Rất Rất Hay !
Trang 1DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việt Nam
BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt NamBIDV Phú Thọ Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam,
MB Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
MHB Ngân hàng TMCP phát triển nhà Đồng bằng Sông
Cửu Long
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
VIBBank Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt NamVietinbank Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương
Việt NamVPBank Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Cơ cấu dư nợ tín dụng 47
Bảng 3.2: Chất lượng tín dụng 48
Bảng 3.3: Thu dịch vụ ròng hàng năm 49
Bảng 3.4: Kết quả kinh doanh qua các năm 50
Bảng 3.5: Nguồn vốn huy động của các NHTM và các TCTD trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 57
Bảng 3.6: Tình hình huy động vốn, cho vay và đầu tư của BIDV Phú Thọ giai đoạn 2009 - 2011 58
Bảng 3.7: Tỷ lệ khách hàng gửi tiền có kỳ hạn 60
Bảng 3.8: Cơ cấu nguồn vốn huy động qua các năm 61
Bảng 3.9: Đánh giá của người hỏi về mức độ tin cậy của ngân hàng 64
Bảng 3.10: Đánh giá của người hỏi về mức độ đáp ứng của ngân hàng 65
Bảng 3.11: Đánh giá của người hỏi về năng lực phục vụ của ngân hàng 66
Bảng 3.12: Đánh giá của người hỏi về mức độ đồng cảm của nhân viên NH 66
Bảng 3.13: Đánh giá của người hỏi về cơ sở vật chất, phương tiện thiết bị phục vụ của ngân hàng 67
Trang 3DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức BIDV Phú Thọ 42
Biểu đồ 3.1: So sánh quy mô lao động các NHTM trên địa bàn 43
Biểu đồ 3.2: So sánh quy mô mạng lưới các NHTM trên địa bàn 45
Biểu đồ 3.3: Tăng trưởng tín dụng các năm 2009-2011 46
Biểu đồ 3.4: Thị phần tín dụng năm 2011 48
Biểu đồ 3.5: Tăng trưởng huy động vốn năm 2009-2011 54
Biểu đồ 3.6: So sánh lãi suất huy động và FTP thời điểm 31/12/2011 .56
Biểu đồ 3.7: Thị phần huy động vốn năm 2011 57
Biểu đồ 3.8: Quy mô khách hàng qua các năm 59
Biểu đồ 3.9: Số dư huy động vốn bình quân theo số lượng khách hàng .61
Biểu đồ 3.10: Số dư huy động vốn bình quân theo số lượng cán bộ, nhân viên BIDV Phú Thọ 62
Biểu đồ 3.11: Kết quả kinh doanh từ huy động vốn 63
Biểu đồ 3.12: Cơ cấu thu nhập dòng từ huy động vốn trong lợi nhuận trước thuế của BIDV Phú Thọ 64
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn là điều kiện tiền đề cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Ở ViệtNam hiện nay, vốn đang trở thành một vấn đề cấp thiết cho quá trình tăngtrưởng và phát triển nền kinh tế đất nước Hệ thống Ngân hàng thương mại lànơi tích tụ, tập trung, khơi dậy các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế thôngqua việc cung cấp lượng vốn cho nền kinh tế
Theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020, Nước
ta đã đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7 - 8%/năm Trong điềukiện các kênh dẫn vốn khác của thị trường tài chính chưa thực sự phát triển thìnguồn vốn từ tín dụng ngân hàng hiện đang giữ vai trò quan trọng
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và có vai trò quantrọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi Ngân hàng Đặc biệt trước tình hìnhkhan hiếm vốn hiện nay huy động vốn đang trở thành hoạt động “nóng” đượccác ngân hàng quan tâm nhiều nhất Thông qua việc ứng dụng và phát triển côngnghệ Ngân hàng, tìm hiểu thị trường cũng như nhu cầu của khách hàng các Ngânhàng đang tung ra nhiều sản phẩm mang tính "đột phá, chiến lược" từ đó thu hút
và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao và tinh tế của khách hàng
Nhận thức được vấn đề đó, Ngân hàng Thương mại (NHTM) cổ phầnĐầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), là NHTM lâu đời nhất Việt Nam và làmột trong 5 NHTM nhà nước, đã coi nhiệm vụ huy động vốn là nhiệm vụtrọng tâm, hàng đầu, xuyên suốt trong phương hướng kinh doanh hàng năm.Trong đó, tập trung vào một số loại chính như huy động vốn dân cư, định chếtài chính, tổ chức kinh tế nhằm tạo lập nền vốn vững chắc cho tăng trưởng tíndụng và quy mô hoạt động
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chinhánh Phú Thọ (BIDV Phú Thọ) là một Chi nhánh của BIDV kinh doanh trên
Trang 5địa bàn là một tỉnh trung du, miền núi với điều kiện kinh tế xã hội có nhiều khókhăn Do đó, việc phát triển nguồn vốn huy động còn có những mặt hạn chếnhất định Tỷ trọng nguồn vốn huy động trên tổng nguồn vốn còn thấp, tốc độtăng trưởng nguồn vốn huy động, nhất là huy động vốn từ dân cư còn dưới mứctrung bình trên địa bàn, chưa phát huy được lợi thế cạnh tranh, thị phần nguồnvốn huy động hạn hẹp và có dấu hiệu tiếp tục suy giảm Do vậy, để phát triểnnguồn vốn huy động theo định hướng của BIDV và nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh doanh, Chi nhánh cần có những giải pháp đồng bộ và phù hợp.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, tôi lựa chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quảhuy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển ViệtNam Chi nhánh Phú Thọ” cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề tài triển khai với mục đích đánh giá thực trạng tình hình huy độngvốn để làm căn cứ đưa ra các giải pháp giúp thúc đẩy công tác huy động vốncủa ngân hàng tốt hơn trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng thươngmại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ
Trang 63.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hiệu quả huy động vốn từ tiền gửi của tổ chức kinh tế, địnhchế tài chính và dân cư tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Pháttriển Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ trong giai đoạn từ 2009 đến 2011
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Tổng hợp và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về công tác huyđộng vốn, vai trò của nó đối với hoạt động Ngân hàng, các nhân tố ảnh hưởngđến việc huy động vốn trong các ngân hàng, tổng kết những bài học kinhnghiệm trong công tác huy động vốn
Dựa trên thực trạng công tác huy động vốn của Chi nhánh, luận văn đưa
ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại BIDVPhú Thọ nhằm phát triển các hoạt động của Chi nhánh trong các năm tiếp theo
* Đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả huy động vốncủa Ngân hàng thương mại
- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả huy động vốn tại BIDV PhúThọ, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại BIDV PhúThọ, đồng thời đưa ra một số kiến nghị đối với Chính phủ và NHNN và BIDV
5 Kết cấu của luận văn
Đề tài: “Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Thương
mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả huy động vốn của NHTM
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng huy động vốn tại BIDV Phú Thọ
Chương 4: Giải pháp nâng cao huy động vốn tại BIDV Phú Thọ
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
NHTM đã có lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với
sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tácđộng rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá,ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nềnkinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thànhnhững định chế tài chính quan trọng nhất NHTM đóng vai trò rất quan trọngtrong việc làm cầu nối giữa huy động vốn và cho vay vốn trong nền kinh tế
Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm về NHTM Ở Mỹ: “Ngân hàngthương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính vàhoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính” Đạo luật ngân hàng củaPháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệphay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dướihình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó chochính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 của Nước Cộng hoà Xã hộichủ nghĩa Việt Nam quy định “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàngđược thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanhkhác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”
Từ những quan điểm và quy định trên có thể tổng quát: NHTM là một
tổ chức tín dụng kinh doanh và cung ứng thường xuyên đa dạng các dịch vụtài chính như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tàikhoản Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm đáp ứngnhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
Trang 81.1.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại
a) Chức năng trung gian tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhấtcủa ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng,NHTM đóng vai trò là cầu nối để dẫn vốn giữa người thừa vốn và người cónhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò
là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận làkhoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạolợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay
b) Chức năng trung gian thanh toán
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân,thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tàikhoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tàikhoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theolệnh của họ Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanhtoán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán,thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể sử dụng một trong cácphương thức để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽtiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn.Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc
độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế
c) Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngânNHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sựtồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mangtính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nềnkinh tế Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của
Trang 9NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năngtrung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, sốtiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toándịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫnđược coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hànghóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăngtổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán,chi trả của xã hội.
