Môn Văn hóa đa quốc gia Chủ Đề Trình bày về Phật giáo và Thiên chúa giáo PHẬT GIÁO LỜI MỞ ĐẦU Trước khi tìm hiểu về đạo Phật chúng ta hãy cùng tìm hiểu về từ “đạo phật” có ý nghĩa là gì ? Đạo nghĩa là[.]
Trang 1Môn : Văn hóa đa quốc gia
Chủ Đề : Trình bày về Phật giáo và
Thiên chúa giáo
Trang 2- “đạo Phật”: nghĩa là con đường đi đến sự giác ngộ.
Nhưng con đường đó là gì? Giác ngộ như thế nào? Trước tiên hãy tìm hiểu về nguồn gốc Phật giáo
1 Nguồn gốc phật giáo
Cách đây 26 thế kỷ, ở phía đông bắc đất nước Ấn Độ (Thuộc Nepal ngày nay), có một vị thái tử tên là Tất-đạt-đa (Siddattha) là con vua Tịnh-phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma-da (Maya) Thời niên thiếu, ông sống một cuộc đời hoan lạc Ngài lập gia đình và có một người con trai là
La Hầu La (Rahula, sGra-gcan ‘dzin) Trong những bản văn về sau có ghi tên người vợ của ngài là Da Du Đà La (Yashodhara, Grags ‘ dzin-ma) Tuy nhiên, lúc hai mươi chín tuổi, từ bỏ cuộc sống gia đình và di sản hoàng tộc của mình Ngài đã rời bỏ hoàng cung đi tìm chân lý , cuối cùng Ngài đã giác ngộ dưới cội cây Bồ-đề và lấy hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni Sau khi giác ngộ, Ngài đem chân lý mình chứng ngộ thuyết giảng cho năm anh em Kiều-trần-như (năm nhà tu khổ hạnh) nghe và họ cũng được chứng thánh quả Từ đó, đức Phật Thích Ca Mâu Ni và các đệ tử của Ngài đi truyền
đạo khắp sứ Ấn Độ và người ta gọi đạo của Ngài là đạo Phật
Trang 32 Tư tưởng chính của Phật giáo
2.1 Duyên khởi :
-Duyên Khởi là tư tưởng, giáo lý cơ bản nhất của PG, thể hiện quan điểm của PG đối với đời người, với tồn tại và sinh mệnh, là cơ sở triết học của
Trang 4giáo thuyết cụ thể và tư tưởng quan trọng của PG, như nhân quả, không hữu, trung đạo, bình đẳng, từ bi, giải thoát v.v….
-Tư tưởng Duyên Khởi chứa đựng hai tư tưởng quan trọng là “quan hệ” và
“quá trình”, là thế giới quan của thuyết quan hệ, thuyết quá trình
-Duyên Khởi là một mối quan hệ, cũng là một quá trình PG cho rằng do vạn vật trong vũ trụ đều là Duyên Khởi nên đều có tứ tướng sinh, trú, dị, diệt, là một quá trình không ngừng biến dị Cũng vậy, con người sống trongquá trình sinh, lão, bệnh, tử và sinh tử lưu chuyển Cần thừa nhận tư
tưởng quá trình đó hàm chứa tư tưởng vận động, biến hóa, phát triển, nên coi đó là biểu hiện của tư duy biện chứng
2.2 Nhân quả :
-Duyên Khởi nói nhân duyên hòa hợp mà sinh ra “Quả” Cái có thể sinh kếtquả là Nhân, cái do nguyên nhân mà sinh là kết quả Về thời gian thì Nhân trước, Quả sau Nhân Quả tồn tại trong diễn biến trước sau nối nhau, trong
sự hòa hợp liên quan đến nhau Có nguyên nhân thì tất có kết quả; có kết quả tất có nguyên nhân Mọi sự vật đều biến đổi sinh diệt theo phép Nhân Quả Luật Nhân Quả là lý luận cơ bản PG dùng để giải thích mối quan hệ tương hỗ của mọi sự vật
2.3 Trung đạo:
-Là con đường chính giữa không lệch về bên nào, vượt trên sự cực đoan, lệch về hai bên hữu vô (“không”), nhất dị, khổ lạc, yêu ghét Trung Đạo là lập trường căn bản và đặc sắc cơ bản của PG Thích Ca Mâu Ni phản đối thuyết Thần Ngã của đạo Bà La Môn; về lý luận đề xuất phép Duyên Khởi
“Thử hữu bỉ hữu, thử sinh bỉ sinh”, “Thử vô bỉ vô, thử diệt bỉ diệt”, từ đó
Trang 5nhấn mạnh “Ly vu nhị biên, thuyết vu Trung Đạo” Cũng là nói dựa theo thuyết Duyên Khởi bất hữu bất vô, bất nhất bất dị, bất thường bất đoạn, bất lai bất khứ.
