Rất Rất Hay !
Trang 1DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
P hamill Panicummaximum hamil
B mulato 2 Brachiaria mulato 2
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm đối với cỏ P hamill, B mulato 2 32
Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm thu nhận thức ăn của ngựa Bạch sử dụng 2 giống cỏ P hamill và B mulato 2 35
Bảng 2.3 Bố trí thí nghiệm theo dõi sinh trưởng của ngựa Bạch sử dụng 2 giống cỏ P hamill, B mulato 2 36
Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng của đất thí nghiệm 39
Bảng 3.2 Đặc điểm khí hậu vùng nghiên cứu trong thời gian thí nghiệm .40
Bảng 3.3 Chiều cao sinh trưởng của cỏ P.hamill, B.mulato 2 43
Bảng 3.4 Chiều cao cây tái sinh 45
Bảng 3.5 Tốc độ sinh trưởng và tái sinh của 2 giống cỏ 48
Bảng 3.6 Năng suất chất xanh của 2 giống cỏ thí nghiệm 51
Bảng 3.7 Thành phần hóa học của cỏ thí nghiệm 54
Bảng 3.8 Sản lượng chất xanh, VCK và protein của 2 giống cỏ thí nghiệm qua 3 lứa cắt 57
Bảng 3.9 Khả năng thu nhận cỏ của ngựa Bạch thí nghiệm 61
Bảng 3.10 Sinh trưởng tích lũy của ngựa Bạch thí nghiệm 63
Bảng 3.11 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của ngựa Bạch thí nghiệm .65
Bảng 3.12 Kích thước một số chiêu đo của ngựa Bạch TN 67
Bảng 3.13 Tiêu tồn thức ăn thô cho ngựa thí nghiệm 69
Bảng 3.14 Sơ bộ hạnh toán kinh tế 70
ii
Trang 3DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
Biểu đồ 3.1 Khí hậu vùng thí nghiệm 42
Biểu đồ 3.2 Năng suất chất xanh của cỏ thí nghiệm 53
Biểu đồ 3.3 Sản lượng chất xanh của cỏ thí nghiệm 59
Biểu đồ 3.4 Sản lượng VCK của cỏ thí nghiệm 59
Biểu đồ 3.5 Sản lượng protein của cỏ thí nghiệm 60
Đồ thị 3.1 Sinh trưởng tích luỹ của ngựa Bạch thí nghiệm 64
iii
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nôngthôn, đời sống của nông dân phụ thuộc chính vào nông nghiệp, trong đó chănnuôi giữ vị trí quan trọng Tốc độ tăng trưởng bình quân của chăn nuôi hằngnăm vẫn tăng, tổng sản phẩm chăn nuôi năm 2010 so với năm trước tăng6,3% Năm 2013 tăng 5,7%, trong đó gia súc tăng 6,6%, sản phẩm không quagiết thịt tăng 8,2% (Tổng cục thống kê, 2012) [63], Cục thống kê (2013)[30].Theo Cục chăn nuôi - Bộ nông nghiệp và PTNT (2012)[16] phấn đấu đưachăn nuôi nước ta thành ngành sản xuất hàng hóa Với các tỉnh trung du vàmiền núi tập trung thúc đẩy phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ, sử dụng nguồnthức ăn tự nhiên, phụ phẩm nông công nghiệp và diện tích đất canh tác chosản xuất nông nghiệp kém hiệu quả chuyển sang trồng cây thức ăn chăn nuôi
Trong chăn nuôi đại gia súc chủ yếu sử dụng thức ăn thô xanh, nên việcnghiên cứu sản xuất thức ăn thô xanh luôn là vấn đề quan tâm và đặt lên hàngđầu Chăn nuôi ngựa cũng như những đại gia súc khác, việc sản xuất thức ănthô xanh hàng năm cần được chú trọng cả về số lượng và chất lượng Tại cácnông hộ chăn nuôi ngựa thường sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên và thức ăntận dụng từ phế phụ phẩm nông nghiệp, nguồn thức ăn này thường không ổnđịnh và năng suất thấp Những năm gần đây ngành chăn nuôi đã nhập một sốgiống cây thức ăn có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao từ các nước trongkhu vực cần được khảo nghiệm giúp phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ ởTrung du và Miền núi (Bộ nông nghiệp và PTNT, 2003) [7] Những giốngmới này đã được trồng, khảo nghiệm cho chăn nuôi gia súc bước đầu đánh giá
là phù hợp, tuy nhiên việc nghiên cứu sử dụng cho ngựa Bạch còn hạn chế Dovậy việc chọn lọc và đưa vào sản xuất những giống cỏ mới năng suất cao, chất
Trang 5lượng tốt, phù hợp với đối tượng sử dụng là ngựa Bạch cần được đặt vấn đềnghiên cứu nhằm tăng năng suất, đồng thời xác định được thành phần hoá họccũng như giá trị dinh dưỡng của chúng là hết sức cần thiết Nhờ đó, đáp ứng nhucầu thức ăn xanh cho chăn nuôi gia súc nói chung và chăn nuôi ngựa Bạch nóiriêng cả về số lượng cũng như chất lượng.
Theo Viện Chăn nuôi Quốc Gia (2012) [70] chăn nuôi ngựa ở nước ta
đã gắn bó lâu đời với đồng bào miền núi, trong chiến tranh ngựa vận chuyểnhàng hoá, trong thời bình ngựa phục vụ đời sống dân sinh, văn hoá lễ hộitruyền thống Chăn nuôi ngựa có nhóm ngựa Bạch được coi là tài sản quý củamỗi gia đình, nó có khả năng chịu đựng kham khổ, và phát triển tốt ở miềnnúi Để chăn nuôi tốt ngựa Bạch cần phải chú trọng nguồn thức ăn, chọn vàsản xuất giống cỏ phù hợp cho chăn nuôi ngựa Bạch là cần thiết Xuất phát từ
những yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất chất lượng cỏ P hamill, B mulato 2 và sử dụng chúng trong chăn nuôi ngựa Bạch giai đoạn 7 – 12 tháng tuổi tại Thái Nguyên’’.
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của các mức phân đạm khác nhau đến năng
xuất chất lượng của 2 giống cỏ P hamill, B mulato 2
- Đánh giá ảnh hưởng của 2 giống cỏ thí nghiệm dến sinh trưởng củangựa Bạch giai đoạn 7 – 12 tháng tuổi
- Từ kết quả đó, khuyến cáo giống cỏ phù hợp với chăn nuôi ngựa Bạchphát triển trong sản xuất
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trang 6Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị phục
vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và sản xuất
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những nghiên cứu mới của đề tài sẽ góp phần lựa chọn giống cỏ, mức bónphân đạm phù hợp để cỏ có năng suất, giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng nhu cầuthức ăn thô xanh cho chăn nuôi ngựa Bạch tại các tỉnh vùng núi phía Bắc
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa đối với phát triển chăn nuôigia súc ăn cỏ khi diện tích chăn thả đang bị thu hẹp
- Góp phần đẩy mạnh chương trình phát triển chăn nuôi bền vững
3.3 Ý nghĩa hiệu quả về xã hội
Những nghiên cứu mới của đề tài sẽ góp phần vào việc nâng cao thunhập, cải thiện đời sống cho người chăn nuôi, góp phần xóa đói giảm nghèo
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc tính sinh học của cỏ thí nghiệm
1.1.1 Cỏ Panicum maximum hamill
* Nguồn gốc:
Cỏ Panicum maximum hamill (P hamill) thuộc nhóm cỏ Ghine có
nguồn gốc từ các nước nhiệt đới thuộc Châu Phi, được đưa vào trồng ở Nam bộ
từ năm 1875 và đưa vảo trồng ở Bắc bộ (Hải Kiến) năm 1900 Cỏ đã đượctrồng lâu tại Việt nam, nhưng thực tế những năm thăng trầm của kinh tế
và việc phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp không được chú ý,
giống cỏ này đã bị mai một không được phát triển trong sản xuất Cỏ thí
nghiệm được nhập giống bằng hạt từ Thái Lan (Búi Quan Tuấn, 2005)[66]
Cỏ có thể gieo trồng bằng hạt hay búi Nếu trồng bằng búi thì cầnchuẩn bị búi nhỏ khoảng 4 - 5 tép, trồng theo hàng cách nhau 50 - 60 cm hốcách nhau 30 - 50 cm, lấp sâu khoảng 12 - 15 cm Trồng xong nên tưới chonẩy mầm Giống cần chọn ở đồng cỏ lâu năm, cắt rễ ngắn còn 2 cm, thân dài
20 cm Lượng giống cần khoảng 2 - 2,5 tấn/ha Nếu trồng bằng hạt thì gieo 15
- 20 kg hạt theo hàng hay vãi vung Tuy nhiên nếu hạt giống tốt thì 1 ha chỉ
cần 5 kg hạt là đủ 1 kg giống P hamill có khoảng 1.750.000 - 2.200.000 hạt (ở Mỹ) Theo Panga (1978) [101] cho biết hạt giống cỏ P hamill thu được ở
Cu Ba là 395 kg/ha và 100 kg/ha ở Srilanka sử dụng trồng để chăn nuôi ngựa.Thời vụ trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa Đất trồng chuẩn bị kỹ, bón lótphân chuồng 10 - 15 tấn, 10 kg lân và 50 kg kali Phân đạm được bón khithiết lập đồng cỏ và sau mỗi lứa thu hoạch Cỏ có thể dùng để chăn thả, làm
cỏ xanh, sau đó 30 - 40 ngày thu hoạch một lần Cỏ mọc thành khóm có chiềucao từ 30 - 50 cm Cỏ thích nghi tốt với thời tiết khô lạnh, thời gian cắt trungbình từ 45 - 50 ngày/lứa (Thái Đình Dũng và cs, 1979) [22]
Trang 8Cỏ có thân cao tới 2 - 3m, không có thân bò, chỉ phân nhánh và tạothành bụi Bẹ lá mọc quanh gốc có màu tím, cả bẹ và lá có lông nhỏ và trắngnhất là ở bẹ lá Những lá phía trên ngắn và có bẹ lá dài nên không che nắng chonhững lá dưới, lá có khả năng xoay theo chiều nắng Tỷ lệ lá/thân là 5/7, cụm
hoa hình chùy đặc trưng của Panicum, hạt hoa dẹt, cũng có lông nhỏ và mịn.
