để mở ruộng diệntích lúa ruộng trong vụ Xuân còn rất lớn cần được khai thác Tuy nhiên so vớicác huyện, thị, thành phố khác, huyện Mù Cang Chải thuộc vùng khí hậu ánhiệt đới gió mùa, mang đặc điểm ôn đới, nhiệt độ bình quân 18,50C do đóviệc tăng vụ bằng các giống ngô, đậu tương gặp rất nhiều khó khăn
Xuất phát từ thực tế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu
khả năng thích ứng của một số giống lúa loài phụ Japonica tại huyện Mù Cang Chải - tỉnh Yên Bái " nhằm lựa chọn các giống lúa phù hợp với điều
kiên tự nhiên, bổ sung vào cơ cấu giống cây trồng trên đất ruộng một vụ, ổnđịnh sản xuất lúa bền vững 2 vụ/năm và đảm bảo an ninh lương thực vùngcao
Trang 42 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển các giống lúa loài phụJaponica nhằm xác định được các giống lúa có năng suất chất lượng khá, khảnăng chịu lạnh tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái vùng cao huyện Mù CangChải, bổ sung cơ cấu giống lúa cho địa phương
3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất của giống lúaloài phụ Japonica trong vụ Xuân 2011 và vụ Xuân 2012
- Đánh giá khả năng chống chịu lạnh, sâu bệnh các giống lúa trong điềukiện vùng cao huyện Mù Cang Chải
- Đánh giá khả năng cho năng suất của các giống lúa thí nghiệm
- Đánh giá chất lượng gạo bằng phương pháp phân tích hoá học và kếthợp với đánh giá cảm quan
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu
Trong điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng cần có những giống câytrồng tốt phù hợp với điều kiện canh tác Vì vậy một trong những biện phápkinh tế kỹ thuật nhằm tận dụng các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, là bố trí
cơ cấu cây trồng phù hợp với một vùng hay một đơn vị sản xuất nông nghiệp.Trong việc xác định giống cây trồng hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao, đất đai làmột trong những căn cứ quan trọng sau điều kiện khí hậu, cho nên cần phảinắm vững mối quan hệ giữa một nhóm cây trồng với đặc điểm đất đai thì mớixác định được cơ cấu cây trồng hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao Giống là tưliệu sản xuất vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, cũng như đấtđai, phân bón và công cụ sản xuất Nếu không có giống thì không thể sản xuất
ra một loại nông sản nào Ngày nay, quan niệm “nhất nước, nhì phân, tam
cần, tứ giống”đã không còn phù hợp nữa Nếu xếp giống vào hệ thống các
khâu kỹ thuật canh tác thì giống tốt phải được xếp vào vị trí trung tâm Trongnhững năm gần đây, sản lượng lương thực ở một số nước tăng lên khá nhanh,chủ yếu nhờ áp dụng trên quy mô lớn các biện pháp kỹ thuật nông nghiệpthích hợp mà chủ yếu là cải tiến giống Vì giống lúa là một trong những điềukiện quyết định đến năng suất và phẩm chất của sản phẩm thu hoạch
Theo Thanh Tri-1987 [20] giống lúa là một trong những biện phápquan trọng trong việc tăng năng suất sản lượng lương thực, trong thực tiễn sảnxuất ở nhiều địa phương nếu có cơ cấu giống phù hợp với điều kiện tự nhiên
và sử dụng loại giống có độ thuần cao, phẩm chất giống tốt thì có thể nângcao được năng suất lúa lên từ 15-20% trở lên
Các giống lúa khác nhau có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái,thổ nhưỡng ở mỗi vùng khác nhau Để xác định được giống tốt cho một vùngsản xuất nào đó cần phải tiến hành khảo nghiệm, gieo cấy thử nghiệm qua
Trang 6một vài vụ sản xuất để đánh giá khả năng thích ứng của giống đó Do đó việcxác định tính thích nghi của giống nào đó trước khi đưa ra sản xuất trên diệntích rộng phải tiến hành bố trí gieo trồng tại nhiều vùng có đặc điểm sinh tháikhác nhau nhằm đánh giá khả năng thích ứng, độ đồng đều, tính ổn định, khảnăng chống chịu sâu, bệnh, mức độ chịu đất chua mặn, khả năng cho năngsuất, hiệu quả kinh tế của giống đó so với các giống đang gieo trồng đại tràhiện có tại một khu vực hoặc một địa phương nào đó
Ở đề tài này với mục tiêu đánh giá khả năng thích ứng của một sốgiống lúa có triển vọng thuộc loài phụ Japonica với mục đích chuyển dịch cơcấu cây trồng có giá trị, thay thế những cây trồng hiện có chưa đáp ứng đượcnhu cầu thực tiễn, cải tiến để đưa giống lúa có năng suất khá, chất lượng tốtvào sản xuất phù hợp với điều kiện của nông dân và vùng sinh thái
Cần phải thí nghiệm các giống lúa triển vọng, tạo ra sản phẩm hàng hoá
có giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị trường, sử dụng hợp lý phân bón,thuốc trừ sâu, giống mới có triển vọng song vẫn đảm bảo có năng suất khá, sửdụng nước tưới và các biện pháp kỹ thuật không khác nhiều so với tập quáncanh tác của địa phương
Đối với lúa trong sản xuất hiện nay khi đưa giống mới vào sản xuấtngười ta thường quan tâm đến thị hiếu người tiêu dùng và việc tiêu thụ sảnphẩm đó ra sao
Trong thực tế sản xuất thì mỗi giống lúa đều có ưu, nhược điểm song
sự chuyển dịch cơ cấu giống lúa như thế nào để giải quyết được nhu cầu cấpbách của người dân nghèo mà vẫn có lợi về mặt tài chính, đem lại hiệu quảkinh tế cao và phù hợp với đặc điểm của vùng sản xuất, của một không gian,thời gian nhất định và được người nông dân chấp nhận và mở rộng
Cơ cấu các giống lúa đang được gieo trồng được chọn dựa trên lợi íchcho đa số người dân, cơ cấu các giống lúa triển vọng phải được bố trí hợp lý,
có độ an toàn, xác suất gặp rủi ro thấp nhất, phù hợp với tập quán canh táccủa địa phương, đảm bảo an toàn hệ sinh thái trong vùng
Trang 71.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất giống lúa trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới
Vùng phân bố của cây lúa là khá rộng từ vĩ độ 530B đến vĩ độ 350N.Trong đó vùng phân bố chủ yếu từ 300B đến 100N Với khoảng trên 100 nướctrồng lúa, năng suất trung bình trên phạm vi quốc gia đạt 60 - 80 tạ/ha/năm
Bảng 1.1 Các quốc gia sản xuất lúa gạo nhiều nhất trên thế giới năm
- Về năng suất lúa: Trong 10 nước trồng lúa nhiều nhất trên thế giới thìTrung Quốc là nước có năng suất lúa cao nhất, đạt 65,48 tạ/ha cao hơn năngsuất trung bình của thế giới là 21,8 tạ/ha, tiếp theo là Việt Nam (53,22 tạ/ha)cao hơn năng suất trung bình của thế giới là 9,54 tạ/ha và các nước khác nhưInđônêxia (50,15 tạ/ha, cao hơn nang suất trung bình của thế giới là 6,47
Trang 8tạ/ha) Các nước còn lại là Bangladesh (42,79 tạ/ha), Brazil (41,27 tạ/ha),Myanma (41,24 tạ/ha), Philippin (36,22 tạ/ha), Ấn Độ (33,83 tạ/ha) Pakistan(30,59 tạ/ha) và thấp nhất là Thái Lan (28,75 tạ/ha) thấp hơn năng suất trungbình của thế giới từ 0,89 tạ/ha đến 14,93 tạ/ha.
