1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang

118 1,8K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Tuyên Quang
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 19,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rất Rất Hay!

Trang 1

PD hoặc PiDu Lợn lai giữa Pietrain và Duroc

PD×Lr Lợn lai giữa PiDu và Landrace

PD×Yr Lợn lai giữa PiDu và YorkshireLrYr hoặc (Lr×Yr) Lợn lai giữa Landrace và YorkshireYrLr hoặc (Yr×Lr) Lợn lai giữa Yorkshire và Landrace ĐB×MC Lợn lai giữa Đại Bạch và Móng CáiYr×MC Lợn lai giữa Yorkshire và Móng Cái

B Thức ăn

SCĐRCS/ổ Số con đẻ ra còn sống/ổ

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Hệ số di truyền của một số tính trạng năng suất sinh sản của lợn cái 25

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên lợn nái 42

Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên lợn thịt 42

Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng thức ăn của lợn thí nghiệm 43

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái Lr và Yr 49

Bảng 3.2 Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire lứa đẻ 1 52

Bảng 3.3 Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire lứa đẻ 2 55

Bảng 3.4 Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire lứa đẻ 3 57

Bảng 3.5 Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire lứa đẻ 4 59

Bảng 3.6 Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace từ lứa 1 đến 4 62

Bảng 3.7 Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire từ lứa 1 đến 4 62

Bảng 3.8 Khối lượng của lợn thí nghiệm qua các giai đoạn (kg/con) 65

Bảng 3.9 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) 67

Bảng 3.10 Sinh trưởng tương đối của con lai qua các tháng tuổi (%) 69

Bảng 3.11 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 70

Bảng 3.12 Tiêu tốn TA, protein, ME cho 1 kg tăng khối lượng 73

Bảng 3.13 Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng lợn lai (PiDu×Landrace) và (PiDu×Yorkshire) 74

Bảng 3.14 Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn thí nghiệm 75

Bảng 3.15 Đánh giá chất lượng thịt của con lai (PiDu × Landrace) và (PiDu × Yorkshire) 78

Bảng 3.16 Sơ bộ hạch toán kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt 80

Trang 3

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ VÀ BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Công thức lai tạo lợn thương phẩm lai 3 giống ngoại 8

Sơ đồ 1.2 Công thức lai tạo lợn thương phẩm lai 4, 5 giống ngoại 9

Đồ thị 3.1 Sinh trưởng tích lũy của lợn thịt 66

Biểu đồ 3.1 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) 68

Biểu đồ 3.2 Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm (%) 69

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong cung cấp thực phẩm tiêuthụ trong nước cũng như xuất khẩu Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống

kê sơ bộ tính tại thời điểm 01/04/2012, tổng đàn lợn của cả nước là 26,7 triệucon Trong đó đàn lợn nái khoảng 4,15 triệu con, sản lượng thịt hơi xuấtchuồng đạt 1.936,2 ngàn tấn Theo ước tính của Cục Chăn nuôi, mỗi tháng cảnước sản xuất và tiêu thụ khoảng 300 - 320 ngàn tấn thịt lợn hơi Dự báo,tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng sản xuất trong 06 tháng đầu năm 2012

khoảng hơn 1,78 triệu tấn [13] Trong đó, sản xuất thịt lợn từ nguồn giống lợn

nhập ngoại, lợn lai theo quy mô công nghiệp ngày một tăng và chiếm tỷ lệcao Điều đó cho thấy chăn nuôi lợn theo hình thức thâm canh có tốc độ tăngtrưởng nhanh và luôn giữ vai trò cực kỳ quan trong việc cung cấp thực phẩmcho người Việt Nam

Con giống có vai trò quyết định đến khả năng sản xuất tối đa của convật Để nâng cao năng suất và chất lượng đàn lợn giống thương phẩm thì cùngvới việc sử dụng các giống lợn thuần nổi tiếng thế giới làm nái, việc lai tạoluôn đem lại hiệu quả không nhỏ Việc sử dụng các dòng lợn đực mới, có khảnăng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao và tiêu tốn thức ăn thấp cho lai tạovới các dòng lợn nái có năng suất sinh sản cao sẽ tạo ra các con lai 3 - 4 máungoại có thừa hưởng di truyền tốt từ bố mẹ Con lai thương phẩm sẽ có khảnăng sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, sức đề kháng với bệnh tật cao

và đặc điểm nổi bật là con lai thương phẩm sẽ có tỷ lệ thịt nạc cao Theo kếtquả điều tra của Vũ Đình Tôn và cs (2007) [47] ở các hộ chăn nuôi tại một

số tỉnh phía Bắc cho thấy, việc sử dụng đực lai là khá cao (chiếm 36%) trong

cơ cấu đực giống Các đực lai phối giống với lợn nái các giống ngoại (náithuần Landrace (Lr) chiếm 15,60% và Yorkshire (Yr) chiếm 18,9%) để tạo

Trang 5

ra con lai 3 máu có năng suất sinh sản cao, sinh trưởng nhanh và tiêu tốnthức ăn thấp (Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy, 2009 [20]).

Tuyên Quang là một trong những tỉnh có quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ làchủ yếu Đàn lợn nái nuôi vẫn chủ yếu là lợn nội và lợn lai F1 chiếm 80 - 85%tổng đàn nái Theo số liệu của chi cục thống kê tỉnh năm 2011, tổng đàn lợn là427.500 con, trong đó lợn nái là 49.200 con Vì vậy, ngành chăn nuôi lợn, đặcbiệt là chăn nuôi lợn ngoại ở Tuyên Quang vẫn còn nhiều hạn chế trong côngtác giống dẫn đến năng suất, chất lượng của đàn lợn không ổn định Do đó,việc nghiên cứu đánh giá chất lượng đàn nái ngoại đang nuôi tại một số cơ sở

và để tìm ra tổ hợp lai thích hợp cho sản xuất lợn thịt chất lượng cao là mộtđòi hỏi mang tính cấp thiết hiện nay Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến

hành đề tài: “Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái Landrace,

Yorkshire và con lai (♂PiDu x ♀ Landrace), (♂PiDu x ♀Yorkshire) nuôi tại Tỉnh Tuyên Quang"

2 Mục đích đề tài

- Theo dõi năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire khiđược phối giống với đực PiDu (Pietrain x Duroc)

- Theo dõi khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt của con lai (♂PiDu x

♀Landrace) và (♂PiDu x ♀Yorkshire) nuôi tại tỉnh Tuyên Quang.

- Lựa chọn được tổ hợp lai phù hợp khi sử dụng nái Landrace vàYorkshire phối giống với đực PiDu

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Ưu thế lai và ứng dụng ưu thế lai trong chăn nuôi lợn

Trong chăn nuôi lợn, giống là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết địnhđến năng suất chất lượng sản phẩm của ngành chăn nuôi Công tác giống làcông tác kiến thiết cơ bản, trong đó phải đảm bảo phát triển cả hai mặt, tăngnhanh về số lượng đàn, đồng thời thường xuyên ổn định, nâng cao năng suấtchất lượng đàn lợn Hai mặt này có liên quan chặt chẽ và thúc đẩy nhau cùngphát triển Trong công tác giống gia súc thì nhân giống thuần chủng có ýnghĩa quan trọng trong việc cải tạo và hoàn thiện giống Tuy nhiên lai tạogiống là một biện pháp nhân giống nhằm nâng cao năng suất và chất lượngsản phẩm từ đó sẽ thúc đẩy hiệu quả trong chăn nuôi nhanh hơn (NguyễnThiện, 2006 [40])

Để có được những con giống tốt, các nhà làm công tác giống đềuhướng vào việc chọn lọc, ghép đôi giao phối những con giống tốt theo địnhhướng sản xuất Duy trì các đặc tính tốt của từng giống, loại bỏ các đặc tính ditruyền xấu, bổ sung các đặc tính di truyền tốt thì cần áp dụng đồng thời cácbiện pháp chọn lọc thuần chủng và lai tạo giống đặc biệt với những tính trạng

có hệ số di truyền cao (h2> 0,5)

Khác với gen quy định tính trạng chất lượng ở gia súc, các gen quyđịnh tính trạng số lượng không biểu hiện như nhau trong các điều kiện khácnhau Như cùng một giống lợn nuôi dưỡng trong cùng một điều kiện giốngnhau thì khả năng tăng trọng và thành phần thịt xẻ của chúng tương đươngnhau, nhưng khi nuôi dưỡng chúng trong những điều kiện khác nhau thì khảnăng tăng trọng và thành phần thịt xẻ của chúng rất khác nhau Điều này cóthể giải thích do các cá thể đều nhận từ bố, mẹ một hệ thống gen quy định

Trang 7

nào đó và được xem như là nhận được khả năng di truyền Tuy nhiên khảnăng di truyền đó có thể được thể hiện hay không là tuỳ thuộc vào điều kiệnngoại cảnh.

Theo di truyền học, kiểu hình là kết quả tác dụng của kiểu gen với điềukiện ngoại cảnh

P = G + E

Trong đó: P: Giá trị kiểu hình

G: Giá trị kiểu gen E: Điều kiện ngoại cảnh

Tuỳ theo phương hướng tác động của các gen alen mà giá trị kiểu gen

có thể bao gồm các thành phần khác nhau

G = A + D+ I “A” Gọi là giá trị cộng gộp, thành phần quan trọng nhất cố định khôngthay đổi có thể di chuyển được và còn được gọi là giá trị giống của cá thể(Breeding value) là cơ sở di truyền của việc chọn giống

“D” là tính trội (Dominance) là tác động trội của các cặp alen trongcùng 1 locus nên không có tính trội thì giá trị di truyền và giá trị cộng gộp làtrùng nhau Khi xem xét 1 locus duy nhất sự khác nhau giữa giá trị kiểu gen

và giá trị giống A và giá trị di truyền đó chính là sự sai lệch trội D

Do vậy G = A + D

“I” là các gen của các cặp gen hoặc cùng alen sai lệch tương tác nênkiểu gen là do từ 2 locus trở lên cấu thành giá trị kiểu gen có thể thêm 1 sailệch do sự tương tác giữa các gen trong các locus khác nhau

Ngày nay, qua các công trình nghiên cứu đều cho thấy, các tính trạng sốlượng mà phần lớn là các tính trạng có ý nghĩa kinh tế như: mức tiêu tốn thức

ăn, khả năng tăng trọng… đều phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ngoại cảnh Điềunày là do các biến dị di truyền như biến dị di truyền cộng gộp, tương tác gen

Trang 8

đem lại Những tính trạng di truyền thấp chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiệnngoại cảnh (Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, 1998) [37] Đối với cáctính trạng số lượng như khả năng tích luỹ nạc, các gen đồng hợp tử quyết địnhtính trạng này tăng lên thì khả năng tích luỹ nạc cũng tăng lên Theo lý thuyết,

ở đàn lợn thuần chủng (chủ yếu ở lợn ngoại), hầu hết có các gen quyết định khảnăng tích luỹ nạc Khi ta chọn các dòng, giống lợn có khả năng tích luỹ nạc caocho giao phối với nhau qua nhiều thế hệ sẽ dẫn đến tăng số gen tương đồngtrong dòng Đây chính là phương pháp mà các nhà chọn giống sử dụng để cảitiến nâng cao tỷ lệ nạc ở lợn trong công tác giống hiện nay