Bộ rễ có nhiều nhánh, phát triển rất mạnh, thích hợp ở nhiệt độ 25 - 37oC và
ẩm độ 80% Cỏ thường phân bố trong khoảng 16,3 - 28,70 vĩ độ Bắc TheoEvans T R (1967)[84] độ cao có thể đến 2500 m so với mực nước biển.Lượng mưa bình quân là 1000 mm/năm Cỏ không có khả năng sinh trưởng ởvùng đất hay bị ngập lụt Cỏ cũng không thực sự chịu hạn nhiều Cỏ có thểthích ứng với nhiều loại đất nhưng cho năng suất cao khi đất nhiều mùn
và dinh dưỡng cao Cỏ thích nghi với những vùng đất dốc, nên nhiều nơi
sử dụng chúng để trồng trên các đường đồng mức hay trồng để bảo vệ đấtchống xói mòn (Võ Văn Chi và cs, 1976) [11]
* Năng suất
Ở vùng South Johnstone, Queensland cho năng suất 60.000kg VCK/hakhi được bón 300 kg Nitơ (Middleton & MeCosker,1975)[99] Khi cỏ đượcbón 440 kg Nitơ/ha thì thu được 26,846 kg VCK/ha khi cắt cỏ ở giai đoạn 40ngày Ở Việt Nam, năng suất đạt 50 - 100 tấn cỏ tươi/ha và có thể lên tới 130
- 180 tấn/ha (Nguyễn Đăng Khôi và cs, 1981)[43] Mỗi năm cỏ Ghine chokhoảng 9 lứa cắt Năng suất cỏ biến đổi theo mùa Cỏ có năng suất 8,13 tấn/
ha vào mùa khô và đạt 10,5 tấn/ha vào mùa mưa
* Thành phần hoá học
Ở Coasta Rica người ta đã phân tích được thành phần hóa học như sau:protein thô 7,81% VCK, xơ thô 30,62% VCK, mỡ thô 2,33% VCK, khoáng8,36 % VCK, vào giai đoạn cây chuẩn bị ra hoa Phân tích của (Davies , J , G1970) [82] ở Tanzania và Thái Lan cho thấy lượng protein biến động trongkhoảng 5,3 - 6,0% VCK
Trang 9Theo Lê Hòa Bình và cs (1992)[6], năng xuất chất xanh của cỏ P hamill
tại Long Mỹ là 56,91 tấn/ ha/ năm, tại Sơn Thành đạt 92,9 tấn/ ha/ năm, tại Ba Vìđạt 86,3 tấn/ ha/ năm và tại Thụy Phương đạt 90,5 tấn/ ha/ năm
Theo Từ Quang hiển và cs (2002)[33], thành phần dinh dưỡng của cỏ
Ghine như sau: Nước 80%, protein 2,32%, mỡ 1,43%, xenlulose 5,56%,
khoáng 1,38%, và cứ 5 kg cỏ này tương ứng với 1 đơn vị thức ăn
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ và cs (1993)[36] cho
biết cỏ Ghine giai đoạn 4 tuần tuổi có tỷ lệ protein thô đạt từ 10,5 – 17,0%,
tỷ lệ xở thô từ 29,0 – 39,0%, tỷ lệ Ca từ 1,06 – 1,37% và tỷ lệ P từ 0,21 –0,27% Cỏ ở 6 tuần tuổi tỷ lệ protein thô, xơ thô, Ca, P lần lượt đạt từ: 8,0– 9,0%, 32,0 – 39,0%, 0,75 – 1,02%, 0,21 – 0,23% và 8 tuần tuổi là: 6,5 -7,0%, 35,0 - 42,0%, 0,70 - 0,99%, 0,19 - 0,21%
ôm lấy thân, bẹ lá và lá có lông nhỏ mịn Thân và lá nhỏ, mềm vì vậy gia súcthích ăn
B mulato 2 là kết quả lai tạo từ dự án đồng cỏ CIAD nhằm tạo ra giống
có đặc tính nông học bền vững thích nghi rộng rãi, năng suất và chất lượng thức
ăn cao hơn, chống chịu với rệp, nấm Mulato 2 là cỏ lai giữa B.ruziziensis sinh sản hữu tính với B decumbens, từ quá trình lựa chọn thế hệ sau và tiếp hợp vô tính với các dòng B.brizantha Kết quả đã tạo ra giống cỏ Mulato 2 Mulato 2 đã được đưa về
nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu và Đồng cỏ Ba Vì để đánh giá thông qua đề tài
Trang 10“Nghiên cứu xác định bộ giống cỏ phù hợp làm cây thức ăn gia súc ở Đồng bằng BắcBộ” (Dương Quốc Dũng,1999) [23]
* Năng suất
Cỏ có số lượng hoa lớn và hoa nở hàng loạt do vậy cỏ cho năng suất hạtkhá cao từ 150 - 420 kg/ ha Tỷ lệ nẩy mầm của hạt không cao vì vậy giống cỏ
này thường được trồng bằng gốc Ở đất tốt, cỏ Mulato 2 cho năng suất chất xanh
đạt trên 100 tấn ha/năm (100-150 tấn) Nếu trồng cỏ ở đất có lượng màu mỡtrung bình, cỏ cho năng suất trên 80 tấn/ ha/năm Năng suất trong năm của cỏ tậptrung vào mùa mưa từ 60 – 73,5% so với sản lượng cản năm
- Thời vụ: Cỏ có thể trồng vào tháng 3 đến tháng 9 hàng năm Nhưng
tốt nhất là trồng vào tháng 3 đến tháng 4 vì thời gian này trời bắt đầu bướcvào mùa mưa đất ẩm làm cho cây nhanh bén rễ và nẩy mầm
Sản lượng chất xanh hàng năm của cỏ đạt từ 80 - 150 tấn/ ha Cỏ cóthể sử dụng làm thức ăn xanh, phơi khô và cũng có thể trồng làm bãi chănthả gia súc
- Thu hoạch và sử dụng: Cỏ sau khi trồng từ 50 - 60 ngày có thể tiến
hành cắt lứa đầu tiên, khoảng cách giữa các lứa cắt sau khoảng từ 30 - 40ngày Khi cắt phải chừa lại khoảng cách không quá 3 cm Yêu cầu cỏ phảiđược cắt đúng lứa
* Thành phần hoá học
Theo Nguyễn Văn Quang (2002) [55] cho biết thành phần hóa học
của cỏ Mulato 2 là: VCK đạt 26,40%, protein là 11,34%, lipit là 3,69% và
tỷ lệ xơ là 9,78%
1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cỏ
Như chúng ta được biết cơ thể thực vật và điều kiện ngoại cảnh có mốiquan hệ hết sức chặt chẽ với nhau Khi điều kiện ngoại cảnh thay đổi sẽ kéotheo sự thay đổi quá trình trao đổi chất và khả năng tích luỹ chất khô của thựcvật và có thể làm thay đổi thành phần hoá học của thực vật, nhất là vùng á
Trang 11nhiệt đới (Cooper J.P và cs, 1968) [15] Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suấtchất lượng cỏ đó là:
1.2.1 Phân bón
- Cơ sở lý luận xây dựng chế độ phân bón và sử dụng phân bón cho câytrồng Lượng phân bón nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau sẽ ảnhhưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Từ đó sẽ dẫn đến
sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần các chất dinh dưỡng củacây trồng Những bãi chăn thuộc loại trung bình (sản lượng cỏ khô 2,5 tấn/ha/năm) thì một năm tiêu tốn khoảng 70 kg N; 7,5 kg P; 37 kg Ca và 60 kg K/ha
Vì vậy, hàng năm phải bón một lượng lớn hơn thế để bù đắp cho cây (TừQuang Hiển và cs, 2002)[32] Cần có lượng phân bón đủ, phù hợp cho mỗiloại cỏ, mỗi mùa trong năm, mùa mưa cỏ có khả năng sử dụng phân nhiều vìsinh trưởng tốt cho năng suất cao Nhưng mùa đông, sinh trưởng của cỏ kém,nhu cầu sử dụng phân hạn chế hơn, đồng thời phải xác định lượng các chất cótrong đất để xác định lượng phân cần phù hợp
Theo (Rhykerd C L., and Noller C H 1973)[103] muốn nâng caonăng suất cây trồng, một trong những biện pháp của Rumani đã khẳng định là
“Không có cách nào hiệu lực hơn để nâng cao năng suất cây trồng bằng cáchdùng phân bón” (Singh R N, 1967) [107] Theo Nguyễn Đức Quý 2006 [57]năng suất chất khô / 1 ha của cây thức ăn là sự phản ánh của đất và lượng mưa.Nếu ta đưa một lượng cây thức ăn cho gia súc không được bón phân vào một hệthống canh tác theo kỹ thuật quảng canh trên đất xấu không thể đem lại năngsuất cao trên đất ấy Trong tất cả các nhân tố có ảnh hưởng đến sự phát triển củacây thức ăn gia súc, nhân tố phân bón chắc chắn là quan trọng nhất và là nhân tốsau này cần bố trí thí nghiệm
Để xác định chế độ phân bón cần khảo sát các đặc điểm: Đặc điểm sinh
lý của từng loại cây trồng và đặc điểm dinh dưỡng của từng loại cây trồng đó
Trang 12Tính chất của đất trồng Điều kiện khí hậu và thời tiết khu vực trồng Tínhchất của phân bón muốn sử dụng.
1.2.1.1 Phân đạm
* Vai trò của phân đạm
Trong 13 loại dưỡng chất thiết yếu cho cây trồng thì đạm đứng vị tríhàng đầu về lượng hấp thụ với tầm quan trọng cao nhất, chiếm 2 - 3% tổngvật chất khô của cây trồng Tuy nhiên đây lại là loại phân bón dễ thất thoát,đặc biệt qua con đường bay hơi khiến lượng đạm mà cây trồng hấp thụ đượcchỉ từ 30 - 40% lượng cung cấp Việc sử dụng phân đạm sao cho hiệu quả,tránh lãng phí và khi đạm vào trong cây sẽ được tổng hợp để giúp tạo thànhcác loại protein từ đơn giản đến phức tạp, hay còn gọi là chất thịt, thành phần
cơ bản của cơ thể sống Nó tham gia vào cấu tạo của axit nucleic và có vai tròquan trọng trong việc trao đổi chất của cơ thể cây trồng Ngoài ra, đạm còn làthành phần của diệp lục tố tạo nên màu xanh cho lá cây, đây chính là yếu tố thiếtyếu giúp thực vật quang hợp, biến đổi năng lượng của ánh sáng để chuyển đổinước và cacbonic thành đường bột, nuôi sống toàn thể giới động vật
Phân đạm là thức ăn chính của cây, giúp cho chồi, cành lá phát triển; lácó kích thước to sẽ tăng khả năng quang hợp từ đó làm tăng năng suất câytrồng Thiếu đạm, cây sẽ sinh trưởng còi cọc, lá già, toàn thân biến vàng, toàn
bộ quá trình sinh trưởng của cây sẽ bị trì trệ do thiếu chất hình thành tế bào,các quá trình sinh hóa cũng bị ngưng trệ
Khi bón thừa phân đạm, cây trồng sẽ lớn nhanh, đẻ nhánh nhiều, dễ bị
đổ ngã, cây chậm ra hoa và khó đậu quả Mặt khác, thừa đạm làm tăng mức
độ lây nhiễm sâu bệnh do lá mềm, màu sắc xanh đậm của lá thu hút các loạicôn trùng và nấm bệnh gây hại, các bất lợi đem lại khi bón thừa phân đều docây “quá bổ” Đơn cử như đạm có tác dụng làm cây lúa phát triển cao lên, khithừa thì làm cho nó dài ra, dẫn đến việc cây dễ đổ ngã
Trang 13Thất thoát đạm và phương pháp hạn chế: Đạm urê dùng để bón cho cây(NH2)2CO là chất rắn màu trắng, tan tốt trong nước, chứa khoảng 46% N Khigặp nước, urê sẽ bị thủy phân tạo thành đạm amôn (NH4), đây là loại đạm câycó thể hấp thu được Tuy nhiên, khi cây trồng không hấp thụ kịp, amôn nhanhchóng bị enzim thủy phân, phân giải thành amôniac (NH3) Theo Nguyễn VănViết (2006)[71] ẩm độ trong không khí ở mỗi mùa khác nhau trong sinhquyển ở Việt Nam có ảnh hưởng lớn đề khả năng sinh trưởng của cây trồng,khi ẩm độ quá thấp bón phân đạm có thể thất thoát do bốc hơi và cây khó hấpthu, nhất là mùa đông ở Bắc bộ.