1.1.3 Vai trò của Ngân hàng thương mại
Cùng với sự phát triển của nhiều ngành nghề khác, từ khi ra đời và pháttriển NHTM đã đóng góp vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và pháttriển nền kinh tế thế giới Ở tất cả các nước, hệ thống NHTM đã không ngừngphát triển, đóng vai trò tập trung những khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế
để cung ứng vốn cho các nhà đầu tư cần vốn - Đó chính là quá trình huy độngvốn và sử dụng vốn của các NHTM Bằng hoạt động của mình NHTM đãđóng góp một lượng vốn đáng kể và hàng loạt các dịch vụ Ngân hàng kháccho nền kinh tế Vậy vai trò của NHTM đối với nền kinh tế cụ thể như:
Một là: Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp tín dụng cho nền kinh
tế, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư
Là một trung gian tín dụng NHTM đã tích tụ và tập trung được mộtkhối lượng lớn tiền tạm thời nhà rỗi thông qua nghiệp vụ huy động vốn vàthực hiện các dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng Từ nguồn tiền đó tiến hànhcấp phát tín dụng cho các thành phần kinh tế, những tổ chức và cá nhân cầnvốn để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình Tức là Ngân hàng đóng vai trò
là người môi giới giữa một bên là những người có tiền nhàn rỗi có thể chovay và một bên là những người cần vay vốn Thực hiện chức năng này tức làNgân hàng đã trở thành người khơi thông và kích hoạt các nguồn vốn, làm
Trang 10cho nguồn tiền tệ luôn hoạt động và sinh lời Những hoạt động đó của NHTM
đã thực sự tác động điều hoà cung cầu tiền tệ, biến những đồng tiền nhàn rỗithành những đồng tiền hoạt động có ích, tập trung vốn vào việc tài trợ cho cácngành kinh tế khác phát triển, tạo thêm việc làm cho người lao động và bằngnhững khoản tín dụng nhỏ thích hợp giúp người lao động có thêm điều kiện
ổn đinh và cải thiện đời sống
Hai là: Ngân hàng giúp cho các nhà kinh doanh trong việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn
Ngân hàng tài trợ vốn cho các Doanh nghiệp trên cơ sở phải tuân thủcác điều kiện do Ngân hàng đặt ra Trong đó các khoản tín dụng mà Doanhnghiệp nhận được đều phải trả lãi và khi hết thời gian sử dụng phải hoàn trảgốc Vì vậy để đảm bảo an toàn tài sản cho Ngân hàng và nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn cho Doanh nghiệp thì trước khi cho vay, Ngân hàng cần phảithẩm định phương án sử dụng vốn vay của Doanh nghiệp, thẩm định tính khảthi của dự án, thẩm định các yếu tố liên quan đến Doanh nghiệp (Uy tín, trình
độ nhân viên, tài sản đảm bảo…) một cách chính xác rõ ràng, chi tiết, qua đócán bộ tín dụng giúp Doanh nghiệp xây dựng phương án sản xuất kinh doanh
có hiệu quả Sau khi cho Doanh nghiệp vay vốn, Ngân hàng vẫn tiếp tục tiếnhành giám sát quá trình sử dụng vốn vay của Doanh nghiệp và thông quahoạt động thanh toán hộ thì Ngân hàng có thể giúp Doanh nghiệp quản lý tốthơn về vốn và sử dụng vốn
Ba là: Hoạt động Ngân hàng có tác dụng điều tiết sự dịch chuyển của
vốn đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển vùng
Khi Chính phủ có sự ưu tiên về phát triển ngành nghề hoặc vùng kinh tếnào đó thì Chính phủ sẽ đưa ra những chính sách riêng cho từng vùng và thôngqua hệ thống NHTM để tiến hành cung ứng vốn cho những vùng đó Hoạt
Trang 11động tín dụng Ngân hàng ngày càng phát triển đã làm cho việc di chuyển vốndiễn ra một cách dễ dàng, tập trung duy trì lực lượng bình quân từ tất cả cácngành Đồng thời với sự tác động của Ngân hàng vốn được dịch chuyển từvùng thừa vốn sang vùng thiếu vốn đảm bảo cho sự phát triển đồng đều giữacác ngành, xoá dần sự khác biệt, thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định.
Bốn là: Hoạt động của Ngân hàng góp phần chống lạm phát.
Với đặc điểm của NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với cáchoạt động chủ yếu là huy dộng vốn, cho vay và thực hiện chức năng trunggian thanh toán Lượng tiền trong lưu thông được Ngân hàng kiểm soát.Thông qua các khoản mục của NHTM, NHTƯ sẽ xác định được lượng tiềnmặt đang lưu thông trong nền kinh tế, từ đó để có các biện pháp kiểm soátnhằm đề phòng và hạn chế những ảnh hưởng xấu có thể xảy ra Trường hợpnếu xảy ra lạm phát thì bằng các nghiệp vụ của mình, NHTƯ sẽ tiến hànhđiều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất chiết khấu hoặc tái chiếtkhấu, tham gia vào thị trường mở để tác động tới NHTM qua đó làm thay đổilượng tiền trong lưu thông
Năm là: Ngân hàng tài trợ cho các hoạt động xuất nhập khẩu- thúc đẩy
phát triển thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế ngày càng phát triển, cùng với xu thế khu vực hoá
và toàn cầu hoá thì các mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia đóng vaitrò ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế của mỗi quốcgia Cùng hoà chung với xu thế đó NHTM cũng đóng vai trò rất quan trọngtrong việc đưa nền kinh tế của quốc gia mình hội nhập vời nền kinh tế thế giới.Bằng các hoạt động của mình như tài trợ xuất nhập khẩu, thực hiện các hìnhthức thanh toán, bảo lãnh… đã góp phần thúc đẩy việc chu chuyển hàng hoádịch vụ giữa các quốc gia với nhau một cách thuận lợi và nhanh chóng
Trang 121.1.4 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
b Hoạt động tài trợ của NHTM
Trên cơ sở lượng tiền gửi từ nền kinh tế mà Ngân hàng đã tiếp nhận vàquản lý được sau khi trừ đi phần dự trữ cần thiết theo qui định, phần còn lại sẽđược Ngân hàng sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của mình Do tính đadạng của khách hàng và nhu cầu phong phú về phương thức sử dụng tiền tàitrợ của khách hàng nên Ngân hàng đã thiết lập và xây dựng các phương thứctài trợ khác nhau
* Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của Ngân hàng đãtrở thành trọng tâm chú ý của Chính phủ Do nhu cầu chi tiêu lớn của Chínhphủ và thường là cấp bách trong khi thu không đủ chi hoặc thu chưa đủ thìChính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của Ngân hàng.Phương thức được sử dụng nhiều nhất là Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ muabán tín phiếu, trái phiếu hoặc làm đại lý phát hành các giấy tờ có giá choChính phủ, qua nghiệp vụ này một mặt vừa thực hiện nghĩa vụ với nhà nướcmặt khác vừa đem lại thu nhập cho Ngân hàng
Trang 13* Tài trợ cho nền kinh tế
Để tiến hành hoạt động kinh doanh thì vấn đề sống còn là phải cónguồn lực tài chính đủ mạnh, trước hết là dể tiến hành hoạt động sản xuấtkinh doanh mặt khác là để mở rộng qui mô và tham gia cạnh tranh để đứngvững trong nền kinh tế thị trường Nguồn lực này ngoài nguồn vốn tự có củacác Doanh nghiệp (thường chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ), thì phần lớn các doanhnghiệp đều phải dựa và nguồn vốn tín dụng Ngân hàng Tuỳ theo nhu cầu vàloại hình kinh doanh mà Ngân hàng chấp nhận cấp tín dụng theo các phươngthức khác nhau trên cơ sở thoả mãn các điều kiện vay vốn do Ngân hàng đưa
ra Khi thực hiện nghiệp vụ này thì nó đem lại lợi nhuận rất lớn cho Ngânhàng và đây là nguồn thu chủ yếu của Ngân hàng
Cho vay: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng giao cho kháchhàng một khoản tiền để sử dụng trong một khoảng thời gian và theo mục đíchnhất định trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Đây là phương thức phổbiến nhất trong hoạt động tài trợ của Ngân hàng đối với khách hàng
Cho thuê tài chính: Là hoạt động tín dụng trung và dài hạn kéo dài trên
cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là các tổ chức tín dụng vàkhách hàng đi thuê Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tàisản đó hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợpđồng thuê Trong thời hạn cho thuê các bên không được đơn phương hủy bỏhợp đồng Hình thức này giúp người thuê có ngay tài sản có giá trị lớn đểphục vụ cho sản xuất nhưng người thuê phải trả lãi suất thuê thường cao hơncác hình thức vay khác
Góp vốn đầu tư: Là hình thức Ngân hàng cùng với một số đối tác cùnggóp vốn để thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh Có thể là hình thức đầu
tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp, và Ngân hàng được hưởng quyền lợi vànghĩa vụ như một cổ đông thường
Trang 14Mua nợ: Ngân hàng có thể tài trợ cho khách hàng thông qua việc mualại các khoản nợ, hay chiết khấu các chứng từ có giá.