1.1.1.1 Cơ sở khoa học của ưu thế lai

Ưu thế lai đã được Shull nhà di truyền học người Mỹ đề cập đến từnăm 1914 Sau đó vấn đề ưu thế lai được nghiên cứu và ứng dụng khá rộngrãi ở động vật và thực vật Theo ông, ưu thế lai là tập hợp của những hiệntượng liên quan đến sức phát triển nhanh hơn, khả năng chống chịu bệnh tốthơn và năng suất cao hơn ở thế hệ đời con so với bố mẹ Hiện nay ở nhiềunước chăn nuôi lợn phát triển, 70 - 90% lợn nuôi thịt là lợn lai Chính vì vậy,

ưu thế lai đang được coi là một nguồn lực sinh học để tăng năng suất và hạgiá thành sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên, trong thực tế có khi ưu thế lai bằngkhông khi năng suất của con lai chỉ bằng mức trung bình của lợn bố mẹ vàkhông phải bất cứ cặp lai nào cũng đều cho ưu thế lai Ưu thế lai không ditruyền và độ lớn của ưu thế lai phụ thuộc vào hệ số di truyền của tính trạng.Các tính trạng có hệ số di truyền thấp sẽ có ưu thế lai cao và những tính trạng

có hệ số di truyền cao sẽ có ưu thế lai thấp Để nhận được ưu thế lai tối đa,cần đảm bảo chắc chắn là con bố và con mẹ là 2 giống thuần khác nhau Nếucon bố và con mẹ là con lai thì ưu thế lai sẽ bị giảm đi

Theo Dickerson (1974) [64], khi lai giữa hai giống con lai chỉ có ưu thếlai cá thể Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai,

Trang 9

con lai có cả ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1 Nếudùng đực lai giao phối với nái của giống thứ ba, con lai có ưu thế lai cá thể và

ưu thế lai của bố, do bố là con lai F1 Trong lai bốn giống, con lai có cả ưu thếlai cá thể, cả ưu thế lai của mẹ và ưu thế lai của bố

Để đạt được ưu thế lai tối đa thì nhà chọn tạo và lai giống cần tối ưuhóa các yếu tố để tạo cơ sở khoa học cho tăng năng suất chăn nuôi Thôngthường ưu thế lai chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:

* Tổ hợp lai: Ưu thế lai đặc trưng cho mỗi tổ hợp lai Theo Trần Đình

Miên và cs (1994) [26], mức độ ưu thế lai đạt được có tính cách riêng biệt chotừng cặp lai cụ thể Theo Trần Kim Anh (2000) [1], ưu thế lai của mẹ có lợicho đời con, ưu thế lai của lợn nái ảnh hưởng đến số con/ổ và tốc độ sinhtrưởng của lợn con Ưu thế lai cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sốngcủa lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa Ưu thế lai của bố thể hiện tínhhăng của con đực, kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai Khi lai hai giống, số lợncon cai sữa/nái/năm tăng 5 - 10%, khi lai 3 giống hoặc lai trở ngược số lợncon cai sữa/nái/năm tăng tới 10 - 15%, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0 - 1,5con và khối lượng cai sữa/con tăng được 1 kg ở 28 ngày tuổi so với giốngthuần (Colin, 1998) [62]

* Tính trạng: Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, có những tính trạng

có khả năng di truyền cao nhưng cũng có những tính trạng có khả năng ditruyền thấp Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năngsinh sản có ưu thế lai cao nhất Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường

có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, laigiống là một biện pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn

Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau: số con đẻ ra/ổ có ưuthế lai cá thể là 2%, ưu thế lai của mẹ là 8%; số con cai sữa có ưu thế lai cáthể 9%, ưu thế lai của mẹ là 11%; khối lượng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ưu thế lai

cá thể 12%; ưu thế lai của mẹ 18% (Richard, 2000) [91]

Trang 10

* Sự khác biệt giữa bố và mẹ: Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt

giữa hai giống đem lai, hai giống càng khác biệt với nhau về di truyền baonhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu

Thông thường thì các giống có nguồn gốc càng xa nhau về điều kiệnđịa lý thì ưu thế lai càng cao Ưu thế lai của một tính trạng nhất định phụthuộc đáng kể vào ngoại cảnh Có nhiều yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến giasúc, cũng như ảnh hưởng đến biểu hiện của ưu thế lai

1.1.1.2 Ưu thế lai trong chăn nuôi lợn

Trước đây, trong chăn nuôi quảng canh người ta thường nuôi lợn có tỷlệ nạc thấp, tận dụng thức ăn thừa, phế phụ phẩm nông nghiệp Khi nhu cầu

về thịt nạc tăng thì các nhà chăn nuôi chú ý đến việc lai tạo với các giống lợnngoại cao sản, nuôi thuần các giống lợn ngoại siêu nạc

Những năm gần đây, nhiều giống lợn ngoại có năng suất cao đã đượcnhập nội vào Việt Nam Đi đôi với việc sử dụng có hiệu quả các chương trìnhgiống tối ưu, việc nâng cao chất lượng lợn giống đã và đang được tiến hànhmột cách tích cực Đàn lợn cụ kỵ nhập nội này đã được nuôi thích nghi và sửdụng trong nhiều năm qua và nay được làm tươi máu nhằm nâng cao năngsuất Lai tạo là biện pháp nhân giống nhằm nâng cao năng suất và phẩm chấtsản phẩm thông qua ưu thế lai Hiện nay, ở nhiều nước có chăn nuôi lợn pháttriển 70 - 90% lợn nuôi thịt là lợn lai hybrid Tại đó ưu thế lai được coi là môitrường nguồn lực sinh học để tăng năng suất và hạ giá thành sản phẩm chănnuôi (Nguyễn Thiện, 2006) [40] Tuy nhiên việc kết hợp giữa hai giống nào

có ưu thế cao phụ thuộc vào sự lựa chọn, xác định ưu thế lai của tổ hợp laidựa trên giá trị giống

Tại Việt Nam hiện nay, rất nhiều chương trình lai tạo ra lợn nuôi thịt 4

và 5 giống do công ty PIC thực hiện 3 dòng thuần đàn cụ kỵ là dòng L11(giống Yorkshire chuyên hóa theo tăng khối lượng, tỷ lệ nạc), dòng L06

Trang 11

(giống Landrace chuyên hóa theo khả năng sinh sản) và dòng L64 (giốngPietrain chuyên hóa theo tỷ lệ nạc cao) và 2 dòng tổng hợp là L19 và L95hiện nay đang được sử dụng để tạo ra các dòng giống tốt có tiềm năng năngsuất và chất lượng cao.

Để tạo ra lợn lai nuôi thịt có 4 và 5 giống, người ta thường cho lợn đựcgiống dòng 402 lai với lợn nái CA và C22 Lợn đực 402 được tạo ra từ việccho lai tạo giữa lợn đực dòng L64 và lợn nái dòng L11 Lợn nái C22 và CAthuộc cấp giống bố mẹ được tạo ra bằng cách cho lai giữa lợn đực L19 với lợnnái C1050 và C1230

Khi cho lai giữa lợn đực dòng 402 với lợn nái CA sẽ tạo ra con laihybrid 5 máu để nuôi thịt Lợn lai hybrid nuôi thịt 4 hoặc 5 giống có năngsuất cao, phẩm chất tốt (tỷ lệ nạc cao), phù hợp với phương thức nuôi côngnghiệp hiện nay, được thị trường ưa chuộng

Đối với giống lợn ngoại, hiện nay ở nước ta đang phổ biến 3 công thứclai sau:

- Lợn lai 3 máu: Yorkshire - Landrace - Duroc, loại này phổ biến ở các

tỉnh phía Bắc (Đồng bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ) Công thức lai

tạo lợn thương phẩm lai 3 giống ngoại ông bà như sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 Công thức lai tạo lợn thương phẩm lai 3 giống ngoại

YrLr

YrLrDr LrYrDr

Trang 12

- Lợn lai 4 máu: Yorkshire - Landrace - Duroc - Pietrain, loại này phổ

biến ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông CửuLong Công thức này thường cho 2 giống lợn thành 1 cặp lai sau đó con của 2cặp đã kết hợp với nhau tạo ra con lai 4 máu Cặp 1: Yr x Lr ⇒ F1 làm dòng

mẹ Cặp 2 Pietrain × Duroc (hoặc 1 dòng cái tổng hợp) để tạo ra dòng bố (haycòn gọi là đực cuối - đực lai cuối cùng) Ví dụ: Đực 402 (PIC) đực Maxter;đực SP, đực Pi4… của Công ty Pran HyBit Việt Nam Sau đó dòng mẹ ♀ × ♂dòng bố lai với nhau

- Lợn lai 5 máu: gồm các dòng L95 - L11 - L06 - L19 - L64 Hiện nay,

dòng giống lợn lai này được Trại giống cụ kỵ Tam Điệp, Ninh Bình của ViệnChăn nuôi triển khai Con giống loại này phổ biến ở một số tỉnh Đồng bằngsông Hồng (Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên, )

+ Công thức lai tạo lợn thương phẩm lai 4, 5 giống ngoại

Sơ đồ 1.2 Công thức lai tạo lợn thương phẩm lai 4, 5 giống ngoại

GP

CA c

C22 z

Meishan

L64 Pietran

Trang 13

1.1.2 Đặc điểm về sinh trưởng và phát dục của lợn

Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ trong cơ thể Đó là sựtăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang và khối lượng các bộ phận của toànbộ cơ thể con vật trên cở sở bản chất di truyền của đời trước quy định (TrầnĐình Miên, 1975) [25] Trong chăn nuôi lợn, khả năng sinh trưởng của lợnliên quan tới khối lượng cai sữa, khối lượng xuất chuồng, ảnh hưởng rất lớnđến giá thành và hiệu quả chăn nuôi

Các sinh vật sinh ra và lớn lên gọi là sự phát triển của sinh vật Sinh vậtsống biểu thị tính cảm ứng, tính sinh sản, tính phát triển, tính tạo ra nănglượng, tính hao mòn và chết Đặc điểm của sinh vật là hấp thu, sử dụng nănglượng của môi trường xung quanh làm thành chất cấu tạo cơ thể của mình, đểlớn lên và phát triển Do vậy các giống gia súc khác nhau thì có quá trình sinhtrưởng khác nhau, chủ yếu là quá trình tích luỹ protein

* Đặc điểm sinh trưởng phát dục: Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát

dục rất nhanh Theo dõi tốc độ tăng trưởng của lợn con thấy rằng, khối lượnglợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 2 lần khi sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc

30 ngày tuổi gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp

10 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 12 - 14 lần Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanhnhưng không đồng đều qua các giai đoạn Tốc độ nhanh nhất là lúc 21 ngàyđầu, sau 21 ngày tốc độ giảm xuống Có sự giảm này là do nhiều nguyên nhânnhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm, thời gian bị giảm sinhtrưởng thường kéo dài 2 tuần, còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con

Do khả năng sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích lũy các chất dinhdưỡng rất mạnh lợn con ở 20 ngày tuổi có thể tích lũy mỗi ngày 9 - 14 gprotit/kg khối lượng cơ thể (Trần văn Phùng và Hà Thị Hảo, 2004 ) [30]

* Đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hóa: Cùng với sự tăng lên của khối

lượng cơ thể còn có sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ

Trang 14

quan tiêu hóa của lợn phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Sự phát triểnthể hiện sự tăng nhanh dung tích dạ dày, ruột non, ruột già Cơ quan tiêu hóacủa lợn con chưa hoàn thiện do một số men tiêu hóa thức ăn chưa có hoạt tínhmạnh, nhất là ở 3 tuần đầu sau khi sinh như: Pepsin, Maltaza, Saccraza Nóichung lợn con bú sữa chỉ có khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng trong sữa

mẹ còn khả năng tiêu hóa các thức ăn khác kém Trong dịch vị của lợn conmới đẻ trong khoảng 20 - 25 ngày thiếu HCl Lợn con 3 - 4 tuần tuổi thì dạdày chưa có HCl tự do, vì lúc này lượng HCl tiết ra ít và nó nhanh chóng kếthợp với dịch dạ dày Hiện tượng thiếu HCl này là đặc điểm quan trọng trongquá trình tiêu hóa ở dạ dày Dịch vị thu được ở lợn con 7 ngày tuổi có độ pH:2,8; ở 10 ngày tuổi có độ pH: 2,8 - 3,1; ở 12 ngày tuổi có pH: 2,7; ở 20 ngàytuổi có pH; 2,4 - 2,7 Như vậy là lượng HCl là rất ít tạo điều kiện cho hệ visinh vật phát triển mạnh gây ra hội chứng tiêu chảy đặc biệt là bệnh lợn conphân trắng (Trần Văn Phùng và Hà Thị Hảo, 2004 ) [30]

* Khả năng sinh sản của lợn: Lợn là loài gia súc đa thai có khả năng

đẻ nhiều con mỗi lứa và nhiều lứa trong một năm Lợn mỗi lứa có thể đẻđược từ 6 - 14 con tuỳ theo từng giống Sở dĩ lợn có thể đẻ được nhiều conmỗi lứa là do số trứng rụng mỗi lần động dục là từ 18 - 30 trứng (bình quân

là từ 20 - 25 trứng) Số lượng trứng cũng tăng dần theo lứa đẻ của lợn vàđạt cao cho đến lứa thứ 7, thứ 8 Tuy nhiên số lượng con đẻ ra thường thấphơn số trứng rụng là do số hợp tử tạo thành ít và có một số phôi bị chếttrong thời kỳ có chửa Mỗi năm lợn cũng có thể đẻ được nhiều lứa (2,0 -2,5 lứa), tuỳ theo thời gian cai sữa cho lợn con Lợn nội thành thục về tínhsớm lúc 3 - 4 tháng tuổi và có thể đưa vào sử dụng lúc 8 tháng tuổi Lợnnái ngoại thường thành thục về tính muộn hơn nhưng cũng có thể đưa vào

sử dụng lúc 9 - 10 tháng tuổi Lợn nái bình thường có thể sử dụng tới 4năm (Vũ Đình Tôn và Võ Trọng Thành, 2006) [46]

Trang 15

* Khả năng miễn dịch của lợn: Lợn con đẻ ra hầu như chưa có kháng

thể, lượng kháng thể tăng lên nhanh sau khi bú sữa đầu Khả năng miễn dịchcủa lợn con hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu vàođược nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ Do đó lợn con cần được bú sữa đầucàng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngàytuổi cơ thể chúng mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Vì vậy những lợnkhông được bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, tỷ lệ chết cao (Trần VănPhùng và Hà Thị Hảo, 2004 ) [30]

Trong chọn tạo giống chăn nuôi lợn, hiểu được quá trình sinh trưởng,nhất là quá trình tạo nạc và mỡ sẽ giúp cho người chăn nuôi lợi dụng đượccác đặc tính sẵn có của lợn Tốc độ tăng trưởng của gia súc thường khác nhau,

tỷ lệ các phần mỡ, cơ, xương trên lợn cùng lứa tuổi có khối lượng khác nhauhay bằng nhau đều phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và các giai đoạn sinhtrưởng của gia súc Giai đoạn đầu từ sơ sinh đến 5 tháng tuổi Trong giai đoạnnày, lợn chủ yếu là tích luỹ cơ và khoáng chất, đặc biệt là sự phát triển của cơ

Mô cơ bao gồm một số sợi cơ nhất định liên kết với nhau thành bó, có vỏ liênkết bao bọc Ở giai đoạn còn non, lợn có nhiều mô cơ liên kết và sợi cơ,nhưng càng lớn thì tỷ lệ cơ giảm Giai đoạn mới sinh thớ cơ mỏng, do đó bó

cơ cũng như cấu trúc của thịt tốt, khi khối lượng cơ thể tăng theo tuổi thì sợi

cơ dày thêm và bó cơ trở lên lớn hơn Tuy nhiên đến giai đoạn cuối từ 60 - 70

kg trở đi, khả năng tích luỹ cơ giảm dần, tốc độ tích luỹ mỡ tăng lên, mức độtăng này tuỳ thuộc vào tốc độ tích luỹ mỡ dưới da, vì lượng mỡ dưới da chiếm2/3 tổng số mỡ trong cơ thể (Jurgens, 1993) [77]

Theo Pfeifer và cs (1984) [90] cùng với sự tăng lên về khối lượng thì tỷ lệvật chất khô và tỷ lệ mỡ cũng tăng lên, đồng thời tỷ lệ protein giảm nhẹ và tăngprotein cao nhất đạt được ở khối lượng 40 - 70 kg, sau đó giảm dần Do vậy, ởlợn đang lớn, quá trình tổng hợp protein tăng dẫn đến làm tăng sự tạo thành nạc

Trang 16

Để theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của vật nuôi cần định lượngchúng định kỳ bằng cân, đo các cơ quan, bộ phận hay toàn cơ thể con vật.Khoảng cách giữa các lần cân, đo này phụ thuộc vào loài vật nuôi và mụcđích theo dõi Thông thường để đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn từgiai đoạn sơ sinh đến 60 ngày tuổi thường đánh giá qua các chỉ tiêu: Khốilượng sơ sinh/ổ (kg); Khối lượng 21 ngày/ổ (kg); Khối lượng cai sữa/ổ (kg);Tăng trọng từ sơ sinh đến cai sữa (g); Tăng trọng từ cai sữa đến 60 ngày tuổi(g) Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn thịt thường dùng các chỉ tiêu:Tuổi bắt đầu nuôi (ngày); Khối lượng bắt đầu nuôi (kg); Tuổi kết thúc nuôi(ngày); Khối lượng kết thúc nuôi (kg); Tăng trọng/ngày nuôi (g); Tiêu tốnthức ăn/ kg tăng trọng (kg).

Để đánh giá chất lượng thân thịt của lợn người ta sử dụng các chỉ tiêu

về thân thịt và chất lượng thịt Đối với thân thịt, các chỉ tiêu quan trọng như tỷlệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ, chiều dài thân thịt, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng và diệntích cơ thăn Các chỉ tiêu chất lượng thịt bao gồm tỷ lệ mất nước, màu sắcthịt, cấu trúc cơ, mỡ dắt, pH của cơ thăn ở 45 phút và 24 giờ sau khi giết thịt(Reichart và cs, 2001) [92]

1.1.2.1.Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng

Tính trạng về khả năng sinh trưởng và cho thịt của vật nuôi nói chung vàcủa lợn nói riêng được gọi chung là tính trạng sản xuất và chúng hầu hết là tínhtrạng số lượng do đó nó chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền và ngoại cảnh

* Ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền

Các giống khác nhau có quá trình sinh trưởng khác nhau, tiềm năng

di truyền của quá trình sinh trưởng của các gia súc được th ể hiện thông quahệ số di truyền Hệ số di truyền đối với tính trạng khối lượng sơ sinh vàsinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05 - 0,21, hệ số di truyềnnày thấp hơn so với hệ số di truyền của tính trạng này trong thời kỳ vỗ béo(từ 25 - 95 kg)

Trang 17

Tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn có mối tương quan di truyềnnghịch và khá chặt chẽ đã được nhiều tác giả nghiên cứu kết luận, đó là: -0,51đến -0,56 (Nguyễn Văn Đức và cs, 2001) [15]; - 0,715 (Nguyễn Quế Côi và

Đối với các chỉ tiêu giết thịt như tỷ lệ móc hàm, chiều dài thân thịt, tỷlệ nạc, độ dày mỡ lưng, diện tích cơ thăn có hệ số di truyền cao (h2 = 0,3 -0,35) (Sellier và cs, 1998) [96] Đối với độ dày mỡ lưng, hệ số di truyền daođộng ở mức độ trung bình đến cao, từ 0,3 - 0,7 (Johnson và cs, 1999 [76]),nên việc chọn lọc cải thiện tính trạng này có nhiều thuận lợi Mc.Kay, 1990[83] cho rằng việc chọn lọc nhằm tăng khả năng tăng khối lượng và giảm dày

mỡ lưng không làm ảnh hưởng đến chỉ tiêu số con sơ sinh trên ổ

Tỷ lệ nạc là một tính trạng có hệ số di truyền cao, dao động từ 0,3 - 0,8.Johnson (1985) đã công bố hệ số di truyền đối với tính trạng tỷ lệ nạc trên8.234 lợn Landrace là 0,7 và trên 4.448 lợn Yorkshire là 0,81 Hovenier và cs(1992) [73] khi nghiên cứu theo dõi trên lợn Duroc và Yorkshire cho biết hệ

số di truyền về tỷ lệ nạc là 0,63

Đối với các chỉ tiêu thân thịt thì hệ số di truyền của tỷ lệ móc hàm làthấp nhất (h2 = 0,3 - 0,35) và chiều dài thân thịt là cao nhất (h2 = 0,56 - 0,57).Các chỉ tiêu về chất lượng thịt như tỷ lệ mất nước, màu sắc thịt, cấu trúc cơ,thành phần hoá học của cơ, pH 45 phút, pH 24 giờ sau khi giết thịt có hệ số di

Trang 18

truyền từ 0,1 - 0,3 (Sellier và cs, 1998) [96] Bên cạnh hệ số di truyền còn cómột mối tương quan giữa các tính trạng Tương quan di truyền giữa một sốcặp tính trạng là thuận và chặt chẽ như tăng trọng và thu nhận thức ăn (r =0,65) (Clutter và Brasscamp, 1998) [61], tỷ lệ nạc với diện tích cơ thăn (r =0,65) Bên cạnh đó là các tương quan nghịch và chặt như tỷ lệ nạc với độ dày

mỡ lưng (r = - 0,87) tỷ lệ mất nước với pH 24 giờ (r = - 0,71) và với khả nănggiữ nước (r = - 0,94) (Sellier và cs, 1998) [96] Ngoài ra, hàng loạt các thôngbáo của nhiều nhà khoa học đã xác nhận các chỉ tiêu thân thịt như tỷ lệ móchàm, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, chiều dài thân thịt và diện tích cơ thăn ở cácgiống khác nhau là khác nhau Chẳng hạn như ở lợn Landrace có chiều dàithân thịt dài hơn so với ở lợn Large White là 1,5 cm; ngược lại, tỷ lệ móc hàm

ở Large White lại cao hơn so với Landrace (Hammell và cs, 1993) [69]

Về phương diện sinh trưởng và cho thịt ở lợn, mối quan tâm chủ yếutới nhân tố di truyền chính là việc tạo ra ưu thế lai Chính vì vậy mà hầu hếtđàn lợn thương phẩm ở các nước là lợn lai Con lai có ưu thế lai cao hơn bố

mẹ về tăng trọng 10% (Sellier và cs, 1998) [96]

Bên cạnh giống và ưu thế lai, các tính trạng nuôi vỗ béo, thân thịt vàchất lượng thịt cũng bị chi phối bởi một số gen như gen halothan, tính nhạycảm stress với halothan chủ yếu làm giảm nhanh pH trong cơ sau khi giết thịt.Điều này làm tăng thịt PSE ở các lợn mắc hội chứng stress

* Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh

Ngoài các yếu tố di truyền, các yếu tố môi trường cũng ảnh hưởng rấtlớn đến các tính trạng sinh trưởng và cho thịt của lợn

+ Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng

Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong các nhân

tố ngoại cảnh, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và cho thịt ở lợn.Trong chăn nuôi chi phí cho thức ăn chiếm 70 - 80% giá thành sản phẩm, do

Trang 19

đó chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh

tế sẽ cao và ngược lại, qua nghiên cứu và thực tế cho thấy vật nuôi có khảnăng sinh trưởng tốt do khả năng đồng hóa cao, hiệu quả sử dụng thức ăn caothì tiêu tốn thức ăn thấp, do đó thời gian nuôi sẽ được rút ngắn tăng số lứa đẻ/nái/năm Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng chính là tỷ lệ chuyển hóa thức

ăn của cơ thể Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn và tăng khối lượng có mối tươngquan nghịch do đó khi nâng cao khả năng tăng khối lượng có thể sẽ giảm chiphí thức ăn

Mối quan hệ giữa năng lượng và protein trong khẩu phần là yếu tố ảnhhưởng trực tiếp đến tốc độ tăng khối lượng Đảm bảo cân đối dinh dưỡng thìcon vật mới phát huy được tiềm năng di truyền của nó Thức ăn và giá trị dinhdưỡng là các nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịtcủa con vật

Ngoài ra, phương thức nuôi dưỡng cũng có ảnh hưởng đến khả năngsản xuất của con vật Khi cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do, khả năng tăng khốilượng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn nhưng dày mỡ lưng lại cao hơnkhi lợn được ăn khẩu phần ăn hạn chế Lợn cho ăn khẩu phần thức ăn hạn chế

có tỷ lệ nạc cao hơn lợn cho ăn khẩu phần thức ăn tự do (Nguyễn Nghi và BùiThị Gợi, 1995 [27])

+ Ảnh hưởng của tính biệt

Lợn cái, lợn đực hay lợn đực thiến đều có tốc độ phát triển và cấu thànhcủa cơ thể khác nhau Lợn đực có khối lượng nạc cao hơn lợn cái và đựcthiến Tuy nhiên, nhu cầu về năng lượng cho duy trì của lợn đực cũng cao hơnlợn cái và lợn đực thiến Một số công trình nghiên cứu khác lại cho rằng lợnđực thiến có mức độ tăng khối lượng cao hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn(Campell và cs, 1985 [60])

Trang 20

+ Ảnh hưởng của chuồng trại

Cơ sở chăn nuôi và chuồng trại cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất

và chất lượng thịt Cơ sở chăn nuôi biểu thị tổng hợp chế độ quản lý, chămsóc nuôi dưỡng đàn lợn Thông thường, lợn bị nuôi chật hẹp thì khả năng tăngkhối lượng thấp hơn lợn được nuôi trong điều kiện chuồng trại rộng rãi

Nghiên cứu của Brumm và Miller (1996) [59] cho thấy diện tíchchuồng nuôi 0,56m2/con thì lợn ăn ít hơn và tăng khối lượng cũng chậm hơn sovới lợn được nuôi với diện tích 0,78 m2/con, năng suất của lợn đực thiến đạt tối

đa khi nuôi ở diện tích 0,84 - 1m2 Nielsen và cs (1995) [85] cho biết lợn nuôiđàn thì ăn nhanh hơn, lượng thức ăn trong một bữa được nhiều hơn nhưng sốbữa ăn trong ngày lại giảm và lượng thức ăn thu nhận hàng ngày lại ít hơn sovới lợn nuôi nhốt riêng từng ô chuồng

Các tác nhân stress có ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất và sứcsản xuất của lợn, đó là điều kiện chuồng nuôi, khẩu phần ăn không được đảmbảo, chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc kém, vận chuyển, phân đàn, tiêm phòng,điều trị, thay đổi khẩu phần ăn (Wood, 1986 [101])

+ Ảnh hưởng của tuổi và khối lượng giết mổ

Khả năng sản xuất và chất lượng thịt cũng phụ thuộc vào tuổi và khốilượng lúc giết thịt Giết thịt ở độ tuổi lớn hơn thì chất lượng thịt sẽ tốt hơn dosự tăng lên của các mô trong giai đoạn cuối của thời kỳ trưởng thành Songkhông nên giết thịt ở độ tuổi quá cao vì lợn sau 6 tháng tuổi khả năng tích luỹ

mỡ lớn, dẫn đến tỷ lệ nạc thấp và hiệu quả kinh tế kém

Chất lượng thịt lợn cũng thay đổi theo tuổi giết thịt là do thành phần cơthể phát triển khác nhau ở từng giai đoạn Mô cơ phát triển rất mạnh ngay từkhi còn rất nhỏ nhưng tốc độ giảm dần, còn mô mỡ tốc độ tích luỹ ngày càngtăng Tính từ khi sinh ra đến 7 tháng tuổi khối lượng lợn tăng khoảng 100 lần,trong đó mô xương chỉ tăng khoảng 30 lần, mô cơ tăng 81lần còn mô mỡ tăngtới 675 lần (Perez, Desmoulin, 1975) [89]

Trang 21

1.1.3 Đặc điểm sinh sản của lợn nái

1.1.3.1 Một số đặc điểm của cơ quan sinh dục và sinh lý sinh dục lợn cái

Sinh sản của gia súc là một tiêu chuẩn để xác định giá trị của con vật Khảnăng sinh sản biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu: đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ nuôisống sau đẻ, sau khi cai sữa, tỷ lệ còi cọc, tỷ lệ dị hình, khuyết tật Khả năng sinhsản cũng liên quan đến các chỉ tiêu sớm thành thục, thời gian mang thai, số lầnthụ tinh đạt kết quả Sau khi gia súc được sinh ra đến một giai đoạn nào đó cơthể có những biến đổi chuẩn bị cho việc sinh sản, thời kỳ này gọi là thành thục

về tính Trong điều kiện bình thường sự thành thục về tính xuất hiện lúc 6 - 7tháng tuổi đối với lợn ngoại Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của điềukiện tự nhiên, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, giống, tuổi gia súc

Theo Hoàng Văn Tiến và cs (1995) [45], cơ quan sinh dục cái gồm cóbuồng trứng, tử cung, âm đạo và các cơ quan sinh dục bên ngoài Cơ quansinh dục bên trong được đỡ bằng dây chằng rộng Dây chằng này gồm nhữngmàng treo buồng trứng (đỡ buồng trứng), màng treo ống dẫn trứng (đỡ ốngdẫn trứng) và màng treo tử cung (đỡ tử cung)

Buồng trứng khác với dịch hoàn, nó nằm lưu lại trong xoang bụng, thựchiện cả 2 chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sinh sản ra Steroit) Tất

cả các tế bào trứng phát triển từ đám tế bào mầm đầu tiên của mào sinh dục.Những tế bào nang trứng bọc quanh tế bào sơ cấp, phát triển từ biểu mô mầm,tạo nên những nang trứng đầu tiên Ban đầu những nang trứng này nằm rảirác khắp buồng trứng, nhưng ngay sau đó chúng khu trú trong vùng vỏ ngoại

vi, dưới màng liên kết trứng Hình dáng và kích thước buồng trứng biến đổitùy thuộc loài, tùy thuộc vào giai đoạn của chu kỳ sinh dục Buồng trứng củalợn giống như một chùm nho, có khối lượng 3 - 7g, số nang thành thục: 10 -

25, đường kính của nang 8 - 12 mm Đường kính của trứng không có vòngtrong suốt là 8 - 12 micro Thể vàng thành thục có hình cầu hoặc hình trứng,đường kính 10 - 15 mm (Hoàng Văn Tiến và cs (1995) [45]

Trang 22

Ống dẫn trứng có thể chia thành 4 đoạn chức năng: Tua diềm: có hìnhgiống như tua, diềm; Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng;Phồng ống dẫn trứng: là đoạn ống dẫn rộng xa tâm; Eo: là đoạn hẹp gần tâm,nối ống dẫn trứng với xoang tử cung; Phồng ống dẫn trứng gồm một nửachiều dài của ống dẫn trứng, hòa vào phần co thắt eo của ống dẫn trứng Ốngdẫn trứng có chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theohướng ngược chiều nhau Trứng được vận chuyển qua lớp nhầy, đi đến phầnphồng của ống dẫn trứng, ống dẫn trứng cung cấp một ngoại cảnh thuận lợinhất cho sự hợp nhất của tinh trùng và trứng [45].

Tử cung gồm: 2 sừng tử cung, thân và cổ tử cung Ở lợn tử cung thuộcloại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và có thể dài đến 1m, trong khi

đó thân tử cung lại ngắn Độ dài của sừng tử cung thích hợp cho việc mangnhiều thai Ở lợn trung bình sừng tử cung dài 40 - 65cm, chiều dài thân tửcung: 5cm, cổ tử cung có chiều dài 10 cm, đường kính ngoài từ 2 - 3cm [45]

Chu kỳ tính dục: Ở gia súc, việc giao phối bị hạn chế trong khoảng thờigian chịu đực, trùng hợp với thời gian rụng trứng, vì vậy việc nghiên cứu chu

kỳ tính dục sẽ giúp cho chúng ta xác định được thời điểm phối giống thíchhợp, nâng cao được năng suất sinh sản của con cái Trung bình ở lợn chu kỳđộng đực: 19 - 20 ngày, thời gian chịu đực: 48 - 72 giờ, thời điểm rụng trứng:

35 - 45 giờ kể từ khi bắt đầu chịu đực Cho phối giống quá sớm hay quámuộn, đều ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ [45]

Đối với lợn nái có thể cho phối kép, tức là phối hai lần với hai lợn đựcgiống khác nhau, khoảng cách giữa hai lần phối giống từ 12 - 14 giờ đối với lợnnái cơ bản Đối với lợn nái hậu bị thì thời gian giữa hai lần phối là 10 - 12 giờ

1.1.3.2 Các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái

Để đánh giá một cách đúng đắn năng suất sinh sản của lợn cái cần phảixác định được các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng, lấy đó làm cơ sở, thước đo để

Trang 23

định ra thời gian sử dụng lợn cái hiệu quả Các chỉ tiêu này cần phải được tínhchung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn cái từ lứa đẻ đầu tiên đến lứa đẻcuối cùng

Theo Nguyễn Thiện và cs (2005) [39] cho rằng khi khảo sát và đánh giánăng suất sinh sản của lợn nái cần chú ý các chỉ tiêu: tuổi thành thục sinh dục,chu kỳ động dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian mang thai và số con đẻra/lứa Tuy nhiên, Nguyễn Thiện, Hoàng Kim Giao (1996) [36] cho rằng sốlợn con cai sữa/nái/năm là chỉ tiêu thể hiện sự đánh giá đúng đắn và chính xácnhất về năng suất sinh sản của lợn nái Cũng theo Legault, các chỉ tiêu ảnhhưởng đến số lợn con cai sữa/nái/năm bao gồm: số con đẻ ra, tỷ lệ chết củalợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian từcai sữa đến khi thụ thai lứa sau

Qua nghiên cứu của Harmond (1994) (trích theo Đỗ Thị Thoa, 1998)[41] cho thấy các chỉ tiêu quan trọng với lợn nái sinh sản gồm: tuổi đẻ lứa đầu,

số con đẻ ra còn sống/ổ, khoảng cách lứa đẻ, thời gian cai sữa Kết quả đó cũngcho thấy số con cai sữa/nái/năm của lợn Large white là 21,2 con và của lợnLandrace Bỉ nuôi tại Pháp là 17,9 con

Ở Việt Nam vào những giai đoạn khác nhau, đã có những tiêu chuẩnkhác nhau để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái như: số con đẻ ra cònsống/lứa, khối lượng cai sữa/lứa, tuổi đẻ lứa đầu với nái đẻ lứa 1 hoặc khoảngcách giữa 2 lứa đẻ với lợn đẻ từ lứa thứ 2 trở đi (theo TCVN 1647- 82, TCVN

3666 - 89 hoặc TCVN 1280 - 81, TCVN 1282- 81) Trong điều kiện chănnuôi hiện nay dù là chăn nuôi lợn nái ở bất cứ khu vực nào thì thời gian chocon bú của lợn nái cũng thấp hơn 60 ngày, thậm chí có những trang trại chănnuôi với quy mô trung bình và nhỏ cũng đã thực hiện được việc tách con vào

21 ngày tuổi Đó cũng là một giải pháp góp phần tăng năng suất sinh sản củalợn nái

Trang 24

Theo Nguyễn Khắc Tích (2002) [44],khả năng sản xuất của lợn nái chủyếu được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm Từ đó chothấy số lợn con cai sữa/nái/năm phụ thuộc vào 2 yếu tố là số con đẻ ra và sốlứa đẻ/nái/năm.