Bên cạnh đó, đạm urê còn bị phản nitrat hóa, tạo thành oxit nitơ Đấy là
2 con đường bay hơi của đạm, gây thất thoát chủ yếu khi sử dụng Ngoài ra,còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thất thoát như nhiệt độ, pH của đất, pHcủa nước, mực nước trong ruộng,… Vào lúc thời tiết nắng nóng, lượng đạm
bị mất trong một ngày có thể lên đến 50%
Hàm lượng nitơ tổng số trong đất khoảng 0,05 - 0,25 %, phần lớnchứa trong các hợp chất hữu cơ (chiếm 5 % trong mùn), do đó, nhìnchung đất càng giàu mùn thì nitơ tổng số càng nhiều (Hamphray L,R1980) [26]
Theo Nguyễn Vy và cs , (2006) [75] đạm có trong thành phần protein,các axit amin và các hợp chất khác tạo nên tế bào Đạm có trong thành phầnchất diệp lục, nguyên sinh chất Đạm còn có trong các men của cây, trongADN, ARN, nơi khu trú các thông tin di truyền của nhân bào (Ngô Thế Đặng
và cs, 1999) [18]
Cây được bón đủ đạm, lá có mầu xanh tươi, sinh trưởng khỏe mạnh(Đào Văn Bảy và cs , 2007) [4] Đủ đạm, chồi búp cây phát triển nhanh, cành
lá, nhánh phát triển mạnh, đó là cơ sở để cây trồng cho năng suất cao (Kanno
T và Macedo MCM, 1999)[94] nếu bón thừa đạm thì cây phải hút nhiều nước
Trang 14để giải độc amon nên tỷ lệ nước trong thân lá cao, thân lá vươn dài, mềm mại,che bóng lẫn nhau và gây ảnh hưởng tới quang hợp Bón nhiều đạm, tỷ lệ diệplục trong lá cao, lá có mầu xanh tối, quá trình sinh trưởng (phát triển của thân,lá) bị kéo dài, cây thành thục muộn, phát triển um tùm, dễ đổ lốp, dễ mắc sâubệnh, rễ cây kém phát triển Nếu thiếu đạm, cây cỏ sẽ cằn cỗi, lá kém xanh, rahoa kém và thưa thớt, ít quả, lúc này lá già sẽ chuyển đạm nuôi các lá non nên
lá già rụng sớm Cây thiếu đạm buộc phải hoàn thành chu kỳ sống nhanh, thờigian tích lũy ngắn, năng suất thấp Nhiều tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra ảnhhưởng của nitơ đến sản lượng đồng cỏ hòa thảo và tìm ra sự tương quan giữaliều lượng N được bón với năng suất chất xanh và hiệu quả bón phân(Kalmbcher RS, Brown WF,1977)[93]
* Liều lượng.
Về liều lượng bón đạm, các kết quả nghiên cứu chỉ ra như sau: Đối với
cỏ họ đậu, mức bón tối ưu cho đồng cỏ Alfalfa là 90 - 120 kg N/ha/năm, đối với cỏ Orchard là 140 kg N/ha/năm (Jung và Baker,1973) [92] và cỏ Orchard hỗn hợp với cỏ Tall fescure là 180 kg N/ha/năm (Lutz J A., Jr (1973) [95] Đối với cỏ hòa thảo: Liều lượng bón tối ưu cho cỏ Bermuda là 55 kg N/ha/lứa
cắt, hay 448 kg N/ha/năm, năng suất vật chất khô bắt đầu giảm khi vượt quá
450 kg N/ha/năm (Burton và Jacson, 1962) [80] Thí nghiệm của Schryver,(1971) [105] chỉ ra rằng, khi bón đạm tăng từ 0 - 940 kg N/ha/năm, thì sảnlượng vật chất khô đạt được tối đa ở mức bón 313 kg N/ha/năm và sản lượngvật chất khô bắt đầu giảm khi bón vượt quá 450 kg N/ha/năm, sản lượng cóthể tăng cho tới tận liều lượng bón 336 - 404 kg N/ha/năm, khi bón liều lượngtrên 500 kg N/ha/năm sản lượng cỏ sẽ giảm Tại Stillwater, Oklahoma, Mỹ
(Pumphrey, 1978) [102] nghiên cứu cỏ E.curvulla trong 4 năm cho thấy:
Năng suất VCK trung bình trong mùa hè từ tháng 7 đến tháng 11 là 3.178 kg/
Trang 15ha, khi không bón phân và 8,502 kg/ha, khi được bón 224 kg N và 45 kg
P2O5/ha
Khi lượng đạm bón cho đồng cỏ hòa thảo tăng, mức nitrat sẽ tăng theo
Vì vậy, chúng ta nên cảnh giác với khả năng ngộ độc nitrat, nếu bón quá liềulượng nitrogen (Rhykerd và Noller, 1973) [104]; Bón đạm có ảnh hưởng đến
độ ngon miệng và lượng cỏ ăn vào của gia súc Khi không bón đạm và bón ởcác mức vừa phải cho đồng cỏ hòa thảo, khi bón tăng lượng đạm sẽ tăng khảnăng thu nhận cỏ của gia súc Tuy nhiên, không có sự khác nhau về khả năng
ăn của gia súc đối với cỏ được bón đạm vừa phải và mức cao (Belesky và cs,1983) [79]
Như vậy, liều lượng đạm bón cho cỏ họ đậu và hòa thảo có sự khácnhau, với cỏ họ đậu thì thấp hơn, còn với cỏ hòa thảo thì cao hơn Liều lượngbón hữu hiệu cho cỏ họ đậu khoảng từ 100 - 200 kg N/ha/năm, còn cho cỏhòa thảo khoảng từ 300 - 400 kg N/ha/năm Bón liều lượng thấp quá, sảnlượng cỏ tăng không rõ rệt, bón cao quá lại làm giảm sản lượng cỏ Bón đạm
đã nâng cao chất lượng và tính ngon miệng của cỏ Tuy nhiên, cũng cần đềphòng bón đạm với liều lượng cao sẽ dẫn đến tích tụ nitrat trong cỏ và dẫnđến gây ngộ độc cho gia súc, với vùng á nhiệt đới trong mùa mưa có ảnhhưởng làm lượng tích tụ độc tố ít hơn (Xi Nen Si Cop V.V, 1963) [76]
1.2.1.2 Phân lân
* Vai trò của phân lân
Lân trong đất có thể ở dạng vô cơ hoặc hữu cơ, lân vô cơ chứa trongcác khoáng vật: apatit, photphorit, sivianit Lân hữu cơ là lân liên kết các chấthữu cơ Đó là các hợp chất trong thân thể vi sinh vật, rễ cây, những chất hữu
cơ đang phân giải và mùn Ở đất nhiều mùn, tỷ lệ lân hữu cơ có thể nhiều hơnlân vô cơ Nhiều thí nghiệm cho thấy lân hữu cơ trong đất cung cấp P2O5 chocây dễ dàng trong môi trường kiềm, ngược lại lân dễ dàng tan trong môi
Trang 16trường axit (Nguyễn Thị Thu Hồng và cs, 2006)[35] Sự biến hóa lân hữu cơtrong đất chủ yếu do vi sinh vật phân giải rồi thủy phân thành lân vô cơ Hiệnnay một trong những biện pháp nâng cao hiệu lực phân lân bón vào đất làthông qua cây bộ đậu, biến thành dạng hữu cơ, sau đó vi sinh vật phân giải đểcung cấp dần cho cây (Trịnh Xuân Vũ và cs, 1976) [74 ].