c Mua bán ngoại tệ
Đây là hình thức Ngân hàng làm trung gian trong việc chuyển đổi cácđồng tiền của các quốc gia với nhau theo nhu cầu của khách hàng dựa trên tỷ giámua bán các đồng tiền đó với nhau Qua hoạt động này Ngân hàng thu được lợinhuận từ chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán Số lượng ngoại tệ mà Ngânhàng mua được có thể dùng để cho vay đối với các khách hàng có nhu cầu vaybằng ngoại tệ hoặc dùng để thanh toán trong các giao dịch bằng ngoại tệ
d Các dịch vụ của Ngân hàng
- Cung cấp tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán hộ
Thông qua việc thu hút khách hàng (Cá nhân hoặc tổ chức) mở tàikhoản giao dịch tại Ngân hàng, Ngân hàng sẽ quản lý tài khoản của kháchhàng và tiến hành chi trả tiền hàng hóa dịch vụ cũng như thu hộ các khoảnphải thu của chủ tài khoản theo lệnh của họ Thực hiện nghiệp này một mặtNgân hàng giúp khách hàng giảm bớt được chi phí trong quá trình thanh toán,mặt khác Ngân hàng tập trung được một lượng tiền lớn trong nền kinh tế để
sử dụng cho các hoạt động của mình
- Bảo quản vật có giá
Đây là một dịch vụ mang lại thu nhập khá cao cho các Ngân hàng Trênthế giới dịch vụ này rất phát triển Nội dung của nghiệp vụ này là các Ngânhàng cho khách hàng thuê két của Ngân hàng để bảo quản tài sản của mình vàthu phí từ hoạt động cho thuê đó
- Dịch vụ bảo lãnh
Bảo lãnh Ngân hàng là cam kết bằng văn bản của các tổ chức tín dụngvới bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàngkhi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết Muốn vay khách
Trang 15hàng phải có được sự đồng ý của Ngân hàng, nó phải tuân theo một qui trìnhbảo lãnh riêng Khi Ngân hàng thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng thìNgân hàng được hưởng một khoản phí gọi là phí bảo lãnh, mức phí này tuỳthuộc vào mức độ rủi ro của từng hợp đồng bảo lãnh.
- Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn đầu tư
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng có rất nhiều chuyêngia về quản lý tài chính vì vậy có rất nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờNgân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ Ngân hàng sẵnsàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán và sáp nhậpdoanh nghiệp
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
Với trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên và hệ thống cơ sở vậtchất kỹ thuật, Ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng các thông tin về chứngkhoán và đầu tư chứng khoán như các danh mục đầu tư, quản lý tài khoản,mua bán hộ, bảo quản chứng khoán…
- Cung cấp dịch vụ đại lý
Nhiều Ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chinhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi, nhiều Ngân hàng (thường là các Ngânhàng lớn) cung cấp dịch vụ đại lý cho các Ngân hàng khác như thanh toán hộ,phát hành chứng chỉ tiền gửi, làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…
1.2 Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về huy động vốn
Vốn mà ngân hàng huy động được bao gồm nhiều hình thức như:nhận tiền gửi, đi vay và từ các nguồn khác như: nguồn uỷ thác, nguồn trongthanh toán… tuy nhiên, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽ tậptrung nghiên cứu việc huy động vốn từ nhận tiền gửi mặc dù có nói qua vềcác hình thức khác
Trang 161.2.2 Vai trò của huy động vốn trong hoạt hoạt động Ngân hàng
Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính với chức năng cơ bản là đivay để cho vay Vì vậy mục tiêu lợi nhuận luôn đặt lên hàng đầu Để đạt đượcmục tiêu đó, công cụ cần thiết đầu tiên là các NHTM cần phải có là vốn để hoạtđông kinh doanh Nếu có nguồn vốn dồi dào ổn định luôn tăng trưởng thìNHTM sẽ tạo ra thế chủ động trong hoạt động kinh doanh, tăng trưởng về quy
mô và đa dạng các hình thức hoạt động từ đó tăng thu nhập cho Ngân hàng
1.2.3 Các hình thức huy động vốn
1.2.3.1 Nhận tiền gửi
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngânhàng thương mại Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là
mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách
đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư
Tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng Đểgia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền cóchất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đó đưa ra và thực hiện nhiều hìnhthức huy động khác nhau
- Tiền gửi thanh toán
Đây là tiền của các doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng đểnhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ Trong phạm vi số dư cho phép, các nhucầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện Cáckhoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vàotiền gửi thanh toán theo yêu cầu Nhìn chung, lãi suất của khoản tiền này rấtthấp (hoặc bằng không), thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng cácdịch vụ ngân hàng với mức phí thấp Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thanhtoán cho khách hàng Thủ tục mở rất đơn giản Yêu cầu của ngân hàng làkhách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán trong phạm vi số dư
Trang 17- Tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho hoạt động thanh toán song lãisuất lại thấp, trong khi đó nhiều khoản thu bằng tiền của các doanh nghiệp vàcác tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một thời gian xác định Để đáp ứng nhucầu tăng thu của người gửi tiền, ngân hàng đó đưa ra hình thức tiền gửi có kỳhạn Người gửi không được hưởng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng đốivới loại tiền gửi này Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng rút tiền ra.Tuy không thuận tiện cho tiêu dùng bằng hình thức tiền gửi thanh toán, songtiền gửi có kỳ hạn được hưởng lái suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ hạn
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Tiền gửi tiết kiệm là những khoản tiền khách hàng gửi vào ngân hàng vớimục đích tiết kiệm, thông thường không có mức giới hạn về số tiền, có hoặckhông có thời hạn đáo hạn cố định, người gửi tiền được trả lãi trên số dư tiền gửi
Chủ của các khoản gửi tiết kiệm thông thường là các cá nhân và hộ giađình Họ gửi vào ngân hàng những khoản thu nhập chưa sử dụng trong kỳhiện tại không vì nhu cầu giao dịch hoặc kinh doanh mà vì nhu cầu tiết kiệm
để chi dùng trong tương lai Điều họ quan tâm trước hết là lợi tức họ đượchưởng, dưới dạng tiền lãi ngân hàng trả hoặc có thể bao gồm cả chênh lệchgiá nếu như những khoản này được thiết kế dưới dạng các hợp đồng đủ tiêuchuẩn trao đổi rộng rãi trên thị trường
Đối với ngân hàng, tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn khá ổn định, chophép ngân hàng chủ động trong việc đầu tư chúng vào các kế hoạch sinh lời.Tuy nhiên, do đa phần những món tiết kiệm thường nhỏ, phân tán và lãi suấtcác ngân hàng phải trả cho chúng cao nên chi phí thu hút nguồn vốn nàythường lớn hơn so với tiền gửi thanh toán
Trên thực tế, nhu cầu sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại rấtlớn, nguồn tiền gửi các ngân hàng huy động được không phải lúc nào cũng đủ
Trang 18đáp ứng Đôi khi, để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình các ngânhàng thương mại cũng huy động vốn bằng cách đi vay.