Ngoài các chỉ tiêu quan trọng trên thì chỉ tiêu về số con đẻ ra còn sốngcũng là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi lợn nái Chỉ tiêunày được tính cho số con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng,không tính những con có khối lượng dưới 0,2 kg đối với lợn nội; 0,5 kg đốivới lợn lai và lợn ngoại Chỉ tiêu này cho biết khả năng đẻ nhiều hay ít concủa lợn nái, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa, kỹ thuật thụ tinhnhân tạo và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống

Tỷ lệ sống đến 24 giờ sau đẻ: tỷ lệ này không đảm bảo đạt 100% donhiều nguyên nhân khác nhau như lợn con chết ngay khi đẻ ra, thai gỗ, thai non

Số lợn con cai sữa/lứa: đây là chỉ tiêu rất quan trọng thể hiện trình độchăn nuôi lợn nái sinh sản Nó quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tớihiệu quả kinh tế của quá trình chăn nuôi lợn nái Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vàotrình độ chăn nuôi bao gồm kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòngchống dịch bệnh Số lợn con cai sữa/lứa đẻ tuỳ thuộc kỹ thuật chăn nuôi lợn cáinuôi con, kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ cũng như khả năng tiết sữa củalợn mẹ và sức đề kháng và khả năng phòng chống bệnh của lợn con (Vũ ĐìnhTôn, Võ Trọng Thành, (2006) [46]

Mặt khác số con cai sữa/lứa phụ thuộc vào số con để nuôi Người ta cóthể tiêu chuẩn hoá số con để nuôi/lứa là từ 8 - 10 con Nếu số con nhiều hoặc

ít hơn cần có sự điều phối giữa các lợn nái và phải làm muộn nhất là 48 giờsau khi đẻ Đơn giản nhất là chuyển lợn từ ổ đông con sang ổ ít hơn 8 con,cần ghi rõ số hiệu của mẹ nuôi Khi lợn đạt 21 ngày tuổi cần ghi chép số connuôi sống/ổ, khối lượng toàn ổ kể cả những con nuôi ghép Việc “chuẩn hoá”

Trang 25

số con cho mỗi nái có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá lợn nái sinh sản.

Số lượng lợn con/ổ có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chính các con đósau này Những lợn nái từng được nuôi trong ổ đông con sau này sẽ đẻ ranhững con cái nhẹ cân hơn, ảnh hưởng này có ý nghĩa kinh tế lớn hơn các ổđẻ trên 10 con Việc tiêu chuẩn hoá số con đẻ ra/ổ là 8 - 10 con sẽ giảm bớtảnh hưởng tiêu cực đó, giúp cho việc xác định giá trị giống chính xác hơn, vìsau khi được chuẩn hoá và được nuôi dưỡng trong cùng một môi trường nênkhả năng làm mẹ, tiết sữa nuôi con của lợn nái được đánh giá chính xác hơnqua khối lượng của lợn con lúc 21 ngày tuổi

Số con cai sữa/lứa phụ thuộc tỷ lệ nuôi sống: tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinhđến cai sữa chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như ỉa chảy 10,8%; bệnh đãbiết 9,8%; bệnh chưa biết 13,1%; bị đói 19,9%; bị mẹ đè 43,2%; nguyên nhânkhác 3,2% Lợn con trước cai sữa thường bị chết với các nguyên nhân và tỷ lệkhác nhau như di truyền 4,5%; nhiễm khuẩn 11,1%; mẹ đè, thiếu sữa 50%;dinh dưỡng kém 8%; nguyên nhân khác 26,4% Theo Nguyễn Khắc Tích(2002) [44] tỷ lệ lợn con chết sau khi sinh ở mỗi giai đoạn có sự khác nhau:ngày 1 là 28%; ngày 2: 24%; ngày 3: 11%; từ ngày 4 - 7: 10%; từ ngày 8 - 14:15%; từ ngày 15 - 21: 6%; từ ngày 22 trở đi: 6%

Số con đẻ/nái/năm: chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng rất nhiều vào thời giannuôi con và số ngày bị hao hụt (thời gian chờ phối, mang thai, sảy thai, chếtthai ) Trước kia ở Việt Nam thời gian lợn nái nuôi con trung bình 60 ngày,hiện nay tuỳ điều kiện cụ thể số ngày cho con bú đã rút ngắn còn từ 21 - 45 ngày.Thực tế nên cai sữa lợn con vào 21, 28, 35, 45 ngày tuổi thì các bệnh đã biếtgây chết 9,8% lợn trước cai sữa; bệnh chưa biết gây chết 13,1% và bệnh ỉachảy lợn con gây chết 10,8% Những tỷ lệ này thường ít xảy ra ở lợn dưới 21ngày tuổi Nếu cai sữa trước 22 ngày tuổi sẽ khắc phục được những nguyênnhân trên đến 33,35% số lợn con chết trước cai sữa (Nguyễn Khắc Tích,

Trang 26

2002) [44] Nếu áp dụng các biện pháp để tăng số lợn con cai sữa/lứa và sốlứa đẻ/nái/năm sẽ tăng được số con cai sữa/nái/năm, kết hợp với chỉ tiêu khốilượng cai sữa/ổ sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.

Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đàn lợn con: chất lượng của đàn lợncon nói lên chất lượng của lợn nái đồng thời phản ánh trình độ chăn nuôi của

cơ sở hoặc người chăn nuôi Các chỉ tiêu đó bao gồm:

+ Khối lượng sơ sinh toàn ổ: khối lượng đàn con cân được sau khi đỡđẻ xong, chưa cho con bú sữa đầu Đây là khối lượng của tất cả lợn con đẻ racòn sống, phát dục bình thường Chỉ tiêu này ảnh hưởng rất lớn tới quá trìnhphát triển sau này của đàn con

+ Khối lượng 21 ngày toàn ổ: được sử dụng để đánh giá khả năng tiếtsữa của lợn mẹ và khả năng tăng trọng của đàn con Tại 21 ngày sau đẻ khảnăng tiết sữa của lợn mẹ đạt đỉnh cao về số lượng và chất lượng sau đó giảmdần Đây chính là cơ sở của việc vận dụng để cai sữa sớm cho lợn con ở ngàytuổi thứ 21

+ Khối lượng cai sữa toàn ổ: khối lượng cai sữa toàn đàn còn có quanhệ khăng khít với khối lượng sơ sinh và đây chính là cơ sở cho khối lượngxuất chuồng sau này Ngày nay thời gian cai sữa ngày càng được rút ngắnnhưng khối lượng lợn con ở thời điểm cai sữa sớm chỉ có ý nghĩa trong việcđịnh mức dinh dưỡng cho chúng ở giai đoạn tiếp theo chứ không cho phépđánh giá thành tích của lợn nái Năng suất của lợn nái phải được xác định dựatrên cơ sở đàn con với khối lượng ở 60 ngày tuổi

+ Độ đồng đều của đàn lợn con: được thể hiện qua tỷ lệ đồng đều,cho phép đánh giá được khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sócphòng bệnh cho lợn con Nếu sự chênh lệch giữa cá thể có khối lượng nhỏ

Trang 27

nhất trong đàn so với cá thể có khối lượng lớn nhất càng thấp thì độ đồngđều càng cao.

+ Tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ: sau khi mang thai, đẻ, nuôi con lợn mẹ

có sự thay đổi về khối lượng, nếu gầy sút quá sẽ ảnh hưởng tới thời gianđộng dục trở lại sau cai sữa và ảnh hưởng tới năng suất của lứa tiếp theo.Nếu lợn nái có chất lượng, số lượng sữa tốt thì nhất định sẽ bị hao mòn thểtrạng Tỷ lệ hao mòn trung bình là 15 - 16% Sự hao mòn lợn mẹ thay đổitheo các lứa, lớn nhất ở lứa đẻ thứ 5 tới 43 kg So với lứa 1, lứa 2 là 29 và

33 kg; sau đó giảm dần ở các lứa thứ 6, thứ 7 (42 và 31 kg) Lợn mẹ haomòn có ảnh hưởng tới số lượng trứng rụng ở chu kỳ sau, nếu hao mòn 20

kg thì trứng rụng lần sau chỉ là 5 so với rụng 20 trứng khi lợn mẹ hao mòn

5 kg Nếu lợn mẹ hao mòn dưới 15 kg thì sẽ động dục trở lại trong vòng 10ngày, từ 22 - 35 kg thì thời gian đó sẽ là 15 - 20 ngày ở lợn nái béo và 15 -

30 ngày ở lợn nái gầy (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [44]

+ Khoảng cách lứa đẻ: là số ngày tính từ ngày đẻ lứa trước đến ngàyđẻ lứa tiếp theo gồm: thời gian chờ động dục trở lại sau cai sữa và phốigiống có chửa; thời gian chửa; thời gian nuôi con Nếu khoảng cách lứa đẻngắn thì số lứa đẻ của nái/năm tăng lên Trong các yếu tố cấu thành khoảngcách lứa đẻ thì thời gian có chửa không thể rút ngắn được, vấn đề đặt ra làcần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để rút ngắn khoảng thời giancòn lại Hiện nay đã áp dụng cai sữa sớm cho lợn con ở 21 ngày tuổi và cholợn nái ăn theo chế độ phù hợp nhằm rút ngắn thời gian động dục trở lạisau cai sữa Khi nuôi con cho lợn nái ăn 3 kg/ngày thời gian chờ phối là 8ngày, còn nếu cho ăn 7 kg/ngày thì sẽ là 5,5 ngày [44]

Trang 28

Bảng 1.1 Hệ số di truyền của một số tính trạng năng suất sinh sản

0,150,120,17Perrocheau

(1994)

Lứa đẻ/nái/nămTuổi động dục lần đầu

Số vú

0,10- 0,150,30,3Rydmer (1995) Tuổi đẻ lứa đầu

Khoảng cách lứa đẻ

0,270,08Như vậy các tác giả nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái đềuthống nhất rằng hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng

số lợn con cai sữa (số lợn con có khả năng chăn nuôi/nái/năm) Chỉ tiêu nàylại phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, tổng số lợn con đẻ ra,

số lứa đẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống Giữa các chỉ tiêu trên có mối quan hệ với nhau(Pfeiffer, 1974, trích theo Đinh Văn Chỉnh (2006) [9])

1.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộcvào 2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tínhcon giống, các giống lợn khác nhau thì có tính năng sản xuất khác nhau Yếu

tố ngoại cảnh bao gồm thức ăn dinh dưỡng, vệ sinh thú y, chuồng trại Mặtkhác năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như: sốtrứng rụng, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa/lứa, thời gianchờ phối Các chỉ tiêu này có hệ số di truyền thấp nên chúng chịu sự tácđộng mạnh mẽ của các điều kiện ngoại cảnh

Trang 29

+ Yếu tố di truyền: Ở lợn nái các tính trạng năng suất sinh sản của lợncái đều có hệ số di truyền thấp Với những tính trạng có hệ số di truyền thấpđể cải tiến năng suất có hiệu quả cần sử dụng biện pháp lai (Đặng Vũ Bình,2002) [4] Số trứng rụng/chu kỳ đây là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng trongđánh giá năng suất của lợn cái Nó chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố là di truyền,tuổi nái và chế độ dinh dưỡng.