Photpho là một nguyên tố đa lượng cần thiết cho cây trồng, nó đóngvai trò rất quan trọng trong sự sinh trưởng của thực vật và động vật Tác dụngcủa phân lân thể hiện ở vai trò của nguyên tố photpho đối với thực vật.Photpho tham gia tạo nên các vật chất di truyền (ADN, ARN, axit nucleic),các hợp chất cao năng (ADP, ATP, ) Photpho còn có tác dụng làm tăng cườngphát triển bộ rễ cây (đặc biệt là thời kỳ đầu sinh trưởng) Cây đủ photpho, bộ rễphát triển sớm, lông hút xum xuê, là cơ sở tạo bộ rễ vững chắc để cây hút chấtdinh dưỡng và phát triển tốt Thiếu photpho ảnh hưởng xấu đến quá trình hìnhthành và chắc hạt, nên năng suất hạt giảm rõ rệt, Nguyễn Công Vinh (2002)[72]
Đối với cỏ Pennisetum polystachyon, bón ban đầu là 448 kg super photphat/ha,
bón hàng năm là 228 kg/ha (Điền Văn Hưng, 1974) [37]
* Liều lượng
Như vậy, cần phải bón liều lượng phân lân lớn cho đồng cỏ mới gieohoặc trồng lần đầu tiên, liều lượng này vào khoảng 300 - 500 kg superphotphat tương đương với 60 - 100 kg P2O5/ha
1.2.1.3 Phân kaly
* Vai trò của phân kali
Kali làm tăng vai trò quang hợp của lá, tăng cường sự hình thành bómạch, giúp cây cứng cáp, góp phần vào việc chống đổ lốp cho cây Kali cònkích thích sự hoạt động của các men, do đó, cây tăng cường trao đổi chất,tăng hình thành axit hữu cơ, tăng trao đổi đạm, tổng hợp protit, do vậy mà hạnchế tích lũy nitrat trong lá, tăng khả năng chống rét và tăng khả năng đẻ
Trang 17nhánh Kali giúp cho cây trồng không hút đạm ồ ạt, nói một cách khác làchống bội thực đạm của cây, tránh hiện tượng lá thì nhiều, mà hạt và quả thì
ít Kali được cây tiêu thụ rất lãng phí, đặc biệt là cỏ hòa thảo Cây có chiềuhướng hấp thu số lượng kali nhiều hơn giới hạn chúng đòi hỏi cho sinh trưởng
và phát triển thích hợp (Lutz, 1973)[95]
1.2.1.4 Phân chuồng
* Vai trò của phân chuồng
Bón phân hữu cơ có thể cung cấp trực tiếp chất dinh dưỡng cho cây,làm tăng năng suất và phẩm chất cây trồng, cần được bón lót (Sallette J E,1974)[58] Đặc biệt, bón phân hữu cơ làm tăng số lượng và cường độ hoạtđộng của vi sinh vật trong đất, góp phần làm tăng thêm hàm lượng các chấtdinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng (Nguyễn Đăng Nghĩa, 1997)[50] Theo ĐỗÁnh (2005)[3] đầu tư bón phân hữu cơ cao 40 tấn/ha, năng suất cỏ voi thu cắtđạt 200 tấn/ha/năm
1.2.2 Mật độ trồng
Trong sản xuất để đạt được năng suất và chất lượng cao thì phải tìmbiện pháp để đạt được quần thể có kết cấu hợp lý mà tại đó, tích của các yếu
tố là cao nhất Một trong những biện pháp quan trọng là bố trí quần thể hợp
lý, nó ảnh hưởng đến số nhánh tối đa, số nhánh hữu hiệu Nếu mật độ thưa, số
Trang 18nhánh / m2 thấp gây lãng phí đất, năng suất cũng thấp Nếu mật độ quá dầy,ảnh hưởng đến chế độ dinh dưỡng, ánh sáng, quần thể rậm rạp, dễ đổ sẽ dẫnđến năng suất thấp Theo Nguyễn Văn Quang (2002)[56] nghiên cứu mật độtrồng cỏ giống TD 58 mật độ khóm cách khóm 50 x50 cm sẽ đủ điều kiện ánhsáng và quang hợp cây phát triển tốt Theo Nguyễn Văn Viết (2006)[71] sửdụng cây trồng theo mục đich, nếu cây khai thác làm giống cần có khoảng cáchmật độ thưa để cứng cây không đổ, năng suất hạt chắc tăng lên Trồng cây sửdụng lá cần trồng mật độ vừa phải và dày cây tăng lá, vóng cao, mềm cây.
1.2.3 Thời điểm cắt
Muốn năng suất nhiều thì người trồng cỏ thường khai thác khi có sinhkhối lớn nhất, mặc dầu khi ấy có thể dinh dưỡng bị giảm, nên việc khai tháctheo lứa phù hợp cho từng loại cỏ và mùa vụ để cỏ đạt cao về sinh khối và giá trịdinh dưỡng là cần thiết (Phan Đình Thắm, 2004) [60] Có thể thu hoạch 2 - 10lần/năm, phụ thuộc vào điều kiện sinh thái tứng vùng, thường đạt đến sản lượngcao nhất và chất lượng tốt nhất tại thời điểm liên quan tới giai đoạn thành thục(Marten.G.V, 1970) [98]
Cắt quá ít lần trong năm, cỏ già, chất lượng kém, ảnh hưởng đến lứa táisinh sau và ảnh hưởng đến sản lượng cả năm Còn cắt nhiều lần trên năm, cỏnon, mềm, tỷ lệ tiêu hóa cao, tỷ lệ protein cao Tuy nhiên, nếu cắt quá nhiềulần trong năm cũng không tốt, sẽ làm giảm khả năng tái sinh và năng suất cỏ;
Theo Hare và cs, (2001)[96] cho biết thu cắt cỏ P atratum ở khoảng cách cắt
30 ngày chất lượng cỏ cao hơn so với thu cắt ở khoảng cách cắt 60 ngày và
sản lượng vật chất khô giảm với sự sai khác không có ý nghĩa, cỏ B.multica
cắt ở 30 ngày có tỷ lệ vật chất khô ít hơn 40% so với cắt ở 60 ngày
1.2.4 Ảnh hưởng của giống cỏ
Theo tài liệu của Viện Chăn nuôi Quốc gia (2001)[68], đối với cây cỏhòa thảo ngoài tự nhiên thì hàm lượng các chất dinh dưỡng rất khác nhau có
Trang 19tỷ lệ VCK thấp như cỏ bấc với 13,10% vật chất khô, 2,10% protein thô,0,20% lipit thô, 3,90% xơ thô, 5,50% dẫn xuất không đạm và 1,40% khoángtổng số Một số cỏ có mức trung bình về vật chất khô như: cỏ Mộc Châu mọc
tự nhiên có 23,88 % vật chất khô, 2,54% protein thô, 0,51% lipit thô, 8,67%
xơ thô, 10,13% dẫn xuất không đạm; 2,03% khoáng tổng số; cỏ Ghine có
21,00% vật chất khô, 2,70 % protein thô, 0,40% lipit thô, 7,50 % xơ thô,8,70% dẫn xuất không đạm và 1,70% khoáng tổng số
Giá trị dinh dưỡng của cây thức ăn rất khác nhau giữa các giống cỏ,chúng ta cần có những lựa chọn phù hợp giống cỏ để sử dụng trồng và cho giasúc sử dụng phù hợp, hiệu quả
1.2.5 Ảnh hưởng của mùa vụ đến năng suất trên lứa
Từng vùng khác nhau có điều kiện sinh thái, khí hậu khác nhau, nhưngtrong năm có mùa khác nhau chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố thời tiết đến năngsuất cỏ (mùa khô và mùa đông năng suất cỏ chỉ đạt 45 - 50% so với mùa mưa)
Cỏ Pangola ở Beerwah, nam Queensland, với tổng lượng mưa hàng
năm 1.075 mm, có sản lượng trung bình là 10.565 kg/ha/năm, khi cỏ đượcbón phân đầy đủ Theo Evans (1967)[84] đã đạt năng suất 113 kg vật chấtkhô/ha/ngày vào mùa hè, nhưng chỉ đạt 2,25 kg vật chất khô/ha/ngày vào mùađông mặc dù cùng một chế độ bón phân Ở phía bắc Queensland với lượngmưa lớn hơn và được bón 220 kg N, 22 kg P2O5 và 55 kg K2O/ha/năm thì sảnlượng của giống cỏ này đã đạt 28.282 kg vật chất khô/ha/năm
Theo Phan Thị Phần (1999)[54] nghiên cứu cỏ Ghine TB58 tại Ba Vìcho thấy năng suất cỏ trong mùa mưa đạt 88 tấn / ha/ năm, nhưng 6 thángmùa đông xuân năng suất chỉ đạt 38,7% sản lượng bình quân
Như vậy, kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy, cùng một giống
cỏ sản lượng của cỏ cũng thay đổi theo mùa vụ và sản lượng trong mùa khô làthấp hơn rõ rệt, cần có sự chăm sóc phù hợp
1.3 Giới thiệu về ngựa Bạch
Trang 20* Nguồn gốc xuất xứ
Ngựa Bạch là gia súc lớn không có sừng, theo phân loại động vật thì
ngựa thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), bộ móng lẻ (Perissodactya),loài ngựa (Equis Caballus) Ngựa Bạch có số lượng ít, hiện nay được nuôi rải rác ở
các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lai Châu… Ngựa Bạchcũng có khả năng làm việc và chịu đựng kham khổ tốt, có thể phát triển tốt ở cácđịa phương trên Trong nhiều năm qua ngựa Bạch còn được thảo luận là mộtgiống hay một nhóm giống Năm 1999 ngựa Bạch được đánh giá đây là mộtgiống ngựa quý (có lông màu trắng, các lỗ tự nhiên trắng hồng, mắt hồng, nênngựa Bạch trong nhân dân còn được gọi là ngựa Bạch nhạn) đang có số lượnggiảm dần do người dân săn lùng, giết thịt, lấy xương nấu cao nấu cao cần đượcbảo tồn (Viện Chăn nuôi, 1999) [69]
* Khả năng sinh trưởng của ngựa Bạch
Ngựa Bạch có ngoại hình trưởng thành nhỏ, chiều cao vây con đực 115,20
cm và con cái 111,34 cm, khối lượng con đực 172,60kg, con cái 161,82 kg(Nguyễn Hữu Trà, 2007) [64] Theo Viện Chăn nuôi (1999)[69] ngựa Bạch ở 6tháng tuổi có khối lượng đạt 73 - 85 kg, ở 12 tháng tuổi đạt 90-110 kg, ngựaBạch trưởng thành có khối lượng 110-170 kg
* Nuôi dưỡng ngựa Bạch
Theo Đặng Đình Hanh và cs (2001) [27] nhu cầu dinh dưỡng ngay sausinh với ngựa con rất quan trọng, cần được bú sữa đầu (sữa đầu có kháng thể)
Từ sơ sinh đến 1 tháng tuổi ngựa con hoàn toàn được nuôi bằng nguồn sữa
mẹ, phụ thuộc chế độ chăm sóc cho ngựa mẹ mà lượng sữa được tăng dần từkhi mới đẻ đến 30 ngày Thời điểm sau 1 tháng cần thiết mỗi ngựa con bổ sungcho ăn thêm từ 0,5 kg thức ăn là cỏ non / ngày, cho ăn tự do và nâng lên đến 4 kg/ngày khi ngựa đạt 3 tháng tuổi Từ tháng thứ 2 cho thêm thức ăn tinh là nguồncám hỗn hợp hoặc cám gạo doa, thức ăn tinh bột được hòa ẩm cho ăn để tránhngựa bị sặc thức ăn, thức ăn tinh cho ăn 0,1 - 0,3 kg/ con/ ngày
Trang 21Sau 3 tháng nuôi con sữa mẹ bắt đầu cạn dần và chất lượng sữa cũnggiảm dần, ngựa con đã lớn nhu cầu thức ăn nhiều lên, sữa từ ngựa mẹ chỉ cókhả năng cung cấp cho con được 60% và giảm đến 15% từ sau 3 tháng đến 6tháng (Lê Viết Ly, 2000) [48] Nguồn thức ăn thô do ngựa ăn vào và bổ sungthức ăn tinh để đảm bảo dinh dưỡng cho ngựa Thức ăn cho ngựa con ăn là cỏ
