Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và kể cả Việt Nam, lạm phát luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu nếu muốn phát triển một nền kinh tế bền vững. Lạm phát là một hiện tượng kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế thị trường. Nó là một trong những hiện tượng quan trọng nhất của thế kỷ XXI và đụng chạm tới mọi hệ thống kinh tế dù phát triển hay không. Cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế thì nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp. Chính vì vậy mà lạm phát được coi như là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hóa tiền tệ. Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải pháp chống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiệu thì lạm phát có thể xảy ra ở bất cứ nền kinh tế hàng hóa nào với bất kì chế độ xã hội nào. Không chỉ riêng các nước có nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ, Nhật, Mỹ,... mà kể cả các nước trên thế giới thì vấn đề lạm phát vẫn luôn là vấn đề nóng bỏng làm chảo đảo nền kinh tế, gây ra nhiều tác hại cho nền kinh tế như tình trạng khủng hoảng, công nhân đình công đòi tăng lương, giá nguyên liệu tăng đột biến, thảm hoạ tự nhiên, chi phí sản xuất tăng…
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2MỤC LỤC PHẦN GIỚI THIỆU
1 Một số lý luận cơ bản về lạm phát 2
1.1 Khái niệm lạm phát 2
1.2 Phân loại lạm phát 2
1.3 Những nguyên nhân gây ra lạm phát 3
1.4 Tác động của lạm phát 4
2 Thực trạng lạm phát của Việt Nam 4
2.1 Thực trạng lạm phát trong thời kỳ 2007 –2012 4
2.2 Nguyên nhân gây nên lạm phát tại Việt Nam trong thời kỳ 2007 – 2012 7
2.2.1 Ảnh hưởng do sự biến động của nền kinh tế thế giới 7
2.2.2 Lạm phát do chi phí đẩy 7
2.2.3 Gia tăng tổng cầu gây nên sự tăng trưởng quá nóng tại Việt Nam 9
2.2.4 Tăng trưởng tiền tệ và tín dụng 10
3 Giải pháp kiềm chế, kiểm soát lạm phát tại Việt Nam 11
3.1 Thực hiện chính sách tiền tệ 11
3.2 Chính sách tài khóa 12
3.3 Kiến nghị vấn đề kiềm chế, kiểm soát lạm phát tại Việt Nam 14
3.4 Ưu điểm các kiến nghị 17
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và kể cảViệt Nam, lạm phát luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu nếu muốn phát triển mộtnền kinh tế bền vững Lạm phát là một hiện tượng kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế thịtrường Nó là một trong những hiện tượng quan trọng nhất của thế kỷ XXI và đụngchạm tới mọi hệ thống kinh tế dù phát triển hay không Cùng với sự phát triển đa dạng
và phong phú của nền kinh tế thì nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp.Chính vì vậy mà lạm phát được coi như là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tếhàng hóa - tiền tệ Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không
có những giải pháp chống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiệu thì lạm phát cóthể xảy ra ở bất cứ nền kinh tế hàng hóa nào với bất kì chế độ xã hội nào Không chỉriêng các nước có nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ, Nhật, Mỹ, mà kể cả các nướctrên thế giới thì vấn đề lạm phát vẫn luôn là vấn đề nóng bỏng làm chảo đảo nền kinh