2.4 Bình đẳng:
-Bình đẳng giữa người với người
-Bình đẳng chúng sinh
-Bình đẳng giữa chúng sinh vói Phật
-Bình đẳng giữa chúng sinh vơi vô tình
duyên bi Trong 3 loại đó, “Vô duyên từ bi” là loại cao nhất Từ bi là tư tưởng đặc thù của PG, nó không hoàn toàn giống với nhân ái, bác ái do các giáo phái khác đề xướng Từ bi không bị hạn chế bởi đẳng cấp, giai cấp, nó cũng loại trừ tính thiên tư hẹp hòi
Trang 6chúng trở ngại cho sự thành trưởng thiện căn, làm cho chúng sinh lưu chuyển trong nỗi khổ sinh tử không bao giờ hết Giải thoát là thoát ra khỏi nỗi khổ phiền muộn và sự trói buộc của lưu chuyển sinh tử, được giải phóng, được siêu việt, được tự do, tiến lên cõi lý tưởng
4 Ngũ giới : ( Những điều cấm kỵ của Phật giáo )
Trang 74.1 Tránh xa sát sinh
Không sát sinh bao gồm không giết hại từ con người đến súc vật lớn như voi, ngựa, trâu, bò v.v…, cho đến các loài nhỏ bé như côn trùng, sâu bọ, kiến v.v… Không những không giết hại mà còn không làm tổn thương đau đớn con người và các loài Người Phật tử cũng không bảo người khác, bàymưu kế cho người khác làm các việc hành hạ, giết hại chúng sinh các loài Khi thấy người khác đánh đập, sát hại con người và súc vật thì sinh lòng thương xót và khuyên can ngăn cản
Sự giữ giới không sát sinh nhằm mục đích bảo vệ công bằng, mọi chúng sanh đều muốn sống sợ chết, mọi chúng sinh đều có Phật tính như nhau Giữ giới sát sinh là nuôi dưỡng lòng từ bi, người có lòng nhân không nỡ sát hại người hay vật Giữ giới sát sinh tránh được nhân quả báo ứng, vì
nợ máu sẽ phải trả bằng máu không ở kiếp này thì ở kiếp sau, như vậy nghiệp oán xoay vần không có ngày chấm dứt
Người giữ giới không sát sinh luôn luôn có tâm an ổn, nét mặt hiền hòa Nếu mọi người trên thế giới đều giữ giới không sát sinh thì thế giới không còn chiến tranh giết hại nữa
4.2 Tránh xa sự trộm cắp
Không trộm cướp có nghĩa là không cho thì không lấy, từ nhà cửa, ruộng vườn, của cải, tiền bạc cho đến các vật tư hữu nhỏ bé Cũng gọi là trộm cướp, khi lấy của tư hay của công, của công ty hay của nhà nước, khi cưỡng ép người ta bằng vũ lực hay quyền hành, khi dùng những thủ đoạn lừa gạt, mưu mẹo v.v… để đoạt chiếm sở hữu, tiền bạc như quỵt nợ, giật hụi, đầu cơ tích trữ, cân non đong thiếu, trốn sâu lậu thuế, v.v… cũng như trộm cướp không khác Tóm lại tất cả các việc gian tham, lấy của bất chínhđều là trộm cướp Người Phật tử không được bày mưu kế cho người khác trộm cướp Khi thấy người khác làm các việc trộm cướp thì phải khuyên bảo can gián
Sự lợi ích của giới không trộm cướp là giữ được sự công bằng bình đẳng giữa con người với con người, mỗi người đều có quyền sở hữu riêng tư,