tự nhiên, các loại thức ăn là phụ phẩm nông nghiêp như lá, thân cây ngô, cỏgiống mới Các thức ăn cho ngựa con được chế biến cắt ngắn 2 - 3 cm, chongựa ăn nhiều bữa trong ngày Theo Caple I.W và cs (1982) [81] tính cho100kg trọng lượng cần năng lượng 7200Kcal, protein 350 g, muối 8 g, Ca 6g,
tỷ lệ thức ăn tinh 40%
Tính cho 100kg khối lượng ngựa cần năng lượng 7250Kcal, protein
250g, muối 7g, Ca 6g, tỷ lệ thức ăn tinh 35% Thức ăn thô xanh được chia
nhiều bữa hoặc ăn tự do trong ngày (Đặng Đình Hanh và cs, 2002) [28] Ngựa
là gia súc có hệ tiêu hoá dạ dày đơn nên nhu cầu dinh dưỡng hằng ngày cầncó tinh bột, năng lượng từ tinh bột cần 2000 - 2200 kCal/ 100P (MarciaHathaway, 2010)[97] Ngựa là động vật tiêu hoá manh tràng luôn cần có tỷ lệthức ăn thô trong tiêu chuẩn ăn > 50% (Schryver, H , F , H , F, Hintz và P, H ,Craig, 1971) [106] a
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.4.1.1 Nghiên cứu về lượng phân bón
Trên thế giới hiện nay ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống
cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề
năng suất, chất lượng cỏ Theo Pal J, (1982 )[100] giống cỏ B decumbens có
thể đạt năng suất chất khô trên 40.000kg/ha/năm với thí nghiệm không có bónđạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân
và đạm thấp
Trang 22Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống Paspalum dilatatum là 15 000 kg VCK, Tại Fiji năng suất trung bình là 5.313 kg
VCK/ha với mức protein thô là 9,9% (Dr,Sochadji, 1994)[83]
Theo Humphrey (1991)[91] thông báo năng suất cỏ Setaria sphacelata
đạt từ 23.500 – 28.000 kg/ha qua mùa sinh trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏđược tưới nước và cung cấp 225 kg đạm ure/ha/năm trên nền đất baza mầu mỡ
Tại Trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (TháiLan) cỏ Ghine tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50 x50cm và được bón phân hỗn hợp (15-15-15) trước khi trồng ở mức 300 kg/hatương đương 18 tấn phân bón / 1ha (Hare M D, 2001) [86] Lượng cỏ thuhoạch khoảng 8,9 tấn/ha ở lứa đầu (70 ngày sau trồng) và khoảng 2,6 đến 7,1tấn/ha cắt sau 30 ngày (M.D Hare, P.Booncharern, P Tatsapong, 2004)[88]
Theo Hoàng Chung (2006)[14] giống B decumbens có thể đạt năng
suất chất khô trên 42.000 kg/ha/năm với thí nghiệm không bón đạm nhưngbón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm thíchhợp Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng suất chất khô đạt 36.700 kg/ha, kết
quả này cao hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens) và Ghine (Panicum maximum)
Tại Purertorico, Vieente – Chandler Silva Middleton, (1975) [99] thông
báo năng suất giống Panicum maximum Cv Makueni đạt 26.846 kg VCK/ha
và cứ 40 ngày cắt 1 lần khi trồng cỏ và cho biết vào năm 1973 và 1974 tại
miền Nam Johnstone, vùng Queensland, vẫn giống Panicum maximum Cv
Makueni đã sản suất được 60.000 kg VCK/ha với điều kiện cung cấp 300 kgđạm/havới mức bón 440 kg đạm/ha Tại Samford, Queensland năng suất hàng
năm của giống Paspalum rinatatum là 15.000 kg VCK/ha (Davies, 1970)[82] Đối với giống cỏ Setaria sphacelata các kết quả nghiên tại Redlanbay,
Trang 23Queensland, thông báo năng suất đạt từ 23.500 - 28.000 kg/ha qua mùa sinhtrưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm/ha/năm trên nền đất đỏ Bazan mầu mỡ.
1.4.1.2 Nghiên cứu về năng suất
Theo Division of Animal Nutrition, Anon (2000) [77] sản lượng VCK
của cỏ B mutica đạt từ 9-15 tấn/ ha và sản lượng protein đạt từ 6 - 10%, cỏ Digitaria decumbens có sản lượng VCK từ 15 – 20 tấn/ ha, sản lượng protein
là 7 – 11%, sản lượng VCK của cỏ Paspaluatratum là 18 – 25 tấn/ ha và sản lượng protein là 6 -7, cỏ Paspalum plicatulum có sản lượng VCK từ 6 – 10
tấn/ ha và sản lượng protein từ 5 – 6%
Với hai giống cỏ là cỏ Paspalum atratum và Paspalum plicatulum là
những loài cho sản lượng hạt giống lớn, có thể tới trên 600kg/ha (Nguyễn ThịThu Hồng, 2006) [35] Do vậy, hai giống này đã được phân bố rộng rãi ở Thái
Lan Theo Hare M.D và cs (1997) [87] cho biết các cỏ B multica và Paspalum atratum khi không có cây bộ đậu và dưới điều kiện cằn cỗi, nằm
thấp, đất khô ở vùng tây bắc Thái Lan phát triển tốt ở năm đầu, năng suấttrung bình là 20 tạ/ha VCK Không có sự sai khác có ý nghĩa về sản lượnggiữa hai loài và không khác nhau về sản lượng giữa khoảng cách thu cắt 45
ngày và 65 ngày ở mùa mưa đầu tiên Còn ở mùa mưa thứ hai Paspalum atratum sản xuất 30 tấn/ha VCK lớn hơn 10tạ/ha so với B multica
1.4.1.3.Nghiên cứu sử dụng cho gia súc
Để chọn làm cỏ chăn thả hay thu cắt cần phải dựa vào các nhân tố sau
để xét và quyết định hướng sử dụng cho từng loại cỏ như: Tính ngon miệngcao, nhất là cỏ thu cắt phải có giá trị dinh dưỡng cao để đáp ứng nhu cầu giasúc về các mặt, có khả năng cạnh tranh điều kiện sinh tồn và khả năng đượctrồng kết hợp, có khả năng chịu đựng sự dẫm đạp liên tục của gia súc và cỏ
Trang 24thu cắt phải chịu được sự cắt và nén của máy thu hoạch; cỏ chăn và cỏ cắt đềuphải có năng suất cao để đảm bảo nhu cầu gia súc và giảm diện tích gieo trồng
Trên thế giới ở những nước có nền chăn nuôi ngựa phát triển vấn đềcây thức ăn rất được quan tâm đầu tư nghiên cứu như ở Úc, Mỹ, Liên Xô cũ,Mông Cổ… Theo Horne PM, và Stur WW (1999 )[90] ở Trung Quốc cây
thức ăn được chú trọng phát triển và đã xác định được những giống cỏ Stylo, Brachiria, Penicetum, Panicum sử dụng có hiệu quả cho gia súc đặc biệt là
ngựa, khả năng sử dụng của ngựa là từ 85 - 95% Theo Dr.Sochadji (1994)[83] tại Indonexia 90% ngựa được nuôi tại vườn nhà, hoặc các trang trại nhỏ,
được trồng các giống cỏ Panicum, Macxicum, Paspalum atratum, Stylo… các
giống cỏ này đều phát triển tốt và cung cấp nguồn thức ăn cho ngựa tại nhà.Đặc biệt những giống cỏ này còn được nghiên cứu trồng trên đất giốc theođường đồng mức chính vì vậy nó đã cung cấp đủ thức ăn cho ngựa tại nhà ởnhững vùng cao
Tại Mỹ nghiên cứu trên các giống cỏ Brachiria Decumben cho năng
suất đạt từ 12300 - 13000 kg/ha Tại Samford Queeslend có chương trình
chuyên nghiên cứu về thức ăn cho gia súc thử nghiệm các giống cỏ Paspalum Dilatum đạt năng suất 15000kg VCK/ lứa Từ các giống cỏ này được nhân
rộng và một trong những giống chủ lực trong chăn nuôi gia súc nói chung vàngựa nói riêng (Holt EC và Houston HC, 1954)[89]
1.4.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.4.2.1 Nghiên cứu trồng cỏ
Hiện nay ta đang nghiên cứu một số giống cỏ nhập nôi, nghiên cứu chọnlọc giống có khả năng sản suất cho số lượng lớn và nâng cao chất lượng, quanghiên cứu một số giống cỏ được lựa chọn cho chăn nuôi gia súc, nhữngnghiên cứu cho đối tượng chăn nuôi ngựa còn hạn chế
Trang 25Theo Viện Chăn nuôi (2012)[70] năm 1990 theo chương trình VIE86/088 nhập 117 giống cây thức ăn họ đậu, hoà thảo khác nhau từ Oxtraylia.Năm 1995 chương trình nhập cây thức ăn cho nông hộ đã nhập 70 giống trongđó có 51 giống cây họ đậy và 19 giống cây hoà thảo Từ Casio, CIAT Năm
1997 thông qua chương trình hợp tác Quốc Tế nhập 10 giống Stylo từ Trung
Quốc, Philippin và Thái Lan Năm 1998 nước ta đã nhập 55 giống cây thức ăntrong đó có 15 giống cây họ đậu và 40 loại cây hoà thảo
Thông qua chương trình hợp tác quốc tế với trường đại học Hohenheincủa Đức, 20 loại Flemingia được nhập vào nước ta Qua những giống cỏ trênnhập vào nước ta đã có nhiều giống cây thức ăn họ đậu và hoà thảo đã đượcnghiên cứu và trồng thử nghiệm trong sản xuất cho năng suất rất cao Tuynhiên có một số giống chưa có điều kiện trồng thử nghiệm trong sản xuất
Theo Hoàng Thị Lảng và cs (2004)[45] nông trường Đồng Giao từ năm
1969 việc xây dựng đồng cỏ chuyển sang hướng mới, thâm canh đồng cỏbằng trồng các giống mới, chăm sóc và sử dụng thích hợp Nếu năm 1969 ởđây chỉ có 3 ha cỏ trồng thì tới năm 1975 đã có tới 1179 ha Bên cạch việcxây dựng và cải tạo đồng cỏ, vấn đề dự trữ, phơi khô và ủ xanh được thựchiện có kế hoạch, có chất lượng như ở Sao Đỏ, Mộc Châu Song song vớinhững cố gắng trên việc nghiên cứu các giống cỏ nhập nội và cỏ địa phươngcó năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã được chú ý, nhiều giống cỏ tốt đãđược đưa vào sử dụng ở các cơ sở nghiên cứu và trung tâm chăn nuôi trong cảnước như Mộc Châu, Ba Vì, Đồng Giao, Tân Sơn Nhất, Hưng Lộc, Thủ Đức,Khánh Dương, Nha Bố, …
1.4.2.2 Nghiên cứu mức phân bón
Cây được bón đủ đạm, lá có mầu xanh tươi, sinh trưởng khỏe mạnh,Đào Văn Bảy và cs (2007)[4] Đủ đạm, chồi búp cây phát triển nhanh, cành
Trang 26lá, nhánh phát triển mạnh Đó là cơ sở để cây trồng cho năng suất cao (NgôThị Đào và cs , 2007) [19 ].