tế, gây ra nhiều tác hại cho nền kinh tế như tình trạng khủng hoảng, công nhân đìnhcông đòi tăng lương, giá nguyên liệu tăng đột biến, thảm hoạ tự nhiên, chi phí sản xuấttăng… Nếu lạm phát thấp thì tăng trưởng kinh tế chậm còn lạm phát cao thì sẽ dẫn đếnnhiều hậu quả khó lường cho nền kinh tế Chính vì vậy mà cái khó đặt ra ở đây cho nềnkinh tế Việt Nam đó chính là phải duy trì mức lạm phát như thế nào cho hợp lý nhất.Trong khi đó, nước ta đang trong giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hàng hoá sang nềnkinh tế thị trường, vì vậy việc nghiên cứu lạm phát, các biện pháp kiềm chế lạm phát
có vai trò to lớn góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước
Vì vậy muốn hiểu rõ hơn về thực trạng lạm phát tại Việt Nam cũng như muốn
tìm ra giải pháp để kiềm chế lạm phát tại Việt Nam, nhóm em xin chọn đề tài: “Lạm phát và kinh nghiệm kiềm chế, kiểm soát lạm phát tại Việt Nam” qua đó giúp chúng
em có cái nhìn thực tế hơn về vấn đề này
Trang 41 Một số lý luận cơ bản về lạm phát
1.1 Khái niệm lạm phát
Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụtheo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Khi mức giá chung tăng cao,một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạmphát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ So với các nền kinh tế khác,lạm phát là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác
Lạm phát được đo bằng cách theo dõi sự thay đổi giá cả của một lượng lớn hànghóa và dịch vụ trong một nền kinh tế, thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổchức nhà nước, các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh Giá cả của các loạihàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để thống nhất một mức giá trung bình Tỷ lệlạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình
ở thời điểm hiện tại so với thời điểm gốc
Lạm phát là một vấn đề quan tâm thường nhật trong điều hành chính sách tiền tệ,chủ động giữ cho lạm phát ở mức mong muốn, không để cho lạm phát tăng cao haygiảm thấp Quá trình kiểm soát lạm phát mang tính thường xuyên, có thể lâu dài và khókhăn vì vậy các chính sách kinh tế nói chung và chính sách tiền tệ, chính sách tài khóanói riêng phải mang tính chiến lược dài hạn nhằm giữ lạm phát ổn định lâu dài
Tóm lại, kiểm soát lạm phát là việc thi hành các chính sách nhằm duy trì lạmphát ở mức mong muốn một cách lâu dài phù hợp với các mục tiêu kinh tế cụ thể nóiriêng như tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, cũng như phù hợp với thể trạng nềnkinh tế nói chung, tạo tiền đề cho kinh tế phát triển bền vững
1.2 Phân loại lạm phát
Tùy vào từng mức độ mà lạm phát có những tác động tiêu cực cũng như tích cựcđến nền kinh tế Lạm phát bao gồm 3 mức độ chính từ đơn giản đến phức tạp, đượcđánh giá dựa theo tỉ lệ phần trăm của lạm phát Cụ thể:
Lạm phát tự nhiên: có tỉ lệ lạm phát từ 0 – dưới 10% Tỷ lệ lạm phát hàng năm
là 1 con số, giá cả tăng chậm, tương đối ổn định và có thể dự đoán được
Trang 5Lạm phát phi mã: là mức độ lạm phát xảy ra với giá cả tăng nhanh, tỉ lệ từ 10%đến dưới 1000% Tỷ lệ lạm phát hàng năm là 2 hoặc 3 chữ số, đồng tiền mất giá nhiều,lãi suất thực tế thường âm, thị trường tài chính không ổn định.
Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát tăng nhanh với tốc độ chóng mặt, tỉ lệ trên1000% Đồng tiền gần như mất giá hoàn toàn, khủng hoảng tài chính
1.3 Những nguyên nhân gây ra lạm phát
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát, trong đó “lạm phát do cầu kéo” và
“lạm phát do chi phí đẩy” là hai nguyên nhân chính
Lạm phát do cầu kéo:
Khi nhu cầu của thị trường về mặt hàng tăng lên kéo theo sự tăng lên về giá cả
và các loại hàng hóa khác hầu hết trên thị trường sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát do cầukéo
Lạm phát do chi phí đẩy:
Chi phí đẩy của doanh nghiệp bao gồm chi phí đầu vào như nguyên liệu, máymóc, tiền lương, bảo hiểm,… Khi giá cả một vài yếu tố sản xuất tăng lên kéo theo sựtăng lên về giá cả của sản phẩm nhằm đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp
Lạm phát do cầu thay đổi:
Khi lượng cầu giảm với mặt hàng này nhưng lại tăng với mặt hàng khác Trongtrường hợp thị trường có nhà cung cấp độc quyền và cố định về giá, mặt hàng có lượngcầu giảm không giảm giá, còn mặt hàng tăng cầu tăng giá khiến mức giá chung tănglên
Lạm phát do xuất khẩu:
Khi xuất khẩu tăng, dẫn đến tổng cầu cao hơn tổng cung, khi đó sản phẩm thugom cho xuất khẩu khiến hàng cung cho thị trường trong nước giảm, khiến tổng cungthấp hơn tổng cầu trong nước Mất cân bằng cung cầu dễ hình thành lạm phát
Lạm phát do nhập khẩu:
Ngược lại với lạm phát do xuất khẩu, tổng cầu trong nước thấp hơn tổng cunggây mất cân bằng cung cầu
Lạm phát tiền tệ:
Trang 6Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, ví dụ như ngân hàng mua ngoại
tệ để giữ đồng tiền trong nước không mất giá so với ngoại tệ hoặc ngân hàng trungương mua công trái yêu cầu nhà nước
1.4 Tác động của lạm phát
Tác động tiêu cực
Lãi suất: Khi lạm phát tăng cao, muốn lãi suất thực ổn định thì lãi suất danhnghĩa phải tăng lên cùng tỷ lệ lạm phát Việc tăng lãi suất danh nghĩa dẫn đến hậu quảnền kinh tế suy thoái và thất ngiệp
Thu nhập thực tế và phân phối thu nhập bình đẳng: Giữa thu nhập thực tế và thunhập danh nghĩa của người lao động có quan hệ với nhau qua tỷ lệ lạm phát Lạm pháttăng nhưng thu nhập danh nghĩa không đổi khiến thu nhập thực tế bị giảm xuống Lạmphát không chỉ giảm giá trị thật của những tài sản không có lãi mà còn làm hao mòngiá trị của những tài sản có lãi do chính sách nhà nước tính lãi theo cơ sở thu nhậpdanh nghĩa Hậu quả là suy thoái kinh tế, thất nghiệp gia tăng, đời sống người lao độngkhó khăn và mất niềm tin vào chính phủ
Nợ quốc gia: Lạm phát cao giúp chính phủ nhận được khoản lợi từ thuế đánhvào thu nhập của người dân Tuy nhiên, khoản nợ nước ngoài trở nên trầm trọng hơn
do tỷ giá đồng tiền trong nước trở nên mất giá so với đồng tiền nước ngoài tính trên cáckhoản nợ
Tác động tích cực
Khi tốc độ lạm phát từ 2 – 5% ở các nước phát triển và dưới 10% đối với cácnước đang phát triển là một tín hiệu tốt mang lại các nguồn lợi sau đây:
- Kích thích tiêu dùng, vay nơ, đầu tư giảm bớt thất nghiệp trong xã hội
- Chính phủ có nhiều lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư vào các lĩnh vựckém ưu tiên bằng việc mở rộng tín dụng, phân phối lại thu nhập và cácnguồn lực trong xã hội
2 Thực trạng lạm phát của Việt Nam
2.1 Thực trạng lạm phát trong thời kỳ 2007 –2012
Khởi đầu kế hoạch 2006 –2010, với tỷ lệ lạm phát năm 2006 là 6,6% Đây làcon số lý tưởng báo hiệu cho một thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Việt