xã hội không công bằng thì khó tồn tại lâu dài được Không trộm cướp còn thể hiện lòng từ bi, vì một người phải cực khổ để làm ra tiền nuôi thân và gia đình và dành dụm phòng khi đau yếu hoặc tuổi già Nếu bị mất sẽ đau khổ vô cùng, tuyệt vọng có khi đi đến tự tử
Trang 84.3 Tránh xa sự tà dâm
Không tà dâm là không dụ dỗ hay dùng thủ đoạn để cướp vợ người khác, không ép buộc người khác phải thỏa mãn tình dục với mình, không hãm hiếp đàn bà, con gái Người Phật tử không được xui bảo, bày mưu cho người khác làm việc tà dâm Cũng không vui, mà còn phải khuyên can, lên
án khi thấy người làm điều tà dâm
Không tà dâm để bảo vệ sự công bình, bảo vệ hạnh phúc cho gia đình mình và gia đình người, không tà dâm còn tránh được oán thù và quả báo xấu, vì không có sự oán thù nào mãnh liệt cho bằng sự oán thù do lừa dối tình hay phụ tình gây ra Nếu mọi người đều giữ giới không tà dâm thì gia đình được đầm ấm, xã hội có luân thường đạo lý, không có những sự thù hằn chết chóc vì tà dâm nữa
4.4 tránh xa sự nói dối
Nói dối là nói láo, nói không đúng sự thật, chuyện có nói không, chuyện không nói có làm cho người nghe hành động sai vô cùng tai hại Không nóidối còn bao gồm cả ba điều khác của miệng là không nói lời hai lưỡi, đòn càn (xóc) hai đầu, làm cho hai người khác ghét nhau, thù nhau Kế tiếp là không được nói lời thêu dệt, thêm bớt, có ít xít ra nhiều, nói châm chọc, bóng bẩy làm cho người nghe buồn phiền và khởi tà niệm Còn không được nói lời độc ác, thô tục, cộc cằn như nguyền rủạ chửi mắng thậm tệ làm cho người nghe sợ hãi đau khổ Người Phật tử không được xui bảo người khác nói các điều như trên, và khi thấy người khác nói những lời không đẹp ấy thì phải không vui, và khuyên can chê bai người ấy
4.5 Tránh xa sự dể duôi uống rượu và các chất say
Giới này mới nghe thấy có vẻ không quan trọng, nhưng xét kỹ thấy thật quan trọng, chính vì uống rượu say mà có thể gây phạm bốn giới cấm nêu trên là sát sinh, cướp của, nói dối, hiếp dâm Như thời đức Phật Ca Diếp
có người uống rượu say mà phạm gian với vợ người khác, rồi bắt gà của người ta giết làm thịt ăn, đến khi người ta hỏi thì chối là không làm gì cả Cũng không được ép người khác uống rượu đến say mê mẩn, mửa tháo,
và khi thấy người khác nghiện rượu, nên tùy lúc mà khuyên can Giới cấm uống rượu còn bao gồm cả việc dùng các thứ ma túy, vì nó cũng làm cho tinh thần người sử dụng mất sáng suốt minh mẫn, mê dại, tâm bình tiêu mất
Trang 95 Thập thiện : (Những điều nên làm của Phật giáo )
5.1 Về thân: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm.
5.2 Về khẩu: không nói dối, không nói hai chiều, không ác khẩu, không
thêu dệt
Trang 105.3 Về ý: Không tham lam, không giận dữ, không tà kiến.