Theo Phan Thị Phần và cs (1999) [54 ] khi nghiên cứu cỏ Ghine TD58
ở khu vực miền Nam và miền Bắc cho kết quả:
+ Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám BìnhDương với 20 tấn phân chuồng, 80 kg P2O5, 80 kg K2O và 500 kgvôi/ha/năm Lượng phân đạm bón từ 60 – 90 kg N/ha / năm, năng suất chất
xanh cỏ Panicum maximum TD 58 đạt 64,59 – 83,33 tấn /ha/ năm Tỷ lệ lá
51,48- 60,44%, năng suất hạt 287- 323 kg/ha/năm Khoảng cách lứa cắt thíchhợp là 40 ngày/ lứa
Kết quả những công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi cũngchưa nhiều Trong những năm gần đây, một số nhà khoa học tập trung vàonghiên cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, cây họ đậu nhập nội ở một sốvùng Theo Lục Văn Ngôn (1970) [52] nghiên cứu so sánh năng suất và khảnăng sống qua mùa đông của một số giống cỏ trồng nhập nội trên đất đồi Thái
Nguyên trong đó có giống cỏ Tây Nghệ An (Panicum maximum), Mộc Châu (paspalum urvillei), cỏ Xu Đăng (Sorglum xudannens), Goatemala (Trypsacum laxum), cỏ Voi, Pangola, qua thí nghiệm cho thấy cỏ voi, Tây Nghệ An có khối
lượng sản xuất ra lớn và có khả năng phát triển trong mùa đông Tác giả cũngcho thấy năng suất tỉ lệ thuận lượng phân bón nitơ
Theo Từ Trung Kiên (2011)[44] “Nghiên cứu năng suất, chất lượng vàhiệu quả sử dụng một số cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt” thấymức phân bón cố định lượng lân, kali và bón phân đạm với lượng tăng dần từ
20 đến 60 kg N/ha/lứa, kết quả là năng suất và sản lượng VCK của cả 3 cỏ thínghiệm đều đạt cao nhất ở mức 40 kg N/ha/lứa, do đó, bón phân đạm cho cỏ
ở mức 40 kg N/lứa là thích hợp Sản lượng VCK (tấn/ha/2 năm) ở mức bón
Trang 2740 kg N của 3 cỏ 3 cỏ là (1) P atratum, (2) B brizantha 6387 và (3) B Decumbens là: (1) 38,405; (2) 33,897 và (3) 25,168.
1.4.2.3 Nghiên cứu năng suất một số giống cỏ
Theo Schmithusen, J (1969)[59] nghiên cứu bộ giống cỏ hòa thảonăng suất, chất lượng cao phù hợp với vùng sinh thái Tây Nam Bộ Năngsuất một số giống cỏ hoà thảo tại các trang trại vùng Tây Nam Bộ là: Giống
cỏ Mồm năng suất đạt từ 252,99 - 294,12tấn/ ha, Paspalum năng suất đạt từ
174,06 - 190,53 tấn/ ha, Cỏ Lông para năng suất đạt từ 155,43 - 160,2 tấn/
ha, cỏ Zuzi đạt từ 153,18 - 181,17 tấn/ ha, cỏ voi đạt 163,8 - 217 08 tấn/ ha,
cỏ xả đạt từ 138,24 - 162,99 tấn /ha Theo Lê Khả Kế và cs (1975)[40]điều tra đồng cỏ ở một số tỉnh Phía nam (Tây Ninh, Sông Bé, Nghĩa Bình)
cỏ tự nhiên chủ yếu là Imperata, Penniescum, Paspalum, Pogomatherum
và một số thuộc loại Ichaenum, Digitaria, Cyrtocotum và cỏ đậu Imdigfera,
thảm cỏ phát triển mạnh trong mùa mưa và mùa khô hạn chế, năng suấttrung bình 7,7 tấn/ ha, gia súc thích ăn loại cỏ này nhưng năng suất thấpdặc biệt trong mùa khô
Những năm gần đây nước ta đã nhập nhiều các giống cây Họ đậu và cỏhoà thảo nhiệt đới (chủ yếu từ Oxtraylia và Cuba) và đã tiến hành trồng thínghiệm ở một số địa phương Một số giống đã được đưa vào sản xuất như cỏ
Pangola (Digitaria decumbes) cây đậu Stylo (Stylosanthes) Nhiều nông trường và hợp tác xã cũng đã trồng cỏ Voi, cỏ Xuđăng, cỏ Pangola Kết quả
thu hoạch các loại cỏ đó cho biết, nếu mỗi năm cắt được 3 - 4 lứa thì có thểđạt năng suất 50 - 60 tấn/ha, trồng qua 3 - 4 năm cỏ vẫn phát triển tốt (TrươngTấn Khanh và cs, 1999) [41] Theo Nguyễn Ngọc Hà và cs (1985)[23] đã tiếnhành nghiên cứu, tuyển chọn tập đoàn cỏ nhập nội và đưa ra nhận xét: Nhóm
cỏ thân cụm Panicum maximum Liconi và K280 cho năng suất trung bình 17
-18 tấn VCK/ha/năm với 7 - 8 lứa cắt
Trang 28Trong thời gian 10 năm trở lại đây, thông qua hoạt động hợp tác Quốc
Tế và từ nhiều nguồn khác nhau, chúng ta đã nhập trên 100 giống cây thức ănhoà thảo và họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới (CSIRO, CIAT, Philippin,Inđônêsia, Thái Lan), nhằm phát triển khả năng sản xuất thức ăn xanh chochăn nuôi Một số giống cỏ nhập nội đã được đánh giá, kết quả tốt và ứngdụng vào sản xuất ở một số vùng Tuy nhiên, do không có sự quản lý, chỉ đạothống nhất cho nên một số giống sau khi đánh giá đã bị thất lạc, mất đi hoặcchưa có điều kiện thử nghiệm ở các vùng khác để có cơ sở chắc chắn mở rộng
ra sản xuất
Theo Viện Chăn nuôi Quốc gia (2012) [70] Trung tâm nghiên cứu bò
và đồng cỏ Ba Vì đã nghiên cứu tuyển chọn tập đoàn cây hòa thảo nhập nộitại Nông trường Ba Vì Trong 28 giống cỏ được nghiên cứu thì các tác giả cho
thấy: Trong những giống thuộc thân đứng thì cỏ Kingrass và voi selection 1 là
tốt hơn cả, năng suất 150 - 180 tấn/ha/năm Nhóm thân bụi có cỏ Ghine với
hai chủng Uganda và Australia là tốt hơn, năng suất 70 - 100 tấn/ha/năm Nhóm thân bò thì cỏ Pangola Pa 32 là tốt hơn năng suất 60 - 80 tấn/ha/năm.
Theo Trương Tấn Khanh (2003) [42], nghiên cứu tập đoàn cây thức ăn gia súctại Đắc Lắc, trồng thử nghiệm một cây thức ăn gia súc trong các trại vùng
trung du miền núi phía bắc cho thấy giống cỏ lông Para có năng suất 89 –
98 tấn/ha với khối lượng xanh thu trong mùa đông 35 - 45 tấn/ha, tươngđương 39 - 47% khi trồng trên đất có độ ẩm cao và có ngập nước TheoDavis V, (1960)[20] trồng thử nghiệm một số loài cây thức ăn gia súc nhậpnội và cải tạo đất, trong đó tác giả đưa vào nghiên cứu 24 loại cây họ đậu và
18 loài hòa thảo nhằm mục đích tìm ra một số cây vừa làm thức ăn gia súc,vừa có tác dụng chống xói mòn và cải tạo đất, phù hợp với khí hậu vùng trung
du Bắc Bộ Trong các giống cỏ trồng thử nghiệm tác giả đã kết luận ưu điểm
của các giống cỏ Brachiria brizantha CIAT 16835 và cỏ Brachiria ruziensis
Trang 29ex Ngoài ra, tác giả đề cập đến 2 giống cỏ triển vọng là Paspalum atratum BRA 9610 Paspalum guenoarum BRA 3824.
Tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi - TháiNguyên, tác giả Nguyễn Văn Quang (2002) [56] khi nghiên cứu so sánh vềtốc độ sinh trưởng, năng suất, chất lượng, tính ngon miệng của 5 giống cỏnhập nội cho biết: Cả 5 giống cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá cao từ 1,45 –
1,82 cm/ ngày Trong đó 2 giống cỏ Paspalum astratum và Panicum maximum TD 58 có tốc độ sinh trưởng cao nhất (1,82 và 1,70 cm/ngày).