+ Phương thức chăn nuôi và trình độ kỹ thuật: có ảnh hưởng tới quátrình phát triển sinh dục của lợn cái Ở lợn hậu bị nếu nuôi nhốt và cách ly lợnđực thì tuổi thành thục sinh dục sẽ dài hơn Trong quy trình chăn nuôi lợn cáihậu bị đã đặt ra vấn đề tiếp xúc với lợn đực giống hàng ngày Theo Hughes vàJemes (1996) [74] thì có đến 83% lợn cái hậu bị có khối lượng cơ thể trên 90

kg động dục lúc 165 ngày tuổi nếu được tiếp xúc với đực giống 2 lần/ngày, 20

- 25 phút/lần Mặt khác tuổi động dục lần đầu của lợn cái sẽ bị chậm ít nhất 1tháng nếu điều kiện chuồng nuôi không đảm bảo mật độ và vệ sinh thú y Đểđạt kết quả thì lợn cái hậu bị phải được nuôi chung thành nhóm đồng đều vềgiống, tuổi, khối lượng với mật độ theo từng thời kỳ: 3 - 5 tháng tuổi cần 0,4 -0,5 m2/con; 6 - 8 tháng tuổi: 0,5 - 0,8 m2/con (5 - 6 con/nhóm) sẽ đảm bảo cholợn động dục lần đầu đúng thời gian biểu hiện đặc trưng cho giống

+ Khẩu phần ăn và quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng: nhu cầu dinh dưỡngcủa lợn nái khác nhau tuỳ thuộc giống, tuổi, trạng thái sinh lý Đây là mộttrong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất sinh sản Việcxác định chế độ nuôi dưỡng thích hợp đối với lợn cái cần đảm bảo làm tăng

số trứng rụng, từ đó tăng các chỉ tiêu số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng

sơ sinh, để mang lại hiệu quả trong chăn nuôi

+ Tuổi của lợn cái: có liên quan chặt chẽ với khối lượng phối giống Đểđảm bảo điều kiện cho phối giống lần đầu lợn cái cần thành thục về tính vàthể vóc Nếu phối giống lần đầu quá sớm hoặc quá muộn, khối lượng khi đó

Trang 30

quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới hiệu quả Phối sớm khi khối lượng

cơ thể chưa đạt yêu cầu, các cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh, sức sống kém,chậm phát triển đồng thời ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể lợn mẹ về sau.Nếu để quá muộn, lợn cái hậu bị có khối lượng cơ thể quá lớn, quá béo cũng

sẽ làm giảm mức độ đạt được của các chỉ tiêu, từ đó giảm hiệu quả kinh tế.Chỉ nên phối giống cho cái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 thángtuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 - 70 kg đốivới lợn lai (nội×ngoại), 9 - 10 tháng tuổi đạt trên 80 - 90 kg đối với lợn ngoại

và lợn lai (ngoại×ngoại) (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [44]

+ Lứa đẻ: trên cơ sở số trứng rụng/chu kỳ, thứ tự các lứa đẻ cũng cóảnh hưởng tới khả năng sinh sản của chúng Theo Hughes, Varley (1980) [75]lứa 1 có số con/ổ thấp nhất vì số trứng rụng ở lần đầu tiên là 11,3 Sau đó tăngdần tới lứa 6, từ lứa 7 trở đi bắt đầu giảm dần hoặc có thể sẽ giữ được mức độ

ổn định Nếu trong sản xuất áp dụng kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng theo quytrình, đảm bảo cho lợn nái không quá béo hoặc quá gầy và giữ cho hao hụtlợn mẹ trong khoảng 12 - 16% sẽ có thể đảm bảo kéo dài về khả năng sinhsản đến lứa 10 - 12 Do vậy việc áp dụng quy trình kỹ thuật và các tiến bộ kỹthuật vào chăn nuôi lợn nái sinh sản là cần thiết để nâng cao thành tích sinhsản cho chúng mang lại hiệu quả cho người chăn nuôi

+ Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ thụ thai: trứng rụng nếu được gặp tinh trùngđúng thời điểm thích hợp sẽ được thụ tinh và phát triển thành hợp tử Vì vậy,việc xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn nái có vai trò quyết địnhtới tỷ lệ thụ tinh số trứng rụng/chu kỳ Nếu số trứng rụng ở mức bình thường(15 - 20 trứng) và ở điều kiện bình thường không có yếu tố đặc biệt thì tỷ lệthụ tinh đạt 100%, các trứng đã thụ tinh phát triển tốt (Hancock, 1961) [70].Nếu số trứng rụng tăng quá cao so với bình thường thì ngay sau khi được thụtinh, số trứng phát triển bình thường sẽ giảm từ đó ảnh hưởng tới chỉ tiêu số

Trang 31

con đẻ ra/lứa Theo Cunningham và cs (1979) [63] tỷ lệ số con đẻ ra/số trứngrụng giảm khi số trứng rụng quá cao.

+ Tỷ lệ chết phôi: sự sống sót của phôi sau khi được hình thành chịuảnh hưởng quan trọng của một số yếu tố như dinh dưỡng, sự phát triển củaphôi, các yếu tố khác như chăm sóc, vệ sinh thú y Phôi thai chết chủ yếu ởthời kỳ đầu của giai đoạn chửa (thời kỳ phôi thai) Đặc điểm sinh lý cơ bảncủa thời kỳ này là hợp tử đang di chuyển từ vị trí hình thành (1/3 phía trênống dẫn trứng) về vị trí làm tổ (sừng tử cung) dễ bị tác động của điều kiệnngoại cảnh Mặt khác quá trình làm tổ của phôi ở sừng tử cung có thể cónhững tương tác không thích hợp giữa tử cung mẹ và gây chết phôi Số phôichết trong thời kỳ này rất cao (30 - 40%) đã là nguyên nhân để Scrofield gọiđây là pha khủng hoảng của sự phát triển phôi (Scrofield, 1972) [95]

+ Khí hậu thời tiết, mùa vụ: ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinhsản với các mức độ khác nhau Có ý kiến cho rằng mùa vụ không có ảnhhưởng gì tới tỷ lệ thụ thai Tuy nhiên nghiên cứu của Adlovic và cs (1983)[55] cho thấy mùa vụ liên quan tới tỷ lệ thụ thai thể hiện ở sự giảm sụt 10%khi phối giống lợn ở các tháng 6, 7, 8 so với tháng 11, 12 trong năm Điều nàyphù hợp với nhận định của các tác giả khác cho rằng vào mùa hè nhiệt độ trên

300C thì sẽ giảm tỷ lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi, số con đẻ ra/lứa thấp.Nếu nhiệt độ quá thấp ở mùa đông ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phátdục cùa đàn con, tỷ lệ mắc các bệnh đường tiêu hoá và hô hấp cao Nhiệt độthích hợp khoảng 18 - 220C

+ Thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại: một số tác giả kết luậnrằng thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại ở lợn có mối tương quan khôngthuận Thời gian cho con bú càng dài thì thời gian động dục trở lại càng ngắn.Giữa các giống lợn, thời gian động dục trở lại có sự sai khác không đáng kể.Thời gian động dục trở lại còn phụ thuộc vào chế độ cho ăn của lợn nái Với 7

Trang 32

kg thức ăn/ngày thì thời gian động dục trở lại là 5,5 ngày so với 8 ngày khicho ăn 3 kg/ngày Việc xác định thời gian cai sữa cho lợn con có ý nghĩa rấtquan trọng vì nó ảnh hưởng tới số lứa đẻ/năm, mặt khác có liên quan đến sứckhoẻ của lợn mẹ và sự phát triển của đàn con sau khi cai sữa Nếu cai sữa ở 3tuần tuổi có thể nâng số lứa đẻ/năm lên 2,5 so với ở 8 tuần là 1,8 - 2 lứa Tuỳtheo tập quán chăn nuôi và điều kiện cụ thể, có thể cai sữa ở 19 ngày (Mỹ), 23

- 28 ngày (Australia) Tốt nhất nên cai sữa cho lợn con ở 21 - 28 ngày tuổi(Nguyễn Thiện, Hoàng Kim Giao, 1996) [36]

+ Số con cai sữa/ổ: chỉ tiêu này cùng với số lứa đẻ/nái/năm quyết định

số lợn con cai sữa/nái/năm, là 1 chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng đánh giáhiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản

+ Số con đẻ ra/ổ nhiều chứng tỏ trạng thái hoạt động của buồng trứngtốt, tình trạng sinh lý của lợn mẹ bình thường Số con đẻ ra/ổ có sự biến độngvới mức độ khác nhau Phần lớn lợn nái đẻ 11 - 12 con/lứa chiếm tỷ lệ caonhất (49,86%); số nái đẻ trên 13 con/lứa không nhiều (15,25%); còn số lợn đẻdưới 10 con/lứa chiểm tỷ lệ tương đối cao (34,89%) Số con sơ sinh/ổ thấp dosự tác động của các yếu tố thời tiết, khí hậu Lợn cái động dục ở các điều kiệnkhác nhau, mùa vụ khác nhau, nhất là khi các điều kiện đó có sự thay đổi độtngột tạo stress, gây ảnh hưởng tới hoạt động thần kinh, nội tiết làm giảm sốlượng trứng phát triển, chín và rụng Phương thức phối giống, quá trình caisữa cũng ảnh hưởng đáng kể tới số con sơ sinh/ổ

+ Khoảng cách lứa đẻ: là yếu tố quan trọng cấu thành năng suất sinhsản của lợn nái Đây là thời gian tính từ lứa đẻ trước tới lứa đẻ sau, gồm thờigian mang thai, nuôi con, chờ phối Trong đó chỉ có thể tác động đến thờigian nuôi con và chờ phối để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ từ đó nâng số lứađẻ/nái/năm Vì vậy vấn đề đặt ra là phải áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào chănnuôi lợn cái sinh sản ở giai đoạn nuôi con và chờ phối để có thể nâng cao hiệuquả sinh sản