5.4 Đại thừa (cỗ xe lớn ): phái này cho rằng con người có thể giác ngộ
bằng tự lực và bằng tha lực tức bằng sự dẫn dắt của người khác, đặc biệt
là của các vị Bồ Tát Do đó phải “tự giác giác tha, tự độ độ tha” tức mình
đã giác ngộ thì phải giác ngộ người khác Ở Việt Nam phái Đại thừa còn gọi là Bắc tông
5.5 Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ): Mỗi người phải lo tu thân, giác ngộ chỉ bằng
tự lực Ở Việt Nam phái Tiểu thừa còn gọi là Nam tông
6 Quá trình hình thành và phát triển của Phật Giáo:
-Phật giáo ra đời từ thế kỉ thứ VI TCN tại một vùng đất thuộc phía Bắc Ấn
Độ (nay thuộc lãnh thổ Nepan ) người sáng lập ra là Thái tử Xitđacta
(Buddha) pháp hiệu là Thích ca Mâu ni Sự hình thành và phát triển chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn từ thế kỷ thứ VI TCN đên giữa thế kỷ thứ IV TCN là thời kỳ hình thành Phật giáo
+Giai đoạn thứ 2 từ giữa thế kỷ thứ IV TCN đến Công Nguyên là bắt đầu thời kỳ Phật giáo chia làm các tong giáo khác nhau trong đó có 2 tông giáo phái lớn là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ
-Từ thế kỷ thứ I đến thứ kỷ thứ VII là thời kỳ Phật giáo Đại thừa đối lập với Phật giáo Tiểu thừa Sau thế kỷ thứ VIII Phật giáo đi vào suy tàn trước sự tấn công của Hồi giáo cho đến cuối thể kỷ thứ XIX đầu thế kỷ XX Phật giáotừng bước được khôi phục và trở thành tôn giáo của Ấn Độ
7 Sự phân bố chủ yếu của Phật giáo
Trang 11Phật giáo: cũng có nguồn gốc từ Ấn Độ và khởi nguồn khoảng 500 năm trước Công nguyên Phân bố chủ yếu ở Đông Á và Ấn Độ , số tín đồ365 triệu (tín đồ chính thức) 1,2-1,6 tỷ (tính cả tín đồ không chính thức)
8.Những ngày lễ quan trọng của phật giáo :
8.1 NĂM MỚI TRONG PHẬT GIÁO
Là kỳ lễ lớn trong đạo Phật và diễn ra khác ngày nhau tùy từng nước trên khắp thế giới Trong những nước theo truyền thống Phật giáo tiểu thừa (Theravadin) như Thái Lan, Miến Điện, Sri Lanka, Campuchia, Lào thì lễ hội năm mới thường diễn ra 3 ngày, bắt đầu từ ngày trăng tròn của tháng tư.
Trong các nước theo Phật giáo đại thừa như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, thì năm mới thường bắt đầu trong ngày đầu tiên của tháng giêng Riêng Phật giáo tại Tây Tạng thì đánh dấu ngày lễ này vào tháng 3.
8.2 NGÀY CỦA PHẬT HAY CÒN GỌI LÀ VESAK
Vesak là kỷ niệm ngày sinh của Phật và là ngày lễ quan trọng nhất , Phật giáo khắp nơi trên thế giới tổ chức lễ đón mừng đản sinh, giác ngộ và nhập Niết Bàn của đức Phật trong cùng một ngày, thường là trung tuần tháng 5 theo dương lịch Vesak là tên được gọi của một tháng ở Ấn độ, giống ở Việt Nam tháng 1 gọi là tháng giêng….
Trang 12Lễ Vesak - Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc là ngày lễ hội mang tính văn hóa và nhân văn ở tầm quốc tế Nội dung chủ yếu đề cập tới 2 vấn đề lớn của thế giới là tôn giáo
và văn hóa
8.3 LỄ VU LAN
Là một lễ hội lớn được tổ chức ở hầu hết các nước theo truyền thống Tiểu Thừa, người
ta quan niệm cánh cửa địa ngục được mở ra và xá tội cho những vong hồn từ ngày đầu tiên đến ngày thứ 15 của tháng 7 âm lịch.
Tại các nước Phật giáo đại thừa như Nhật Bản, lễ Vu Lan được biết đến với tên gọi Ubon, được bắt đầu từ ngày 13 của tháng 7 và kết thúc sau 3 ngày, lễ này là dịp để sum họp gia đình, là dịp để con cháu báo hiếu cha mẹ và ông bà tổ tiên
Riêng tại Việt Nam, lễ Vu Lan gắn với sự kiện đức Mục Kiền Liên nhờ thần lực của chư Tăng mà cứu được mẹ ra khỏi địa ngục Lễ cũng được biết đến với tên gọi dân gian
là ngày xá tội vong nhân Lễ được tổ chức vào rằm tháng 7 Âm lịch.
8.4 LỄ VÍA BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM
Lễ vía (hay còn gọi là mừng ngày đản sinh) của Đức Quán Thế Âm, là vị Bồ tát biểu tượng cho tình yêu thương rộng lớn, là biểu tượng của đạo từ bi cứu
Trang 13khổ theo truyền thống của các nước theo Phật giáo Đại thừa Lễ được tổ chức quy mô và hoành tráng nhất tại Tây Tạng vào kỳ trăng tròn của tháng 3 Âm lịch.