Nghiên cứu khả năng sản xuất chất xanh và ảnh hưởng của phân bón đếnnăng suất của một số giống cỏ trong mô hình xen với cây ăn quả trên đất đồi
Bá Vân - Thái Nguyên, trong đó có 3 giống cỏ là B decumbens, Setaria splendida, Panicum maximum TD58 Kết quả cho thấy 3 giống cỏ trồng xen
lẫn với cây ăn quả ở đất đồi Bá Vân đạt 60,1 - 79,3 tấn/ha/năm Năng suấtVCK 10,2 - 12,2 tấn/ha, năng suất protein 1 - 1,3 tấn/ha; khi đầu tư phânchuồng ở mức 10 - 20 tấn/ha Theo Lê Hòa Bình, (1994)[5 ] cho biết thảm cóvoi xen canh với các cây họ đậu trong các điều kiện phân bón hạn chế đạtnăng suất chất xanh 139 - 142 tấn/ha, tăng 24 - 27 tấn/ha so với đối chứng cỏvoi thuần
Theo Nguyến Văn Lợi (2004) [47], đã nghiên cứu xây dựng mô hìnhthử nghiệm thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, họ đậu làm thức ăn cho gia súctại Thái Nguyên, năng suất các giống cỏ đạt từ 90 -179 tấn/ha trong điều kiệntrồng thuần; 93 - 138,5 tấn /ha trong điều kiện xen với cây ăn quả; 17 - 18,9tấn /ha trong điều kiện trồng theo băng ; 28,5 - 36,9 tấn/ha trong kiều kiệntrồng theo đường đi
Tháng 7/2004, viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam thuộc
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thực hiện dự án “Trồng thử nghiệm tập đoàn giống cỏ nhập nội nuôi bò” tại xã Cam Sơn, An Thạch (Mỏ Cày),
Trang 30Hữu Định (Châu Thành) và An Đức (Ba Tri) đã đưa ra kết luận: Cỏ Voichiếm ưu thế hơn cả, nếu trồng chuyên canh trên nền đất trống, năng suất đạt29,04 tấn/ha/lứa, trồng xen vườn dừa là 15,18 tấn/ha, trồng xen vườn ăn trái
là 25 - 27 tấn/ha Đứng thứ hai là cỏ Sả lá lớn, trồng thâm canh là 23,11tấn/ha, trồng xen vườn dừa là 11,77 tấn/ha, trồng xen vườn cây ăn trái là 20,4
- 21,4 tấn/ha Tiếp theo là cỏ Ruzi, cỏ Sả lá nhỏ và cỏ lông tây Theo (Lê
Hòa Bình và cs, 1992) [6] tiến hành thí nghiệm trồng cỏ tại vùng khô hạntỉnh Ninh Thuận Các tác giả cho biết các giống cỏ hòa thảo như voi, sả, cỏ
Ruzi và Paspalum đều có thể sinh trưởng và phát triển trong điều kiện khô
nóng tại Ninh Thuận Trong điều kiện tưới nước phân bón năng suất có thểđạt 100 - 150 tấn/ha/năm Theo Hoàng Chung (2006) [14] tại Mai Sơn - Sơn
La đã tiến hành tưới nước và bón phân cho cỏ trồng (voi, cỏ Ghine), tăng 1 - 2lứa / năm, năng suất tăng từ 1,9 đến 2,16 lần, năng suất tăng từ (100 tấn -120tấn/ha)
Định hướng phát triển diện tích trồng cỏ đạt 290.000 ha vào năm 2010.Diện tích trồng cỏ của cả nước hiện nay chỉ đáp ứng được 7,6% nhu cầu thức
ăn thô xanh xanh của gia súc ăn cỏ, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này
do các địa phương chưa quy hoạch đất trồng cỏ, chưa khai thác hết diện tíchđất chưa sử dụng và chưa mạnh dạn chuyển đổi một phần đất nông nghiệpsang trồng cỏ thâm canh Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thônnhấn mạnh ngành chăn nuôi phải có sự điều chỉnh cơ cấu chiến lược, cụ thể làđẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ được coi là hướng chính Muốnvậy cần có sự chuyển biến mạnh và đột phá trong khâu thức ăn Đối vớinhững vùng phát triển mạnh chăn nuôi gia súc ăn cỏ, cỏ được coi là cây trồngchính và trồng cỏ phải được coi là hướng chuyển dịch hướng tới thâm canh(Cục chăn nuôi, 2012)[16]
1.4.2.4 Nghiên cứu dinh dưỡng
- Nghiên cứu thành phần dinh dưỡng của thức ăn xanh
Trang 31Thành phần và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn cho gia súc thayđổi rất lớn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giai đoạn thu hoạch, thời gian vàquá trình bảo quản, công nghệ chế biến, phụ thuộc vào giống cây trồng, điềukiện khí hậu, kỹ thuật canh tác Chất lượng của các giống cỏ được đánh giábằng thành phần hoá học có trong giống cỏ đó Đây là một chỉ tiêu hết sứcquan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu, đánh giá một giống cây thức ăn,trên cơ sở đó giúp các nhà chăn nuôi tính toán khẩu phần ăn cho gia súc mộtcách hợp lý, để chúng sinh trưởng và phát triển tốt.
Trong các cây cỏ hòa thảo trồng thì tỉ lệ chất khô và các thành phầndinh dưỡng khác trong cỏ cũng dao động khá lớn Theo Hoàng Chung (2004)[12] chúng có thể biến động về vật chất khô từ 11 đến dưới 35% và phụ thuộcvào giống, loài và tuổi thu cắt Có những loại cỏ như chè khổng lồ có hàmlượng chất khô là 13,68% và các thành phần dinh dưỡng khác như protein thô
là 2,08%; 0,6% lipit thô; 1,72% xơ thô; 6,07% dẫn xuất không đạm; 3,21%khoáng tổng số Cỏ voi có tỉ lệ VCK là 11,8% và các thành phần dinh dưỡngkhác như sau: protein thô 2,2%; 0,4% lipit thô; 3,2% xơ thô; 4,3% dẫn xuấtkhông đạm; 1,7% khoáng tổng số
Theo Đoàn Ân và cs (1976) [2] cỏ Voi tuổi càng nhỏ thì hàm lượngprotein càng cao, tuổi càng lớn thì tỉ lệ chất xơ càng cao (tỉ lệ nghịch với hàmlượng protein và nước) cụ thể là 2 tuần tuổi tỉ lệ nước là 89,56%; 2,67% xơthô; protein cỏ khô là 18,42%, khi cỏ 4 tuần nước là 87,4%; 3,7% xơ; 11,49%protein trong cỏ khô Thành phần hoá học có trong các giống cỏ tập trung chủyếu vào 5 chỉ tiêu đó là: vật chất khô (VCK), protein, đường, chất béo và xơ.Cũng theo Hoàng Chung và cs (2004)[12] đã tiến hành nghiên cứu và theodõi một số chỉ tiêu về thành phần hoá học của một số loài chính trong đồng cỏBắc Việt Nam
Đối với cỏ cạn hàm lượng dinh dưỡng cũng khác nhau như cỏ Tâynghệ an có 11,9% VCK, 1,8% protein thô; 0,5% lipit thô; 2,7% xơ thô; 5,1%
Trang 32dẫn xuất không đạm; 1,8% khoáng tổng số Cỏ Thài Lài 10% CVK; 1,7%protein thô; 0,9 lipit thô; 10% xơ thô;13,7 dẫn xuất không đạm 1,6 khoángtổng số Trong khi đó một số cỏ khác từ 18 - 24% VCK như cỏ Mộc Châumọc tự nhiên có 23,88% VCK; 2,54% protein thô; 0,51% lipit thô; 8,67% xơthô; 10,13 dẫn xuất không đạm 2,03 khoámg tổng số Theo Lê Văn An và cs(2005)[1] tùy theo từng thời vụ và thu cắt theo từng thời điểm hợp lí thì
tỉ lệ nước trong cỏ chiếm 82%, protein tiêu hóa chiếm 0,95%, lipit tiêuhóa chiếm 0,67% và 3,4% xơ tiêu hóa Một số cỏ có hàm lượng VCK cao(trên 30%) như cỏ mần trầu 30,2% VCK và tỉ lệ các chất khác là 2,3%protein thô; 1,6% lipit thô; 9,7 % xơ thô; 14,7% dẫn xuất không đạm
1,9% khoáng tổng số Theo Lê Hòa Bình và cs (1994) [5]cỏ P.hamill
trồng tại Ba Vì - Hà Nội có năng suất chất xanh đạt 86,3 tấn/ha/ năm, vậtchất khô đạt 16,5 tấn/ ha/ năm, tại Thụy Phương năng xuất chất xanh đạt90,5 tấn/ ha/ năm và VCK đạt 17,3 tấn/ ha/ năm
1.4.2.5 Nghiên cứu cho gia súc ăn cỏ.
+ Khu vực miền Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đấtđồi trong điều kiện trung tính, đất tốt, đất chua nghèo lân và kali cỏ đều có tốc
độ sinh trưởng khá tốt (1,96 – 2,01 cm/ngày) Năng suất chất xanh đạt 90 –
100 tấn/ ha/ năm Cỏ Ghine có khả năng cho thu hạt, năng suất đạt 450 kg/ha,
tỷ lệ sử dụng của gia súc đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sữa 77% và ngựa 85%(Đình Huỳnh, 1994) [39]
Tỷ lệ tiêu hóa của dê đối với cỏ Panicum maximum TD 58 cao, khả
năng sử dụng của gia súc đều tốt từ 86 – 100%
Theo Điền Văn Hưng (1964),[38] đã nghiên cứu đánh giá hiện trạngnguồn thức ăn cho gia súc ăn cỏ và bước đầu xây dựng mô hình trồng câythức ăn gia súc tại huyện Đồng Văn – Hà Giang Qua nghiên cứu điều kiện
sinh thái nơi đây, các tác giả đưa vào trồng thử nghiệm giống cỏ: P Purpureum kingrass, P Malagasca, P maximum TD58, paspalum atratum,
Trang 33B ruzizinensis được trồng trong vụ đông, kết quả cho thấy các giống đều sống
được qua mùa đông lạnh có tuyết và sương muối
TheoTừ Trung Kiên (2011) [44], sử dụng cỏ B brizantha 6387, B decumbens ở dạng tươi hoặc khô và cỏ P atratum ở dạng tươi nuôi bò thịt, bò
đều khỏe mạnh và sinh trưởng tốt Căn cứ vào sản lượng cỏ/ha/năm và tiêutốn VCK của cỏ/ 1 kg tăng khối lượng bò thì khả năng sản xuất thịt hơi của 1
ha cỏ/năm đạt cao nhất là cỏ P atratum (3.070,5 kg), sau đó đến cỏ B brizantha 6387 (2.822,1 kg) và cuối cùng là cỏ B decumbens (2.183,2 kg)
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- 2 giống cỏ hòa thảo thân bụi: Panicum maximum hamill và Brachiaria mulato 2
- Ngựa Bạch giai đoạn 7 – 12 tháng tuổi
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm thực hiện: Trung Tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miềnnúi - Viện Chăn nuôi – Đóng tại Thị xã Sông Công – tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 8 năm 2013
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất, chất lượng của cỏ P hamill, B.mulato 2
- Phân tích thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm và đặc điểm khí hậu
- Khả năng sinh trưởng, tái sinh của cỏ P hamill, B mulato 2 ở các
mức phân đạm khác nhau
- Năng suất chất xanh của cỏ P hamill, B mulato 2
- Thành phần hoá học, giá trị dinh dưỡng của cỏ P hamill, B mulato 2
Trang 34- Sản lượng (VCK) của cỏ P hamill, B mulato 2
2.3.2 Khảo sát khả năng thu nhận thức ăn của ngựa Bạch sử dụng 2 giống cỏ P.hamill, B mulato 2
- Xác định tỷ lệ % ăn được của ngựa Bạch với cỏ P hamill, B.mulato 2
2.3.3 Sinh trưởng của ngựa Bạch sử dụng cỏ P hamill, P.mulato 2
- Sinh trưởng tích luỹ, tuyệt đối, tương đối của ngựa Bạch thí nghiệm
- Kích thước một một số chiều đo (CV, VN, DTC) của ngựa Bạch thí nghiệm
- Tính hiệu quả kinh tế chăn nuôi ngựa Bạch bằng 2 giống cỏ thí nghiệm
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất, chất lượng của cỏ P hamill, B.mulato 2
2.4.1.1 Phân tích thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm và đặc điểm khí hậu vùng thí nghiệm
- Nghiên cứu thành phần hóa học của vùng đất thí nghiệm (Trung tâmnghiên cứu và PT chăn nuôi miền núi) với các chỉ tiêu: pH, nitơ tổng số, P2O5
tổng số, P2O5 dễ tiêu, K2O tổng số, K2O trao đổi, OM
Mẫu đất được lấy theo phương pháp đường chéo (Viện Chăn nuôi, 1977)[67], lấy ở 2 tầng đất tại khu vực thí nghiệm Phân tích tại Viện Khoa học sựsống - Đại học Thái Nguyên
- Theo dõi đặc điểm khí hậu của Thái Nguyên trong 3 năm gần đây vềnhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa (2010 – 2012): Lấy số liệu từ Trung tâm khí tượngthủy văn tỉnh Thái Nguyên về: nhiệt độ, lượng mưa của 3 năm gần nhất
2.4.1.2 Khả năng sinh trưởng, tái sinh của cỏ P.hamill, B.mulato 2 ở mức phân đạm khác nhau
Thí nghiệm được bố trí riêng cho cỏ P hamill và B mulato 2 Mỗi
giống cỏ được thí nghiệm với 3 mức phân đạm: 0, 30 và 50 kg N/ ha/ lứatương ứng với 3 lô: Lô ĐC, Lô 1, Lô 2
Trang 35* Công thức phân bón nền (CTN): Phân chuồng 20 tấn/ ha/ năm,vôi 1 tấn/ ha/ năm, phân lân 70kg P2O5/ ha/ năm, phân kali 14,5 K2O/ha/lứa, phân đạm không bón.