Trang 7Nam Lạm phát bình quân năm 2007 là 8.3% (tăng so với năm 2006), nguyên nhântăng cao là ngoài việc đặc điểm lạm phát tăng cao ở quý 1 thì năm 2007 lạm phát tăngmạnh ở quý 4 Cụ thể, tháng 10/2007, lạm phát tăng 0,7% so với tháng trước (tăng9,3% so với cùng kỳ), tháng 11/2007, lạm phát tăng 1,2% so với tháng trước (tăng 10%
so với cùng kỳ) và đến tháng 12/2007, lạm phát tăng mạnh, tăng 2,9% so với tháng 11
và tăng 12,6% với cùng kỳ năm trước Điều này cho thấy sẽ có xu hướng lạm phát sẽtăng trong năm tới Trong cấu thành CPI năm 2007, chỉ số giá lương thực – thực phẩmchiếm khoảng 65% mức tăng của lạm phát nên đây là động lực chủ yếu tác động làmlạm phát tăng cao Một số nguyên nhân chủ yếu tác động đến lạm phát năm 2007 là sựtác động bất lợi của kinh tế toàn cầu, nhất là sự tăng giá mạnh của các mặt hàng thiếtyếu như dầu thô, lương thực, thép, vì nền kinh tế Việt Nam có mức độ mở cửa vớinền kinh tế thế giới lớn thể hiện ở nhập khẩu chiếm đến 70% GDP và khoảng 70%hàng xuất khẩu là có nguyên liệu từ hàng nhập khẩu nên việc giá thế giới tăng sẽ tácđộng mạnh đến giá cả trong nước Ngoài ra, diễn biến thời tiết trong nước không thuậnlợi cùng với chi phí sản xuất đầu vào tăng cao nên đã gây ảnh hưởng bất lợi đến sảnxuất nông nghiệp làm giảm lượng cung lương thực, thực phẩm Mặt khác, hiệu quả sửdụng vốn không cao và chi tiêu công còn lớn nên đã tác động nhiều đến lạm phát
Đến năm 2008, lạm phát tăng nhanh, mạnh so với năm 2007 và diễn biến tươngđối phức tạp Cụ thể, quý 1 và quý 2 của năm 2008, lạm phát tăng rất nhanh trong đótháng 2 và tháng 5 tăng mạnh nhất, lần lượt tháng 2 tăng 3,6% so với tháng 1 (tăng15,7% so với cùng kỳ năm trước), đến tháng 5, lạm phát tăng 3,9% so với tháng 4 (tăng25,2% so với cùng kỳ năm trước) Những tháng trong quý 3, quý 4 thì lạm phát có xuhướng giảm và đến quý 4/2008, có hiện tượng giảm phát (như tháng 10, tháng 11,tháng 12, lạm phát lần lượt là -0,2; -0,8; -0,7) Tuy nhiên, lạm phát bình quân năm
2008 so với năm 2007 là 22,97% Trong đó, cả nhóm lạm phát lương thực thực phẩmtăng mạnh từ mức 18,92% vào năm 2007 lên 31,86% vào năm 2008 Mức tăng lạmphát là hai con số nên sẽ có tác động nhiều đến tình hình kinh tế cũng như là đời sốngcủa người dân Lạm phát tăng cao do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do nhữngtháng đầu năm giá cả thế giới như lương thực, thực phẩm và nhiều mặt hàng thiết yếunhư dầu thô, gas, thép, tăng cao đã tạo nên những sức ép làm tăng mặt bằng giá trong
Trang 8nước; ngoài ra nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh và hiệu quả sử dụngvốn chưa cao nên cũng tác động nhiều đến lạm phát trong nước.
Lạm phát tăng nhanh trong năm 2008 đã làm cho những nhà hoạch định chínhsách phải có những biện pháp về tiền tệ và tài khóa để kiềm chế lạm phát Chính vì vậy,lạm phát năm 2009 và năm 2010 có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao Cụ thể, lạmphát bình quân năm 2009 so với mức lạm phát tăng bình quân năm 2008 là 6,88%,diễn biến lạm phát của các tháng năm 2009 tương đối ổn định Đến năm 2010, mứclạm phát vẫn ở một con số là 9,19%, những tháng đầu năm 2010, lạm phát tương đối
ổn định, đến quý 4/2010, lạm phát lại có xu hướng tăng cao Mức tăng lạm phát so vớitháng trước đó của tháng 10, tháng 11, tháng 12 năm 2010 lần lượt là 1,05%, 1,86%,1,98%; nếu so với cùng kỳ năm trước thì mức tăng là 9,66%, 11,09%, 11,75% Nguyênnhân là do giá cả các hàng hóa thiết yếu thế giới gia tăng làm cho giá các hàng hóanhập khẩu tăng cao và từ đây tác động đến mặt bằng giá trong nước (giá xăng dầu điềuchỉnh tăng 3 lần với mức tăng 6,55%, gas tăng 20%, sắt thép tăng 10%, ), một số mặthàng do Nhà nước quản lý cũng điều chỉnh tăng (giá điện tăng bình quân 6,8%, thantăng 28 – 47%) những điều này đã tác động mạnh mẽ đến lạm phát năm 2010
