Rất Rất Hay!
Trang 1FAO : Tổ chức Nông Lương liên hiệp quốc (Food and Agriculture
Organization of the United Nations)
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng đào một số nước trên thế giới
năm 2010 14
Bảng 1.2 Tổng hợp một số yếu tố khí hậu tại Ba Bể, Bắc Kạn 33
Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái bộ lá của 1 số giống đào 45
Bảng 3.2 Đặc điểm thân cành của các giống gốc đào 5 năm tuổi 46
Bảng 3.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống đào 5 năm tuổi 47
Bảng 3.4 Động thái tăng trưởng đường kính gốc của các giống đào 5 năm tuổi 49
Bảng 3.5 Động thái tăng trưởng đường kính tán của các giống đào 5 năm tuổi 50
Bảng 3.6 Đặc điểm sinh trưởng lộc xuân của các giống đào 5 năm tuổi 52
Bảng 3.7 Đặc điểm sinh trưởng lộc hè của các giống đào 5 năm tuổi 53
Bảng 3.8 Đặc điểm ra hoa của các giống gốc đào 5 năm tuổi 54
Bảng 3.9 Đánh giá đặc điểm quả của các giống đào 5 năm tuổi 55
Bảng 3.10 Đặc điểm chất lượng quả của các giống đào 5 năm tuổi 57
Bảng 3.11 Một số sâu, bệnh hại chủ yếu trên các giống đào 5 năm tuổi 58
Bảng 3.12 Ảnh hưởng bón của việc phun phân bón qua lá, kích phát tố đến tỷ lệ đậu quả và năng suất của giống đào Nhị nguyệt đào 61
Bảng 3.13 Ảnh hưởng bón của việc phun phân bón qua lá, kích phát tố đến tỷ lệ ăn được và chất lượng của giống đào Nhị nguyệt đào 62
Bảng 3.14 Sơ bộ hạch toán kinh tế của phun một số loại phân bón qua lá, kích phát tố cho giống đào Nhị nguyệt đào 63
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của các biện pháp cắt tỉa cành đến phân hóa các đợt lộc của giống đào Nhị nguyệt đào 64
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của các biện pháp cắt tỉa cành đến năng suất của giống Nhị nguyệt đào 65
Bảng 3.17 Sơ bộ hạch toán kinh tế của biện pháp cắt tỉa cho giống đào Nhị nguyệt đào 65
ii
Trang 3DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Đồ thị động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống đào
5 năm tuổi 48Hình 3.2 Đồ thị động thái tăng trưởng đường kính gốc của các giống đào
5 năm tuổi 49Hình 3.3 Đồ thị động thái tăng trưởng đường kính tán của các giống đào
5 năm tuổi 51
iii
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây ăn quả có vai trò rất lớn trong đời sống, kinh tế và sản xuất nôngnghiệp của kinh tế gia đình cũng như phát triển kinh tế của một vùng sinh thái
và cả đất nước Cây ăn qủa cung cấp nguồn dinh dưỡng quý giá cho conngười, sản xuất cây ăn quả không chỉ cung cấp lượng hàng hóa quả tươi chothị trường trong nước và xuất khẩu mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngànhcông nghiệp chế biến
Cây đào (Prunus persica) thuộc họ hoa hồng (Rosaceae) được trồng để
lấy hoa và quả Hoa đào rực rỡ và được người dân Việt Nam coi trọng lấy làmhoa xuân tết, qủa đào có mã đẹp, vị ngọt, chua, rất hợp khẩu vị của nhiềungười, quả đào được dùng chính để ăn tươi ngoài ra còn có thể chế biến thànhcác sản phẩm như: Đào ướp đường, ô mai đào, rượu đào… đặc biệt đào phơikhô là một sản phẩm quý có tác dụng nhuận tràng, dễ tiêu, kích thích thầnkinh tốt Quả đào chứa nhiều dinh dưỡng, trong 100 gam thịt quả đào cóchứa 85,1% nước; 0,7% protit; 0,2% lipit; 13,5% gluxit, 16mg Ca, 32mgphotpho; 145mg kali và các vitamin B1, B2, C
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi, vùng cao, có địa hình phức tạp, độ chiacắt mạnh, có núi đá xen kẽ núi đất, độ đốc lớn bình quân: 26-300, một số vùng
có độ cao từ 700 đến trên 1000m so với mặt nước biển nên mang đặc điểmcủa khí hậu ôn đới, có thể trồng một số loại cây ăn quả ôn đới như: Đào, lê,hồng, mận… Với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, bằng việckhai thác các tiềm năng của từng vùng về điều kiện đất đai, khí hậu thời tiết
để đưa các giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao nhằm từng bướcnâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, ổn định cho đồng bào dân tộc trongtỉnh, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững Trong những năm qua ngoài việcphát triển cây ăn quả đặc sản của địa phương thì tỉnh cũng đã quan tâm tới
Trang 5việc nhập nội của Đài Loan, Trung Quốc, Nhật… đã nhập về một số giốngcây ăn quả ôn đới để nghiên cứu trồng khảo nghiệm tại tỉnh để bổ sung và làmphong phú cơ cấu giống cây ăn quả tại địa phương.
Cây đào là một trong những cây ăn quả quan trọng của vùng ôn đới và
á nhiệt đới Cây đào được trồng ở nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc,Italy, Tây Ban Nha, Mỹ… Ở Việt Nam đào được trồng chủ yếu tại các tỉnhmiền núi như: Sơn La, Lào Cai, Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Kạn… nơi có độlạnh cần thiết vào mùa đông để giúp cho đào có thể tích lũy độ lạnh để ra hoa
và đậu quả
Tại Bắc Kạn, cây đào được trồng từ rất lâu ở các huyện Ngân Sơn và
Ba Bể với diện tích khoảng 80ha, đã trở thành đặc sản của địa phương Giốngđào Ngân Sơn thường chín vào tháng 7-8 dương lịch, quả trung bình 12-15quả/kg, dóc hạt, vị ngọt, thịt giòn Tuy nhiên thời gian ra hoa đậu quả vàotháng 3 đầu tháng 4 nên thường bị ruồi đục quả hại nặng Do đó đã ảnh hưởngtới năng suất, chất lượng quả đào Vì vậy việc nhập nội, trồng thử nghiệm một
số giống mới, năng suất cao, chất lượng tốt là rất cần thiết Từ những vấn đề
đặt ra ở trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu khả năng sinh
trưởng phát triển và biện pháp kỹ thuật đối với giống đào có triển vọng tại huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn".
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Thông qua nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của các giống đào nhậpnội để chọn được giống đào chín sớm phù hợp với điều kiện tự nhiên tỉnh BắcKạn góp phần khai thác thế mạnh điều kiện tự nhiên của tỉnh nhằm nâng caothu nhập, xóa đói giảm nghèo
Trên cơ sở đó xác định được biện pháp kỹ thuật đối với giống đào cótriển vọng
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài và ý nghĩa thực tiễn
Cây đào là loại cây ăn quả lâu năm chịu ảnh hưởng rất rõ các điều kiệnngoại cảnh, biểu hiện qua sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng quả.Những đặc trưng, đặc tính của cây đào biểu hiện ra trong một đời hay mộtnăm đều là kết quả phản ánh tổng hợp giữa đặc điểm của giống với điều kiệnngoại cảnh Việc điều tra, phân tích đặc điểm thực vật học, sinh vật học củagiống đào ở các điều kiện ngoại cảnh khác nhau, sẽ phân biệt được giống vàxác định được khả năng thích ứng của giống cho từng vùng sinh thái, đồngthời điều tra tình hình trồng trọt, sẽ là cơ sở đề ra được những biện pháp kỹthuật nông nghiệp có hiệu quả Do đó điều tra sinh vật học cây ăn quả là mộttrong những biện pháp cơ bản để nghiên cứu quy luật sinh trưởng phát triểncủa cây và làm nền tảng cho những thí nghiệm khoa học về cây ăn quả nóichung và cây đào nói riêng
Cây đào trong quá trình sống thường bị các loại sâu bệnh hại làm giảmnăng suất và chất lượng của quả, làm cho mẫu mã quả xấu, hiệu quả kinh tếkhông cao và còn làm cho cây đào thoái hoá giống Do vậy cần nghiên cứu tìnhhình sâu bệnh để làm cơ sở cho biện pháp phòng trừ một cách có hiệu quả
Thông qua việc điều tra cho thấy cây đào có thời gian quả chín tậptrung, khi chín nếu không thu hoạch kịp thời thì tỷ lệ thiệt hại do sâu bệnh,điều kiện khắc nhiệt của ngoại cảnh gây nên tổn thất lớn Vì thời gian thuhoạch quả ngắn, gặp nhiều khó khăn trong vận chuyển, cung ứng sản phẩmquả tươi cho thị trường dẫn đến bị ép giá Giá cả thấp không đủ đầu tư trở lạinên chất lượng quả và vườn cây ngày càng giảm
Tính trạng chín tập trung ở cây đào nói riêng đã làm giảm giá trịthương mại của các loại quả Do vậy cần phải nghiên cứu thử nghiệm các
Trang 8giống đào chín sớm để làm phong phú và đa dạng tập đoàn giống cây ăn quả ônđới của tỉnh cũng khai thác tiềm năng về điều kiện tự nhiên khí hậu của vùng.Nâng cao thu giá trị sản phẩm, tăng thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác.