- Về sản lượng lúa: Đứng đầu trong danh sách các nước sản xuất lúanhiều nhất là Trung Quốc với 197.212.010 tấn, tiếp theo là Ấn Độ (143.963.000tấn), và các nước còn lại là Inđônêxia (66.469.400 tấn), Bangladesh(50.061.200 tấn), Việt Nam (39.988.900 tấn),… Như vậy, sản lượng lúa của
10 quốc gia đứng đầu chiếm 85,7 % tổng sản lượng lúa gạo của cả thế giới
Sản lượng lúa gạo trong một số năm trở lại đây có mức tăng trưởngđáng kể nhờ việc mở rộng diện tích đất trồng lúa, cùng với việc đầu tư thâmcanh, sử dụng các giống lúa mới có tiềm năng năng suất cao, xây dựng đường
xá giao thông, hệ thống thuỷ lợi tưới tiêu, hoàn chỉnh các biện pháp kỹ thuật
Hiện tại, nhu cầu lúa gạo về phẩm chất rất khác nhau tùy từng vùng vàtập quán Các nước Nhật, Triều Tiên, Trung Quốc, Âu Mỹ thích gạo mềm,ướt, hơi dẻo (giống japonica) Ngược lại Ấn Độ, Pakixtan, Việt Nam lại thíchgạo nở, cơm khô Trên thị trường gạo thế giới, chiều dài hạt, phẩm chất gạorất được quan tâm Về chiều dài hạt, Viện IRRI chia ra làm 4 cấp: hạt rất dài(trên 7,5 mm), hạt dài (6,6 - 7,5 mm), hạt trung bình (5,5 - 6,5 mm) và hạtngắn (dưới 5,5 mm) Về màu sắc gạo, phổ biến nhất là màu trắng ngà, songcũng có màu đỏ hoặc hơi đen Về hướng phát triển gạo của các nước cũng rấtkhác nhau, tùy vào thị trường tiêu thụ của mình mà các nước xuất khẩu gạolớn hiện nay tập trung phát triển các loại gạo có chất lượng khác nhau: TháiLan tập trung sản xuất phát triển các giống lúa có kiểu hạt dài, chất lượng cao;tại Mỹ phát triển các giống có kiểu hạt tròn và hạt dài nhưng có chất lượngcao; trong khi đó Ấn Độ lại phát triển các giống có năng suất cao để xuấtkhẩu sang các nước nghèo (các nước ở Châu Phi)
Trang 9Việc nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn,năng suất, chất lượng cao đang được các tổ chức nghiên cứu trên thế giới quantâm Một số giống lúa có chất lượng đã được công bố như: Khao Dawk Mali đây
là giống lúa nước trời của Thái Lan, phản ứng với ánh sáng thích hợp với đấtphèn nhẹ, đất nhiễm mặn vào mùa khô, có đặc điểm gạo mềm, hạt dài, có mùithơm, năng suất đạt 3 - 4 tấn/ha
Tại Mỹ các nhà khoa học đã chọn lọc ra được giống Jasmine 85 có thờigian sinh trưởng 100 - 105 ngày, cho năng suất khá (5 - 6 tấn/ha), có chấtlượng cao
Trong xã hội hiện nay khi mức sống của đại bộ phận người dân đãđược nâng cao thì nhu cầu về sản phẩm gạo có chất lượng cao đặc biệt là cácloại lúa đặc sản ngày một tăng lên Theo nhận xét của S.Tang và Z.Wang,2001: lúa đặc sản chất lượng là cơ sở vật chất quan trọng cho công tác cải tiếncác giống lúa mới
Còn theo định nghĩa của Ceng Y.M; Chen Y (1998) thì lúa đặc sản lànhững loại lúa đặc biệt, không giống như các loại lúa phổ biến thông thường.Chúng được xác định bởi sự khác biệt về một vài đặc điểm theo những chỉtiêu quan trọng quy định chung cho phần lớn các nước châu Á và Châu Phi:
hình dáng, kích cỡ, hàm lượng Amylose, màu nội nhũ và mùi thơm
Ceng Y.W; Chen Y và Dai L.Y (1998) cho rằng lúa nếp hoặc lúaWaxy, lúa thơm, lúa màu (lúa đỏ, lúa tím, lúa đen), lúa nương - japonica, lúadẻo (soft rice), lúa boutique, lúa nấu rượu, lúa vô cơ, lúa có phẩm chất dinhdưỡng, đều thuộc lúa đặc sản và khái niệm về lúa đặc sản cổ truyền, lúa đặcsản cải tiến là khái niệm để phân biệt lúa đặc sản bản địa và lúa đặc sản mớichọn tạo
Trang 101.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới
Trên thế giới người ta quan tâm đến việc bảo tồn nguồn gen nói chung,
và nguồn gen cây lúa nói riêng Ngay từ những năm 1924 Viện nghiên cứu câytrồng Liên Xô (cũ) đã được thành lập, nhiệm vụ chính là thu nhập và đánh giábảo tồn nguồn gen cây trồng Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Thế giới(FAO) đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và đề ra phương hướng thúc đẩyviệc xây dựng ngân hàng gen phục vụ cho việc giữ gìn tài nguyên thiên nhiênnhằm phục vụ lợi ích lâu dài của nhân loại Trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới
đã hình thành nhiều tổ chức quốc tế, đảm nhận việc thu thập tập đoàn giốngtrên thế giới đồng thời cung cấp nguồn gen để cải tạo giống lúa trồng [11]
Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế với tên tiếng Anh là InternationalRice Research Institute (IRRI) ở Los Banos, Philippines đã bắt đầu chươngtrình thu thập, bảo tồn và đánh giá các giống cổ truyền và các cây lúa dại từnăm 1962 Từ khi thành lập IRRI đã tiến hành thu thập nguồn gen cây lúa,năm 1977 chính thức khai trương ngân hàng gen, tại đây đã thu thập tập đoàncây lúa từ 110 quốc gia trên Thế giới trong bộ sưu tập có hơn 80 nghìn mẫu,
trong đó các giống lúa trồng ở châu Á (O sativa) chiếm đến 95% [32].
Khoảng 90.000 giống lúa trồng trên khắp thế giới đã được tồn trữ ở IRRI vàcùng một số lượng giống lúa này được IRRI gửi bảo quản ở Phòng Khảonghiệm tồn trữ hạt giống quốc gia Mỹ (US National Seed StorageLaboratory) tại Fort Collins thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ, Colorado - Mỹ và ởViện Quốc gia Tài nguyên Nông sinh (National Institute of AgrobiologicalResources) ở Nhật Bản Nhưng sự bảo quản tại các phòng lạnh hiện nay cóthể làm ngăn trở sự tiến hóa của các giống lúa này với môi trường Vì vậy,bảo quản các giống lúa ngoài ruộng rất cần thiết nhưng tốn kém
Trong hơn 40 năm tồn tại và phát triển IRRI đã lai tạo, chọn lọc hàngtrăm giống lúa tốt phổ biến khắp thế giới, tiêu biểu như các giống IR, Jasmin.IR8 mở đầu cho cuộc cách mạng xanh ở các nước Nam Á và Đông Nam Á.Tiếp theo là sự ra đời của các giống lúa, mà sự ra đời của các giống này đã tạo
Trang 11ra sự nhảy vọt về năng suất, phẩm chất lúa như: IR5, IR6, IR20, IR22, IR26,IR36, Những năm 80 (thế kỷ XX) giống IR8 được trồng phổ biến ở Việt
Nam đã đưa năng suất lúa tăng cao đáng kể Cuộc “Cách mạng xanh” từ giữa
thập niên 60 (thế kỷ XX) đã có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa củachâu Á Nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được tạo ra để nâng cao năng suất và sảnlượng lúa gạo Các nhà nghiên cứu của viện lúa Quốc tế đã nhận thức rằngcác giống lúa mới thấp cây, lá đứng, tiềm năng năng suất cao cũng chỉ có thểgiải quyết vấn đề lương thực trong phạm vi hạn chế Hiện nay Viện IRRIđang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa cao sản (siêu lúa) cóthể đạt 13 tấn/ha/vụ, đồng thời phát huy kết quả chọn tạo 2 giống là IR64 vàJasmin là giống có phẩm chất gạo tốt, được trồng rộng rãi ở nhiều nơi trên thếgiới Trên cơ sở một số giống lúa chất lượng cao Viện IRRI đang tập trungvào nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa có hàm lượng Vitamin và Protein cao,
có mùi thơm, cơm dẻo ) vừa để giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừađáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng [27]
IRRI đã có quan hệ chính thức với Việt Nam từ năm 1975 trongchương trình thí nghiệm giống quốc tế trước đây và hiện nay là chương trìnhđánh giá nguồn gen cây lúa Trong quá trình hợp tác, Việt Nam đã nhập được
279 tập đoàn lúa gồm hàng ngàn mẫu giống, mang nhiều đặc điểm sinh họctốt, chống chịu với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận như nhiệt độ,nhiễm mặn, hạn hán, úng lụt [31]
Các nhà khoa học Ấn Độ và Nhật Bản là những người đầu tiên đề xuất
mở rộng sản xuất lúa lai thương phẩm [29] Tại viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI các nhà khoa học đã xây dựng chương trình nghiên cứu về lúa lai làm cơ
-sở cho phát triển sản xuất lúa lai thương phẩm Song tất cả họ đều chưa thànhcông vì chưa tìm ra phương pháp thích hợp để sản xuất hạt lai [30] Nhưngviệc nghiên cứu chọn tạo giống lúa không chỉ dừng lại ở đó, sự miệt mài củacác nhà khoa học ở Viện nghiên cứu lúa Quốc tế đã lai tạo chọn lọc hàng trămgiống lúa tốt được gieo trồng phổ biến trên thế giới Các giống lúa IR5, IR6,
Trang 12IR8, IR30 và những giống lúa khác đã tạo ra sự nhảy vọt về năng suất Cácviện khác như IRAT, EAT, ICRISAT cũng đã chọn lọc ra nhiều những giốnglúa tốt phục vụ sản xuất
Hiện nay người ta ứng dụng ưu thế lai trong sản xuất lúa Trong lịch sửphát triển lúa lai, Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công ưu thế này.Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có
ưu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ "3dòng" được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975 Năm 1996, TrungQuốc lại thành công với quy trình sản xuất lúa lai "2 dòng" và đẩy mạnhnghiên cứu lúa lai 1 dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng năng suất và sảnlượng lúa gạo của đất nước [35] Cụ thể như sau: năm 1973 Shiming Songphát hiện ra được dòng bất dục mẫn cảm với ánh sáng ngày ngắn (PGMS) từgiống Nongken 58 Nhiều kết quả nghiên cứu khác về lúa lai hai dòng cũng