1.2.3.2 Đi vay
Trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng luôn tồn tại tình trạnghoặc dư vốn, hoặc đủ vốn, hoặc thiếu vốn Khi một ngân hàng thương mạithiếu vốn để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng hay cho mục đích đầu tưphát triển mà các nguồn khác chưa đủ đáp ứng, ngân hàng thương mại có thể
đi vay Các ngân hàng thương mại có thể vay từ nhiều nguồn khác nhau:
Một là, vay ngân hàng trung ương: Đây là khoản vay nhằm giải quyếtnhu cầu cấp bách trong chi trả của NHTM Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ(thiếu dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán), NHTM thường vay ngân hàngtrung ương
Ngân hàng trung ương có thể cho các ngân hàng thương mại vay dướihình thức tái chiết khấu hoặc cho vay có đảm bảo bằng cầm cố các giấy tờ cógiá Khi cần tiền, các ngân hàng thương mại mang những thương phiếu hoặccác giấy tờ có giá khác đến ngân hàng trung ương xin tái chiết khấu
Khoản vay này liên quan đến lượng tiền cung ứng, đến việc thực hiệnchính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương nên ngân hàng trung ương kiểmsoát rất chặt chẽ, các ngân hàng thương mại phải thực hiện các điều kiện đảmbảo và kiểm soát nhất định Thông thường ngân hàng trung ương chỉ tái chiếtkhấu và nhận cầm cố các giấy tờ có giá có chất lượng (thời gian đáo hạnngắn, khả năng trả nợ cao) và việc cho vay này phải phù hợp với mục tiêu củangân hàng trung ương trong từng thời kỳ
Hai là, vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là khoản tiền vay để đápứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách, trong nhiều trường hợp khoản tiềnvay các TCTD khác bổ sung hoặc thay thế cho khoản tiền vay từ ngân hàngtrung ương
Trang 19Trong quá trình hoạt động, một số ngân hàng thương mại đang có dự trữvượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặcgiảm cho vay có thể sẵn sàng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suấtcao hơn Ngược lại, một số ngân hàng lại đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vaytức thời để đảm bảo thanh khoản Các ngân hàng đang thiếu hụt dữ trữ sẽ tìmđến các ngân hàng đang thừa dự trữ để vay Quá trình vay rất đơn giản Ngânhàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngânhàng đại lý (hoặc ngân hàng trung ương) Khoản vay có thể không cần đảmbảo, hoặc được đảm bảo bằng các giấy tờ có gia của kho bạc Kết quả là dự trữcủa ngân hàng cho vay giảm đi và của ngân hàng đi vay tăng lên.
Ba là, vay bằng cách phát hành kỳ phiếu, trái phiếu: Các NHTM có thểtìm kiếm vốn hoạt động bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu,trái phiếu) Việc phát hành được tiến hành khi ngân hàng thiếu vốn, và ngânhàng luôn có những quy định cụ thể về khối lượng huy động, mức lãi suất,thời hạn và phương pháp huy động Việc huy động được tiến hành trong mộtthời gian nhất định, khi đã huy động đủ khối lượng theo dự kiến, các ngânhàng sẽ ngừng huy động
Thông thường vay bằng cách phát hành kỳ phiếu, trái phiếu là cáckhoản vay không có đảm bảo Ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽvay được nhiều hơn Các ngân hàng nhỏ thường khó vay bằng hình thứcnày; và thường phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được bảolãnh của Ngân hàng Đầu tư Khả năng vay cũng phụ thuộc vào trình độphát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công
cụ nợ dài hạn của ngân hàng
Ngân hàng cần nghiên cứu kỹ thị trường để quyết định quy mô, mệnhgiá, lãi suất và thời hạn vay thích hợp Các vấn đề chuyển nhượng, điều chỉnhlãi suất, bảo quản hộ… cũng cần được các ngân hàng quan tâm
Trang 20Ngoài ra, các NHTM có thể vay từ một số nguồn khác như: vay của các
tổ chức tài chính khác trong nước, vay các tổ chức tài chính nước ngoài…
1.2.3.3 Huy động khác
Các ngân hàng thương mại cũng huy động vốn từ nguồn uỷ thác, nguồntrong thanh toán và một số nguồn khác
Khi thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư,
uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ… các NHTM đã tạo nên nguồn
uỷ thác tại ngân hàng mình Do việc phát tiền được thực hiện theo tiến độcông việc nên ngân hàng có thể sử dụng tạm thời lượng tiền này vào hoạtđộng kinh doanh
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, các NHTM cũng tạo đượcmột khoản vốn: tiền gửi đảm bảo thanh toán séc, tiền kí quĩ để mở L/C, cáckhoản tiền phong toả do ngân hàng chấp nhận hối phiếu thương mại… Cáckhoản này tạm thời được trích ra khỏi tài khoản tiền gửi của khách hàng, nhậpvào một tài khoản khác chờ sử dụng nên được coi là tiền nhàn rỗi
Những ngân hàng là đầu mối trong đồng tài trợ có kết dư từ tiền của cácngân hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay cũng tạo nên nguồn vốncho ngân hàng Ngoài ra, các NHTM cũng có thể sử dụng các khoản nợ khác nhưthuế chưa nộp, lương chưa trả… để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình
Trên đây là toàn bộ nội dung của hoạt động huy động vốn một trongnhững hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại.Hiện nay, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, các NHTM muốn tồntại và phát triển phải nâng cao hiệu quả huy động vốn
1.3 Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, ngân hàng cũng như các tổ chứctín dụng khác đang phải đối mặt với các cuộc cạnh tranh khốc liệt Bất kỳ
Trang 21biến động nào dù nhỏ hay lớn đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh củangân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng Vì vậy, hiệu quảtrong hoạt động huy động vốn không chỉ đánh giá chính xác đúng đắn hoạtđộng huy động vốn nói riêng mà còn phản ánh khả năng thích nghi và khẳngđịnh sự phát triển trên thị trường của ngân hàng.
Có quan niệm cho rằng: Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được vàchi phí bỏ ra và chỉ khi nào đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện chi phíthấp nhất mới được coi là có hiệu quả Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định kếtquả nào là cao nhất với chi phí thấp nhất là rất khó Để đánh giá xem hoạtđộng huy động vốn có hiệu quả hay không, các ngân hàng không chỉ quan tâmđến việc đó huy động được bao nhiêu vốn mà còn quan tâm đến nhiều vấn đềkhác chẳng hạn: ngân hàng đó sử dụng những cách nào để huy động được sốvốn đó? chí phí huy động bao nhiêu? khả năng khai thác số vốn này để tài trợcho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng như thế nào? tỷ trọng các loại vốn
có hợp lý không, có phù hợp với kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng không?Lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng khi tiến hành huy động ra sao?