Các giống đào chín sớm là giống nhập nội từ Đài Loan Sau 5 nămtrồng thử nghiệm tại huyện Ba Bể và Ngân Sơn chúng tôi thấy có một sốgiống triển vọng thể hiện ở đặc điểm sinh trưởng, phát triển khá, mẫu quảđẹp, thu quả vào đầu tháng 5 Tuy nhiên để có thể đánh giá một cách chínhxác thì chúng ta cần nghiên cứu một cách có khoa học
1.2 Nguồn gốc và phân loại
1.2.1 Nguồn gốc
Cây đào danh pháp khoa học Prunus persica là một loài cây có lẽ có
nguồn gốc từ Trung Quốc, được trồng để lấy quả hay hoa Tên gọi khoa họcpersica có lẽ có từ niềm tin ban đầu của người châu Âu cho rằng đào cónguồn gốc từ khu vực Ba Tư (Persia- hiện nay là Iran) Sự đồng thuận lớntrong giới các nhà thực vật học ngày nay đã cho rằng nó có nguồn gốc từTrung Quốc và được đưa vào Ba Tư cũng như khu vực Địa Trung Hải theocon đường tơ lụa vào khoảng thời gian ban đầu của lịch sử nhân loại, có lẽvào khoảng thiên niên kỷ 2 trước công nguyên (Huxley và cs, 1992) [30]
Các giống đào trồng được chia thành hai loại là “hột rời” và “hột dính”,phụ thuộc vào việc hột dính với cùi thịt hay không; cả hai loại này đều có cùithịt trắng hay vàng Quả đào với cùi thịt trắng thông thường có vị rất ngọt và
ít vị chua, trong khi loại có cùi thịt màu vàng thông thường có vị chua kèmtheo vị ngọt, mặc dù điều này cũng có sự giao động lớn Cả hai màu thôngthường đều có các vệt đỏ trong lớp thịt của chúng Loại đào cùi trắng, ít chua
là phổ biến nhất tại Trung Quốc, Nhật Bản và các quốc gia châu Á xungquanh, trong khi người châu Âu và Bắc Mỹ ưa thích loại có cùi thịt màu vàng
và có vị chua hơn (Huxley và cs 1992) [30]
Trang 91.2.2 Phân loại
Cây đào prunus persica, thuộc họ thực vật Rosaceae Họ thực vật thân
gỗ, thân thảo và thân bụi, cây có bộ lá thay thế và ra hoa thường xuyên Đào
được xếp vào giống Prunus Cây than gỗ hoặc thân bụi có hoa 5 cánh, 5 đài
với khoảng 20 nhị và một bầu nhụy đơn Đối với cây ăn quả hạt cứng (đào,
đào nhẵn, mận), thì giống Prunurs được chia thành nhiều loại khác nhau (Võ
văn Chi, Dương Đức Tiến) [7]
Đối với mận, có hai loại được trồng sản xuất hàng hóa là Prunurs
domestica L (Mận Châu Âu) và Prunurs sanicina Lindl (Mận Nhật Bản).
Đối với đao và đào nhẵn, chỉ có một loại duy nhất, prunurs persica (L)
Batsch Đào nhẵn là một loại đào không có lông trên vỏ quả Mỗi loại được
chia thành nhiều dòng khác nhau như: Dòng đào TropicBeauty; Dòng đào
EarliGrande (Võ văn Chi, Dương Đức Tiến) [7].
Đào được xếp vào loại quả hạch Quả được phát triển từ một noãn đơn,
và hầu hết từ những loại hoa có bầu nhụy hoàn hảo Quả có lớp ngoài mềmgọi là vỏ quả, thịt quả bao quanh hạch cứng có chứa hạt Do đặc điểm trênđào thuộc nhóm cây ăn quả hạt cứng (Võ văn Chi, Dương Đức Tiến) [7]
1.2.3 Giới thiệu một số giống đào của Việt Nam
* Đào Mèo
Là giống địa phương được trồng rất lâu đời tại các tỉnh miền núi phíaBắc, giống đào này sinh trưởng rất khỏe, thời gian ra hoa xung quanh dịp Tếtnguyên đán, quả chín vào tháng 7, cỡ quả trung bình có mầu vàng hoặc vàngnhạt, chất lượng quả kém, vị rất chua hơi đắng Giống này nhân dân thườngtrồng bằng hạt, giá trị sử dụng thấp, thích hợp cho việc sử dụng làm gốc ghép
* Đào Tuyết
Đặc điểm sinh trưởng khỏe, được trồng ở Sa Pa, thời gian ra hoa vàotháng 2, thu hoạch giữa tháng 6 Quả trung bình, vỏ và thịt quả đều mầu trắng,giòn, chua
Trang 10* Đào Vân Nam
Đây là giống đào nhập nội từ Trung Quốc vào những năm 1963 và 1967
Có 2 loại giống chín sớm và giống chín muộn, được trồng nhiều tạihuyện Sa Pa tỉnh Lào Cai
Giống chín sớm có quả trung bình, chất lượng khá Mầu quả phớt hồng,thịt quả hồng nhạt, giòn, hơi chua Thời gian thu hoạch quả cuối tháng 5
Giống chín muộn quả to, chất lượng quả ngon Mầu quả hồng vàng, thịtquả mầu trắng, giòn, róc hạt Thời gian thu hoạch quả cuối tháng 6 đầu tháng 7
* Giống đào Pháp Đ1, Đ2
Được tuyển chọn từ tập đoàn cây ăn quả ôn đới do FAO tài trợ từ năm
1991 Cả 2 giống đều chín sớm, quả nhỏ, thời gian thu hoạch cuối tháng 4.Giống Đ1 quả nhỏ hơn có mầu đỏ hồng, giống Đ2 quả có mầu vàng hồng Cảhai giống thịt quả đều mềm
1.3 Đặc điểm thực vật học của cây đào
1.3.1 Rễ
Rễ đào tập trung chủ yếu ở trên tầng đất mặt từ 10 – 50 cm tùy thuộctừng giống và từng loại đất, một số rễ cái ăn sâu vào lòng đất giúp cho câyđứng vững không bị đổ Với đặc điểm phân cành sớm và nhiều cành nhỏ cộnglại với một số rễ cái nằm sâu, lá nhỏ nhẹ, cây đào ít bị đổ khi gặp gió bão.Ngoại trừ trồng trên đất mùn hoặc đát đá vôi cây thường bị đổ do nguyênnhân là đất quá tơi xốp và dễ bị sụt lở Tuy nhiên hoa và quả rất dễ bị rụng dogió bão nên khi thiết kế vườn đào người ta thường thiết kế vườn đào người ta
Trang 11thường thiết kế đai rừng chắn gió (Trần Thế Tục, 1994) [21] và (Yung KyungChoi, Jung Hokim) [27].
1.3.2 Thân cành
Bình thường khi để mọc tự nhiên, đào thuộc loại cây gỗ nhỡ, thôngthường cây gieo hạt có một thân chính và 2 đến 3 thân phụ tỏa về các phía(cành cấp 1) Nếu đào được nhân bằng cành chiết hay ghép số thân phụ sẽ lớnhơn Cây trung bình cao 3-4m, tán xòe rộng có nhiều cành nhỏ (Trần ThếTục, 1994) [21] và (Yung Kyung Choi, Jung Hokim) [27]
Tán cây để bình thường tùy từng loại và điều kiện sinh thái mà hìnhdáng khác nhau, vùng nhiệt đới tán cây có hình mâm xôi hay chóp nón, câysinh trưởng khỏe, cành rậm rạp Cành của cây đào có thể ra nhiều quả nhiềulần trên một cành,nhiều cành vừa là quả vừa là mẹ Đặc điểm này có ở hầu hếtcác loại trong họ đào, mơ, mận (Trần Thế Tục, 1994) [21] và (Yung KyungChoi, Jung Hokim) [27 ]
Ở cây đào, cành quả hoặc sẽ trở thành cành quả hoặc không là phụthuộc vào sức sinh trưởng của cành (đường kính, số lá, chiều dài) Cũng ít khiphụ thuộc vào tuổi cành Tuy nhiên những cành vào cuối thu năm trước có thểrất nhỏ, 7 tháng đến nhiều năm tuổi, thậm chí ngay cả cành cấp I cấp II ở câyđào cao tuổi đôi khi cũng ra hoa và đậu quả tốt
Điều này cũng cho thấy để trở thành cành mẹ hoặc cành quả ở cây đàophụ thuộc vào độ chín sinh lý cần thiết Ở những nước có khả năng thâm canhcao, hình dáng bộ tán cây đào không trở nên quan trọng do cành được uốnnắn trên các giàn giống như giàn nho, giàn bầu bí ở Việt Nam hoặc được uốnthành cố định theo bốn phía trên khung đai thép đính sẵn
1.3.3 Lá
Lá có hình dáng tương đối đồng nhất giữa các loài, hình dáng bầu dụccủa lá là một đặc trưng hình thái của cây đào Độ lớn của lá rất khác nhau tùy
Trang 12thuộc vào từng loài và giống, nhìn chung dao động từ 1cm đến 4cm (chiềurộng); 5cm đến 10cm (chiều dài) Gân lá nổi rõ mép lá có hình răng cưa rõ rệttùy từng giống từng loài, đỉnh lá nhọn hoặc tù Mầu sắc lá cũng rất khác nhautùy giống, nhìn chung lá dào có mầu đặc trưng đỏ, tím, xanh, xanh đậm, xanhnhạt Lá đào thường rụng vào mùa đông từ tháng 10 đến tháng 12 hoặc sớmhơn một chút là tùy theo vùng sinh thái.
Những vườn đào giai đoạn còn non (kiến thiết cơ bản) trồng ở nhữngvùng nóng ẩm lá có thể rụng không triệt để, đôi khi còn lại một vài lá già ngảmầu vàng, chỉ đến khi cây ra hoa số lá này mới rụng hết để cành bật lộc mới
lá đào rụng càng sớm càng triệt để chứng tỏ điều kiện ngoại cảnh và nội tạigiúp cây có quá trình ngủ sâu trong vụ đông, thì hoa nở càng nhiều và tỷ lệđậu quả rất cao, chất lượng quả tốt
1.3.4 Hoa
Mầu sắc hoa đào tùy từng loài có mầu đỏ tươi, mầu hồng hoặc mầutrắng Hoa đào thuộc loại hoa nhỏ, tính theo hình chiếu không gian của hoa,đường kính hoa giao động từ 5mm đến 25mm tùy từng loài Hoa đào thường
là 5 cánh hoa nở đều về 4 phía, có những giống số cánh hoa có thể nhiều hơn(như đào bích kép), phần đài hoa bao lấy bầu, có từ 20-30 chỉ nhị, chiều caocủa chỉ nhị thường tương đương với chiều cao của cánh hoa, bao phấn không
nở sớm mà nở vào thời điểm hoa đã nở Đầu nhụy vươn lên ngay kề cạnh baophấn Hoa đào nở vào khoảng tháng 12 đến tháng 2 hàng năm, đối với nhữnggiống đào dại (đào thóc) thường nở sớm hơn một chút Ở các nước Châu Ánhất là Trung Quốc và Việt Nam, giống đào hoa có ý nghĩa về mặt kinh tế dobán hoa giá cũng khá cao (Trần Thế Tục, 1994) [21] và (Yung Kyung Choi,Jung Hokim) [27]
Phần lớn các giống đào không có khả năng tự thụ: Khi tự thụ quá trìnhthụ tinh không xẩy ra và kết quả là tỷ lệ đậu quả thấp, thậm chí hoa rụng
Trang 13100% Bởi vậy, muốn có được năng suất cao, cần phải trồng xen trong vườnđào ăn quả với các giống đào khác nhau để làm cho cây có nguồn hạt phấnphong phú hơn.