đã được công bố Năm 1991 các nhà khoa học Nhật Bản đã áp dụng phươngpháp gây đột biến nhân tạo để tạo ra dòng bất dục đực mẫn cảm với nhiệt độ[29] Chương trình phát triển lúa lai giữa các loài phụ indica và japonica đượcbắt đầu từ năm 1987 nhờ sự phát hiện và sử dụng gen tương hợp rộng, mở ratiềm năng về năng suất cao cho các giống lúa lai hai dòng [34] Những tổ hợpgiữa các loài phụ như: Chen 232/26 Zhazao; 3037/02428 và 6154S/vaylavađưa ra ở Trung Quốc nhưng không được sử dụng trong sản xuất đại trà, vì câyF1 quá to, bông quá lớn, số dảnh ít, dạng lá rộng Bởi thế, Yang Z và CS(1997) [37] đã đề xuất một lý thuyết chọn giống năng suất siêu cao thông quaviệc kết hợp hình dạng lý tưởng và ưu thế lai thích hợp
Nhờ ưu thế hơn hẳn về năng suất nên diện tích lúa lai của Trung Quốckhông ngừng được mở rộng Năm 1992 diện tích gieo trồng lúa lai của TrungQuốc là 15.000 ha với năng suất 9-10 tấn/ha, năng suất cao nhất đạt 17 tấn/ha[3] Năm 1997 đã có 640.000 ha, năng suất trung bình cao hơn lúa lai 3 giống
từ 5 - 15% [37] Đến năm 2001 diện tích lúa lai 2 dòng đạt 2,5 triệu ha Một
số tổ hợp lai hai giống điển hình có năng suất đạt hơn 10,5 tấn/ha ở điểm trình
Trang 13diễn và năng suất trung bình trên diện rộng là 9,1 tấn/ha Đã có những tổ hợplúa lai 2 dòng đều mới đạt 12 - 14 tấn/ha trong ô thí nghiệm [36] Hầu hết các
tổ hợp lai hai dòng đều cho năng suất cao và phẩm chất tốt hơn so với tổ hợplai ba dòng [3] Gần đây hướng nghiên cứu phát triển lúa lai một giống là mụctiêu cuối cùng và rất quan trọng của công tác chọn tạo lúa lai của Trung Quốc
Ý tưởng của Yuan L.P là cố định ưu thế lai và sản xuất lúa lai thuần đã trởthành đề tài lớn, quan trọng trong các chương trình quốc gia về phát triểnkhoa học và công nghệ cao
Như vậy xu thế phát triển tất yếu của lúa lai theo Yuan Long Ping đãkhởi xướng là phát triển từ hệ thống ba dòng đến hệ thống hai dòng và sau đó
là hệ lai một dòng hay cố định ưu thế lai ở F1 thành lúa lai thuần
Sự phát triển thành công của công nghệ sản xuất lúa lai ở Trung Quốc
đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Hiện nay có 17 nướctrên thế giới nghiên cứu và sản xuất lúa lai đã đưa tổng diện tích lúa lai củathế giới lên tới khoảng 10% tổng diện tích trồng lúa và chiếm 20% tổng sảnlượng lúa gạo toàn thế giới, song phát triển mạnh nhất vẫn là Việt Nam và Ấn
Độ Lúa lai đã thực sự mở ra hướng phát triển mới để nâng cao năng suất, sảnlượng lúa cho xã hội loài người
Ấn Độ là một nước đi đầu trong cuộc “cách mạng xanh” và thành cônglớn trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là giống mới vào sảnxuất Trong công tác nghiên cứu giống lúa, Viện nghiên cứu giống lúa trungương của Ấn Độ được thành lập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa là nơitập trung nghiên cứu, lai tạo các giống lúa mới phục vụ sản xuất Ngoài ra tạicác bang của Ấn Độ đều có các cơ sở nghiên cứu, trong đó các cơ sở quantrọng ở Madras heydrabat, Kerala, hoặc Viện Nghiên cứu cây trồng cạn Á nhiệtđới (ICRISAT) Nhờ vậy Ấn Độ là nước có nhiều giống lúa chất lượng cao nổitiếng trên thế giới như: Basmati, Brimphun trong đó giống lúa Basmati có giátrị trên thị trường tới 850 Đô la Mỹ/tấn, trong khi giống gạo thơm Thái Lan nổitiếng trên Thế giới cũng chỉ có giá trị 460 Đô la Mỹ /tấn [9]
Trang 14Mặt khác, Ấn Độ cũng là nước nghiên cứu lúa lai khá sớm và đã đạtđược một số thành công nhất định, một số tổ hợp lai tốt được sử dụng ở Ấn
Độ như; IR58025A/IR9716, IR62829A/IR46, PMS8A/IR46, ORI 161, ORI
136, 2RI 158, 3RI 160, 3RI 086, PA- 103 Một trong những giống lúa chấtlượng cao do các nhà khoa học chọn tạo thành công được nhập về Việt Nam
là giống BTE-1, giống này đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT Việt Nam côngnhận năm 2007 [9]
Thái Lan là nước xuất khẩu lúa gạo đứng đầu thế giới Với những ưuđãi của thiên nhiên Thái Lan có vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, mặc dùnăng suất và sản lượng lúa gạo của Thái Lan không cao song họ chú trọngđến việc chọn tạo giống có chất lượng gạo cao Các trung tâm nghiên cứu lúacủa Thái Lan được thành lập ở nhiều tỉnh và các khu vực Các trung tâm này
có nhiệm vụ tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo, nhân giống phục vụ chonhu cầu sản xuất của người dân với mục tiêu phục vụ nhu cầu trong nước vàxuất khẩu Các đặc điểm nổi bật của các giống lúa mà các nhà khoa học tậptrung nghiên cứu và lai tạo đó là hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát,
có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất, điều này cho chúng tathấy rằng giá lúa gạo xuất khẩu của Thái Lan bao giờ cũng cao hơn của ViệtNam Một số giống lúa chất lượng cao nổi tiếng thế giới của Thái Lan là:Khaodomali, Jasmin (Hương nhài)
Đối với Nhật Bản, công tác giống lúa cũng được đặc biệt chú trọng vềgiống chất lượng cao vì người Nhật giàu có, nên nhu cầu đòi hỏi lúa gạo chấtlượng cao Để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, các Viện và các Trạm nghiêncứu giống lúa được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành của Nhật Bản, trong đó
có các trung tâm quan trọng nhất đặt ở Sendai, Niigata, Nagoya, Fukuoka,Kochi, Miyazaki, Sags, là những nơi diện tích trồng lúa lớn Trong công tácnghiên cứu giống lúa ở các Viện, các nhà khoa học Nhật Bản đã tập trung laitạo và đưa vào sản xuất các giống lúa vừa có năng suất cao, chất lượng tốtnhư Koshihikari, Sasanisiki, Koenshu đặc biệt ở Nhật đã lai tạo được 2
Trang 15giống lúa có mùi thơm đặc biệt, chất lượng gạo ngon và năng suất cao nhưgiống: Miyazaki1 và Miyazaki2 Cho đến giờ các giống này vẫn giữ được vịtrí hàng đầu về 2 chỉ tiêu quan trọng đó là hàm lượng Protein cao tới 13%,hàm lượng Lysin cũng rất cao [Nguyễn Hữu Hồng (1993) [8] Ngoài ra, thànhcông trong công tác giống lúa của Nhật Bản còn được đánh dấu bởi giốngTongil đã tạo ra bước nhảy vọt về năng suất lúa
Các nước Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan chủ yếu nghiên cứu và
sử dụng giống lúa thuộc loại hình Japonica, hạt gạo tròn, cơm dẻo phù hợpvới thị hiếu tiêu dùng của người dân khu vực này Các giống lúa nổi tiếng củakhu vực này là Tongil (Hàn Quốc), Tai chung 1, Tai chung 2, Gang chan gi,Đee- Geo-Wô-Gen (Đài Loan)… đặc biệt giống Đee-Geo-Wô-Gen là một vậtliệu khởi đầu để tạo ra giống lúa IR8 nổi tiếng một thời [26]
Các chuyên gia nông nghiệp Đài Loan cho biết đã nghiên cứu phát triểnthành công các giống lúa mới giàu dinh dưỡng Các giống này không phải làbiến đổi gen sẵn có nhiều màu sắc khác nhau như đen, đỏ và vàng mà màu sắcphụ thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng như Beta-carotene và anthocyanins - mộtchất chống ôxy hoá Đây là kết quả nghiên cứu gần 9 năm thí nghiệm để kếtluận đột biến trên cây lúa với việc sử dụng các tác nhân hoá học Như trên tathấy, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người các nhà chọn giốngkhông những chọn tạo ra được những giống lúa có năng suất cao mà còn chọntạo ra những giống có chất lượng cao, hàm lượng dinh dưỡng lớn Đây cũng làmột giải pháp để giảm áp lực cho y học Vì vậy, một số viện nghiên cứu quốc
tế đang tập trung vào giống lúa mới “gạo vàng 2” để chống lại nguy cơ bệnh
mù do thiếu vitamin A đang tăng lên trên thế giới So với giống "gạo vàng" phát triển vào năm 2000, “gạo vàng 2” này có hàm lượng beta-carotene cao gấp 23
lần
Theo ông Jagadish Mittur - giám đốc Trung tâm nghiên cứu Monsanto
ở Bangalore (Ấn Độ), bộ gen của giống lúa mới được ghép thêm gen của câythủy tiên hoa vàng hoặc cây ngô Giống lúa đang được nghiên cứu và phát
Trang 16triển ở sáu nước châu Á, trong đó có Việt Nam Vì giống lúa mới là sản phẩmcủa công nghệ biến đổi gen, các nhà khoa học đang nghiên cứu để xác định
độ an toàn thực phẩm và an toàn môi trường của giống lúa này, trước khi đưavào gieo trồng đại trà mang tính thương mại trong vòng 3-4 năm tới [23]
Ngoài châu Á, thì ở Mỹ, năm 1926, J.W Jones đã bắt đầu nêu vấn đề ưuthế lai của lúa khi khảo sát lúa ở Đài Loan Có 2 người tham gia vào đề xuấtvấn đề sản xuất lúa lai thương phẩm là Stansent và Craiglules Trong thờigian gần đây các nhà khoa học Mỹ không chỉ quan tâm đến việc chọn lọc, laitạo và đưa ra những giống lúa có năng suất cao, ưa thâm canh và ổn định, màcòn nghiên cứu tỷ lệ protein trong gạo, phù hợp với thị trường hiện nay.Ngoài ra, trên thế giới còn rất nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu cácgiống lúa nhằm mục đích đưa ra những giống lúa có năng suất cao, phẩm chấttốt, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, thâm canh
1.2.3 Tình hình nghiên cứu giống lúa thuộc loài phụ Japonica trên thế giới
Lúa trồng Oryza sativa (2n = 24) được phân làm các loài phụ là O.S.