Từ nhận thức trên một định nghĩa đầy đủ hơn về hiệu qủa huy độngvốn đã được đưa ra đó là: Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thươngmại chính là huy động vốn mà ngân hàng đạt được, phù hợp với nhu cầu sửdụng vốn, đảm bảo được mục tiêu an toàn và sinh lời cao của ngân hàngtrong từng thời kỳ
Như vậy, muốn đạt hiệu quả huy động vốn cao, ngân hàng cần bám sátnhu cầu sử dụng vốn, huy động vốn không những đủ đáp ứng nhu cầu mà cònphù hợp về cơ cấu kỳ hạn và loại tiền, với chi phí huy động thấp nhất Đồngthời, phải duy trì được tính ổn định cao của các nguồn tiền huy động Có nhưvậy mới hạn chế được rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất, và gia tăng lợinhuận cho ngân hàng
Trang 22Đánh giá hiệu quả huy động vốn là việc làm cần thiết và quan trọng đốivới mỗi ngân hàng thương mại, nhất là trong điều kiện cạnh tranh ngày cànggay gắt như hiện nay Việc làm này giúp cho các ngân hàng thương mại thấyđược những điểm mạnh, điểm yếu của mình trong công tác huy động vốn, từ
đó có những điều chỉnh thích hợp nhằm phát huy thế mạnh, khắc phục điểmyếu và nâng cao hiệu quả huy động vốn
Để đánh giá chính xác hiệu quả huy động vốn, các ngân hàng thươngmại cần đưa ra được hệ thống các chỉ tiêu đánh giá
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM
NHTM được đánh giá đạt hiệu quả huy động vốn cao khi quy mô vốnhuy động đáp ứng mục tiêu với chi phí hợp lý và có mức chênh lệch lãi suấtbình quân đảm bảo đủ bù đắp chi phí và mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng
1.3.2.1 Quy mô vốn huy động đáp ứng mục tiêu với chi phí hợp lý
* Quy mô vốn huy động đáp ứng mục tiêu
Quy mô vốn huy động có ảnh hưởng quyết định đến quy mô sử dụngvốn cũng như việc thực hiện kế hoạch kinh doanh của ngân hàng Các ngânhàng không thể đạt hiệu quả cao nếu không huy động được đủ vốn để tài trợcho hoạt động kinh doanh của mình Mỗi ngân hàng cần phải huy động đượcquy mô vốn nhất định theo mục tiêu đã đề ra cho từng thời kỳ Mục tiêu nàyđược xác định trên cơ sở xem xét nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng
Quy mô vốn huy động đáp ứng mục tiêu thể hiện như sau:
- Số vốn ngân hàng huy động được đủ để đáp ứng nhu cầu cho vay vàđầu tư của ngân hàng, không quá thừa hoặc quá thiếu so với nhu cầu sử dụng
Trong thực tế, ngân hàng không thể sử dụng toàn bộ số vốn huy độngđược để cho vay và đầu tư mà phải giữ lại một tỷ lệ nhất định Ngân hàngphải duy trì tỷ lệ này nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh, sửdụng để chi trả khi khách hàng có nhu cầu rút tiền
Trang 23Mặt khác, với mục đích huy động để cho vay và đầu tư, ngân hàngthường tìm cách khai thác và sử dụng tối đa số vốn huy động được, vốn được
sử dụng càng nhiều ngân hàng hoạt động càng có hiệu quả Tuy nhiên, điềunày cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao,
do đó, các ngân hàng phải cân nhắc kỹ xem nên huy động vốn ở mức nào đểđảm bảo hoạt động có hiệu quả mà vẫn an toàn
- Tốc độ tăng trưởng vốn huy động luôn dương và tương đối ổn định
- Tỷ trọng các loại vốn ngắn hạn, trung dài hạn, nội tệ, ngoại tệ ở mứchợp lý, phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng Bất kỳ một sự khôngphù hợp nào về kỳ hạn và loại tiền giữa huy động vốn với sử dụng vốn cũng
sẽ đem lại bất lợi cho ngân hàng
Nếu không có sự phù hợp về kỳ hạn giữa huy động vốn với sử dụng vốn,ngân hàng sẽ gặp rủi ro về kỳ hạn Nếu không có sự phù hợp về loại tiền, ngânhàng sẽ phải chịu những chi phí để chuyển đổi nguồn tiền đã huy động đượcsang loại tiền cần sử dụng và có khả năng sẽ gặp rủi ro về tỷ giá Đây chính lànhững nguy cơ tiềm ẩn làm giảm hiệu quả huy động vốn của ngân hàng
Trang 24Lãi suất huy động gắn liền với mỗi loại sản phẩm của ngân hàng và vớimỗi ngân hàng Lãi suất huy động thay đổi thường xuyên dưới ảnh hưởng củanhiều nhân tố như:
- Khả năng tiết kiệm và gia tăng tiết kiệm của quốc gia;
- Nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp, Nhà nước và hộ gia đình;
- Tỷ lệ lạm phát;
- Tỷ lệ sinh lời của các hoạt động đầu tư khác;
- Trình độ phát triển của thị trường tài chính;
- Khả năng sinh lời của ngân hàng;
- Độ an toàn của các ngân hàng…
Trên cơ sở tác động của hàng loạt các nhân tố, hình thành nên lãi suấthuy động của ngân hàng thương mại Lãi suất huy động của mỗi ngân hàngđược phân biệt theo nhiều hình thức khác nhau như: phân biệt theo thời gianhuy động, theo loại tiền huy động, theo mục đích huy động, theo quy mô huyđộng, theo rủi ro của ngân hàng và theo các dịch vụ đi kèm Tiện ích mà ngânhàng cung cấp cho người gửi tiền và người cho vay càng cao thì lãi suất càngthấp Có một số nguồn tiền lãi suất ngân hàng trả bằng không và người gửiphải trả phí để được hưởng tiện ích của ngân hàng
Ngoài chi phí trả lãi, các ngân hàng cũng phải trả một số chi phí kháccho việc huy động vốn như: chi lương cho nhân viên; chi phí vận chuyển,kiểm đếm, bảo quản tiền; chi mua công cụ, dụng cụ phục vụ cho công tác huyđộng, chi khuyến mại, tuyên truyền, tiếp thị…
Chi phí huy động vốn cao hay thấp là biểu hiện trực tiếp của hiệu quảhuy động vốn, nếu chi phí huy động vốn cao thì hiệu quả huy động vốn thấp
và ngược lại, nếu chi phí huy động vốn thấp thì hiệu quả huy động vốn cao.Tuy nhiên, khái niệm “cao” hay “thấp” chỉ mang tính tương đối, tức là các chiphí huy động ngân hàng bỏ ra phải hợp lý, phải thấp nhất có thể ứng với từngđiều kiện, hoàn cảnh cụ thể của ngân hàng
Trang 25Chi phí huy động vốn có ảnh hưởng quyết định đến lãi suất cho vay củangân hàng, chi phí huy động vốn càng cao lãi suất cho vay càng cao để bù đắpchi phí và tạo lợi nhuận cho ngân hàng Nhưng lãi suất cho vay quá cao, ngânhàng sẽ không cho vay được, vốn bị ứ đọng, hiệu quả huy động vốn giảm.Nhiệm vụ của ngân hàng là xác định một mức chi phí huy động hợp lý đảmbảo vừa huy động được vốn, vừa cho vay được để thu lợi nhuận cao nhất.
Để phục vụ cho việc quản lý chi phí huy động vốn và xác định các mứclãi suất tiền gửi, tiền vay một cách hợp lý, các ngân hàng thường tính toán lãisuất huy động bình quân
Lãi suất huy động bình quân: là chỉ tiêu phản ánh chi phí trả lãi màngân hàng phải bỏ ra để huy động được một đồng vốn, được tính bằng côngthức sau: Chi phí trả lãi
Lãi suất huy động bình quân =
Tổng vốn huy động bình quânTrong quá trình hoạt động các NHTM huy động nhiều nguồn vốn khácnhau tương ứng với nhiều mức lãi suất, để đánh giá một cách tổng quát chiphí huy động vốn và so sánh với các kỳ trước, cần phải xác định lãi suất huyđộng bình quân Lãi suất huy động bình quân cho thấy xu hướng thay đổi lãisuất của nguồn, mức độ thay đổi lãi suất mỗi nguồn, nguồn nào đắt tương đối,nguồn nào rẻ tương đối Thông qua lãi suất huy động bình quân các ngânhàng có thể xác định được các mức lãi suất đầu ra với cơ cấu hợp lý, đảm bảo
bù đắp chi phí và đạt được mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng
1.3.2.2 Chênh lệch lãi suất bình quân
Chênh lệch lãi suất bình quân là chỉ tiêu phản ánh chênh lệch giữa lãi suất đầu ra bình quân (lãi thu được từ hoạt động cho vay, đầu tư) và lãi suất đầu vào bình quân (lãi phải trả cho các khoản huy động) Được tính bằng công thức:
Chênh lệch lãi
suất bình quân =
Thu từ lãi cho vay, đầu tư
- Tổng chi lãiTổng cho vay và đầu tư bq Tổng nguồn vốn phải trả lãi bq
Trang 26Chênh lệch lãi suất bình quân đo lường khả năng sinh lời của ngânhàng trong quá trình huy động vốn và cho vay, chỉ tiêu này càng cao khả năngsinh lời của ngân hàng càng lớn, hiệu quả huy động vốn cũng như là hiệu quả
sử dụng vốn của ngân hàng càng cao
Nếu một ngân hàng có thể huy động được các nguồn vốn có chi phíthấp nhất và đầu tư vào các tài sản có mức lãi suất cao nhất, ngân hàng sẽ tối
đa hoá mức chênh lệch lãi suất, và đạt hiệu quả huy động vốn cao
Trên đây chỉ là một số chỉ tiêu có tính chất tham khảo và có ý nghĩađánh giá chung về hiệu quả huy động vốn của NHTM Mỗi chỉ tiêu đều cónhững ưu, nhược điểm riêng, không thể sử dụng duy nhất một chỉ tiêu nào
để đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM, mà phải sử dụng đồng thờinhiều chỉ tiêu
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại bị chi phối bởinhiều nhân tố Muốn nâng cao hiệu quả huy động vốn, các ngân hàng thươngmại cần nghiên cứu, phân tích những ảnh hưởng của các nhân tố này lên hiệuquả huy động vốn theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Các nhân tố nàybao gồm:
1.4.1 Những nhân tố chủ quan
- Lãi suất huy động
Lãi suất là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả huy động vốn và ảnhhưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng Bởi lãi suất luôn được các tổchức hoặc cá nhân quan tâm khi họ gửi tiền vào ngân hàng Cùng với vấn đề
an toàn và các tiện ích kèm theo, người gửi tiền luôn so sánh lãi suất huyđộng giữa các ngân hàng xem nơi nào cao hơn Nếu khách hàng đánh giá các
Trang 27ngân hàng có cùng hệ số an toàn và các tiện ích như nhau thì họ sẽ chọn ngânhàng nào có lãi suất huy động cao hơn để gửi tiền.