Một số giống đào sớm thường cho quả thường chín vào khoảng giữatháng 4 đến đầu tháng 5, các giống chín trung bình vào khoảng cuối tháng 6.Nhìn chung thời gian chín của đào có thay đổi theo từng vùng sinh thái vàthay đổi theo từng lục địa khác nhau
1.4 Đặc điểm sinh vật học của đào
1.4.1 Giai đoạn sinh trưởng
Đào là cây ăn quả có thân gỗ nhỏ, rụng lá ở vùng ôn đới, lá đào rụng vềmùa đông Thời kỳ non cây sinh trưởng nhanh, trong một năm cành sinhtrưởng có thể đạt tới 2-3 lần Tuổi thọ của cây đào còn phụ thuộc vào chủng loạigiống, kỹ thuật nhân giống, trồng trọt… mà có sự khác nhau rõ ràng (đào trồngbằng hạt có tuổi thọ cao hơn trồng bằng cây ghép và chiết cành, giâm rễ)
Giống đào Trung Quốc có tuổi thọ cao hơn giống đào châu Âu, sự nảymầm của đào tương đối mạnh Cây đào ra lộc mỗi năm 2-3 đợt lộc vào vụxuân, vụ hè, vụ thu, chồi lá phát sinh ở ngọn cành và từ lá mọc cả chồi hoa.Sau khi thu hái quả thì chồi ngọn của cành quả năm trước vươn dài thành quảmới và kéo dài liên tục trong 4-5 năm liền
Trang 141.4.2 Giai đoạn phát triển
Cây đào ra hoa trong tháng 1-2 Dương lịch và phát triển quả tới tháng 5tháng 6 thì chín quả chín kéo dài trong gần một tháng Cây trồng bằng câyghép, chiết thì trồng 2-3 năm thì có quả và 5-6 năm thì bước vào thời kỳ saiquả Trồng bằng cây ghép sớm ra hoa hơn so với cây trồng bằng gieo hạt
Cành quả có thể phân ra cành dài, trung bình, ngắn và cành quả ngắn cónhiều hoa và cành quả ngắn Loại cành quả dài và trung bình tuy phát dục tốt,các đốt mầm hoa nhiều, lượng hoa nở không ít nhưng do ở đầu các cành thườngnảy các cành mới, dinh dưỡng tiêu hao nhiều nên dễ bị rụng hoa, rụng quả
Hiện tượng cây đào tự thụ phấn không thành quả tương đối nghiêm trọng,vấn đề này có liên quan đến bộ phận của hoa phát dục không hoàn toàn, thụphấn không tốt hoặc cung cấp dinh dưỡng không đủ Do đó mỗi cành quả ngắn
có nhiều hoa, có thể nở từ 10-20 hoa nhưng số lượng quả đậu chỉ từ 2-4 quả
Sự sinh trưởng phát dục của quả đào có thể phân chia làm 3 thời kỳ:
- Thời kỳ thứ nhất: Từ sau khi thụ phấn cho đến khi hạt bắt đầu cứng.Trong thời kỳ này sự sinh trưởng của quả tương đối nhanh, có thể nhìn thấy
sự lớn của quả Ở thời kỳ này cây rất cần nước và phân để cung cấp dinhdưỡng cho việc phát triển cuả quả Trong giai đoạn này nếu có mưa đá vàsương muối thì rất dễ bị rụng
- Thời kỳ thứ hai: Thời kỳ hạt được cứng lên, hạt từ mầu trắng sữa dầndần chuyển sang mầu nâu, chất vỏ hạt cứng lên, nhân của hạt ở trạng tháinước có mầu trắng sữa Ở thời kỳ này quả sinh trưởng chậm, chủ yếu là sinhtrưởng phát dục vào thời kỳ này
Các nhà nghiên cứu cho rằng việc đậu hoa ở cây ăn quả tùy thuộc vào 2yếu tố: Tinh bột (hydrat carbon) và kích thích sinh trưởng Sự ra hoa là sự cânbằng giữa các chất kích thích sinh trưởng tăng và chất kích thích sinh trưởnggiảm Hoa đào ra vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân Khi hoa nở nếu trời ấm,
Trang 15nắng khô, ít sương mù, không mưa phùn thì việc thụ phấn, thụ tinh thuận lợi,
tỷ lệ đậu sẽ cao
1.5 Yêu cầu về sinh thái của cây đào
Theo các tác giả R.J.Nissen; A.P.George; S Hetherington và SNewman, [33] cho biết: Điều kiện nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, đất đai vàđặc tính vật lý của đất là yêu cầu cần thiết để cây đào sinh trưởng, phát triểntốt, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao
1.5.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ có thể ảnh hưởng đến sức sống, sự phát triển, khả năng ra hoa,đậu quả và chất lượng quả đào Nhiệt độ thấp và nhiệt độ cao đều có thể làmtổn thương nụ và làm giảm khả năng đậu quả Hoa và quả non đặc biệt mẫncảm với sương giá vào cuối mùa đông và mùa xuân, nhiệt độ hạ xuống dưới
2oC Nhiệt độ cao hơn 18oC cũng có thể làm giảm việc đậu quả
Nếu độ lạnh không đầy đủ, việc ra hoa lá sau ngủ nghỉ của cây có thể
sẽ ít, việc đậu quả và năng suất sẽ bị giảm đáng kể
Ở một số huyện miền núi phía Bắc nước ta như Mộc Châu (Sơn La);Bắc Hà, Sa Pa (Lào Cai); Mẫu Sơn (Lạng Sơn)… có mùa đông lạnh phù hợpvới các giống đào có yêu cầu độ lạnh trung bình (từ 400-600CU)
1.5.2 Ánh sáng
Bức xạ mặt trời hoặc độ chiếu sáng thấp có thể ảnh hưởng đến việc đậuquả, năng suất, chất lượng quả và các quá trình sinh lý của cây như quá trìnhquang hợp và phát triển của cây
Các nghiên cứu về cây đào đã chỉ ra rằng để quả có mầu sắc đẹp và độđường cao thì ngưỡng tối thiểu của độ chiếu sáng Thêm vào đó, điểm bãohòa ánh sáng cho quang hợp tối thiểu xuất hiện ở mức 1/3 điều kiện ánh sángđầy đủ (8MJ/m2/ngày)
Trang 161.5.3 Lượng mưa
Phân bố lượng mưa cũng rất quan trọng Ở nhiều vùng nhiệt đới và ánhiệt đới, có một mùa khô đặc trưng với mưa ít hay không có mưa và mộtmùa ẩm ướt do vậy có thể gây hạn hán trong mùa khô và úng trong mùa mưa.Lượng mưa lớn trong giai đoạn nở hoa có thể gây thiệt hại cho việc đậu quả.Đậu quả ít trong mùa mưa là do hiệu quả bất lợi của mưa làm giảm sức sốngcủa phấn hoa và hoạt động của côn trùng thụ phấn
Ở vùng nhiệt đới, sự kết hợp giữa lượng mưa lớn và nhiệt độ cao làmtăng khả năng nhiễm sâu bệnh hại Một trong những vấn đề chủ yếu là việcrụng lá sớm sẽ làm giảm việc hình thành sự tích lũy tinh bột trong cây chonhững vụ tiếp theo, cây sẽ suy yếu nhanh chóng sau 2-3 năm cho quả
Nhìn chung các loại đất ở miền núi phía Bắc nước ta, với độ cao so vớimặt nước biển từ 500-600m đến 1000-1200m, có độ sâu hơn 1m, có cấutượng tơi xốp, giữ ẩm tốt dễ thoát nước, có độ mùn khá như đất rừng núi mớikhai phá, đất dốc tụ, phù sa cổ, feralit đỏ vàng, có độ pH 5,5-6,5 đều có thểtrồng đào ăn quả
1.6 Tình hình sản xuất trên thế giới và Việt Nam
1.6.1 Tình hình sản xuất đào trên thế giới
Các nước trong khu vực sản xuất đào ăn quả quan trọng trong lịch sử làTrung Quốc, Nhật Bản, Iran và các quốc gia khu vực Địa Trung Hải, là khu
Trang 17vực đã được trồng đào hàng ngàn năm qua Gần đây Hoa Kỳ (các bangCalifornia, Nam Carolina, Michigan, Texas, Alabama, Georgia, Viginia),Canada (miền nam Ontario và British Columbia) và Australia (khu vựcRiverland) cũng trở thành các quốc gia quan trọng trong trồng đào Các khuvực có khí hậu đại dương như khu vực tây bắc Thái Bình Dương và BritishIsles nói chung không thích hợp cho việc trồng đào do không đủ nhiệt về mùa
hè, mặc dù đào đôi khi cũng được trồng tại đây (Yung Kyung Choi, JungHokim) [26]
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng đào một số nước trên thế giới
năm 2010
(ha)
Năng Suất (kg/ha)
Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Fao statistics, 2012)
Theo Giáo sư Vũ Công Hậu [10]: Cây đào được trồng chủ yếu ở cácvùng ôn đới nóng và các nước á nhiệt đới Trên phạm vi toàn thế giới, cùng
Trang 18với cây táo tây, lê, cam quýt, chuối, dứa, đào là một trong 5, 6 loại quả quantrọng nhất thế giới.