Indica, O.S Japonica và O.S Javanica Ngoài ra, còn có các nhóm giống lúatrung gian giữa các loài phụ trên (Glaszmann, 1987) Các giống lúa Japonicađược sản xuất chủ yếu ở vùng lạnh và cận nhiệt đới Một số nhà khoa học trênthế giới, dựa trên phân tích gen, cho rằng các giống lúa Japonica có nguồngốc từ các vùng núi Việt Trung [24]
Trên thế giới người ta biết đến 2 loại gạo chất lượng cao chính: gạohạt dài chất lượng cao thuộc loài phụ Indica, được sản xuất ở các nước nhiệtđới và loại hạt tròn thuộc loài phụ Japonica được sản xuất chủ yếu ở vùnglạnh Khác với lúa Indica, hạt gạo của lúa Japonica tròn, cơm dẻo Một sốgiống lúa Japonica, cơm có màu hơi vàng do có hàm lượng protein trong hạtkhá cao [24]
Lúa Japonica thấp cây đến trung bình, chống đổ tốt, chịu thâm canh,chịu lạnh khoẻ, có khả năng chống chịu nhiều loại sâu bệnh, thời gian sinh
Trang 17trưởng từ ngắn đến trung bình Ưu điểm quan trọng của lúa Japonica là khảnăng chịu lạnh, có khả năng sinh trưởng ở nhiệt độ thấp xung quanh 15oC.Lúa Japonica thích hợp với vùng trồng có khí hậu ôn đới, cận nhiệt đới vàvùng cao nhiệt đới Các nước trồng lúa Japonica chủ yếu tập trung ở châu Ánhư Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc trải dài tới Trung Cận Đông: Ai Cập,Maroc, Thổ Nhĩ Kỳ Do sự đa dạng và tính thích ứng tốt của giống nên cácchâu lục khác cũng trồng lúa Japonica như châu Âu, bắc Mỹ, châu Úc, cácnước Trung Á thuộc Liên Xô (cũ) Lúa Japonica có năng suất trung bình caohơn lúa Indica từ 0,5 - 1 tấn/ha Tại những trạm thực nghiệm năng suất có thểtới 13 tấn/ha Úc và Ai Cập là nơi sản xuất lúa Japonica có năng suất bìnhquân 9-9,5 tấn/ha [24].
Theo thống kê của FAO từ năm 1982-1994 diện tích trồng lúa Japonicatrên thế giới thay đổi không nhiều, nhưng sản lượng lúa tăng 16,6% chủ yếunhờ vào tăng năng suất trung bình từ 5 - 5,8 tấn/ha Tổng sản lượng lúaJaponica của thế giới khoảng 100 triệu tấn trên diện tích 17,29 triệu ha, chiếmkhoảng 11,9% tổng diện tích trồng lúa thế giới [28] Nhưng tình hình sản suấtlúa Japonica trên thế giới hiện nay có những thay đổi, diện tích trồng lúaJaponica đã lên tới 20% Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản xuấtlúa Japonica với tổng diện tích khoảng 7,3 triệu ha, tiếp đó là Nhật bản 2,1triệu ha, Triều Tiên và Hàn Quốc khoảng 2,5 triệu ha, Nepal 1,45 triệu ha Nước Mỹ hàng năm sản xuất khoảng 10 triệu tấn lúa Japonica trên 1,3 triệu
ha (Source: FAO 2005) Bang California là bang sản xuất chính với 90% lúaJaponica, với năng suất bình quân 9 tấn/ha, trong đó xuất khẩu khoảng 30%(Mechel S Paggi and Fumiko Yamazaki 2001) [24]
Ba thị trường nhập khẩu lúa Japonica lớn nhất châu Á là Nhật Bản, HànQuốc và Đài Loan của Mỹ, Australia, Trung Quốc và Thái Lan Riêng NhậtBản mỗi năm nhập khẩu gần 1 triệu tấn gạo Japonica Thổ Nhĩ Kỳ là thịtrường lớn thứ nhì, nhập khẩu từ Ai Cập, Mỹ và Australia [28] Ngoài ra cònkhoảng 42 quốc gia khác nhập khẩu gạo Japonica [24]
Trang 181.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở trong nước
1.3.1 Tình hình sản xuất ở trong nước
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có nền văn minh lúa nước trải qua
4000 năm, sản xuất lúa gạo gắn liền với sự phát triển nông nghiệp Nước tanằm trong vùng khí hậu nóng ẩm, lượng bức xạ mặt trời cao và đất đai phùhợp nên có thể trồng nhiều vụ lúa trong năm với nhiều giống lúa khác nhau
Từ thủa đầu dựng nước cây lúa đã được gắn liền với nền văn minh lúanước trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Cùngthời gian đó năng suất và sản lượng lúa cũng tăng lên rõ rệt nhờ vào côngcuộc cải cách về giống lúa và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về phânbón, tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh một cánh hợp lý, đồng bộ Tính từ năm
1961 đến năm 2005, năng suất lúa của nước ta đã tăng lên 2,8 lần, giai đoạntăng cao nhất là từ thập kỷ 80 đến nay Có được như vậy là nhờ các tiến bộmới trong thâm canh tăng năng suất lúa được ứng dụng rộng rãi, đặc biệt làviệc chuyển đổi cơ chế quản lý đất đai, từ cơ chế hợp tác sang tư nhân hoá(Khoán 10), lấy hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ đã khuyến khích ngườidân đầu tư, thâm canh sản xuất lúa Sản lượng lúa của Việt Nam cũng vì thế
mà tăng liên tục từ 9,0 triệu tấn năm 1961 lên 38,89 triệu tấn năm 2009 (Bảng1.3) Từ một nước thiếu ăn, phải nhập khẩu gần 2 triệu tấn gạo/năm trước đây,Việt Nam đã vươn lên giải quyết an ninh lương thực cho 86 triệu dân, ngoài
ra còn xuất khẩu một lượng gạo lớn ra thị trường thế giới Những năm gầnđây, nước ta luôn đứng thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) về lượng gạo xuấtkhẩu (đạt 5,25 triệu tấn năm 2005) và sẽ ổn định xuất khẩu khoảng 4 - 5 triệutấn trong những năm tiếp theo Đây là thành công lớn trong công tác chỉ đạo
và phát triển sản xuất lúa của Việt Nam
Đảng ta luôn khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nông nghiệp, nôngdân và nông thôn Trong thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như quá
Trang 19trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủnghĩa đều khẳng định tầm vóc chiến lược của vấn đề nông nghiệp, nông dân,nông thôn Chính vì vậy, Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn
ở vị trí chiến lược quan trọng
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong nhữngnăm qua cũng lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu và là khâu đột phá Cụthể, Đại hội VI của Đảng (1986) đã đánh giá: những bước đi đầu tiên trongcải tiến cơ chế quản lý đã cho thấy sự xuất hiện sớm hơn của tư duy mới, cáchlàm mới trong lĩnh vực kinh tế, trong đó có Chỉ thị 100 (tháng 10-1981) củaBan Bí thư Trung ương Đảng về khoán sản phẩm trong nông nghiệp, về thayđổi cách chỉ đạo, tổ chức sản xuất, quản lý hợp tác xã nông nghiệp, đã đem lạiniềm phấn khởi và khí thế mới ở nông thôn, giải phóng sức sản xuất cho hàngtriệu nông dân
Trên cơ sở thắng lợi của cơ chế Khoán 100 (khoán đến nhóm và ngườilao động), ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 về Đổi mới cơ chếquản lý kinh tế trong nông nghiệp, trong đó xác định rõ vai trò của kinh tế hộ,coi hộ gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị kinh tế tự chủ, đượcgiao quyền sử dụng ruộng đất
Tác dụng của cơ chế Khoán 10 cùng với những thành tựu về thuỷ lợi,cải tạo giống, thâm canh tăng năng suất ở đồng bằng Bắc Bộ và mở rộng diệntích đất canh tác ở đồng bằng sông Cửu Long đã đưa nền nông nghiệp ViệtNam sang trang sử mới Từ chỗ thiếu ăn triền miên, đến năm 1988 vẫn cònphải nhập khẩu hơn 450.000 tấn gạo, nhưng từ năm 1989, Việt Nam vừa bảođảm nhu cầu lương thực trong nước, có dự trữ, vừa xuất khẩu gạo mỗi năm từ
1 đến 1,5 triệu tấn và tiến dần lên tới 4 đến 4,5 triệu tấnnhư hiện nay
Trên cơ sở nhìn lại hơn 20 năm đổi mới của đất nước và phân tích thựctrạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ năm 2000 đến nay, Hội nghị
Trang 20Trung ương 7 vừa qua đã tập trung trí tuệ, thảo luận sôi nổi, thẳng thắn, dânchủ và nhất trí thông qua Nghị quyết "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn".