Trang 14
THIÊN CHÚA
Trước hết ta cần hiểu đạo thiên chúa là chỉ chung những giáo phái thờ chúa chứ không chỉ mỗi Công Giáo nhu cách hiểu của người Việt Nam Thiên chúa giáo bao gồm : Công giáo , chính thống giáo , anh giáo , tin lành Hồi giáo và do thái giáo cũng thờ chúa nhưng không thờ Jesus Bài thuyết trình này sẽ chỉ đi sâu vào Công giáo là chính
Trang 15Thánh đường Công giáo ở Vatican
1.Nguồn gốc:
1.1 Theo kinh thánh
Các tôn giáo trên thế giới đều dạy con người phải tự mình làm các điều lành thánh thiện, tu tâm dưỡng tính để tự cứu mình hay để được siêu thoáthoặc thi hành nghiêm túc các giới cấm của đạo để được lên thiên đàng Kito Giáo khẳng định là mọi người sinh ra đều mắc phải tội tổ tông truyền
do phạm luật Chúa Cha đã truyền dạy " Các ngươi được phép ăn tất cả trái cây trong vườn địa đàng, nhưng không được ăn cây ở giữa khu vườn nếu ăn các ngươi sẽ phải chết " do nghe lời con rắn xúi dục, tham lam muốn bằng Thiên Chúa nên đã bị phạt làm người phải chịu chết và sinh con đau đớn, nên Chúa Cha đã ban Con Một của mình là Đức Chúa Giê-
su xuống thế gian để cứu chuộc.Chúa Jesus là con một Thiên Chúa, là Ngôi Hai xuống thế làm người để ai tin vào người thì sẽ được cứu độ, người được sinh bởi bà Maria đồng trinh, năm 30 tuổi người bắt đầu công cuộc rao giảng của mình, trong lúc thực hiện người có nhận 12 người để dạy bảo, sau này khi người nhận ra rằng người sẽ phải chết thì người đã trao quyền lại cho Phero (Peter) để dẫn dắt tiếp công cuộc của người, sau khi bị bắt và đóng đinh, ba ngày sau người sống lại và lên trời sau 40 ngày.Sau khi Chúa về trời thì Phero cùng những người khác bắt đầu truyền đạo,
họ cũng quyết định đạo này không phải là do thái giáo , họ tạo ra một nét
Trang 16riêng là cứ hễ ai chịu rửa tội thì sẽ trở thành kito hữu Sau đó 12 người họ phân tán ra khắp tứ phương để truyền đạo Sau này các giáo hoàng là người ké vị Phero để truyền đạo và dẫn dắt hội thánh
Chúa Jesus ( đấng Kito ) trên thập tự
2.Sáng lập
Đức Chúa su sáng lập Kitô giáo vào khoảng năm 26 ở Đức Chúa
Giê-su giáng sinh vào năm 1 Công Nguyên, tại làng Bethlehem xứ Judea Trú quán của Giê-su là làng Nazareth, xứ Galilee Đức chúa Giê-su khởi hành truyền đạo trong xứ Galilee lúc khoảng 30 tuổi
Trang 17Chúa Jesus cùng 12 vị tông đồ
3/Tư tưởng và 10 điều răn
3.1 Tư tưởng
Đạo Kitô cho rằng Chúa Trời là đấng sáng tạo ra tất cả, kể cả loài người Nhưng đồng thời họ lại đưa ra thuyết “tam vị nhất thể”, tức là Chúa Trời (Chúa cha), Chúa Giêsu (Chúa con) và Thánh Thần tuy là ba nhưng vốn làmột
Đạo Kitô cũng có quan niệm về thiên đường, địa ngục, linh hồn bất tử, thiên thần, ma quỷ
Tư tưởng Giáo lý Kito giáo là một hệ thống từ giản đơn cho tín đồ đến phức tạp của các học thuyết kinh viện với các quan điểm triết học và thần học siêu hình, căn cứ vào kinh thánh nhưng phải dựa vào những lời giải thích truyền thống và là thẩm quyền của Giáo hội Tín đồ không có quyền
kê cứu kinh thánh Luật lệ, lễ nghi của Công giáo rất phức tạp (12 tín điều trong kinh tín kính,10 điều răn của Chúa, 6 điều răn của Hội thánh, 7 phép
bí tích, 1752 điều luật) Công giáo đề cao thuyết thần quyền tuyệt đối (mọi