Theo tài liệu của Fao statistics (2012) năm 2010 diện tích thu hoạchđào toàn thế giới là 1.537.459 ha, năng suất trung bình đạt 13.186,9 kg/hatổng sản lượng 20.274.287 Trung Quốc là nước có diện tích đào lớn nhất thếgiới 731.259 ha Pháp là nước có năng suất đào cao nhất thế giới 23.597,9 kg/
ha, tiếp đó là Italy 17.623, Hoa Kỳ 17.565 kg/ha
1.6.2 Tình hình sản xuất đào ở Việt Nam
Vùng phân bố tự nhiên của đào ở Việt Nam chủ yếu trên những vùngnúi cao Đào trồng chủ yếu ở miền núi phía Bắc như: Lào Cai; Sơn La; HòaBình, Lai Châu, Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn… với các giống đào nổi tiếngnhư đào Vân Nam trồng ở Lao Cai, đào Mẫu Sơn trồng ở Lạng Sơn (Bộ nôngnghiệp và phát triển nông thôn) [2], (Vũ Công Hậu)[10]
Ngày nay, các tỉnh Sơn La, Lao Cai đã di thực thành công khá nhiềugiống đào có nguồn gốc từ Trung Quốc (các giống đào Vân Nam, đào trắngchín muộn…), từ Pháp (các giống Đ1, Đ2, Melina…) từ Australia (các giốngTropic Beauty, Earligrand, Sunwright…) và các giống đào vỏ quả nhẵn từnhiều nước trên thế giới như: Rose diamond, Sunwright, Sunsnow (Viện Bảo
vệ thực vật, 2001) [23]
1.7 Những nghiên cứu về cây đào trên thế giới và Việt Nam
1.7.1 Những nghiên cứu về cây đào trên thế giới.
1.7.1.1 Những nghiên cứu về chọn giống
Theo tác giả R J Nissen; A P George; S Hetherington và S.Newman (2004) [33].Những nghiên cứu về cây đào tập trung vào các vấn
đề chủ yếu sau:
Yêu cầu về độ lạnh: Chương trình chọn tạo giống ở Florida, Brazil,Taxas, California, Israel và Úc đã tạo được ra nhiều giống đào mới Các giống
Trang 19đào cần một giai đoạn lạnh, được tính toán như đơn vị lạnh (CU), đủ để phá
vỡ quá trình ngủ nghỉ một cách hiệu quả Các giống được chia như sau:
Giống yêu cầu độ lạnh ít (50-200CU)
Giống yêu cầu độ lạnh thấp (200-400CU)
Giống yêu cầu độ lạnh trung bình (400-600CU)
Giống yêu cầu độ lạnh cao (> 600CU)
Ou ShyiKuan (2004) [34] khi nghiên cứu về yêu cầu độ lạnh của giốngđào campanulata P địa phượng với 4 giống đào khác cho thấy: Số đơn vị lạnhđược tính theo số giờ có nhiệt độ 120C trong suốt thời kỳ bắt đầu lạnh đến khikết thúc mùa lạnh Kết quả cho thấy các vùng của Đài Loan có số giờ lạnhkhoảng 190 giờ lạnh, số giờ lạnh không đủ cho sinh trưởng của một số giốngđào có yêu cầu độ lạnh cao
Sự chấp nhận của thị trường: Khách hàng thường hướng tới quả có mầuđẹp, kích thước thích hợp, thời gian bầy bán lâu, không có khuyết tật và cóhương vị ngon Một giống càng có nhiều yếu tố nêu trên thì càng được thịtrường chấp nhận Một số đặc tính quan trọng dưới đây:
Loại thịt quả Có 3 loại thịt quả: Mềm, không mềm, cứng giòn Quả cóthịt quả không mềm có thể tồn tại trên cây khi thành thục dài hơn so với quả
có thịt quả mềm, vì quả có thịt mềm thường bị mềm và hỏng rất nhanh, khóbảo quản
Sự cân đối giữa đường và acid Có hai loại chính của tỷ lệ đường vàacid: Rất ngọt/chua; ngot/rất chua Hầu hết người Châu Á thích loại thứ 2
Mầu thịt quả: Đối với đào và đào nhẵn có 2 loại mầu thịt quả: Mầu thịtquả trắng và mầu thịt quả vàng, có một số ít giống có thịt quả mầu hồng hoặc
đỏ Mầu thịt quả cũng là tiêu chí cho người tiêu dùng lựa chọn khi mua đào.Mầu hồng thường được ưa chuộng hơn cả
1.7.1.2 Nghiên cứu về kỹ thuật quản lý vườn cây
Nghiên cứu thiết kế vườn trồng, bố trí mật độ, khoảng cách theo từng
Trang 20địa hình, kiểu tán cây, kỹ thuật cắt tỉa và chế độ chăm sóc Xu hướng chung là
sử dụng gốc ghép lùn, trồng mật độ cao, khai thác chu kỳ ngắn
T.M DeJong (2007) [36] khi nghiên cứu cây để chọn làm gốc ghépcho giống đào Flavorcrest and Loadel trên gốc ghép của 5 giống đào khácnhau, kết quả nghiên cứu cho thấy gốc ghép có ảnh hưởng đến sinh trưởngcũng như năng suất của cây ghép
Bonhomme và cs (1999) [28] khi nghiên cứu về giống đào quả nhẵn trồngtại Pháp cho thấy các chỉ tiêu sinh trưởng của cành mẹ như chiều dài, vị trí, số mắt
lá trên cành mẹ có tương quan chặt chẽ đến sinh trưởng của cành quả
Nghiên cứu kỹ thuật đốn tỉa, tạo hình, tỉa cành để tạo cho tán có khảnăng hấp thụ tốt nhất ánh sáng mặt trời, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chămbón, phòng trừ sâu bệnh, điều tiết sinh trưởng, kích thích ra hoa, tăng đậu quả
để đạt được năng suất cao như mong muốn
Rieger M và cs (1993) [35] khi nghiên cứu mật độ trồng cho giống đàoGarnet Beauty với khoảng cách 1; 1,5; 2; 2,5; 3 m qua 4 năm cho thấy: Sựphát triển của tán cây có tương quan chặt chẽ đến phát triển của rễ Với mật
độ trồng từ 2 m trở lên tán cây có khả năng phát triển tốt Năng suất đào ổnđịnh với các cây có mật độ trồng là 2m trở lên Mật độ trồng dẫn tới sự cạnhtranh về ánh sáng xẩy ra ngay từ năm đầu tiên sau trồng, trong khi ảnh hưởngcủa mật độ trồng với bộ rễ chỉ xẩy ra từ năm thứ 3 sau trồng
Furukawa Y (2003) [29] khi nghiên cứu về mật độ trồng cho đào vớicác mật độ trồng từ 1250 cây/ha đến 2500 cây/ha trong 6 năm từ 1995 đến
2001 cho thấy mật độ trồng có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cây.Qua phân tích tương quan cho thấy, mật độ trồng có tương quan chặt chẽ đếnnăng suất của quả, số lượng quả có kích thước trung bình Tuy nhiên số lượngquả có kích thước nhỏ và lớn không có tương quan đến mật độ trồng
Nghiên cứu về kỹ thuật bón phân: Bón phân dựa vào tính chất nônghóa-thổ nhưỡng, nhu cầu dinh dưỡng của cây… dựa trên phân tích lá, phân
Trang 21tích đất, kết hợp giữa bón phân quanh gốc, phun phân trên lá, bổ sung phân vilượng, chất điều tiết sinh trưởng [6].
Nghiên cứu kỹ thuật tưới và quản lý ẩm độ đất: Bao gồm những kỹthuật tủ gốc, trồng xen, trồng cây che phủ đất, các biện pháp công trình làmđường đồng mức, các túi chứa nước trên đất dốc… đến các kỹ thuật tướiphun, tưới nhỏ giọt, tưới nước kết hợp bón phân
Ben Mechlia và cs (2006) [32] khi nghiên cứu về tưới nước cho đào trongnăm cho thấy, sự giảm hàm lượng nước trong các thời kỳ quả phát triển làm ảnhhưởng đến năng suất quả, kết quả nghiên cứu cho thấy sự hạn chế nước vào giaiđoạn cuối của sự phát triển quả có thể làm giảm năng suất tới 33%
Nghiên cứu kỹ thuật phòng trừ sâu, bệnh: biện pháp phòng trừ tổng hợpIPM được coi là biện pháp chủ đạo khuyến cáo áp dụng ở nhiều nước hiện nay
E.Cottell, J Fuest, D L Horton (2008) [37] khi nghiên cứu khả năngchiống sâu đục quả của 3 giống đào nhập nội và giống đào địa phương tại Mỹcho thấy: Giống đào địa phương có khả năng chống sâu đục quả cao hơn sovới giống nhập nội
Montana (2005) [31] khi nghiên cứu về khả năng bảo quản cho haigiống đào trồng tại Colombia cho thấy: Khi thu hoạch, những quả đào sạchbệnh được gói bằng bao giấy chuyên dùng và bảo quản trong phòng có nhiệt
độ 40C và phòng có nhiệt độ thường 190C Kết quả cho thấy trong nhiệt độlạnh đào có thể bảo quản tốt từ 37-41 ngày Trong nhiệt độ thường có thể bảoquản được từ 5-7 ngày
1.7.2 Những kết quả nghiên cứu về cây đào ở Việt Nam
Việc nghiên cứu về cây đào nói chung ở nước ta cũng như ở các tỉnhmiền núi Bắc chưa được đầu tư một cách đúng mức, số lượng các công trìnhnghiên cứu ít, mang tính đơn lẻ, không liên tục và hệ thống Có thể tổng hợpcác công trình nghiên cứu theo các chuyên đề chủ yếu sau:
Trang 221.7.2.1 Điều tra tuyển chọn giống đào
Theo Trần Thế Tục [20], [21]: Công tác điều tra tuyển chọn giống gồmcác bước sau:
(1) Điều tra tuyển chọn cá thể ưu tú
(2) Theo dõi tính ổn định về năng suất, chất lượng quả của các cá thểtuyển chọn qua ba năm liên tục Các cá thể tuyển chọn được đánh dấu theo dõitrong ba năm liên tục về các chỉ tiêu: Năng suất, chất lượng, tính chống chịu vớisâu bệnh và các thời kỳ vật hậu: ra hoa, đậu quả, quả chín và thu hoạch
(3) Xác định giống bằng ISOZYME hoặc PCR Ngoài mô tả hình thái,các cá thể tuyển chọn được kiểm tra gen di truyền bằng kỹ thuật phân tíchISOZYME hoặc PCR để xác định sự khác biệt giữa các giống
(4) Xây dựng vườn thực liệu giống tuyển chọn Tất cả các cá thể đượctuyển chọn năm đầu tiên sẽ được nhân bằng phương pháp ghép và trồng trongvườn gọi là vườn thực liệu giống tuyển chọn Mục đích là để có được nhữngcây giống làm cây mẹ ngay sau khi kết thúc 3 năm tuyển chọn tại hộ gia đình
(5) Xây dựng vườn cây mẹ Gồm các cá thể của các giống đã đượctuyển chọn đánh giá sau 3 năm, được coi là dòng/giống gốc làm thực liệunhân giống cung cấp cho sản xuất
(6) Xây dựng mô hình giống đã được tuyển chọn Mô hình giống tuyểnchọn là để chứng minh cho kết quả tuyển chọn, đồng thời là điạ bàn áp dụngcác tiến bộ kỹ thuật ngay từ đầu, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận dần vớinhững tiến bộ trong sản xuất
1.7.2.2 Nhập nội và khảo nghiệm giống đào
Nhập nội giống đào cũng được tiến hành khá sớm, từ những năm 1986đến nay Nhìn chung công tác nhập nội và khảo nghiệm các giống đào đãđược thực hiện ở nhiều quy mô và điều kiện sinh thái khác nhau ở các tỉnhmiền núi phía Bắc nhưng kết quả còn rất hạn chế, song vẫn là một hướng cần
Trang 23được tiếp tục với quy mô và cường độ lớn hơn để rút ngắn thời gian chọn tạogiống trong nước.