Và ngày 05/8/2008, Ban chấp hành Trung ương đã chính thức ban hành Nghịquyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Hiện nay lúa vẫn là cây lương thực quan trọng nhất ở nước ta, cây lúacung cấp 85 - 87% tổng sản lượng lương thực trong nước
Trong những năm gần đây diện tích cây lúa không tăng nhưng do năngsuất cây lúa được cải thiện đáng kể mà sản lượng lúa không ngừng tăng lên từ24,9 triệu tấn thóc năm 1995 đến năm 2009 đã đạt 38,89 triệu tấn Sau mộtchặng đường dài không ngừng đổi mới phát triển nông nghiệp sản xuất lúagạo ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể như:
Xây dựng và phát triển các cánh đồng lúa nước khắp nơi trên nền tảngcải tạo đất đai, thuỷ lợi, tăng diện tích tưới tiêu Có thể nói nơi nào có đấtphẳng, có nguồn nước thì nơi đó có thể phát triển thành cánh đồng lúa nước
dù ở đồng bằng hay trung du miền núi
Nhập nội và lai tạo giống mới có khả năng thích nghi và chống chịu.Trên cơ sở đó điều chỉnh thời vụ chính và tăng vụ, tăng diện tích lúa đôngxuân, hè thu, giảm diện tích lúa nổi, lúa nương rẫy, phát triển nhiều trà lúa đốivới vụ đông xuân ở miền Bắc để hạn chế bệnh do thời tiết Tạo được mùa vụthay đổi cơ cấu cây trồng trong đó cây lúa làm trung tâm
Ứng dụng hệ thống kỹ thuật canh tác tiến bộ trong việc bón phân, bảo
Trang 21Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam
trong mấy thập kỷ gần đây
( Triệu ha)
Năng suất ( Tạ/ha)
Sản lượng (Triệu tấn)
Trang 22gạo, ngô không đáng kể) Do đó lúa gạo Việt Nam phải chịu sức ép cạnhtranh gay gắt trên sân nhà, trong khi đó cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sảnxuất, chế biến gạo của ta còn lạc hậu
Những giải pháp cơ bản để thúc đẩy xuất khẩu gạo là: Nghiên cứu khảonghiệm và đưa các giống lúa mới phù hợp với thị hiếu của thị trường và tíchcực phát triển các giống lúa chất lượng đã được khẳng định như gạo Chợ Đào
ở Long An, Tám Xoan ở Bắc Bộ,… để tiến tới xây dựng vùng chuyên canhlúa cao cấp với sản lượng 1 triệu tấn/năm tại đồng bằng sông Cửu Long, xâydựng thương hiệu độc quyền cho các sản phẩm cao cấp đó Đồng thời áp dụngtổng hợp các biện pháp như quy trình canh tác, bảo quản sau thu hoạch tiêntiến, nâng cao kỹ thuật và năng lực xay xát, tăng cường khả năng bốc xếp tạicác cảng xuất khẩu để tạo ra một thương hiệu Việt về lúa gạo có sức cạnhtranh mạnh trên thế giới
1.3.2 Tình hình nghiên cứu lúa trong nước
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam châu Á, khí hậu nhiệt đới gió mùa rấtthích hợp cho sự phát triển của cây lúa Có nhiều đồng bằng châu thổ rộng lớnđược phù sa bồi đắp thường xuyên, các vùng đồng bằng châu thổ đều được sửdụng trong sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa
Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, cây lúa luôn gắnliền với đời sống hằng ngày của dân tộc ta Vì vậy có thể nói rằng Việt Nam
là cái nôi của nền văn minh lúa nước, sản xuất lúa gạo đóng vai trò quan trọngđối với đời sống của người dân Việt Nam, nó không những đáp ứng nhu cầutiêu dùng của người dân trong nước mà nó còn góp phần quan trọng vào thịtrường xuất khẩu lúa gạo của thế giới
Trước năm 1954, người dân Việt Nam với đức tính cần cù sáng tạo đãđúc rút được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và đã sử dụng các giống lúađịa phương, tuy năng suất không cao nhưng chất lượng tốt, thích ứng với đấtđai và điều kiện khí hậu của Việt Nam đồng thời có khả năng chống chịu tốt
Trang 23với sâu bệnh Nhiều giống lúa được lưu truyền trong sản xuất từ đời này sangđời khác như giống: Chiêm Tép, Chiêm Sài Đường, Chiêm Cút, các giốnggieo cấy vụ mùa như: lúa Di, lúa Tám Xoan, lúa Dự
Từ sau ngày hoà bình lập lại (1954), miền Bắc nước ta bước vào côngcuộc xây dựng và tái thiết lập đất nước Đảng và nhà nước ta đã đặc biệt chútrọng tới việc phát triển các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặngvới mục đích nhanh chóng đưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, bịtàn phá nặng nề bởi chiến tranh trở thành một đất nước có nền công nghiệpphát triển Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau kinh tế của đất nước tavẫn rơi vào tình trạng khủng hoảng Đất nước vẫn không thể chuyển mình vànông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Trước thực trạng đóĐảng và nhà nước ta đã có những nhìn nhận đúng đắn, thẳng thắn về đườnglối chính sách và vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.Đảng và nhà nước ta quan tâm đó là tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp.Các nhà nông học đã nhập nội, thử nghiệm sản xuất nhiều giống lúa ngắnngày của Trung Quốc, làm tiền đề cho sự ra đời của vụ lúa Xuân gieo cấybằng các giống Chân Trâu Lùn, Trà Trung Tử
Khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước ta được thống nhất, cảnước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975), chúng ta đã tập trung nhiềuvào nghiên cứu cây lúa, trong đó công tác chọn tạo và lai tạo các giống đặcbiệt được chú trọng Nhờ các thành tựu trong nghiên cứu và áp dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật, năng suất lúa của Việt Nam không ngừng tăng Chúng tacũng đã nhập nội một số giống từ Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và củamột số nước khác làm phong phú bộ giống lúa của Việt Nam
Nhận rõ tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp nói chung và sảnxuất lúa gạo nói riêng, cho nên từ đại hội Đảng lần thứ VI và các kỳ đại hộitiếp theo, ngành nông nghiệp đã được Đảng, nhà nước quan tâm thúc đẩyđúng mức Trong một thời gian không lâu đất nước đang từ một quốc gia
Trang 24nhập khẩu lương thực, người nông dân làm ra sản phẩm lúa gạo và các sảnphẩm nông nghiệp khác song quanh năm vẫn chịu cảnh thiểu đói lương thực,nay đã trở thành một quốc gia xuất khẩu lúa gạo đứng thứ 2 trên thế giới,song một vấn đề đặt ra đó là số lượng xuất khẩu nhiều nhưng giá bán khôngcao do chất lượng gạo của Việt Nam còn kém so với các nước khác như TháiLan chẳng hạn Vì thế chiến lược sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong nhữngnăm tới và các thập niên tiếp là: phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hằngnăm ở mức gần 40 triệu tấn/năm như hiện nay, đồng thời đưa vừa gieo cấykhoảng 1 triệu ha lúa chất lượng cao để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước
và đẩy mạnh xuất khẩu gạo chất lượng cao nhằm đem lại hiệu quả kinh tế
Với điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi cho người trồng lúa, Việt Namđược coi như cái nôi của nền văn minh lúa nước Phát huy những lợi thế đótrong những năm qua thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng từ nghị quyếtđại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay nền nông nghiệp nước ta đượcĐảng và nhà nước đặc biệt quan tâm, coi nền nông nghiệp là mặt trận hàngđầu và đã được đầu tư đúng mức nên năng suất và sản lượng lúa gạo ViệtNam không ngừng được nâng cao
Để có được một ngành nông nghiệp như ngày nay, đã có nhiều thế hệnhà khoa học đóng góp công sức, trí tuệ để nghiên cứu ra các công trình khoahọc nông nghiệp có giá trị, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước từ những nămtrước giải phóng cho tới nay, sau thành công về sản lượng lúa chúng ta cần cómột cách nhìn toàn diện hơn về sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong đó vấn
đề chất lượng của lúa gạo cần đặc biệt quan tâm
Việt Nam có hàng nghìn giống lúa được gieo trồng trong cả nước, cónhiều bộ giống tốt phù hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau Một số giốnglúa chất lượng cao như giống Tám Thơm, lúa Dự, Nàng Thơm, Nếp Cái HoaVàng, Nếp Cẩm, Nếp Tú Lệ, các giống Nếp Nương, Tẻ Nương đã được đưavào cơ cấu gieo cấy ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam Chúng ta đã nhập và thuầnhoá nhiều giống lúa tốt từ nước ngoài mà nay đã trở thành các giống lúa đặc
Trang 25sản của Việt Nam có thương hiệu như: IR64 Điện Biên, Bao Thai Định Hoá,Khaodomaly Tiền Giang [20].