Mặt khác, lãi suất huy động còn là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến quy
mô vốn huy động, đặc biệt là huy động tiết kiệm Người dân thường so sánhlãi suất tiết kiệm với tỷ lệ trượt giá của đồng tiền, khả năng sinh lời của dòngtiền đầu tư vào tiết kiệm so với đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, bất độngsản… từ đó đưa ra quyết định có nên gửi vào ngân hàng hay không, gửi baonhiêu và gửi theo hình thức nào Ngược lại, đối với các tổ chức kinh tế lãisuất huy động có ảnh hưởng ít hơn vì phần lớn các tổ chức này gửi tiền vàongân hàng đều với mục đích thanh toán là chính Do đó, nguồn tiền này chịuảnh hưởng nhiều bởi kỹ thuật và công nghệ của ngân hàng
Nếu xét theo kỳ hạn thì tiền gửi ngắn hạn thường nhạy cảm với cácbiến động về lãi suất hơn cả Đối với hình thức này, mức độ an toàn khôngcòn quan trọng như tiền gửi dài hạn, người gửi tiền sẽ quan tâm nhiều hơnđến lãi suất
Như vậy, các ngân hàng cần duy trì lãi suất huy động ở mức hợp lý đểvừa thu hút được vốn, vừa đảm bảo sức cạnh tranh Muốn vậy, các ngân hàngphải thường xuyên theo dõi tình hình biến động của lãi suất trên thị trường vàtrên địa bàn để có các quyết định điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với mặtbằng lãi suất trên thị trường và đặc điểm riêng của mỗi ngân hàng
- Hiệu quả hoạt động cho vay, đầu tư của ngân hàng
Hiệu quả hoạt động cho vay và đầu tư có ảnh hưởng lớn đến hiệu quảhoạt động huy động vốn Chính từ hiệu quả cao trong cho vay và đầu tư, ngânhàng sẽ gia tăng được vốn nhờ quay vòng vốn nhanh Hơn nữa, với việc đạthiệu quả cao trong hoạt động cho vay và đầu tư, ngân hàng hoàn toàn có thểtrả gốc và lãi đúng hạn cho người gửi tiền, tạo niềm tin thu hút khách hànggửi tiền, hiệu quả huy động vốn sẽ được nâng cao
Trang 28Ngược lại, nếu hoạt động cho vay, đầu tư của ngân hàng đạt hiệu quảthấp, chi phí huy động vốn không được bù đắp, lợi nhuận của ngân hàng sẽgiảm, từ đó làm giảm hiệu quả hoạt động huy động vốn.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngân hàng
Cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngân hàng là yếu tố đầu tiên thu hút sựchú ý của khách hàng, khách hàng luôn mong muốn tiến hành các giao dịchvới một ngân hàng có trụ sở khang trang, bề thế, được trang bị các thiết bịhiện đại
Đồng thời, cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngân hàng có ảnh hưởng rấtlớn đến chất lượng dịch vụ ngân hàng cung cấp Nếu ngân hàng được trang bịcác thiết bị hiện đại, chất lượng dịch vụ sẽ được nâng cao, khách hàng sẽ cảmthấy hài lòng và yên tâm hơn khi đến giao dịch với ngân hàng
Cơ sở vật chất, trang thiết bị là yếu tố quan trọng giúp ngân hàng thựchiện cạnh tranh phi lãi suất Với cùng lãi suất huy động như nhau, ngân hàngnào có cơ sở vật chất, trang thiết bị tốt hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàngđến gửi tiền hơn, từ đó hiệu quả huy động vốn sẽ được nâng cao
- Các hình thức huy động vốn của ngân hàng
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với nhiều mục đích, nhiều kỳ hạn
và loại tiền khác nhau Nếu ngân hàng áp dụng nhiều hình thức huy động vốn,thoả mãn được các nhu cầu đa dạng của khách hàng thì ngân hàng sẽ thu hútđược nhiều khách hàng đến gửi tiền hơn Số lượng khách hàng đến gửi tiềngia tăng đồng nghĩa với việc ngân hàng huy động được nhiều vốn hơn, hiệuquả huy động vốn sẽ được nâng cao
Hơn nữa, hình thức huy động vốn đa dạng sẽ tạo ra cơ cấu vốn huyđộng với nhiều kỳ hạn và loại tiền khác nhau, đáp ứng nhu cầu cho vay vàđầu tư đa dạng của ngân hàng, nhờ đó hiệu quả huy động vốn cũng đượcnâng cao
Trang 29- Mạng lưới hoạt động và trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàngVới mạng lưới hoạt động rộng khắp và trình độ nghiệp vụ của cán bộngân hàng ngày càng được nâng cao, thái độ phục vụ đối với khách hàng ân cần,niềm nở, vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi cũng sẽ thu hút được nhiềukhách hàng hơn, góp phần nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng.
- Uy tín, thương hiệu của ngân hàng
Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, mỗi ngân hàng sẽ tạo nên mộthình ảnh riêng trong lòng khách hàng Một ngân hàng lớn, có uy tín, có tiếngtăm trong nhiều năm sẽ có lợi thế hơn trong huy động vốn Sự tin tưởng củakhách hàng sẽ giúp ngân hàng giữ vững khối lượng vốn huy động và tiết kiệmchi phí huy động Thậm chí, trong điều kiện lãi suất tiền gửi tại ngân hàngthấp hơn đôi chút, những người có tiền vẫn chọn ngân hàng để gửi mà khôngtìm đến những ngân hàng khác trả lãi cao hơn, vì họ tin gửi tại ngân hàng tiềncủa họ sẽ tuyệt đối an toàn
- Hoạt động Marketing
Hoạt động Marketing sẽ có tác dụng thu hút sự chú ý của khách hàng
về hình ảnh của ngân hàng để khách hàng có sự so sánh và chọn lựa trước khiquyết định tham gia giao dịch với ngân hàng Xây dựng một hình ảnh đồngnhất, hấp dẫn sự quan sát của khách hàng là vấn đề đầu tiên các NHTM phảiquan tâm khi xây dựng mạng lưới giao dịch Không chỉ tạo ra cảm giácchuyên nghiệp trong nhìn nhận của khách hàng mà đơn giản còn tạo ra cảmgiác dễ nhận biết, ghi sâu vào tâm trí khách hàng Do vậy, hình ảnh ngân hàngphải tạo sự đồng nhất nhưng khác biệt với các ngân hàng khác Trụ sở giaodịch của ngân hàng là một hình thức quảng bá thương hiệu, quảng cáo ngânhàng hiệu quả nhất hiện nay
Mặt khác, không phải ai cũng thông hiểu hết mọi thủ tục, thể lệ gửi tiềncũng như các chính sách khuyến khích, ưu đãi mà họ được hưởng, nhất là với
Trang 30những khách hàng có trình độ học vấn chưa cao và với những khách hàng mớilần đầu đến ngân hàng gửi tiền Với hoạt động marketing ngân hàng, thôngqua các bảng niêm yết đầy đủ, công khai các tiện ích dễ hiểu sẽ tạo cho kháchhàng tâm lý thoải mái dễ chịu, không cảm thấy khó khăn về thủ tục khi gửitiền Hơn nữa, hoạt động Marketing sẽ giúp khách hàng tìm thấy được cơ hộihấp dẫn để gửi tiền vào ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng có thể tiếpxúc, duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng.