1.7.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật canh tác cây đào
Theo các tác giả Vũ Công Hậu [11], R J Nissen; A P George; S.Hetherington và S Newman [33] và Viện Bảo vệ thực vật [24]: Đào cần trồng
ở nơi có nhiều ánh nắng, với sự thông thoáng gió tốt Điều này cho phépkhông khí lạnh được thổi đi vào những đêm sương giá và giữ cho khu vựcđược mát mẻ vào mùa hè Tại các khu vực trồng đào lấy quả thì việc trồngđào tốt nhất diễn ra vào đầu mùa đông, do nó có đủ thời gian để rễ mọc ra và
đủ khỏe để giúp cho sự phát triển về mùa xuân Tại các khu vực này người tatrồng đào thành hàng theo hướng Bắc - Nam Dưới đây là các yêu cầu choviệc trồng đào lấy quả
- Tưới nước: Đào cần có sự cung cấp nước ổn định và cần tăng lêntrong khoảng thời gian ngắn trước khi thu hoạch quả Mùi vị thơm ngon nhấtchỉ có được khi cây đào được tưới nước đầy đủ trong cả vụ
- Bón phân: Cây đào có thể yêu cầu cao về chất dinh dưỡng, nó cầnnhiều nitơ hơn các loại cây ăn quả khác Phân bón NPK cần phải được sửdụng thường xuyên, và một lớp phân gia cầm bón vào đầu mùa thu ngay saukhi thu hoạch quả sẽ có ích cho cây Nếu lá đào nhỏ hay ngả mầu vàng thì câycần nhiều đạm hơn Các loại phân làm từ máu và xương gia súc khoảng 3-5
kg trên một cây trưởng thành hay phân bón hóa học như nitrat amoni canxi ởmức 0,5-1 kg là loại phân bón thích hợp nhất Cũng nên sử dụng phân bón khicây chậm phát triển
- Đốn tỉa: Đào là cây cần đốn tỉa rất nhiều Đào sinh trưởng mạnh ởphía đầu cành, phía chân cành thường thiếu nhựa, mắt yếu do đó cần hãmngọn những cành cấp I, II quá mạnh, giữ nhựa cho cành quả phía dưới Đốntạo quả nên đốn muộn vào thánh 12, 1 khi dễ phân biệt nụ hoa và nụ lá sau vụ
Trang 24nghỉ đông Đào trong điều kiện khí hậu á nhiệt đới thường chỉ ra hoa trêncành ra vụ trước vì vậy chú ý làm cho cây ra nhiều cành năm trước, năm saumới có nhiều hoa.
- Trừ sâu bệnh: Đào nhiều sâu bệnh, nhất là trong điều kiện khí hậu ấm và
độ ẩm cao Về sâu có rệp hút nhựa làm lá xoăn lại, rầy hút dịch ở lá, nhện đỏ, sâuđục ngọn, rệp sáp, xén tóc… bệnh có bệnh phồng lá, bệnh thối nâu, chảy gồm…cách phòng trị thường là kết hợp nhiều loại thuốc, trừ nhiều loại sâu bệnh
- Thu hoạch: Dấu hiệu chín của đào rất dễ nhận biết: Mầu sắc chuyểnhồng, có trỗ đỏ, quả mềm, mùi thơm rõ… nhưng vì đào nhiều nước, vỏ mỏng,quả lại nặng, đợi đến lúc quả chín tới thì không thể mang đi xa được, quả lạichóng thối, vì vậy từ cách hái không làm dập quả đến cách xếp vào thúng, rổ,két gỗ, vận chuyển… đều phải làm hết sức cẩn thận và thường bao giờ cũngphải hái sớm một chút lúc quả còn cứng, dễ vận chuyển hơn, quả ít hỏng hơn
1.7.2.4 Nghiên cứu về công dụng và giá trị kinh tế của cây đào
- Quả đào được coi là một trong những loại quả quý vì có mã quả đẹp,
vị ngọt, chua, rất hợp với khẩu vị của nhiều người, quả đào được dùng chính
để ăn tươi ngoài ra còn có thể chế biến thành các sản phẩm như: Đào ướpđường, ô mai đào, rượu đào… đăc biệt đào phơi khô là một sản phẩm quý cótác dụng nhuận tràng, dễ tiêu, kích thích thần kinh…
- Đào là một cây trồng có giá trị kinh tế cao, thể hiện ở chỗ: Có thểthâm canh với mật độ cao, cây sinh trưởng nhanh, sớm cho thu hoạch quả,khả năng đậu quả tốt, ít ra hoa cách năm…
1.8 Nghiên cứu về dinh dưỡng và kỹ thuật trồng trọt
1.8.1 Nhu cầu dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân cho đào
Theo Phạm Văn Côn (2004) [4] cho biết: Cây ăn quả cũng như câytrồng nói chung cần hút chất dinh dưỡng từ đất và phân bón để tạo ra sảnphẩm thông qua các quá trình quang hợp Nếu thiếu dinh dưỡng hoặc các chấtdinh dưõng không cân đối làm cho cây sinh trưởng kém dẫn tới giảm năng
Trang 25suất và phẩm chất sản phẩm Nếu thừa dinh dưỡng làm cho cây sinh trưởngquá mạnh cũng làm giảm năng suất và phẩm chất các sản phẩm đồng thời còngây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí.
Sự biểu hiện khi thiếu các chất dinh dưỡng ở cây đào như sau:
- Thiếu đạm: Lá vàng, có nhiều chấm đỏ, cành ngắn, quả bị chín ép(chín sớm)
- Thiếu kali: Các lá cuộn lại, nhăn nheo, mép khô, dễ bị rụng quả
- Thiếu phốt pho: Lá mầu xanh tối, cuốn lại, hàm lượng đường trongquả giảm
- Thiếu Mg: Lá có đám mầu nâu nhạt, rìa lá bị khô
- Thiếu Ca: Dễ bị rụng quả, cần phun Booc đô kết hợp với trừ bệnh nấm
- Thiếu kẽm: Lá có mầu nâu nhạt, gợn sóng và nhăn nheo, đầu các gânnhỏ có hình hoa hồng, lá bé
- Thiếu Bo: Có những điểm xốp trên quả
Theo Trần Thế Tục [20], [21], cho biết: Cây đào hàng năm có rụng quảsinh lý nên lượng phân bón phải đầy đủ để đảm bảo yêu cầu sinh lý của cây.Bón phân cho đào phải cân đối N, P, K, bón đúng lúc, đúng cách theo nhu cầucủa cây
Theo kinh nghiệm của tác giả Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội:Hàng năm nên bón phân lót cho đào vào tháng 1 trước khi nẩy lộc Đối vớinhững cây ra quả ổn định từ năm thứ 8 trở đi cần bón cho mỗi cây là 30-50 kgphân chuồng hoai mục trộn với 0,3-0,5N + 0,3 P2O5 + 0.5kg K2O
Cách bón: Chiếu theo mép tán cây, đào 3 hố đều nhau với kích thướcsâu và rộng 40cm, sau đó bón phân lấp đất hơi cao hơn mặt đất Năm sau đào
hố bón phân xen kẽ với hố phân năm trước Làm như vậy vừa có tác dụngcung cấp dinh dưỡng cho cây, vừa có tác dụng cải tạo đất trong vườn cây
1.8.2 Kỹ thuật đốn tỉa, tạo hình và tạo quả
Sinh trưởng tự nhiên của cây ăn quả thường không đáp ứng yêu cầu về
Trang 26cấu trúc tối ưu và thuận lợi cho việc chăm sóc tán cây Người làm vườn cầnphải tác động tích cực để tạo dựng hệ thống cành khung, nửa khung và cànhnhánh của cây cho phù hợp với cấu trúc của vườn và mục đích kinh doanh.Trong kỹ thuật làm vườn hiện đại việc đốn, cắt tỉa là khâu kỹ thuật then chốt,cần có kiến thức, kinh nghiệm và tay nghề (Trần Thế Tục) [20], [21], (R J.Nissen; A P George; S Hetherington và S Newman) [33].