1.3.3 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống lúa chất lượng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, lúa thơm có nhiều nét đặc sắc thu hút sự chú ý của nhiềunhà nghiên cứu trên thế giới Bên cạnh lúa thơm cổ truyền, một vài giống lúathuần thông qua lai tạo có mùi thơm cùng được sự phát triển trong sản xuất.Các nhà chọn giống nước ta đã khai thác nguồn bố mẹ trong ngân hàng genViệt Nam thông qua nội dung: chọn giống thuần, đột biến gen, lai đơn, nuôicấy mô khai thác đột biến tế bào somma v.v [19]
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã chọn
ra 5 giống lúa thuần có năng suất và chất lượng cao gồm: HT1, ChiêmHương, BT13, N40, T10 cấy ở Yên Bái, Hà Giang, Bắc Kạn Trong vụ xuân
2008, mặc dù thời tiết rét đậm rét hại đầu vụ đã xoá sổ hầu hết diện tích mạ,lúa lai đã cấy nhưng 5 giống lúa trên tỷ lệ sống vẫn đạt 85 - 95% Các giốngtrên phát triển tốt, sinh trưởng khỏe, năng suất cao, thích ứng rộng Hai giốnglúa N40, T10 có tiềm năng năng suất từ 61 - 72 tạ/ha Giống lúa T10 đã đượcnông dân Thái Bình cấy 2500 ha trong vụ xuân 2008 [2]
Viện cây Lương thực và cây Thực phẩm là Viện nghiên cứu các giốnglúa hàng đầu ở Việt Nam được thành lập từ rất sớm Viện này đã được cácnhà khoa học danh tiếng như: Giáo sư Nông học Lương Đình Của, Viện sĩ VũTuyên Hoàng… lãnh đạo và chỉ đạo công tác nghiên cứu, chọn tạo các giốnglúa Hàng trăm giống lúa xuân, lúa mùa, lúa chịu hạn, chịu úng, lúa nếp, lúa
có hàm lượng Protein cao, lúa chịu mặn đã được chọn tạo và bồi dục ở Việnnày, trong đó có các giống lúa chất lượng cao như: giống P4 và P6 là nhữnggiống lúa được lai tạo theo hướng chất lượng Protein cao Giống P4 có thờigian sinh trưởng trung bình, trồng được 2 vụ/năm, năng suất khá đạt 45 đến
55 tạ/ha cao nhất có thể đạt 72 tạ/ha Giống P4 có hàm lượng protein cao tới
Trang 2611%, hàm lượng amiloza 16-20%, hạt gạo dài, tỉ lệ gạo sát đạt 70%, tỷ lệ gạonguyên đạt 65% Giống lúa P6 ngắn ngày hơn giống lúa P4 thuộc loại hìnhthâm canh, hàm lượng protein đạt 10,5%, năng suất đạt 45-55 tạ/ha, cao nhấtđạt 60 tạ/ha Đây là giống lúa có chất lượng gạo tốt, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu[6][7] Giống lúa nếp K12 do Viện cây lương thực và thực phẩm lai tạo ra cókhả năng chống chịu với bệnh đạo ôn, có thể đạt năng suất từ 33,5- 58 tạ/hachất lượng gạo khá [18]
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam là một viện nghiêncứu nông nghiệp hàng đầu ở Việt nam và đã có nhiều thành tựu trong việcchọn tạo các giống lúa, nhất là các giống lúa chất lượng cao và lúa lai Trướcđây Viện đã nhập và chọn lọc thành công các giống lúa có chất lượng tốt như:IR64, IR66, NN9A là những giống lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Giống lúaNếp 314 do viện lai tạo ra cũng được trồng phổ biến Hiện tại các giống lúalai HYT84 do Viện lai tạo (được công nhận năm 2004), đã được ứng dụng ởnhiều nơi và có kết quả rất khả quan (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2005) [1]
Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam từ khi thành lập cho đến nay đãnghiên cứu trên nhiều lĩnh vực của: Sinh học phân tử, nuôi cấy tế bào, đặc biệttrong lĩnh vực chọn tạo giống lúa đã chọn tạo ra nhiều giống mới: DT10, DT13,DT122, DH1, Tám Thơm, A20, V18, DT12 đây là những giống lúa đạt chấtlượng tốt cho năng suất cao [5]
Viện Bảo vệ thực vật cũng đã chọn tạo được nhiều giống lúa có chất lượngtốt năng suất cao như: CR203, C70, C71
Trong khuân khổ chương trình lương thực thực phẩm cấp nhà nước, LêDoãn Diên và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu chất lượng tập đoàn lúa gạo ở ViệtNam Nghiên cứu đã đánh giá tương đối toàn diện chất lượng của các tập đoàngiống lúa Việt Nam theo 4 nhóm chất lượng là: Chất lượng thương phẩm, chấtlượng nấu nướng, chất lượng ăn uống và chất lượng dinh dưỡng Kết quả cho thấy:
Trang 27Các giống lúa đặc sản và giống lúa cổ truyền của nước ta đều có kíchthước hạt nhỏ hơn so với các giống lúa nhập nội và các giống lúa mới
Các giống lúa đặc sản ở miền Bắc nói chung đều có hạt nhỏ hơn giốnglúa trồng ở miền Nam Lúa đặc sản có tỷ lệ hạt bạc bụng ít hơn so với cácgiống khác
Phần lớn các giống lúa mới trồng ở miền Nam đều có kích thước hạtdài, hình dạng thon dài, có độ trắng trong cao do đó có nhiều giống lúa đạttiêu chuẩn xuất khẩu
Về độ thơm của cơm: các giống lúa đặc sản cổ truyền ở miền Bắc có độthơm cao hơn so với các giống lúa đặc sản miền Nam Thơm nhất trong cácgiống lúa đặc sản ở miền Bắc là giống lúa Tám thơm và thơm nhất trong cácgiống lúa đặc sản ở miền Nam là giống Nàng hương Chợ Đào
Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam và các chuyên giaTrung Quốc đã thử nghiệm thành công giống lúa lai thơm LVC2 phục vụ chocánh đồng 50 triệu đồng/ha tại tỉnh Nam Định Đây là giống lúa cấy được cả 2
vụ xuân và mùa, năng suất trung bình vụ xuân đạt 75-85 tạ/ha, vụ mùa đạt
65-75 tạ/ha), thâm canh có thể đạt cao 120 tạ/ha, chất lượng gạo rất tốt, hạt gạotrong, cơm dẻo, có mùi thơm
Lào Cai cũng tiến hành khảo nghiệm bộ giống lúa năng suất và chấtlượng cao trong toàn tỉnh Gồm các giống: LT2, DT 36, DT 37, Khang Dânđột biến, VĐ7, AC5, Nếp PD2, Giống lúa đặc sản Đài Loan, TB 5, TB 38,
MT 4 - 2, HT1, CH207, CH208, QTN1, N200, N202, PC8, DT 28, DT 38,Nếp ĐN 20, Khang Dân 18, Lưỡng ưu Bồi cửu (CV 1) + Giống Hoa ưu 108,Ngôi sao xanh, Hương ưu 3, lúa lai Quốc hào số 1, QV3, Bắc ưu 903, Nhị ưu
838 Kết quả qua 3 vụ khảo nghiệm (Mùa 2004, Xuân 2005, Mùa 2005),trong 27 giống lúa mới tham gia khảo nghiệm (21 giống lúa thuần, 6 giốnglúa lai), đã kết luận được 4 giống (HT1, Hoa ưu 108, Quốc hào 1, CV1) chonăng suất cao và ổn định, chất lượng gạo cao, sinh trưởng và phát triển khá, ít
Trang 28nhiễm sâu bệnh, thích hợp với các chân đất ở vùng thấp và vùng cao tỉnh LàoCai [25] Như vậy có thể nói rằng trong lĩnh vực sản xuất lúa ở nước tahiện nay, việc nghiên cứu và ứng dụng các giống lúa chất lượng cao trong sảnxuất (nhất là các giống lúa thơm) đang là xu hướng chủ yếu Bước đầu ở một
số nơi có sự tham gia của 4 "nhà": Nhà nông, nhà khoa học, nhà quản lý, nhàdoanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, tư thương).Trong thời gian tới sự hợp tác chặt chẽ và hỗ trợ nhau giữa các "nhà" là cầnthiết để có thể phát triển bền vững sản xuất lúa chất lượng cao, góp phần tănghiệu quả sản xuất lúa và tăng thu nhập cho hộ gia định nông dân
1.3.4 Tình hình sản xuất lúa gạo chất lượng cao ở Việt Nam
Sản xuất lúa đã đi vào ổn định và phát triển theo hướng thâm canh,nâng cao năng suất, chất lượng và tỷ xuất hàng hóa, điều này thể hiện rõ trong
10 năm qua năng suất và sản lượng tăng liên tục (diện tích tăng 2,3%, năngsuất tăng bình quân 2,38%/năm, sản lượng tăng bình quân 4,8%/năm Viện
khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (1999-2001) [10] Nhiều tiến bộ
khoa học kỹ thuật được ứng dụng, nhất là tiến bộ về giống lúa có năng suất vàchất lượng cao như OM80-81, IR58, IR64, IR65, Thơm số 1, Bắc thơm số 7,Tám thơm và các giống lúa lai Trung Quốc Từ đó đã thay đổi sâu sắc trongchuyển đổi cơ cấu mùa vụ, hạn chế và né tránh được nhiều thiệt hại do thờitiết gây ra
Hình thành các vùng sản xuất hàng hóa xuất khẩu, riêng Đồng BằngSông cửu Long sản lượng lúa tăng bình quân 7%/năm, tạo ra khối lượng hànghóa lớn từ 5,5- 6,2 triệu tấn thóc Đồng bằng Sông Hồng sản lượng lúa tăngbình quân 4%/năm, có khối lượng hàng hóa khoảng 1 triệu tấn thóc
Thị trường xuất khẩu gạo ngày càng được mở rộng, từ 50 nước năm
1993 đến nay gạo Việt Nam đã xuất sang trên 80 nước ở khắp các châu lụctrong đó Châu Á vẫn là thị trường lớn nhất chiếm 43,24% Đặc biệt trongnhững năm gần đây thị trường khu vực ở Châu Á tiêu thụ gạo Việt Nam với
Trang 29khối lượng lớn chiếm 62%, khu vực thứ 2 là Châu Phi chiếm 26,2% khốilượng gạo xuất khẩu Những nước nhập khẩu gạo lớn của Việt Nam làIndonesia, Philippin, Trung Quốc, Pêru, chất lượng xuất khẩu gạo ViệtNam cũng được nâng lên Nếu năm 1989 hầu hết lượng gạo của ta xuất khẩucòn đạt chất lượng thấp thì 1992 lượng gạo chất lượng cao đã đạt 40,3%, năm
1997 - 44,0%, lượng gạo xuất khẩu chất lượng cao đạt cao nhất vào năm 1994
1.3.5 Tình hình nhập nội và sản xuất giống lúa thuộc loài phụ Japonica
Hiện nay, Việt Nam đã nhập nội nhiều giống lúa thuộc loài phụJaponica và đã lai với các giống lúa thuộc loài Indica đạt kết quả tốt Cố Giáo
sư Lương Đình Của là người đầu tiên đã lai tạo giống Ba Thắc (lúa Indica Nam Bộ) với giống lúa Buncô (lúa Japonica - Nhật Bản) tạo ra giống NôngNghiệp I (NN1), ngắn ngày, phù hợp với vụ hè thu ở Trung Bộ
-Bộ môn Di truyền - Giống Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội cũng
đã lai lúa A5 (từ NN8) với giống Rumani 45 để tạo ra giống NN75-3 (VN10)hiện nay vẫn được sử dụng trong vụ chiêm xuân ở miền bắc do có khả năngchịu rét
An Giang là tỉnh đầu tiên của Việt nam đưa các giống lúa Nhật vào sảnxuất trên địa bàn tỉnh Năm 2000, diện tích lúa Nhật trên địa bàn tỉnh An
Trang 30Giang là 300 ha đến nay phát triển 900 ha, vụ sản xuất đông xuân 2008-2009gieo cấy 2000 ha Vụ đông xuân 2007-2008, hợp tác xã Vĩnh Thắng - ThoạiSơn - An Giang đã ký hợp đồng với Công ty Liên doanh Angimex - Kitoku(Nhật Bản) sản xuất 4 loại giống lúa thuần chủng Nhật như: Hananamai,Kinu, Akitakomachi, Koshihikari Các loại giống này có thời gian sinh trưởng
từ 80-85 ngày, năng suất bình quân từ 5,3-7 tấn/ha Mấy năm gần đây, thịtrường lúa gạo trong nước thường gặp các giống lúa Japonica có nguồn gốcNhật Bản với giá bán cao gấp 2-3 lần giá gạo Indica Nhu cầu đối với lúa gạochất lượng cao của người tiêu dùng trong nước và người nước ngoài làm ăntại Việt Nam ngày càng lớn là cơ hội để mở rộng sản xuất và thương mại một
số giống lúa mới chất lượng cao - lúa hạt tròn Japonica [24]
Theo Nguyễn Văn Luật, vào thập niên 90, Viện Lúa ĐBSCL đã có hợptác với Viện JIRCAS của Nhật Bản nghiên cứu khảo nghiệm các giống lúaJaponica do các nhà khoa học Nhật mang sang Viện Quy hoạch và Thiết kếNông nghiệp cũng đã hợp tác với Nhật trồng thử ở Thái Bình và một số địaphương khác Đồng thời công ty của Nhật cũng hợp tác với tỉnh An Giangtrồng thử nghiệm các giống lúa hạt tròn Japonica, năng suất đạt 8 - 8,5 tấn/ha.(Vụ lúa đông xuân 2008-2009, anh Nguyễn Nhật Hoai, nông dân ở ấp TâyBình, xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang cho biết: Với 5 hatrồng lúa giống của Nhật, sau khi trừ chi phí còn lãi trên 170 triệu đồng ) Tuyvậy, các nghiên cứu trên đây vẫn chưa xác định được giống lúa nào phù hợpvới loại đất nào (Nguyễn Văn Luật, 2007) [24]
Viện Di truyền Nông nghiệp đang triển khai việc chọn tạo các giốnglúa thuộc loài phụ Japonica Viện đã kết hợp với các Viện thuộc Viện Khoahọc Nông nghiệp Việt Nam (VAAS), Hội Giống cây trồng TW triển khai việcchọn tạo, khảo nghiệm gần 100 giống lúa thuộc loài phụ Japonica khác nhau
ở các tỉnh phía Bắc Trong đó, giống lúa ĐS1 thuộc loài phụ Japonica doGS.TS Hoàng Tuyết Minh và cộng sự chọn tạo, được khảo nghiệm và nhân
Trang 31giống từ năm 2001, có năng suất cao, chất lượng tốt, được Bộ NN và PTNTcông nhận là giống cây trồng được phép sản xuất kinh doanh ở Việt Nam từnăm 2011 Hiện tại giống ĐS1 đang được mở rộng sản xuất tại các tỉnh đồngbằng sông Hồng và miền núi như: Hưng Yên, Thái Bình, Hoà Bình, TháiNguyên và một số địa phương khác [24].