- Quy mô vốn chủ sở hữu
Kinh doanh ngân hàng thường xuyên đối đầu với rủi ro Các khoản tổnthất của ngân hàng sẽ được bù đắp bằng vốn chủ sở hữu (đầu tiên là quỹ dựphòng rủi ro, sau đó là lợi nhuận tích luỹ và cuối cùng là vốn ban đầu) Trongtrường hợp ngân hàng phá sản hoặc ngừng hoạt động, các khoản tiền gửi sẽđược hoàn trả trước, sau đó đến nghĩa vụ với Chính phủ và người lao động,các khoản vay, cuối cùng mới đến phần các chủ sở hữu Do vậy, quy mô vốnchủ sở hữu càng lớn, người gửi tiền và người cho vay càng cảm thấy an tâm
về ngân hàng Ngân hàng sẽ huy động được nhiều vốn hơn, chi phí huy độngvốn giảm, hiệu quả huy động vốn được nâng cao
- Chất lượng dịch vụ cung cấp
Chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả huy động vốn củangân hàng thương mại Trong điều kiện cạnh tranh giữa các ngân hàng trongviệc cung cấp dịch vụ ngày càng tăng, ngân hàng nào có danh mục dịch vụ đadạng, chất lượng tốt sẽ chiếm ưu thế Khi mức lãi suất huy động và sự đadạng của các hình thức huy động vốn giữa các ngân hàng ít có sự khác biệt,vần đề thu hút sự chú ý của khách hàng chính là sự tiện lợi cao, chất lượng tốt
và sự khác biệt về đặc điểm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp
Ngân hàng có chất lượng dịch vụ tốt sẽ thu hút được nhiều khách hàngđến giao dịch hơn Khách hàng không chỉ đến ngân hàng gửi tiền mà còn sử
Trang 31dụng các dịch vụ khác như thanh toán, bảo lãnh, tín dụng… Khi khách hàng
sử dụng nhiều dịch vụ do ngân hàng cung cấp, ngân hàng sẽ có điều kiện tiếpcận với các nguồn vốn có chi phí thấp và gia tăng thu nhập, nhờ đó hiệu quảhuy động vốn được nâng cao
- Cơ cấu tổ chức của ngân hàng
Cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả huy động vốn củangân hàng Cơ cấu tổ chức của ngân hàng được bố trí, sắp xếp một cách khoahọc, hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, các bộ phận trong ngânhàng hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhờ đó hiệu quả huy động vốn của ngân hàngđược nâng cao Ngược lại, nếu ngân hàng có bộ máy tổ chức cồng kềnh, cácphòng ban, các bộ phận trong ngân hàng được bố trí, sắp xếp một cách chồngchéo, không khoa học sẽ kìm hãm sự phát triển của các cá nhân, các bộ phậntrong ngân hàng Hơn nữa, với bộ máy tổ chức cồng kềnh, chồng chéo, chiphí hoạt động của ngân hàng gia tăng, lợi nhuận của ngân hàng giảm, hiệuquả huy động vốn giảm
Ngoài ra, các hoạt động khác của ngân hàng như thanh toán, bảolãnh, đại lý uỷ thác, … cũng có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả huy độngvốn của ngân hàng Những hoạt động này phát triển sẽ giúp ngân hàng giatăng nguồn tiền gửi thanh toán, nhờ đó giảm chi phí huy động vốn, hiệuquả huy động vốn được nâng cao Hơn nữa, các hoạt động này phát triểncòn giúp ngân hàng thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến giao dịch vàgửi tiền tại ngân hàng hơn
1.4.2 Những nhân tố khách quan
- Pháp luật, chính sách của Nhà nước
Mọi hoạt động kinh doanh trong đó có hoạt động ngân hàng đều chịu
sự điều chỉnh của luật pháp Ở Việt Nam đó là Luật Các tổ chức tín dụng và
hệ thống các quy chế cụ thể trong từng thời kỳ về lãi suất, dự trữ bắt buộc, tỷ
Trang 32giá… Trong sự ràng buộc về luật pháp, các yếu tố của nghiệp vụ huy độngvốn thay đổi, làm ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả huy động Ví dụ như:Việc thay đổi dự trữ bắt buộc của NHNN sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả huyđộng vốn của ngân hàng Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng dẫn đến dự trữ sơ cấp củangân hàng tăng, sẽ làm giảm khả năng tăng lợi nhuận của ngân hàng.
- Tình trạng của nền kinh tế
Tình trạng của nền kinh tế cũng như pháp luật là những nhân tố vĩ mô
có ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh doanh Trong điều kiện nền kinh tếphát triển hưng thịnh, thu nhập dân cư cao và ổn định, nguồn tiền vào và racác ngân hàng cũng ổn định, số vốn huy động được dồi dào và cơ hội đầu tưcũng được mở rộng Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, giá cả hàng hoátăng, các doanh nghiệp kinh doanh không có lãi dẫn đến thu hẹp sản xuất, thunhập của dân cư và các doanh nghiệp giảm, ngân hàng sẽ gặp khó khăn tronghoạt động huy động vốn Thông thường, chi phí huy động vốn của ngân hàng
sẽ tăng nếu tỷ lệ lạm phát cao hơn mức lãi suất huy động, do ngân hàng phảităng lãi suất huy động để đảm bảo lãi suất thực dương
- Điều kiện thị trường và cạnh tranh
Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng luôn phải tính đến điềukiện môi trường kinh doanh, như có bao nhiêu cơ hội đầu tư tiềm tàng ởnhững khu vực thuộc địa bàn hoạt động của ngân hàng, có bao nhiêu ngânhàng và các tổ chức tín dụng khác cũng tham gia trên địa bàn đó? Để tiếnhành cạnh tranh với các đối thủ, ngân hàng buộc phải cải tiến chất lượngphục vụ, ấn định một lãi suất phù hợp với thị trường, nghiên cứu kỹ hơncác điều kiện thị trường… Như vậy, cạnh tranh vừa là một thách thức vừa
là một nhân tố thúc đẩy các ngân hàng nâng cao chất lượng hoạt động,trong đó có hoạt động huy động vốn
Trang 33- Sự phát triển của thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi mua bán các công cụ tài chính, nhờ đó vốnđược chuyển giao một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ các chủ thể dư thừa vốnđến các chủ thể có nhu cầu về vốn Thị trường tài chính cung cấp phươngthức chuyển đổi các loại tài sản tài chính thành tiền mặt, do đó làm cho nhữngtài sản tài chính “lỏng” thêm Tính lỏng thêm của những tài sản tài chínhkhiến chúng được ưa chuộng hơn và như thế sẽ dễ dàng hơn cho các NHTMkhi phát hành các loại giấy tờ có giá để huy động vốn
Nếu thiếu thị trường tài chính hoặc thị trường tài chính kém pháttriển thì tính thanh khoản của các tài sản tài chính kém, người tiết kiệm sẽ
ưa thích nắm giữ tài sản hoặc vốn dưới hình thái tiền mặt, hơn là các hìnhthái khác gần với tiền Khi đó, hoạt động huy động vốn của các NHTM sẽgặp khó khăn
Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng gây ra không
ít khó khăn cho các NHTM trong việc huy động vốn, do thị trường chứngkhoán đã thu hút một phần tiền nhàn rỗi từ công chúng và tổ chức kinh tế thaycho gửi vào hệ thống ngân hàng
độ thường xuyên của việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng Mức độ sử dụngcàng cao, ngân hàng càng có điều kiện mở rộng việc huy động vốn
Trang 34Kết luận chương 1
Chương 1 đã hệ thống hoá những vấn đề cơ bản liên quan đến hoạtđộng huy động của NHTM Từ đó thấy được vị trí, tầm quan trọng của nguồnvốn huy động, ý nghĩa của nghiệp vụ huy động vốn đối với các chủ thể thamgia và đặc biệt là vai trò đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Để thấyrằng việc phát triển huy động vốn là một yêu cầu tất yếu đối với mỗi ngânhàng Đồng thời, nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới việc huy động vốncủa NHTM để làm tiền đề cho việc đưa ra những giải pháp để phát triển huyđộng vốn tại BIDV Phú Thọ
Trang 35Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Các vấn đề lý thuyết liên quan đến huy động vốn tại ngân hàng?