Trang 33

1.1.4 Đặc điểm một số giống lợn ngoại nuôi tại Việt Nam

Khả năng sản xuất: Landrace có khả năng sinh sản cao, mắn đẻ và đẻnhiều: Trung bình 1,8 - 2 lứa/năm Mỗi lứa đẻ từ 10 - 12 con, khối lượng sơsinh (Pss) trung bình đạt 1,2 - 1,3 kg, khối lượng cai sữa (Pcs) từ 12 – 15 kg.Sức tiết sữa từ 5 - 9 kg/ngày Khả năng sinh trưởng của lợn rất tốt Landrace

có rất nhiều ưu điểm: Sinh sản tốt, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷlệ nạc và chất lượng thịt tốt Lợn có khả năng tăng trọng từ 750 - 800 g/ngày,

6 tháng tuổi lợn có thể đạt 105 - 125 kg Khi trưởng thành con đực nặng tới

400 kg, con cái 280 - 300 kg Lợn cái có 12 - 16 vú, nặng 220 - 250 kg Lợnđực 300 - 320 kg khi trưởng thành (Nguyễn Thiện và cs, 2005)[39]

Hướng sử dụng: Lợn Landrace được coi là giống lợn tốt trên thế giớihiện nay và được nuôi rất phổ biến ở nhiều nơi Giống lợn Landrace đượcchọn là một trong những giống tốt để thực hiện chương trình nạc hóa đàn lợn

ở Việt Nam

1.1.4.2 Giống lợn Yorkshire (Yr)

Yorkshire là một giống lợn địa phương, lúc đầu giống này được nuôi ởvùng Yorkshire thuộc Đông Bắc nước Anh Ngày nay được nuôi phổ biến ởnhiều nước trên thế giới Ban đầu giống này được ưa chuộng mạnh vì thịtngon, tỷ lệ nạc cao và cặp giò chắc mọng Từ thế kỷ 19, Yorkshire được nuôiphổ biến ở Đức, Pháp … Giống này cũng có đặc tính tăng trưởng nhanh nênthường dùng để cho lai, cải tạo các giống khác Lợn dễ thích nghi với điềukiện nhiệt đới

Trang 34

Ở các nước đang phát triển, lợn Yorkshire được chọn là lợn hướng nạc,nên khi nhìn từ trên lưng xuống, lợn có hình số 8 Ở các nước đang phát triển,mức độ nạc hóa không cao bằng các nước phát triển, lợn được chọn lọc theohướng ban đầu là kiêm dụng nay thiên về hướng nạc Ở nước ta, từ năm 1964,nước ta đã nhập lợn Đại Bạch từ Liên Xô cũ Đây là giống có khả năng chothịt cao Hướng sử dụng kiêm nạc mỡ, với tầm vóc to, thân mình ngắn, ngựcsâu Lợn đực trưởng thành dài thân 170 - 185 cm, vòng ngực 165 - 185 cm,trọng lượng từ 350 - 380kg Lợn cái có thể sử dụng để phối giống lần đầukhoảng 300 ngày tuổi, lợn nái trưởng thành có khối lượng 250 - 280 kg, sốcon/ lứa là 10 - 12 con Năm 2006, chúng ta nhập lợn Yorkshire từ Mỹ để làmtươi máu giống lợn này ở Việt Nam Giống này được chọn cho chương trìnhnạc hóa ở đàn lợn.

1.1.4.3 Giống lợn Pietrain (Pi)

Giống này xuất hiện ở Bỉ vào khoảng năm 1920 mang tên làng Pietrain.Lợn Pietrain còn gọi là lợn hoa do màu lông da có những vết đỏ và đen khôngđều Thân hình thể hiện rất rõ khả năng cho thịt và với phần mông và vai rấtphát triển

Khả năng sản xuất: Lợn có tầm vóc trung bình và khả năng sản xuấtthịt nạc cao, nuôi tốt có thể đạt 66,7% nạc trong thân thịt Trọng lượng sơ sinh1,1 - 1,2 kg/con, cai sữa 60 ngày tuổi đạt 15 - 17 kg/con 6 tháng tuổi đạt 100

kg Lợn đực có nồng độ tinh trùng cao, 250 - 290 triệu/ml Lợn cái có tuổi đẻlứa đầu 418 ngày Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 165,1 ngày Số con/lứa là10,2 con Số con cai sữa: 8,3 con, số con cai sữa/nái/năm là 18,3 con Khảnăng tăng trọng từ 35 - 90 kg là 770g/ngày Tiêu tốn 2,58 kg thức ăn/kg tăngtrọng Dày mỡ lưng trung bình ở lợn có khối lượng mổ thịt khi 90 kg là 7,8

mm Tuy nhiên lợn Pietrain có điểm hạn chế chính là rất mẫn cảm với stress.(Nguyễn Thiện, 2006) [40]

Trang 35

Lợn Pietrain được sử dụng để lai kinh tế ở nhiều nơi trên thế giới Dokhả năng cho thịt nạc cao cho nên chủ yếu được dùng để lai với các giốngkhác nhằm cải thiện khả năng cho thịt

1.1.4.4 Giống lợn Duroc (Du)

Giống Duroc có nguồn gốc ở Bắc Mỹ Lợn hiện nay đã khá phổ biến ởcác nước Châu Âu, Châu Á và chiếm một tỷ trọng đàn khá cao trong tổng đànlợn của nước Mỹ Lợn nái có khả năng chịu nắng, nóng khá tốt, thịt có tỷ lệnạc cao, ngon, chắc, sợi cơ mịn, được sử dụng để ăn tươi, tham gia nhiều vàocông nghệ đóng đồ hộp

Khả năng sản xuất: Lợn Duoc có khả năng tăng trọng 785g/ngày, khảnăng tăng thịt nạc 320 g/ngày Tiêu tốn thức ăn 2,91 kg/kg tăng khối lượng.Nuôi 171,89 ngày tuổi đạt khối lượng 99,88 kg Dày mỡ lưng ở sườn 10 là3,09 cm Duoc có khả năng sinh sản tương đối cao Trung bình đạt 1,7 - 1,8lứa/năm Mỗi lứa đẻ từ 9 - 11 con, khối lượng sơ sinh của lợn con trung bìnhđạt 1,2 - 1,3 kg, khối lượng cai sữa 12 - 15 kg Sức tiết sữa của lợn đạt 5 - 8kg/ngày Duoc trưởng thành con đực năng tới 370 kg, con cái 250 - 280 kg.Duoc được coi là giống lợn tốt nhất trên thế giới hiện nay và được nuôi rấtphổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt là nuôi theo hướng nạc Giống lợn Duoc đượcchọn là một trong những giống tốt để thực hiện chương trình nạc hóa đàn lợn

ở Việt Nam

1.2 Tình hình nghiên cứu giống lợn trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn nái

Các giống lợn Yorkshire, Landrace, được nuôi phổ biến ở tất cả cácnước có nghề chăn nuôi lợn hướng nạc phát triển và nhân ra khắp thế giớibởi các ưu điểm của nó là khối lượng cơ thể lớn, tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạccao, năng suất sinh sản khá, khả năng thích nghi tốt Ở Liên Xô (cũ) lợn

Trang 36

Yorkshire chiếm 85% còn ở Châu Âu chiếm khoảng 54% Năm 1960 tỷ lệgiống lợn Landrace trong cơ cấu đàn lợn của Cộng hòa dân chủ Đức là56,5% Chính vì vậy mà cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu và thông báo

về khả năng sinh sản của 2 giống lợn Yorkshire và Landrace White và cs(1991) [100] cho biết lợn Yr có tuổi động dục lần đầu là 201 ngày, số con đẻ

ra còn sống (SCĐRCS/ổ) là 7,2 con ở lứa 1 Các giống có nguồn gốc khácnhau cho năng suất sinh sản khác nhau: Số con đẻ ra/ổ của Yr Thụy Điển,

Yr Anh và Yr Ba Lan là 10,6; 9,7 và 10,5; còn Lr của Bỉ, Lr Bungary là 8,5

và 10 con/ổ Theo John Millanrd, đàn lợn nái Yr hạt nhân của Anh cóSCĐRCS là 10,82 con/ổ

Stoikov và Vassilev (1996) [97] đã tiến hành nghiên cứu về khả năngsinh sản của lợn Yorkshire và Landrace có nguồn gốc khác nhau được nuôi ởBungari cho biết số con đẻ ra/ổ ở các giống là khác nhau Cụ thể là lợnYorkshire Anh 9,7 con/ổ, Yorkshire Thụy Điển 10,6 con/ổ, Yorkshire Ba lan10,5 con, Landrace Anh là 9,8 con, Landrace Bungari 10 con, Landrace Bỉ là8,5 con/ổ

Theo Lê Thanh Hải và cs (1997) [18] thì ở Pháp số con đẻ ra còn sống/

ổ của giống Yorkshire năm 1991 là 11,4, năm 1992 là 11,5 con Còn vớiLandrace thì số liệu tương ứng là 11,7 và 12 con Ở Anh lợn Landrace có sốcon đẻ ra còn sống/ổ là 10,82 và lợn Yorkshire là 10,73 con

Mục đích của chăn nuôi lợn là tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, hiệuquả kinh tế lớn Mục đích này đã đạt được khi các công trình nghiên cứu củacác nhà khoa học trên thế giới đạt được kết quả Họ đã tiến hành lai tạo giữacác giống, kết hợp nhiều dòng lợn khác nhau, chọn lọc với mục đích chính làcải tiến chất lượng thịt, khả năng tăng khối lượng và TTTA Ở lợn sinh sảnchủ yếu chọn lọc ở một số chỉ tiêu quan trọng như: số con đẻ ra, khối lượng

sơ sinh, khối lượng cai sữa Trên thế giới đã ứng dụng thành công và phổ

Trang 37

biến công thức lai để tạo con lai thương phẩm có 2, 3, 4 hoặc 5 máu trongthành phần Park và cs (1982) [87] đã sử dụng các cái nền là Lr và Yr hoặc F1còn đực giống chủ yếu Lr, Yr, Du, H, Pi và đực lai.