Giống lúa ĐS1 cũng là giống lúa được chọn tạo từ giống nhập nộithuộc loài phụ Japonica và đã được khảo nghiệm quốc gia cũng như các tỉnh
từ vụ xuân năm 2004 Đặc biệt giống ĐS1 là giống lúa thuần chất lượng cao
và ổn định Giống ĐS1 trồng được cả hai vụ, thời gian sinh trưởng trung bình,năng suất vụ xuân đạt trung bình 7-8 tấn/ha, có nhiều ưu điểm: cứng cây, chịurét tốt, ít bị sâu bệnh Đặc biệt, vụ xuân năm 2008 là vụ rét lịch sử, hàngtrăm ngàn ha mạ và lúa bị chết rét, nhưng lúa ĐS1 mạ vẫn xanh tốt, bộ rễtrắng tinh, năng suất ở nhiều điểm đạt trên 8tấn/ha Theo báo cáo của Trungtâm giống Hoà Bình, lúa ĐS1 càng lên vùng cao lạnh hơn thì năng suất caohơn, một số gia đình đạt trên 10tấn/ha Giá gạo ĐS1 bán tại địa phương caohơn so với các giống khác 2.500đ/kg Kết quả sản xuất giống ĐS1 tại các xãvùng cao Thái Nguyên và một số tỉnh miền xuôi vụ xuân năm 2010 như tỉnhHải Dương, Hòa Bình, Thái Bình,… giống lúa ĐS-1 được đánh giá là có thểtrồng được 2 vụ, là giống lúa chất lượng cao, có tiềm năng về năng suất, cóthể đạt từ trên 5 tấn đến 8 tấn/ha/vụ Giống dễ trồng, dễ tính, rất phù hợp vớiđiều kiện đất đai và canh tác ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt rất thích hợp vớivùng núi cao lạnh và sâu bệnh ít nên nhân dân rất ưa chuộng Trong điều kiệnrét đậm và rét hại vụ đông xuân năm 2008, trong khi hàng trăm ha lúa, mạ cácgiống khác bị chết rét thì giống lúa này vẫn có khả năng chống rét tốt, sinhtrưởng bình thường Do vậy, các tỉnh phía Bắc, nhất là các tỉnh miền núi cao córất nhiều triển vọng để mở rộng sản xuất giống lúa này Ngoài ra Viện Di truyềnnông nghiệp đang tiếp tục khảo nghiệm và chọn tạo hàng chục giống Japonicakhác, trong đó đang nhân nhanh một số giống: J01, J02 có thời gian sinh
Trang 32trưởng từ 100 - 110 ngày, năng suất tiềm cao và tỷ lệ gạo cao hơn, có thểtham gia cơ cấu mùa sớm kịp cho sản xuất vụ đông [24]
Chiến lược phát triển giống lúa thuộc loài phụ Japonica thời gian tới làtuyển chọn những giống có năng suất, chất lượng, chống chịu sâu bệnh đểphát triển sản xuất ở các tỉnh miền Bắc, đặc biệt là miền núi phía Bắc Dựkiến sẽ đưa kỹ thuật gieo thẳng vào sản xuất và đưa vụ xuân sớm hơn nhờ đặctính chịu lạnh, khai thác các giống có thời gian sinh trưởng ngắn, bảo đảm sảnxuất được 2 vụ lúa có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, chất lượng gạo caohơn so với các giống Indica ở cùng khu vực Khai thác thêm một vụ đônggiữa 2 vụ lúa ở một số địa bàn Gạo Japonica sản xuất ở miền núi cần trởthành thương hiệu với chất lượng và giá trị thương mại cao, phục vụ nội tiêu
và xuất khẩu Sự tham gia của các công ty giống, các công ty chế biến cầnđược khuyến khích để đẩy mạnh sản xuất và quảng bá “Gạo núi Japonica”,
“Gạo hữu cơ Japonica” [24]
Trang 33CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Gồm 3 giống lúa loài phụ Japonica và giống lúa lai Nhị ưu 838(đối chứng)
Bảng 2.1 Tên, loài phụ, nguồn gốc và đặc điểm các giống lúa thí nghiệm
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Tại cánh đồng xã Nậm Khắt huyện Mù Cang Chải - tỉnhYên Bái; nơi người dân và chính quyền địa phương chưa tổ chức sản xuất vụXuân, ruộng chỉ gieo cấy 1 vụ (vụ mùa)
- Thời gian: Vụ Xuân 2011 (Từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2011), vụxuân 2012 (Từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2012)
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, và năng suất củacác giống lúa tham gia thí nghiệm
- Đánh giá tình hình sinh trưởng, phát triển, năng suất, khả năng chịulạnh các giống lúa loài phụ Japonica trong điều kiện sản xuất vùng cao tại xãNậm Khắt huyện Mù Cang Chải
- Lựa chọn ra một số 1-2 giống lúa dòng Japonica có triển vọng để bổsung vào cơ cấu giống lúa của tỉnh
Trang 342.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Đất đai nơi thí nghiệm
Ruộng thí nghiệm được bố trí trên chân đất vàn, chủ động tưới tiêu, cấytrên đất 1 vụ lúa tại xã Nậm Khắt huyện Mù Cang Chải
2.2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 4 giốnglúa, 3 lần nhắc lại (3 giống lúa loàip phụ japonica và giống Nhị ưu 838 đốichứng) Diện tích mỗi ô là 5 m x 2 m = 10 m2
- Giống 1 đến giống 3 lần lượt là các giống có triển vọng, trong đó:giống ĐS1 đã được Bộ Nông nghiệp cho sản xuất kinh doanh tại địa bàn cáctình đồng bằng Sông Hồng và Trung du Miền núi phía Bắc; giống J01, J02đang trong quá trình khảo nghiệm
- Giống 4: Giống Nhị ưu 838 (đối chứng)
- Diện tích ô thí nghiệm: 5 m x 2 m = 10 m2 Số ô thí nghiệm: 12 ô
- Diện tích thí nghiệm: 10 m2 x 3 NL x 12 ô= 360 m2
* Xác định điểm theo dõi:
Mẫu được theo dõi mỗi ô lấy 5 khóm, theo đường chéo của từng ô thínghiệm (khóm giao điểm của đường chéo và 4 khóm còn lại là điểm giữa từgiao điểm đường chéo đến 4 góc của ô thí nghiệm)
Trang 35* Phương pháp theo dõi: Theo quy phạm khảo nghiệm giống lúa quốc gia.