Hiện nay nhiều biện pháp đốn tỉa tạo hình cây đào rất được quan tâm.Thông thường cây đào vừa được đem trồng phải đốn tạo hình ngay, chỉ giữmột thân chính cao 80-100cm Các cành cắt cụt hết để cây bật ra những cànhkhỏe hơn Chọn trên thân chính 3 cành khỏe mọc ra 3 hướng khác nhau dểlàm cành khung Cuối năm thứ nhất, chủ yếu là cắt ngắn cành khung cấp I thứ
4 ở phía ngọn cây Cuối năm thứ 2 chủ yếu là cắt ngắn cành khung cấp II vànăm thứ 3 chủ yếu cắt ngắn cành khung cấp III Hết năm thứ 3 coi như táncây đã ổn định, cây đào bắt đầu bói quả và bắt đầu bước sang thời kỳ đốn tạo quả(Phạm Văn Côn, 2004) [4], (Vũ Công Hậu, 1996) [11],
Cành quả chỉ sinh ra trên cành mẹ mọc từ năm trước Do vậy, các tácgiả trên đã đưa ra nguyên tắc cơ bản của đốn tỉa tạo quả là không đốn hớtngọn vì dễ làm mất những mắt sinh ra cành quả, mà cắt từ chân loại bỏ hẳnnhững cành mẹ cành quả nào yếu, quá tập trung Cành đã ra quả do dinhdưỡng tập trung nuôi quả nên sinh trưởng yếu đi, do vậy cũng cần đốn, kỹthuật đốn tỉa như sau: Cắt tận chân hay nếu cành khỏe, cắt phía trên, nơi đã cóquả, để lại một, hai mầm, những mầm này năm sau sẽ phát triển thành cành
mẹ cành quả và sẽ chọn ở gốc cành một hai cành mẹ cành quả khỏe nhất
Những cành mẹ, cành quả năm nay nếu được đốn tỉa hợp lý, năm sau sẽsinh ra những cành quả khỏe với số lượng phù hợp ở những vị trí cần thiếtquả (Phạm Văn Côn, 2004) [4]
1.9 Chất điều hòa sinh trưởng
1.9.1 Giới thiệu chung về chất điều hòa sinh trưởng
Trang 271.9.1.1 Vai trò sinh lý của chất điều hòa sinh trưởng
Chất điều hòa sinh trưởng được coi là hormon thực vật, nó điều chỉnhquá trình sinh trưởng phát triển của cây
Các hormon thực vật là các chất hữu cơ được tổng hợp với lượng nhỏtrong các bộ phận nhất định của cây và vận chuyển đến các bộ phận khác đểđiều hòa các hoạt động sinh lý, các quá trình phát triển và duy trì mối quan hệhài hòa giữa các cơ quan, bộ phận thành một thể thống nhất
Do chức năng điều chỉnh sự hình thành các cơ quan sinh sản và cơquan dự trữ hormon nên có tác dụng quyết định sự hình thành năng suất thuhoạch Bằng việc xử lý các chất điều hòa sinh trưởng ngoại sinh cho các đốitượng cây trồng khác nhau con người có thể nâng cao năng suất và phẩm chấtsản phẩm nông nghiệp (Phạm Văn Côn, 2004) [4], (Trần Thế Tục) [20], [21]
Để sử dụng có hiệu quả các chất điều hòa sinh trưởng trong sản xuấtnông nghiệp thì việc đầu tiên ta cần biết phân loại và tìm hiểu tính năng tácdụng của chúng với cây trồng và môi trường
1.9.1.2 Phân loại chất điều hòa sinh trưởng
Căn cứ vào nguồn gốc người ta chia làm 2 nhóm là các phytohormon
và các chất điều hòa sinh trưởng tổng hợp
Căn cứ vào hoạt tính sinh lý: Người ta chia ra làm 2 nhóm đối khángnhau về mặt sinh lý là:
+ Các chất kích thích sinh trưởng: Gồm các chất Auxin, Gibberellin vàXytokynin được sinh ra từ các cơ quan non như lá non, chồi non, quả non…,chúng kích thích quá trình sinh trưởng hình thành các cơ quan dinh dưỡng
+ Các chất ức chế sinh trưởng: Gồm Axit abxixic, Etylen, các phenol…được hình thành tích lũy chủ yếu trong các cơ quan trưởng thành, cơ quansinh sản, cơ quan dự trữ Chúng gây nên sự ức chế quá trình sinh trưởng, thúcđẩy cây chuyển hóa nhanh vào giai đoạn hình thành cơ quan sinh sản, cơ quan
Trang 28dự trữ, gây già hóa và chết.
1.9.1.3 Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng trong sản xuất cây ăn quả
a, Các nguyên tắc sử dụng
- Nồng độ: Hiệu quả của chất điều tiết sinh trưởng đối với cây phụthuộc vào nồng độ Thông thường, nếu nồng độ quá thấp thì hiệu quả sinh lýkém, nồng độ sử dụng cao sẽ gây ảnh hưởng ức chế và nếu nồng độ quá cao
sẽ gây ảnh hưởng phá hủy và dẫn đến hủy diệt Vì vậy tùy theo mục đích màchọn nồng độ khác nhau
- Phối hợp: Chất điều hòa sinh trưởng không phải là chất dinh dưỡng,chúng chỉ hoạt hóa quá trình trao đổi chất Vì vậy, muốn có hiệu quả kinh tế(năng suất và phẩm chất) thì nhất thiết phải phối hợp giữa việc xử lý chất điềuhòa sinh trưởng với việc thỏa mãn nhu cầu nước và dinh dưỡng cho cây trồng
- Đối kháng sinh lý giữa các chất xử lý ngoại sinh và chất nội sinhtrong cây: Sự đối kháng sinh lý này sẽ triệt tiêu tác dụng của nhau Chẳnghạn, sự đối kháng sinh lý giữa Auxin ngoại sinh và Etylen nội sinh trong sựphòng ngừa rụng hoa, quả; sự đối kháng giữa GA ngoại sinh và ABA nội sinhtrong sự phá ngủ nghỉ; sự đối kháng giữa Auxin và Xytokinin trong sự phânhóa rễ và chồi
- Chọn lọc: Chất điều hòa sinh trưởng chỉ có hiệu quả đối với một sốgiống, loài cây nhất định hoặc với một số vùng nhất định Do vậy muốn sửdụng cần phải nghiên cứu cụ thể, khi có kết quả chắc chắn mới mở rộng ra sảnxuất lớn
b, Các kết quả nghiên cứu sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây trồng và cây ăn quả.
Theo Phạm Văn Côn (2004) [4], trích dẫn kết quả ứng dụng của một sốtác giả nước ngoài như:
* Cooper đã sử dụng chất điều hòa sinh trưởng NAA nồng độ 5-10ppmphun cho dứa làm cho dứa ra hoa sớm hơn đối chứng không phun
Trang 29* Vanoverback (1946) đã sử dụng 2,4D và NAA nồng độ 5-10ppmphun cho dứa giống Cabenzonna liên tục trong các tháng trong năm đều cho
ra hoa 100% (thí nghiệm với cây dứa 14 tháng tuổi)
* Ở Ấn Độ, nhiều công trình nghiên cứu cho biết khi xử lý chấtPaclobutrazol (PBZ) có tên thương mại là Cultar 10g/cây làm cho vườn xoài
ra hoa sớm hơn đối chứng không xử lý là 20-25 ngày với tỷ lệ ra hoa 76-85%
và năng suất trung bình đạt 68,3-76,9 kg/cây gấp 5-6 lần so với đối chứng(13,3kg/cây)
* Trịnh Thị Mai Dung (2002): Khi phun NAA đã làm tăng tỷ lệ đậuquả và năng suất xoài Yên Châu, Sơn La từ 13,5-45,3% so với đối chứng Tốtnhất là phun 2 lần, với nồng độ 30ppm; lần đầu khi bắt đầu đậu quả và lần 2sau lần 1 là 15 ngày
* Nguyễn Thị Bích Hồng (2002): Khi phun các loại phân bón lá chonhãn có tác dụng làm tăng khả năng đậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả, tăng khốilượng quả, do đó nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế Với nhãn phunphân Orgamin đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, tăng năng suất trung bìnhhơn đối chứng 52,7 kg/cây Kích phát tố hoa trái Thiên nông và Atonik có tácdụng tốt ở giai đoạn hoa và quả non (tăng tỉ lệ đậu quả sau tắt hoa) còn Bayfolan
và Orgamin có tác dụng tốt ở giai đoạn quả non đến trước thu hoạch
* Phạm Thị Hương (1996): khi phun KNO3 cho xoài tốt nhất là phunnồng độ 3% khi cành lộc được 3 tháng tuổi Chỉ sau khi phun 1 tuần lễ cây
đã ra hoa đồng loạt
*Theo Trần Thế Tục cho biết: Biện pháp tăng tỉ lệ đậu quả tốt nhất làphun các chất điều hòa sinh trưởng như GA3, NAA, có thể dùng kết hợpriêng rẽ với các nguyên tố vi lượng
* Theo Phạm Minh Cương (1997) [5], cho biết: Phun Ethrel cho vải cótác dụng làm giảm lượng hoa tổng số, tăng tỉ lệ hoa cái và tỉ lệ đậu quả, do
Trang 30vậy làm tăng năng suất Nếu phun kết hợp Ethrel với GA3 và oxyclorua đồng
ở diện rộng làm tăng năng suất đến 15% Khi phun chất điều tiết sinh trưởngđơn lẻ hay phối hợp đều làm tăng tỉ lệ hoa cái và tỉ lệ đậu quả dẫn đến tăngnăng suất vải trong đó phun kết hợp GA3 và Ethrel đem lại hiệu quả cao hơn
* Theo Phạm Minh Cương (2005) [6], cho biết: Phun chất điều hòasinh trưởng đơn lẻ và phối hợp đều có tác dụng tăng tỉ lệ hoa cái và tỉ lệ đậuquả dẫn đến nâng cao năng suất vải Phun kết hợp GA3+ Ethrel và NAA +2,4D mang lại hiệu quả cao hơn Phun kết hợp Ethrel với GA3 và Oxycloruađồng ở diện rộng tăng năng suất vải trên 12%
* Theo Phạm Văn Côn (2004) [4], cho biết: Khi phun NAA nồng độ10ppm và GA3 nồng độ 30ppm vào thời kỳ sau hoa nở rộ có tác dụng làmgiảm tỉ lệ rụng hoa, quả đặc biệt là GA3
* Theo Phạm Văn Côn (2004) [4], trích kết quả nghiên cứu của các tácgiả trên thế giới cho biết: Theo Samala M.F (1979) thì sau khi xử lý KNO3
tác động lên xoài như một tác nhân kích thích ra hoa, nó phá ngủ cho mầmrồi sau đó làm cho mầm chuyển từ trạng thái sinh trưởng dinh dưỡng sangsinh trưởng sinh thực
* Theo Đỗ Văn Chuông (2000) [3], cho biết: Chỉ trong vòng một tuầnsau khi tưới KCLO3 (cứ cách 2 ngày tưới nước một lần cho chất này đềungấm vào đất) và sau 25-35 ngày nhãn sẽ ra hoa
* Theo Nguyễn Văn Dũng (2005) [8], cho biết: khi phun GA3 và B0,1% + Urê (46%)0,5% cho vải vào 3 thời kỳ: Trước khi nở hoa, sau đậu quả5-7 ngày và sau khi đậu quả 45-60 ngày (trước khi rụng sinh lý lần 2) có tácdụng tăng cường khả năng giữ quả, tăng khối lượng quả và tăng khả năngchín sớm Phun chất điều hòa sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá có tác dụnglàm tăng cường tổng số, vitamin C, chất khô, Brix, giảm tỉ lệ axit, có tácdụng nâng cao phẩm chất quả vải chín sớm