Khả năng sản xuất của lợn phụ thuộc vào chất lượng con giống và cácgiống khi cho lai tạo với nhau Cùng sử dụng 2 giống nhưng với phương thứclai khác nhau sẽ cho con lai có khả năng tăng trọng khác nhau và đều có tốcđộ tăng khối lượng nhanh hơn 2 giống thuần Cùng sử dụng 2 giống nhưngkhi phối với các đực giống thuộc các giống khác nhau thì năng suất sinh sảncũng khác nhau

Lai giống là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng sinh sản vàcho thịt trong chăn nuôi lợn ở Ba Lan Tuz và cs (2000) [98] nhận thấy lai bagiống đạt được số con/lứa ở 1, 21, 42 ngày tuổi cũng như khối lượng sơsinh/con cao hơn hẳn so với giống thuần Sử dụng nái lai để phối với lợn đựcthứ ba có hiệu quả nâng cao khối lượng khi cai sữa và khả năng tăng trọng khinuôi thịt (Kamyk, 1998 [78])

Các nghiên cứu của Gerasimov và cs (1997) [67], cho biết lai ba giốngđều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/ổ, tỷ lệ nuôisống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con Gerasimov và cs (2000) [68], cho biếtnái lai có chất lượng tốt về sản xuất sữa, khối lượng sơ sinh, con lai sinh trưởngtốt và có năng suất thịt xẻ cao Việc sử dụng lai ba giống là phổ biến để nângcao khả năng sinh sản và sản xuất lợn thịt thương phẩm

Việc sử dụng nái lai (LrYr) phối với lợn Pietrain để sản xuất con lai bagiống, sử dụng nái lai (LrYr) phối với đực lai (PD) để sản xuất con lai bốngiống khá phổ biến tại Bỉ Lợn đực giống Pietrain đã được cải tiến có tỷ lệ nạccao được sử dụng là dòng đực cuối cùng để sản xuất lợn thịt (Leroy vàcs,1996) [81] Warnants và cs (2003) [99] cho biết Bỉ thường sử dụng lợn náilai phối giống với lợn đực Pietrain để sản xuất lợn thịt có tỷ lệ nạc cao và tiêutốn thức ăn thấp

Trang 38

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu về sinh trưởng và khả năng sản xuất của lợn thịt

Nâng cao năng suất, chất lượng con giống trong quá trình sản xuất lợnthịt luôn là yếu tố hàng đầu, then chốt được các nhà nghiên cứu, các tập đoànchăn nuôi của mọi quốc gia trên thế giới quan tâm Việc nghiên cứu chọn lọcdòng cao sản cùng huyết thống và lai tạo tìm ra các tổ hợp lai tăng khối lượngnhanh, đạt tỷ lệ nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp và độ dày mỡ lưng mỏng đãđược tiến hành thành công ở hầu hết các nước có nền chăn nuôi tiên tiến như

Mỹ, Đức, Canada, Anh, Hà Lan, Đan Mạch và Úc (Hermesch và cs, 1995;Alfonso và cs, 1998)

Theo Vangen và cs (1997), trong số 1,2 triệu lợn giết mổ hàng năm tạiNauy thì lợn lai chiếm trên 60% Nái lai (LrYr) có tỷ lệ đẻ, số con đẻ ra /lứacao hơn lợn nái thuần Lr, nái lai (LrYr) được sử dụng nhiều trong các côngthức lai (Gaustad-Aas và cs, 2004) [67] Pour (1998), cho biết phần lớn lợn thịtđược giết mổ năm 1996 tại Cộng hoà Sec là lợn lai Lai ba và bốn giống là hệthống chủ yếu để sản xuất lợn thịt thương phẩm (Houska và cs, 2004) [72]

Tại Áo với 4,8 triệu lợn thịt giết mổ hàng năm thì gần như tất cả đượcsản xuất từ lai hai, ba giống Nái lai được sử dụng phổ biến là

F1(Edelschwein×LW) và F1(Edelschwein×Lr) được phối giống với lợn đựcPietrain hoặc Duroc để sản xuất con lai ba giống nuôi thịt Khi lai giữa Durocvới Ladrace Bỉ, các tác giả Pavlik và cs (1989) [88] cho biết con lai có tăngkhối lượng đạt 804g/ngày, TTTA/kg tăng trọng là 2 kg, tỷ lệ thịt xẻ 51,86%; độdày mỡ lưng 2,23 cm So sánh giữa các con lai F1 của Du và LW thì thấy conlai F1(LW×Du) có độ dày mỡ lưng thấp hơn ở F1(Du×LW) Con lai của nái

F1(Lr×Yr) và đực Pi có tỷ lệ nạc là 52- 55%, khối lượng đạt 100kg ở 161 ngàytuổi Còn ở con lai F1(Hampshire×Slovakia White) có độ dày mỡ lưng 2,52cm; tăng trọng hàng ngày là 488g Ở Tây Đức kết quả nghiên cứu cho thấy conlai 3 giống Pi×(YrLr) đạt tỷ lệ nạc cao 59,2% Trong khi đó con lai 2 giốngPi×Lr tỷ lệ nạc đạt 53,7% và con lai 2 giống LrYr tỷ lệ nạc chỉ đạt 50,6%

Trang 39

Chương trình lai tạo giống lợn “PIC CAMBOROGH 22” của AnhQuốc sau nhiều năm nghiên cứu PIC đã lựa chọn được tổ hợp lai từ 4 giốnglợn: [♂(PiYr)×♀[Du×(LrYr)] Con lai của tổ hợp lai này giai đoạn 30 - 90 kgtăng khối lượng trung bình 850 g/ngày, tỷ lệ thịt xẻ trên 60%, độ dày mỡ lưngtại vị trí P2 là 10,5 mm giết mổ lúc 80 kg, tỷ lệ nạc trên 60% so với thịt xẻ,chất lượng và hương vị thịt thơm ngon Tổ hợp từ 4 giống Pi, Yr, Du, Lr đượcnuôi phổ biến ở các nước Anh, Pháp, Mỹ, Canada, Nhật, Thái Lan… và đượcđưa vào Việt Nam từ năm 1997 (PIC Việt Nam).

Năng suất sinh sản, phẩm chất thịt lợn phụ thuộc vào phẩm giống vàcác giống phối hợp với nhau, Bereskin và Steele (1986) [57] cho biết vớicông thức lai thuận nghịch giữa 2 giống Duroc và Large White, lợn lai có tốcđộ tăng khối lượng nhanh hơn so với Duroc hay Large White thuần So sánhgiữa các công thức lai hai, ba, bốn giống, Ostrowski và Blicharski (1997) [86]cho thấy con lai có 25% và 50% máu Pietrain có tỉ lệ nạc cao và chất lượngthịt tốt Sử dụng đực lai có tác dụng nâng cao diện tích và khối lượng cơ thănTheo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy lợn lai có mức tăng trọngtốt và tỷ lệ nạc cao hơn so với lợn thuần Theo Gerasimov và cs (1997) [67]cho biết công thức lai hai giống (Du×Large Black), công thức lai ba giốngDu×(Poltava Meat×Russian Large White) có khả năng tăng trọng cao nhưngtiêu tốn thức ăn lại thấp so với các công thức khác

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong thập niên gần đây, đã có nhiều thành tựu đạt được trong nghiêncứu sử dụng các lợn đực giống nhập nội để lai với các giống lợn nội nhằmkhông ngừng cải thiện năng suất, chất lượng đàn lợn thương phẩm và hiệuquả sản xuất cho người chăn nuôi, đồng thời cải thiện những nhược điểm củagiống lợn địa phương Từ những năm 60 Việt Nam đã nhập các giống lợn ĐạiBạch, Berkshire của Liên Xô (cũ) nhằm nâng cao năng suất và chất lượng lợn

Trang 40

thịt trong nước Tiếp sau đó, đến các năm gần đây Việt Nam nhập tiếp cácgiống lợn ngoại Yr, Lr, Du,… từ Cu Ba, Nhật, Pháp, Đức… về nuôi tại cáctrại giống của các viện nghiên cứu, các cơ sở giống của trung ương và tỉnh đểnuôi thích nghi và phục vụ cho lai tạo sản xuất giống lợn trong nước.

1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn nái

Nghiên cứu năng suất sinh sản của hai giống lợn Lr và Yr của Nguyễn

Văn Thiện và cs (1992) [35] cho biết số con sinh ra/ổ của lợn nái Lr và Yr là

9,57 và 8,40 con/lứa, khối lượng sơ sinh/ổ là 11,89 và 11,30 kg, khối lượng

21 ngày tuổi/ổ là 31,30 và 33,67 kg Nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cs(1995) [6] về năng suất sinh sản của lợn nái Lr và Yr ở Trung tâm giống giasúc Phú Lãm, Hà Tây cho thấy: tuổi phối giống lần đầu của Lr và Yr là 254,1

và 282,0 ngày; khối lượng khi phối giống lần đầu là 99,3- 100,2 kg; tuổi đẻlứa đầu ở lợn Lr và Yr là 367 ngày và 396,3 ngày Các chỉ tiêu SCĐR/ổ,KLSS/ổ, khối lượng 21 ngày/ổ ở lợn Lr là 8,2 con; 9,12 kg và 40,7 kg; trongkhi đó ở lợn Yr chỉ tiêu tương ứng là 8,3con; 10,89 kg và 42,1 kg

Khối lượng của Lr và Yr tại các thời điểm 5 tháng, 6 tháng và 7 thángtuổi là 56,4 kg; 71,7 kg và 86,6 kg Khối lượng của lợn cái hậu bị Yr và Lrnuôi trong nông hộ tại Phú Xuyên, Hà Tây đạt kết quả thấp hơn so với lợn Yr

và Lr nuôi ở Trung tâm giống gia súc Hà Tây Khối lượng khi 5 tháng, 6tháng, 7 tháng và 8 tháng tuổi lần lượt là 44,5 kg; 58,5 kg và 73,1 kg 89,4 kg(theo Nguyễn Đắc Xông và cs, 1995) [54]

Trong một nghiên cứu của Đặng Vũ Bình (1999) [3] cũng trên 2 giốnglợn Yr và Lr cho kết quả: lợn Yr đẻ lứa đầu vào ngày tuổi thứ 418,54; Số conđẻ ra/ổ là 9,77; số con 21 ngày tuổi là 8,61 con; 35 ngày tuổi là 8,15 con; khốilượng 35 ngày tuổi là 8,09 kg/con Còn ở lợn Lr thì số con đẻ ra/ổ, số con 21ngày/ổ, số con 35 ngày/ổ và khối lượng 35 ngày tuổi/con tương ứng là 9,86con; 8,22 con và 8,2 kg Kết quả nghiên cứu còn cho thấy độ lớn lứa đẻ thấpnhất ở lứa đầu tiên, tăng dần đến lứa thứ 5 và giảm ở lứa thứ 6

Ngày đăng: 30/05/2014, 23:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Công thức lai tạo lợn thương phẩm lai 3 giống ngoại - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Sơ đồ 1.1. Công thức lai tạo lợn thương phẩm lai 3 giống ngoại (Trang 11)
Sơ đồ 1.2. Công thức lai tạo lợn thương phẩm lai 4, 5 giống ngoại - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Sơ đồ 1.2. Công thức lai tạo lợn thương phẩm lai 4, 5 giống ngoại (Trang 12)
Bảng 1.1. Hệ số di truyền của một số tính trạng năng suất sinh sản  của lợn cái - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Bảng 1.1. Hệ số di truyền của một số tính trạng năng suất sinh sản của lợn cái (Trang 28)
Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên lợn thịt - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
a ̉ng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên lợn thịt (Trang 45)
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên lợn nái - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên lợn nái (Trang 45)
Bảng 3.4. Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire lứa đẻ 3 - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Bảng 3.4. Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire lứa đẻ 3 (Trang 60)
Bảng 3.9. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Bảng 3.9. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) (Trang 69)
Bảng 3.10. Sinh trưởng tương đối của con lai qua các tháng tuổi (%) - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Bảng 3.10. Sinh trưởng tương đối của con lai qua các tháng tuổi (%) (Trang 71)
Bảng 3.11. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Bảng 3.11. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm (Trang 72)
Bảng 3.12. Tiêu tốn TA, protein, ME cho 1 kg tăng khối lượng - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Bảng 3.12. Tiêu tốn TA, protein, ME cho 1 kg tăng khối lượng (Trang 76)
Bảng 3.13. Chi phớ thức ăn/kg tăng khụ́i lượng lợn lai (PiDu ì Landrace) và - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Bảng 3.13. Chi phớ thức ăn/kg tăng khụ́i lượng lợn lai (PiDu ì Landrace) và (Trang 77)
Bảng 3.14. Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Bảng 3.14. Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn thí nghiệm (Trang 78)
Bảng 3.15. Đánh giá chṍt lượng thịt của con lai (PiDu ì Landrace) và - Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu  x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang
Bảng 3.15. Đánh giá chṍt lượng thịt của con lai (PiDu ì Landrace) và (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w