2.3 Kỹ thuật áp dụng
2.3.1 Thời vụ
- Làm mạ:
+ Vụ xuân: Gieo từ 5/01, cấy 5/02 Mạ 20-25 ngày tuổi
+ Làm mạ xuân phải che phủ nilon để giữ ấm cho mạ
2.3.2 Kỹ thuật làm mạ, cấy
- Giống lúa ĐS1, J01, J02 ngâm tiếp bằng nước sạch trong 70 - 78 giờ,
cứ sau 12 giờ đãi sạch và thay nước 1 lần Khi thấy hạt đã hút đủ nước thì đãsạch và ủ
- Giống lúa lai đối chứng Nhị ưu 833 ngâm 24 ha, 4-6 giờ đãi sạch thaynước một lân Khi thấy hạt đã hút đủ nước thì đã sạch và ủ
Tránh gieo mạ khi nhiệt độ quá cao Nên gieo mạ vào chiều mát
- Làm mạ: gieo 1 kg giống/10 m2 ruộng mạ Lên luống mạ rộng 1- 1,2mlàm bùn nhuyễn, mặt luống bằng phẳng, róc nước, mạ xuân cần che phủ nilon
* Phân bón cho 1 ha ruộng mạ
- Phân chuồng 300 kg + 75 kg P2O5
- Cách bón:
+ Bón lót: 100% phân chuồng + 100% phân lân
- Ruộng mạ phải tưới tiêu xen kẽ, tránh nứt chân chim, tránh quá úng,quá rét
* Phân bón cho ruộng lúa cấy
Trang 36* Kỹ thuật cấy
- Tuổi mạ lúc cấy: 4,0 - 4,5 lá với mạ dược
- Số dảnh cấy: 2 dảnh/ khóm
- Mật độ cấy: 40 khóm/ m2 với khoảng cách cấy 20 x 12,5 cm
- Cấy mạ kèm bùn (mạ xúc), không giũ mạ, cấy nông tay
* Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh
- Bón phân xong giữ nước 4 - 5 ngày để giữ phân
- Làm cỏ 2 đợt: đợt 1 sau bón thúc lần 1, làm cỏ đợt 2 sau đợt 1 là 15 ngày
- Chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh theo kết quả điều tra đồng ruộng (IPM)
2.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
2.4.1 Chỉ tiêu chất lượng mạ
- Ngày gieo mạ
- Sức sống của mạ: Quan sát quần thể mạ trước khi nhổ cấy
+ Điểm 1: Mạnh - cây sinh trưởng tốt, lá xanh, nhiều cây có hơn 1 dảnh.+ Điểm 5: Trung bình - cây sinh trưởng trung bình, hầu hết có 1 dảnh.+ Điểm 9: Yếu - cây mảnh yếu hoặc còi cọc, lá vàng
- Số lá mạ khi cấy
- Chiều cao cây mạ (cm)
2.4.2 Khả năng chịu lạnh
Theo dõi khả năng chịu lạnh ở giai đoạn mạ
+ Điểm 1: Mạ mầu xanh đậm
Trang 37+ Điểm 3: Mạ mầu xanh nhạt
- Ngày làm đòng: Là ngày có 50% số cây làm đòng
- Ngày bắt đầu trỗ: Là ngày có 10% số cây có bông thoát khỏi bẹ láđòng khoảng 5 cm
- Ngày kết thúc trỗ: Là ngày có 80% số cây có bông thoát khỏi bẹ láđòng khoảng 5 cm
- Thời gian trỗ bông: Số ngày từ bắt đầu trỗ đến kết thúc trỗ
- Thời gian chín: Khi có 85% số hạt chín trên các khóm
- Tổng số dảnh/khóm (dảnh).- Tỷ lệ thành bông (%)
- Chiều cao cây khi thu hoạch: cm
- Tổng thời gian sinh trưởng: Ngày
2.4.4 Các chỉ tiêu năng suất
- Bông/khóm (bông)
- Tổng số hạt/bông (hạt)
- Số hạt chắc/bông (hạt)
- Tỷ lệ lép (%)
- Khốilượng nghìn hạt (gram): Hạt thóc đã tách ra khỏi bông, phơi khô đến
độ ẩm 13 - 14% sau đó tiến hành cân khối lượng 1000 hạt bằng cách như sau:
Trang 38Đếm mỗi lần 500 hạt, cân 3 lần được khối lượng KL1, KL2, KL3 khi sựsai khác giữa 2 lần cân < 3% thì KL1000 hạt được tính theo công thức sau:
- Năng suất thống kê: Gặt 3 m2/ ở giữa 1 ô thí nghiệm, tuốt lấy hạt,phơi khô đến độ ẩm 13 - 14 % quạt sạch rồi cân và qui ra tạ/ha
- Năng suất thực thu: (tạ/ha)
2.4.5 Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại
* Rầy nâu: Theo dõi (ở giai đoạn lúa làm đòng) cây chuyển vàng từng
bộ phận hay toàn bộ cây theo thang điểm:
- Điểm 0: Không bị hại
- Điểm 1: Hơi biến vàng trên một số cây
- Điểm 3: Lá biến vàng bộ phận chưa bị cháy rầy
- Điểm 5: Những lá vàng rõ, cây lùn hoặc héo, 10 - 25% số cây bị cháyrầy, cây còn lại lùn nặng
- Điểm 7: Hơn nửa số cây bị héo hoặc cháy rầy, cây còn lại lùnnghiêm trọng
- Điểm 9: Tất cả các cây chết
* Sâu cuốn lá: Theo dõi ở giai đoạn đứng cái làm đòng, tính tỷ lệ bị sâu
ăn phần xanh của lá hoặc lá bị cuốn thành ống ở thời kỳ sinh trưởng dinhdưỡng theo thang điểm dưới đây:
- Điểm 0: Không có cây bị hại
- Điểm 1: Từ 1- 10% cây bị hại
- Điểm 3: Từ 11 - 20 % cây bị hại
- Điểm 5: Từ 21-35% cây bị hại
Trang 39- Điểm 7: Từ 36 - 60% cây bị hại.
- Điểm 9: Từ 61 - 100% cây bị hại
* Sâu đục thân: theo dõi (ở giai đoạn đứng cái làm đòng) tỷ lệ dảnh
chết ở giai đoạn đẻ nhánh - làm đòng và bông bạc ở giai đoạn vào chắc đếnchín ở 5 khóm điều tra, với 3 lần nhắc lại, đánh giá theo thang điểm
- Điểm 0: Không bị hại
- Điểm 1: Từ 1 - 10% dảnh hoặc bông bị hại
- Điểm 3: Từ 11 - 20% dảnh hoặc bông bị hại
- Điểm 5: Từ 21 - 30% dảnh hoặc bông bị hại
- Điểm 7: Từ 31 - 50% dảnh hoặc bông bị hại
- Điểm 9: Từ 51 -100% dảnh hoặc bông bị hại
* Bệnh bạc lá: (ở giai đoạn đứng cái làm đòng) đánh giá trên diện tích
lá bị hại tính theo thang điểm:
- Điểm 1: Từ 1 - 5% diện tích lá bị hại
- Điểm 3: Từ 6 - 12 % diện tích lá bị hại
- Điểm 5: Từ 13 - 25% diện tích lá bị hại
- Điểm 7: Từ 26 - 50% diện tích lá bị hại
- Điểm 9: Từ 51 - 100% diện tích lá bị hại
* Bệnh khô vằn (ở giai đoạn đứng cái làm đòng) theo thang điểm đánh
giá độ cao của vết bệnh trên cây gồm có:
- Điểm 0: Không có triệu chứng hại
- Điểm 1: Vết bệnh ở vị trí thấp hơn 20% chiều cao cây
- Điểm 3: Vết bệnh ở vị trí 20 - 30% chiều cao cây
- Điểm 5: Vết bệnh ở vị trí 31 - 45% chiều cao cây
- Điểm 7:Vết bệnh ở vị trí 46 - 65% chiều cao cây
- Điểm 9: Vết bệnh ở vị trí trên 65% chiều cao cây
* Bệnh đạo ôn:
Đạo ôn lá (theo dõi ở vụ xuân, tiến hành đánh giá theo thang điểm):
Trang 40- Điểm 0: Không thấy có vết bệnh.
- Điểm 1: Các vết bệnh màu nâu hình kim châm ở giữa chưa xuất hiệnvùng sinh sản bào tử
- Điểm 2: Vết bệnh nhỏ, tròn hoặc hơi dài, đường kính 1 - 2mm cóviền nâu rõ rệt, hầu hết các lá dưới đều có vết bệnh
- Điểm 3: Dạng hình vết bệnh như ở điểm 2 nhưng vết bệnh xuất hiệnđáng kể ở các lá trên
- Điểm 4: Vết bệnh điển hình cho các giống nhiễm, dài 3mm hoặc hơn,diện tích vết bệnh trên lá dưới 4% diện tích lá
- Điểm 5: Vết bệnh điển hình chiếm 4- 10% diện tích lá
- Điểm 6: Vết bệnh điển hình chiếm 11 - 25% diện tích lá
- Điểm 7: Vết bệnh điển hình chiếm 26 - 50% diện tích lá
- Điểm 8: Vết bệnh điển hình chiếm 51 - 75% diện tích lá
- Điểm 9: Hơn 75% diện tích lá bị bệnh
Đạo ôn cổ bông: theo dõi ở vụ mùa, tiến hành đánh giá theo thang điểm:
- Điểm 0: Không thấy vết bệnh hoặc chỉ có vết bệnh trên vài cuống bông
- Điểm 1: Vết bệnh có trên một vài cuống bông hoặc trên gié cấp 2
- Điểm 3: Vết bệnh trên một vài gié cấp 1 hoặc phần giữa của trục bông
- Điểm 5: Vết bệnh bao quanh một phần gốc bông hoặc ở phần thân rạ
ở phía dưới trục bông
- Điểm 7: Vết bệnh bao quanh cổ bông hoặc phần trục gần cổ bông, cóhơn 30% hạt chắc
- Điểm 9: Vết bệnh bao quanh cổ bông hoặc phần thân rạ cao nhất hoặcphần trục gần gốc bông, số hạt chắc thấp hơn 30%
2.4.6 Đánh giá chất lượng các giống lúa trong mô hình
- Đánh giá hình thái: Hình dạng, kích thước, độ trong, bạc bụng củahạt gạo
- Tỷ lệ gạo xay và tỷ lệ gạo xát được tính bằng % khối lượng thóc