Trang 31* Theo Bùi Quang Đãng, Vũ Mạnh Hải, Hoàng Minh Tấn (2006) [9],cho biết: Phun GA3 lên tán cây xoài (giống GL6) ở nồng độ 100-200ppm cótác dụng làm chậm thời gian nở hoa so với đối chứng từ 20-25 ngày (hoa nởrộ: 22/3-1/4) Phun GA3 ở nồng độ 50ppm không ảnh hưởng đến quá trình rahoa Xử lý GA3 ở nồng độ 250ppm đã làm cho cây không thể ra hoa Xử lý
GA3 ở nồng độ 100-200ppm có ảnh hưởng đến thời gian ra hoa Trong đó,nồng độ xử lý 100ppm có tác dụng tốt nhất: Thời gian nở hoa muộn hơn,tương ứng là 95,38 và 85,74% Năng suất quả thu được từ công thức xử lý
GA3 100ppm đạt cao nhất 30,74 kg/cây Việc xử lý GA3 ở nồng độ nghiêncứu đều không ảnh hưởng đến chất lượng quả
* Theo Nguyễn Thị Kim Thanh (2003) [16] cho biết: Khi phun Ethrelcho hồng vào thời kỳ rụng lá tự nhiên 80% đã làm cho lá hồng rụng nhanhhơn, lộc ra muộn hơn, nâng cao tỉ lệ cành mang hoa cái
* Theo Nguyễn Thị Kim Thanh và các cộng sự (2005) [17] cho biết:Khi phun kết hợp Atonik + Komik và hai loại thuốc trừ nấm RidomilMZ,Oxyclorua đồng đã có tác dụng nâng cao số quả, làm tăng năng suất và nângcao hiệu quả kinh tế cho cây hồng Thạch Thất trồng trên đất đồi
* Theo Đào Thanh Vân (2005) [22] cho biết: Khi phun các chế phẩmđậu quả: kích thích phát tố ra trái Thiên Nông, Atonik, NAA, IAA cho nhãnHương Chi vào 3 thời kỳ: trước hoa nở rộ 10 ngày; khi hoa nở rộ; sau hoa nở
rộ 10 ngày đều có tác dụng nâng cao tỉ lệ đậu quả, trong đó tốt nhất kích phát
tố hoa trái Thiên Nông Sử dụng chế phẩm đậu quả có tác dụng tăng năngsuất của vườn nhãn, hiệu quả nhất là kích phát tố hoa trái Thiên Nông tiếpđến là sử dụng NAA và Atonik
* Theo Nguyễn Văn Vượng, Trần Thế Tục (2005) [25] cho biết: bằngbiện pháp bẻ hoa đợt một kết hợp với phun chế phẩm HQ-201, phun α-NAA
Trang 3230-40ppm ở năm có điều kiện thời tiết rét muộn kèm theo mưa phùn làmtăng được tỉ lệ đậu quả của xoài GL1 từ 1,5-2 lần so với biện pháp bẻ hoa vàđối chứng Kết hợp biện pháp bón phân, cắt tỉa, tưới nước với phun α-NAA30-40ppm,phun chế phẩm đậu quả HQ-201 và chế phẩm đậu quả của bộmôn Sinh lý-Hóa sinh của trường Đại học Nông nghiệp I làm tăng tỉ lệ đậuquả của giống xoài GL1 từ 2,5-3 lần so với biện pháp bẻ hoa và đối chứng.
* Theo Trần Thị Kim Ba, Nguyễn Bảo Vệ (2005) [1] cho biết: Đốivới xoài cát Hòa Lộc phun 2 làn chất điều hòa sinh trưởng thực vật ở 2 thờiđiểm 1 tuần và 4 tuần sau khi đậu trái làm tăng khả năng đậu trái và tăngnăng suất Trong đó hợp chất 2,4D kết hợp với dung dịch dinh dưỡng chokết quả tốt nhất, tỉ lệ đậu trái loại một tăng cao nhất Phun chất điều hòa sinhtrưởng không làm thay đổi pH và độ cứng của trái nhưng làm tăng đườngtổng số, tăng tỉ lệ chất khô, giảm hàm lượng tinh bột trong trái lúc thu hoạch
* Theo Yung Kyung Choi, Jung Hokim (1972) [27] cho biết: Đểchống rụng quả hồng, ngoài thụ phấn bổ khuyết còn có thể phun hóa chất(NAA 10ppm; 2,4D phun 2-3 lần) và kết hợp với bón phân đạm vào lúcthích hợp
1.9.2 Nguồn gốc đặc tính của một số chất điều hòa sinh trưởng và phân bón lá
Trang 33năng suất cao, chất lượng tốt.
Atonik áp dụng trên hầu hết các loại cây trồng
* Phân bón lá đầu trâu: Là phân phức hợp tăng năng suất cây trồng.
Thành phần gồm Cu, Zn, Mn, B, N2, P2O5, K2O Nồng độ phun : Pha một gói10g với 8-10 lít nước Phun 3 lần vào giai đoạn quả non Lần 1 sau khi đậuquả 30 ngày, lần 2 sau lần 1 là 10 ngày, lần 3 sau lần 2 là 10 ngày
* Kích phát tố Thiên nông: Công dụng giúp cây trổ sớm, nhiều hoa,
kết nhiều trái; trái có phẩm chất tốt, ngăn ngừa rụng trái non Hoạt chấtAlpha-Naphthalene Acetic Acid 2%, Beta-Naphtoxy Acetic Acid 0.5%,Gibberrellic Acid GA-3 0.1% Nồng độ phun: 100gr pha được 200L nước(5gr cho bình 10L) Pha 0,28kg pha 560L nước cho 1ha Phun 3 lần vào giaiđoạn quả non Lần 1 sau khi đậu quả 30 ngày, lần 2 sau lần 1 là 10 ngày, lần 3sau lần 2 là 10 ngày
1.10 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và thực trạng sản xuất cây ăn quả của huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
1.10.1 Vị trí địa lý
Huyện Ba Bể nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Kạn có tổng diện tích tựnhiên 68.412 ha (chiếm 14% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn) Nằm trongtoạ độ địa lý 22027’ đến 22035’ vĩ độ Bắc và 105044’ đến 105058 kinh độĐông, ranh giới hành chính của huyện như sau:
Phía Bắc giáp huyện Pác Nặm và tỉnh Cao Bằng
Phía Nam giáp huyện Bạch Thông
Phía Đông giáp huyện Ngân Sơn
Phía Tây giáp huyện Chợ Đồn và tỉnh Tuyên Quang
Huyện có vị trí địa lý tương đối thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế
- văn hoá - xã hội với các huyện trong tỉnh và các tỉnh lân cận
1.10.2 Địa hình
Huyện có địa hình đặc trưng miền núi cao, bị chia cắt mạnh, có độ dốc
Trang 34lớn, hướng núi không đồng nhất Độ cao trung bình trên 600m so với mặtnước biển, nơi có địa hình cao nhất là 1517m (đỉnh Phja Bjooc), nghiêng dầntheo hướng Đông Bắc - Tây Nam và có thể chia làm 3 dạng địa hình chính:
- Địa hình núi đá vôi, phân bố chủ yếu ở các xã Nam Mẫu, Quảng Khê,Cao Trĩ, Hoàng Trĩ với những dãy núi đá vôi cao trên 1000m xen giữa các thunglũng hẹp tạo thành những vách dựng đứng, cheo leo, độ cao phổ biến từ 600m -1000m, độ dốc trên 350 Là vùng núi cao, địa hình hiểm trở, ít có điều kiện pháttriển sản xuất nông nghiệp
- Địa hình núi đất của các xã phía Nam, độ cao phổ biến 300 - 400m,
độ dốc bình quân trên 200 nhưng bị chia cắt bởi các khe suối, là địa bàn có thểphát triển lâm nghiệp và nông - lâm kết hợp Đây là vùng có tiềm năng lớn vềphát triển các loại cây ăn quả, cây lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc
- Địa hình thung lũng phân bố dọc theo sông suối xen giữa các dãy núicao (khu vực trung tâm huyện) có độ cao trung bình 200 - 300m, diện tíchkhoảng 1000ha, là địa hình cấu tạo nên các cánh đồng trồng lúa màu của các
xã trong huyện
Những kiểu địa hình trên tuy có gây khó khăn cho việc phát triển nôngnghiệp hàng hóa nhưng lại là điều kiện thuận lợi cho việc đa dạng hoá câytrồng và vật nuôi cho đồng bào các dân tộc trong huyện
1.10.3 Đất đai
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện: 68.412ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp khoảng 6770 ha
- Đất nuôi trồng thuỷ sản: 245 ha
- Đất phi nông nghiệp là 2.023 ha
- Đất lâm nghiệp toàn huyện là 54.876 ha
Trang 35+ Đất lâm nghiệp có rừng 35.056 ha (rừng đặc dụng: 8.556 ha, rừngphòng hộ: 9.092 ha, rừng sản xuất: 17.408 ha)
+ Đất chưa có rừng 19.820 ha
- Đất chưa sử dụng : 13.167 ha
- Diện tích đất chưa sử dụng chủ yếu là đất có khả năng lâm nghiệp(trồng rừng, khoang nuôi tái sinh rừng) Diện tích đất có khả năng nôngnghiệp còn ít, điều kiện khai thác tương đối khó khăn và nếu có đưa vào thìchủ yếu là cây công nghiệp dài ngày thích hợp cho vùng núi cao như chè shantuyết, hồi, quế
1.10.4 Khí hậu
Ba Bể có các điều kiện thời tiết khí hậu tương đối thuận lợi, tuy nhiêncũng gặp không ít khó khăn cho phát triển kinh tế xã hội, nhất là phát triểnnông, lâm nghiệp
- Khí hậu của huyện Ba Bể chia thành 2 tiểu vùng đặc trưng, cụ thể:Vùng núi cao huyện: Có độ cao từ 700 đến 1500 m so với mực nướcbiển Vùng này có khí hậu mang nhiều tính ôn đới, mát mẻ về mùa hè, khôlạnh về mùa đông, rất thích hợp cho trồng cây ăn quả địa phương như đào,mận Tam Hoa, lê, mận Hậu … Vùng này có khí hậu ôn hoà, mùa hè mát mẻ,mùa đông lạnh khô hanh
+ Vùng thấp của huyện: Độ cao dưới 700 m so với mực nước biển, cónhiệt độ bình quân 260C - 280C, mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới
Kết quả tổng hợp một số yếu tố khí hậu tại Ba Bể, Bắc Kạn thể hiện ởbảng 1.2
Bảng 1.2 Tổng hợp một số yếu tố khí hậu tại Ba Bể, Bắc Kạn
Trang 36>100C), cao vào các tháng mùa hè và các tháng đầu đông Nhìn chung, biên
độ nhiệt độ này khá thuận lợi cho việc vận chuyển, tích luỹ vật chất quanghợp của cây đào
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trong vùng đều thích hợp cho rấtnhiều loại cây trồng phát triển Độ ẩm trung bình năm 2012 là 79,4%
Lượng mưa hàng năm ở Ba Bể đáp ứng nhu cầu của nhiều loại câytrồng như: Hoa, cây ăn quả ôn đới Nhưng lượng mưa phân bố không đềugiữa các mùa trong năm, gây khó khăn cho sản xuất, đặc biệt là tình trạngthiếu nước trong mùa khô Đòi hỏi trong quá trình sản xuất phải có các biệnpháp thuỷ lợi tưới tiêu thích hợp, các biện pháp canh tác hợp lý nhằm đáp ứng
Trang 37yêu cầu nước cho cây sinh trưởng phát triển tốt.
Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tạo ra cho vùng một thời kỳkhô hạn gay gắt, độ ẩm tầng đất mặt luôn dưới mức độ ẩm cây héo Cần phải cóbiện pháp giữ ẩm đất bằng cách che phủ đất và các biện pháp canh tác khác
1.10.5 Thuỷ văn, sông ngòi
Ba Bể có hệ thống sông suối chính như sau:
- Sông Chợ Lèng chảy vào hồ Ba Bể bắt nguồn từ dãy núi Phia Bjooc,chảy theo hướng đông nam - tây bắc qua địa bàn huyện Ba Bể trên địa phậncủa xã Đồng Phúc, Quảng Khê, Nam Mẫu
- Sông Năng bắt nguồn từ phần phía Nam của tỉnh Cao Bằng (nhánhchính và 1 nhánh phụ bắt nguồn từ phần phía đông của dãy Phja Bjooc theohướng Đông Tây, chảy qua các xã Chu Hương, Mỹ Phương, Hà Hiệu và nhậpvới nhánh chính trên địa bàn xã Bành Trạch đi qua thị trấn Chợ Rã, xã ThượngGiáo, xã Cao Trĩ, xã Khang Ninh, sau đó nhận nước của sông Chợ Lèng rồisang địa phận tỉnh Tuyên Quang
- Suối Tả Han và suối Bó Lù đều bắt nguồn từ dãy Phia Bjooc chảy vào
Dân số lao động: Ba Bể có 5 dân tộc chính cùng sinh sống trên 16 đơn
vị hành chính xã, thị trấn (199 thôn bản) gồm Tày, Kinh, Dao, Mông, Nùngvới 10.389 hộ khoảng 46.168 nhân khẩu Mật độ dân số trung bình là 73người/km2
Trang 381.11 Thực trạng sản xuất cây ăn quả và cây đào của huyện Ba Bể
1.11.1 Thực trạng sản xuất cây ăn quả của huyện Ba Bể
Ba Bể có nhiều thế mạnh trong phát triển cây ăn quả, đó là điều kiệnđất đai, khí hậu thích hợp với nhiều loại cây ăn Hơn nữa quỹ đất nông nghiệpchưa sử dụng còn nhiều, lao động nông thôn rất dồi dào Do giá trị kinh tế củacây ăn quả và có sự hỗ trợ vốn của nhà nước thông qua các chương trình, dự
án do vậy những năm gần đây diện tích cây ăn quả đã tăng lên rất nhanh
Công tác chọn tạo giống được quan tâm thỏa đáng, trình độ chăm sóc,quản lý vườn cây đã được nâng lên rất nhiều, các mô hình cây ăn quả điểnhình đã được nhân rộng Các kỹ thuật mới được áp dụng vào sản xuất cây ănquả Một số mô hình trồng cây ăn quả tập trung được triển khai: Hồng khônghạt, mân chín sớm, đào chín sớm ở các xã Địa Ninh, Khang Ninh và BànhTrạch… bước đầu đã thu được kết quả rất tốt Bên cạnh đó các chương trìnhnghiên cứu khả năng thích ứng một số loại cây ăn quả ôn đới nhập nội từ ĐàiLoan cũng góp phần làm phong phú thêm tập đoàn cây ăn quả của địa phương
Tuy nhiên do đất đai có độ phì thấp, độ dốc lớn, mức độ tập trungkhông cao, trình độ dân trí còn thấp… Do vậy năng suất cây ăn quả ở Ba Bểcòn rất thấp và không ổn định Một trong những nguyên nhân chính do ngườidân vẫn quen với tập quán canh tác cũ, trình độ chăm sóc quản lý vườn chuacao, thiếu các điều kiện đầu tư thâm canh, tình trạng dùng cây giống không rõnguồn gốc đang rất phổ biến Các tiến bộ mới ít được áp dụng vào sản xuấtcây ăn quả, chủ yếu là quảng canh, dụa vào thiên nhiên
1.11.2 Thực trạng sản xuất cây đào của huyện Ba Bể
Ở Ba Bể, cây đào được trồng từ rất lâu, tuy nhiên diện tích đào phântán, năng suất thấp, việc áp dụng kỹ thuật thâm canh còn hạn chế, các giốngchủ yếu là giống cũ có thời gian thu quả vào tháng 6-7 Do vậy thường hay bịruồi hại quả Sản xuất đào có thuận lợi, khó khăn như sau:
Trang 39Là nơi có Trạm nghiên cứu của Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học
và công nghệ tỉnh Bắc Kạn trong những năm qua đã hợp tác với Công ty SơnThái của Đài Loan triển khai đề tài nghiên cứu khả năng thích ứng một số cây
ăn quả ôn đới Đài Loan
b, Khó khăn
Phần lớn đất đai có độ phì thấp, độ dốc lớn, mức độ tập trung không cao.Yếu tố khí hậu còn có những hạn chế như lượng mưa phân bố khôngđều, gây hạn hán trong mùa đông, vì vậy, phần nào ảnh hưởng không tốt đếnsinh trưởng, phát triển của cây đào Ngoài ra các tác động của điều kiện thờitiết bất lợi khác như mưa phùn kéo dài trong tháng 2, tháng 3 làm giảm khảnăng đậu quả của cây
Hệ thống vườn ươm sản xuất cây giống còn nhiều bất cập, trang thiết bịnghèo nàn, quy mô nhỏ
Trình độ dân trí thấp, đặc biệt là đồng bào dân tộc vùng cao nơi mà còntiềm năng rất lớn về quỹ đất cho phát triển cây đào Ở những vùng này hiểubiết của người dân về trồng trọt, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hầu nhưchưa có gì
c, Giải pháp
Áp dụng các biện pháp kỹ thuật: Tuyển chọn giống có năng suất cao,chất lượng tốt, phù hợp với yêu cầu sinh thái của vùng Chú ý các biện pháp
Trang 40canh tác trên đất dốc như: trồng cây theo đường đồng mức, trồng cây phânxanh, cây họ đậu vừa có tác dụng cải tạo vừa có tác dụng giữ ẩm…
Khâu chăm sóc phải đặc biệt quan tâm đến kỹ thuật cắt tỉa, tạo tán, vì
nó đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượngquả và hạn chế sâu bệnh hại Tăng cường đào tạo, tập huấn kỹ thuật và thôngqua việc xây dựng các mô hình điểm trước khi nhân rộng
1.12 Giới thiệu đặc điểm của các giống đào nghiên cứu
ST
T Tên giống Ký hiệu Nguồn gốc Tình trạng cây
Cây đào trồngđược 5 năm Sinhtrưởng phát triển
tốt
Thực Vật
Các giống đào nghiên cứu, 3 giống có nguồn gốc Đài Loan gồm: NhịNguyệt đào, Phúc Thọ đào, Lục Nguyệt đào: Là giống đào nhập nội từ ĐàiLoan theo chương trình hợp tác giữa Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Kạnvới Công ty TNHH phát triển nông nghiệp công nghệ cao Sơn Thái
* Nhị Nguyệt đào: Sinh trưởng nhanh, ra hoa kết quả sớm Thu hoachquả vào đầu tháng 5 Quả tròn trung bình 14-16 quả/1kg vị ngọt, thịt giòn
* Phúc Thọ đào: Sinh trưởng nhanh, ra hoa vào tháng 2 Giống chínvào tháng cuối tháng 5, có quả to, thịt quả mầu trắng, giòn, dóc hạt
* Lục Nguyệt đào: Sinh trưởng nhanh ra hoa kết quả sớm từ đầu tháng1-2 Thu hoạch đầu tháng 6 Quả tròn, ăn giòn, ngọt
* Đào ĐCS1: Sinh trưởng khỏe, ra hoa từ ngày 15- 30/1 cho thu hoạchquả rất sớm cuối tháng 4 Sớm hơn 60 – 70 ngày so với đào địa phương.Trọng lượng quả trung bình 50 – 60 gam/1quả Quả có mầu đỏ tươi hấp dẫn