Diễn biến lạm phát vào những tháng cuối năm 2010 đã tác động lớn đến mứclạm phát của năm 2011 Điều này được thể hiện rõ khi mức tăng lạm phát bình quânnăm 2011 so với năm 2010 là 18,58% Mức lạm phát hai con số vào năm 2008 đã đượclập lại vào năm 2011, mức lạm phát những tháng đầu năm 2011 luôn tăng ở mức cao,mức tăng đỉnh điểm là vào tháng 4, chỉ số CPI tăng 3,32% so với tháng trước và tăng17,2% so với cùng kỳ năm trước đó Trải qua quý 1 và quý 2 năm 2011 với mức lạmphát tăng cao, những quý tiếp theo, lạm phát có xu hướng giảm, có được mức giảm củanhững quý này do ngoài những yếu tố khách quan thì còn thể hiện những chính sáchquyết liệt của chính phủ trong việc kiềm chế lạm phát đã phát huy tác dụng Nhữngtháng cuối năm 2011, lạm phát đã được kiềm chế ở mức tăng thấp, đến những thángtiếp theo trong năm 2012 mức lạm phát vẫn tăng ở mức thấp Diễn biến lạm phát năm
2012 cũng tương đối phức tạp, có những tháng năm 2012, lạm phát có mức tăng âm, cụthể là vào tháng 6, tháng 7, lạm phát so với tháng trước đó lần lượt là -0,26% và -0,29%; tuy nhiên đến tháng 9 mức lạm phát so với tháng trước tăng đến 2,2% Dù diễn
Trang 9biến lạm phát năm 2012 tương đối phức tạp nhưng mức lạm phát bình quân năm 2012
so với năm 2011 chỉ tăng 9,21% Mức lạm phát năm 2012 vẫn còn ở mức cao nhưngđây là một phấn đấu lớn của chính phủ trong việc kiềm chế lạm phát để đưa mức lạmphát trở về một con số
2.2 Nguyên nhân gây nên lạm phát tại Việt Nam trong thời kỳ 2007 – 2012
2.2.1 Ảnh hưởng do sự biến động của nền kinh tế thế giới
Biến động giá cả của các nguyên vật liệu dùng để sản xuất trên thế giới đã ảnhhưởng rất nhiều đến lạm phát tại Việt Nam do Việt Nam nhập khẩu nhiều nguyên vậtliệu để phục vụ quá trình sản xuất Giá dầu liên tục gia tăng trong giai đoạn 2003 –
2008 và đến năm 2009 thì lại giảm và giá dầu lại tăng mạnh vào những năm tiếp theo.Trong 5 năm từ 2003 – 2007 kinh tế toàn cầu liên tục tăng trưởng cao, đặc biệt là nhómcác nước mới nổi ở khu vực Châu Á, nhất là Trung Quốc đã đẩy nhu cầu năng lượngtoàn cầu tăng cao đột biến, cùng với những bất ổn và xung đột chính trị quân sự tại khuvực Trung Đông là các nguyên nhân trực tiếp đẩy giá dầu lên cao chưa từng có tronglịch sử là 147 USD/thùng trong tháng 7/2008, đồng thời giá các nguyên vật liệu đầuvào khác như sắt thép, phân bón, xi măng cũng liên tục tăng giá Tóm lại, giá dầu tăng
đã ảnh hưởng nhiều đến lạm phát Việt Nam do Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vàonguồn dầu nhập khẩu
Ngoài ra, giá lương thực, thực phẩm liên tục tăng giá do nguyên nhân xuất phát
từ quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai dịch bệnh diễn ra liên tiếp, cùng vớinhững năm tăng trưởng kinh tế mạnh trên thế giới – là những năm quá trình côngnghiệp hóa được đẩy mạnh khiến diện tích đất sử dụng cho trồng trọt, chăn nuôi bị thuhẹp Tất cả những điều trên làm cho sản lượng lương thực, thực phẩm ngày càng giảmmạnh Ngoài ra, giá năng lượng tăng cao khiến nhiều nước sử dụng một sản lượng lớnngũ cốc để sản xuất nhiên liệu sinh học càng làm cho nguồn cung lương thực đã giảmcàng giảm sút
2.2.2 Lạm phát do chi phí đẩy
Giá thành là bộ phận chính cấu tạo nên giá cả của sản phẩm Khi giá thành tăngcao, giá cả cũng tăng lên và đây là một trong những nguyên nhân chính của lạm phát.Việt Nam là một đất nước đang phát triển nên để phục vụ nhu cầu sản xuất tăng cao
Trang 10nên đã nhập khẩu rất nhiều các mặt hàng như: máy móc trang thiết bị, nguyên vật liệu,dầu, Trong khi đó, giá cả của các mặt hàng này trên thế giới đang tăng cao đã làm độilên giá thành sản xuất.