* Công thức được bố trí cho mỗi giống cỏ như sau:
- Lô đối chứng (ĐC) = CTN + 0 kg N/ ha/ lứa cắt
- Lô 1 = CTN + 30 kg N/ ha/ lứa cắt
- Lô 2 = CTN + 50 kg N/ha/ lứa cắt
* Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh theo sơ đồ sau:
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm đối với cỏ P hamill, B mulato 2
Mỗi giống cỏ được thí nghiệm trên 10m2 cho 1 lô, lặp lại 3 lần ở cácmức phân đạm khác nhau
Trang 36+ Cách làm đất: Trước khi trồng ta cần làm đất thật kỹ để tránh cỏ dại
đặc biệt đất cần tơi xốp vì đây là giống cỏ được gieo bằng hạt chính vì vậyyêu cầu đối với đất trồng cần kỹ lưỡng trước khi trồng ta cần bón vôi
+ Chuẩn bị giống: Hạt sau khi được nhập về, cần được bảo quản cẩn
thận, trước khi trồng ta có thể gieo thử để xem tỷ lệ nẩy mần của hạt, nếu đạt yêucầu có thể đem ra gieo thí nghiệm và gieo đại trà
+ Cách gieo hạt: Đất đã được làm sạch có thể rạch hàng sâu từ 5 - 8
cm hàng cách hành 50 - 60 cm sau đó bón phân và lấp nhẹ một lớp đất trướckhi gieo hạt Khi gieo hạt xong ta phải lấp một lớp đất mỏng từ 3 – 4 cm đểtránh côn trùng và mưa làm trôi hạt (Viện Chăn nuôi, 1977)[67]
+ Chăm sóc sau trồng Nếu sau khi gieo hạt đất quá khô phải tưới
nước, sau 7 – 11 ngày, kiểm tra sự nẩy mầm của hạt, nếu chỗ nào hạt khôngnẩy mầm hay quá thưa có thể đánh từ những chỗ hạt mọc quá dầy để trồngdặm sao cho đảm bảo mật độ trồng giữa các lô thí nghiệm cây cách cây là 30
cm Nhặt sạch cỏ dại vào các thời điểm 20 ngày sau trồng, trước mỗi lần bónphân và ngay sau khi thu cắt từng lứa
+ Thu cắt: Lứa đầu sau khi trồng cỏ 60 ngày; các lứa sau, cứ 45 ngày
cắt 1 lần, cắt cách mặt đất từ 5 – 7 cm
* Phương pháp đo chiều cao cây
Chiều cao cây (cm): Dùng thước thẳng có độ chính xác đến mm để đo.Được xác định bằng cách đo từ gốc đến 50 % số lá Đo mỗi ô 5 cây ở 4 góc
và giữa ô rồi chia lấy kết quả chiều cao trung bình, 15 ngày đo một lần Đánhdấu cây để đo lần sau cùng cây đó (đối với cây dạng bụi cỏ)
Sơ đồ 2.1 Phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng, tốc độ tái sinh
Trang 37Tốc độ sinh trưởng (cm/ngày): Lấy chiều cao đo được trong 15 ngàychia cho 15 thì được tốc độ sinh trưởng của cây cỏ trong 1 ngày đêm.
- Năng suất chất xanh của 2 giống cỏ P hamill, B mulato 2 ở mức
phân đạm khác nhau
* Phương pháp tính năng suất chất xanh
Năng suất chất xanh (tạ/ha/ lứa cắt): Được xác định bằng cách cắt cỏtrong 5 ô vuông của lô thí nghiệm (mỗi ô 1 m2) Trong đó 1 ô nằm chính giữa
và 4 ô nằm trên 2 đường chéo thí nghiệm Thu cắt vào buổi sáng khi trời nắngráo Năng suất chất xanh ở mỗi lứa cắt bằng tổng khối lượng thu được chiacho diện tích rồi quy ra đơn vị tạ/ha/ lứa cắt
- Phân tích thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của 2 giống cỏ P hamill, B mulato 2 ở các mức phân đạm khác nhau
* Phương pháp lấy mẫu:
Số lượng mẫu được lấy trên cả 3 ô thí nghiệm với khối lượng là 2 kg/ô
để thành lập mẫu ban đầu
Mẫu được ghi chép đầy đủ các thông tin như: Họ tên người lấy mẫu,tên mẫu, ngày lấy mẫu và địa điểm lấy mẫu
* Phương pháp phân tích thức ăn của cỏ P.hamill, B.mulato 2:
- Tuổi cỏ: Cỏ cắt lấy mẫu ở 45 ngày tuổi
- Chỉ tiêu phân tích: VCK, protein, lipit, xơ, khoáng tổng số
- Nơi phân tích: Viện nghiên cứu khoa học sự sống - Trường Đại họcNông Lâm Thái Nguyên
Trang 38- Tiêu chuẩn:
+ VCK: Theo TCVN 4326 - 2001 (ISO 6496:1999)
+ Đạm tổng số (%): Theo TCVN 4328 -1: 2007 (ISO 5983-1: 2005) + Lipit tổng số (%): Theo TCVN 4331 - 2001 (ISO 6492: 1999)
+ Khoáng tổng số (%): Theo TCVN 4327: 2007 (ISO 5984: 2002 + Xơ tổng số (%): TCVN 4329: 2007 (ISO 6865: 2000)
Giá trị dinh dưỡng của cỏ P.hamill, B.mulato 2:
- Sản lượng VCK, protein (tấn/ha/lứa): Được tính dựa trên kết quảphân tích giá trị dinh dưỡng và năng suất chất xanh nhân với năng suất
- Cho ngựa ăn thử cỏ trước khi thí nghiệm 5 ngày
- Thí nghiệm chia thành 3 đợt, mỗi đợt kéo dài 5 ngày; mỗi đợt thínghiệm cho ngựa ăn cỏ ở cùng tuổi cắt
- Ngựa Bạch ăn tự do 12 giờ/ngày (từ 6 giờ đến 18 giờ)
Thí nghiệm cho ngựa ăn với mỗi giống cỏ là 3 ngựa Bạch giai đoạn
7-12 tháng tuổi (gồm 1 ngựa Bạch đực và 2 ngựa Bạch cái)
Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm thu nhận thức ăn của ngựa Bạch sử
dụng 2 giống cỏ P hamill và B mulato 2
Nhân tố thí nghiệm Ăn tự do Cỏ P hamill Cỏ B mulato 2
Trang 39ăn cho ăn và thức ăn thừa vào 18 giờ trong ngày để tính lượng thức ăn ngựa
ăn được trong ngày/con; tính trung bình khối lượng cỏ ăn được của 1ngựa/ngày
2.4.3 Sinh trưởng của ngựa Bạch sử dụng 2 giống cỏ P hamill, P.mulato 2
2.4.3.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh theo bảng 2.3,
cỏ thí nghiệm cho ngựa ăn được trồng, chăm sóc như lô 2 và cắt ở giai đoạn
45 -55 ngày tuổi, ngựa được ăn trước khi thí nghiệm 7 ngày
Bảng 2.3 Bố trí thí nghiệm theo dõi sinh trưởng của ngựa Bạch sử dụng
2 giống cỏ P hamill, B mulato 2
Nhân tố thí nghiệm 17 kg/100kg P Cỏ P hamill Cỏ B mulato 2
Giống ngựa Ngựa Bạch nội Ngựa Bạch nội Ngựa Bạch nội
Tuổi ngựa thí nghiệm Tháng tuổi 7 – 12 7 – 12Khối lượng ngựa bắt đầu
Trang 40Thức ăn tinh kg/ 100kgP 1,70 1,70
(Khẩu phần cơ sở: Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi áp dụng theo tiêu chuẩn thức ăn tinh nuôi giữ giống gốc quyết định QĐ 2489 /QD- BNN/ 2011)
2.4.3.2.Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
* Sinh trưởng của ngựa Bạch thí nghiệm
- Sinh trưởng tích lũy (kg/ con)
Cân khối lượng: Ngựa được cân vào thời điểm đầu kỳ và cứ 30 ngàycân 1 lần vào buổi sáng, khi chưa cho ăn, cân khối lượng bằng cân điện tử(Model 1200 weighing system của hãng Ruddweigh Australia Pty Ltd)
- Sinh trưởng tuyệt đối được tính bằng công thức:
V2 - V1
A =
t1- t2
Trong đó: A là sinh trưởng tuyệt đối (g/ con/ ngày)
V 1 là khối lượng tích lũy được ở thời điểm t 1 (g)
V 2 là khối lượng tích lũy được ở thời điểm t 2 (g)
- Sinh trưởng tương đối tính bằng công thức:
Trong đó: R là sinh trưởng tương đối (%)
V 1 là khối lượng tích lũy được ở đầu kỳ cân
V 2 là khối lượng tích lũy được ở cuối kỳ cân
* Kích thước một số chiều đo (CV, VN, DTC) của ngựa Bạch thí nghiệm.
- Kích thước một số chiều đo (Cao vai, vòng ngực, dài thân chéo): Đểngựa đứng tư thế thẳng 2 chân trước song song, 2 chân sau song song, ở vị tríbằng, đo một số chiều đo cơ bản theo phương pháp truyền thống Cao vai