- Đánh giá về thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCPĐầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ hiện nay ra sao?
- Đánh giá về những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn tạiNgân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ hiệnnay ra sao?
- Những giải pháp nào có thể đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả huy độngvốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá được thực trạng hiệu quả huy động vốn tại BIDV Phú Thọ
đề tài sử dụng kết hợp cả hai loại phân tích: phân tích định tính và định lượng.Hai phương pháp phân tích này sẽ hỗ trợ tích cực cho nhau trong việc làmsáng tỏ các nhận định hoặc rút ra các kết luận của vấn đề nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu tìm hiểu về thực trạng hiệu quả công tác huyđộng vốn tại ngân hàng, trong nghiên cứu sẽ sử dụng công cụ thống kê mô tả
để mô tả các thông tin liên quan đến vấn đề hiệu quả huy động vốn Ngoàibảng câu hỏi điều tra, tác giả còn phân tích số liệu từ các bảng thống kê, cácbảng phân tích về các vấn đề có liên quan đến huy động vốn tại Chi nhánh
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin là hoạt động không thể thiếu để cung cấp số liệu choviệc phân tích đánh giá nội dung của đề tài, bao gồm thu thập thông tin thứcấp và thông tin sơ cấp Thu thập thông tin tốt sẽ cung cấp đầy đủ các thôngtin về lý luận và thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý và phân tíchthông tin, từ đó đưa ra đánh giá chính xác về thực trạng của vấn đề nghiên
Trang 36cứu và đề xuất các giải pháp xác thực giúp cho việc hoàn thiện công việcnghiên cứu.
Thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp là những thông tin đã có sẵn, được tổng hợp từ trước
và đã được công bố Trong đề tài của tác giả, thông tin thứ cấp được thu thậpbao gồm các thông tin được lấy chủ yếu từ bảng cân đối, báo cáo tổng kết củaChi nhánh, báo cáo đánh giá từng chuyên đề của các phòng chức năng quacác năm và số liệu thống kê của Ngân hàng nhà nước tỉnh Phú Thọ về hoạtđộng Ngân hàng của các NHTM trên địa bàn
Thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp được thu thập từ phỏng vấn, điều tra các đối tượngkhách hàng thông qua phiếu điều tra khảo sát gửi tới khách hàng xin ý kiếnđánh giá
(Mẫu phiếu điều tra theo phụ lục 1)
Mỗi biến số sẽ được ghi điểm theo quy ước sau:
Thời gian điều tra trong tháng 4 năm 2012
2.2.3 Phương pháp tổng hợp thông tin
Trang 37Thông tin được tổng hợp vào máy tích phục vụ cho việc phân tích saunày sử dụng bộ công cụ Excel.
Các thông tin định tính sẽ được mã hóa trước khi nhập
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin
Thông qua việc thu thập các số liệu, thông tin báo cáo của các ngânhàng thương mại trên địa bàn, số liệu của BIDV Phú Thọ từ năm 2009 đến
2011 để so sánh từ đó thấy được những ưu điểm cũng như tồn tại của đơn vị.Nội dung cần so sánh:
So sánh số liệu đạt được qua các năm để thấy được những kết quả đạtđược cũng như tồn tại khách quan và chủ quan ảnh hưởng tới huy động vốntại chi nhánh Phú Thọ
So sánh số liệu với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn qua đó thấyđược điểm mạnh, điểm yếu của đơn vị trong hoạt động huy động vốn từ đótìm được hướng đi đúng nhất trong chiến lược cạnh trạnh mở rộng thị phần
Thông qua phiếu điều tra thấy mức độ phục vụ của BIDV Phú Thọ đốivới lĩnh vực huy động vốn theo mức độ tin cậy, năng lực phục vụ, mức độđáp ứng, cơ sở vật chất…
(Cụ thế phân tích tại chương 3)
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu:
*/ Đối với ngân hàng
- Tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn qua các năm theo biểu đồ ở chương 3
- Cơ cấu nguồn vốn theo bảng ở chương 3
- Tỷ lệ giữa sử dụng vốn/ Tổng vốn huy động theo ở chương 3
- Lợi nhuận mang lại từ công tác huy động vốn theo biểu đồ 3.12
- Kết quả kinh doanh từ huy động vốn biểu đồ 3.11
*/ Đối với khách hàng
- Chính sách lãi suất
Trang 38- Thủ tục và quy trình của ngân hàng
Trang 39Chương 3 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH PHÚ THỌ 3.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ
3.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi; có vị trí địa lý cách thủ đô Hà Nội
85 km về phía Bắc, có quốc lộ 2 đi qua, tiếp giáp với các tỉnh: Tuyên Quang,Yên Bái, Hà Nội, Sơn La, Hoà Bình, Vĩnh Phúc Tỉnh Phú Thọ có tổng diệntích đất đai 3.519,6 km2 với dân số 1,4 triệu dân Thu nhập bình quânGDP/người đạt 1320USD/người (năm 2009)
Phú Thọ có 13 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt Trì, thị xã PhúThọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao,Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập Thành phố ViệtTrì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh; 274 đơn vị hành chínhgồm 14 phường, 10 thị trấn và 250 xã, trong đó có 214 xã miền núi, 7 xã vùngcao và 50 xã đặc biệt khó khăn
Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du nên địa hình bị chia cắt, được chiathành tiểu vùng chủ yếu Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của PhúThọ, tuy gặp một số khó khăn về việc đi lại, giao lưu song ở vùng này lại cónhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh
tế trang trại Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng vàdải đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy Vùng này thuận lợi cho việctrồng các loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn nuôi
Phú Thọ có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến nông - lâmsản Khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, công
Trang 40nghiệp dệt, may vì ở Phú Thọ có nguồn nguyên liệu, lực lượng lao động tạichỗ; đã xây dựng được một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp và đầu tưvới tốc độ nhanh.
Tham gia hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng trên địa bàntỉnh Phú Thọ tính đến nay có 11 ngân hàng thương mại: Ngân hàng TMCPĐầu tư và Phát triển (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn(Agribank), Ngân hàng TMCP Công thương (Vietinbank), Ngân hàng pháttriển nhà đồng bằng Sông Cửu Long (MHB); Ngân hàng TMCP quân đội(MB), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPbank), Ngân hàngTMCP kỹ thương (Techcombank), Ngân hàng TMCP quốc tế (VIB); Ngânhàng TMCP ngoại thương (Vietcombank); Ngân hàng TMCP hàng hải(Martimebank); Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank); ngoài
ra còn có Ngân hàng phát triển (VDB), Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP),Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương (CCF), Tiết kiệm Bưu điện (thuộcLienviet Post Bank) Do đó, có sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức tíndụng, nhất là trong lĩnh vực huy động vốn Bên cạnh đó, sự biến động của thịtrường tiền tệ trong giai đoạn 2009 - 2011 đã ảnh hưởng đến hoạt động huyđộng vốn của các NHTM nói chung và của BIDV Phú Thọ nói riêng
3.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
BIDV là ngân hàng thương mại lâu đời nhất Việt Nam với tiền thân làNgân hàng Kiến thiết Việt Nam được thành lập ngày 26/4/1957 Sau hơn 54năm xây dựng và trưởng thành, ngân hàng đã trải qua 3 giai đoạn phát triểnchính với các tên gọi khác nhau phù hợp với từng thời kỳ và mục tiêu hoạt động:
Ngày 26/04/1957, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tàichính được thành lập theo Quyết định số 177/TTg của Thủ tướng Chính phủ
Ngày 24/06/1981, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam thuộcNgân hàng Nhà nước Việt Nam theo Quyết định số 259/CP của Hội đồngChính phủ