Về mặt hàng xăng dầu, do giá dầu thế giới liên tục tăng mạnh nên đã ảnh hưởngđến giá dầu nhập khẩu Để kiềm chế tăng mức giá, Chính phủ đã bảo hộ xăng dầu, thựchiện các lộ trình tăng giá sao cho vừa sát với giá của thế giới và vừa không bị sốc trướcbiến động liên tục trên thị trường thế giới Để hạn chế bớt tình trạng này, ngày25/8/2008, Bộ tài chính quyết định để các doanh nghiệp tự điều chỉnh giá theo cungcầu thị trường, nhưng dưới sự giám sát của chính phủ Giá xăng dầu đã điều chỉnhnhiều lần trong các năm tùy thuộc vào diễn biến của thị trường xăng dầu thế giới và sốđiều chỉnh nhiều nhất là vào năm 2009 và năm 2012 (số lần điều chỉnh là 13 lần/năm).Chính diễn biến giá xăng mạnh như vậy đã tác động không nhỏ đến diễn biến lạm phátnăm 2008 và làm cho lạm phát diễn biến phức tạp hơn
Xăng dầu luôn là một mặt hàng quan trọng và có tác động nhiều đến các mặthàng và dịch vụ khác Vì thế mà giá cả của các mặt hàng khác tăng theo bằng phản ứngdây chuyền và tác động tâm lý của người dân Về chi phí vận chuyển thì giá cả xăngdầu có thể tác động lên tới 50% trong giá cước vận chuyển hàng hóa Diễn biến giáxăng dầu ngày càng tăng qua các năm một phần là do nước ta phụ thuộc phần lớn vàonguồn nhập khẩu xăng dầu từ nước ngoài về để đáp ứng yêu cầu tiêu thụ trong nước
Trong những năm gần đây, Chính phủ có chủ trương tăng giá điện nên điều này
đã tác động tương đối lớn với nền kinh tế khi điện là một mặt hàng thiết yếu đối vớinền kinh tế Ngoài ra, chi phí về lãi suất vay quá cao vừa là biện pháp kiềm chế lạmphát nhưng đồng thời nó sẽ làm cho chi phí tài chính của doanh nghiệp gia tăng, điềunày sẽ góp phần làm tăng giá cả hàng hóa khi doanh nghiệp chuyển chi phí sang chongười tiêu dùng và đẩy lạm phát tăng lên cao Năm 2011, Ngân hàng Nhà nước đãdùng giải pháp thắt chặt tiền tệ, nâng trần lãi suất tiền gửi lên 14%/năm, trong khi đóthả nổi lãi suất đầu ra Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã không có biện pháp hữuhiệu để kiểm soát việc thực hiện trần lãi suất huy động của các Ngân hàng thương mại,nhất là các ngân hàng thiếu thanh khoản, nên đã tạo ra cuộc đua lãi suất huy động giữacác ngân hàng và đẩy lãi suất thực tế lên đến 17 –19%/năm, lãi suất cho vay cũng bị