Bài Tiểu Luận Môn Văn Hoá Đa Quốc Gia Chủ Đề Lễ tết của các dân tộc thiểu số Lễ hội Căm Mường là một lễ hội của dân tộc Lự, tỉnh Lai Châu, Việt Nam Đây là dịp để bà con dân bản dâng tế lễ vật cầu khẩn[.]
Trang 1Bài Tiểu Luận
Môn Văn Hoá Đa Quốc Gia
Chủ Đề
Lễ tết của các dân tộc thiểu số
Lễ hội Căm Mường là một lễ hội của dân tộc Lự, tỉnh Lai Châu, Việt Nam Đây là dịp để bà con dân bản dâng tế lễ vật cầu khẩn thần sông, thần núi, thần khe, thần suối thần rồng phù hộ cho bà con dân bản no đủ, điều lành ở lại, điều dữ mang đi Được tổ chức vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch Mỗi gia đình sẽ cử ra một người đại diện là nam giới đi tham gia phần phụ lễ, khi về sẽ có lộc dành cho những người ở nhà Mở đầu cuộc lễ, thầy cả đọc lời tuyên bố lý do buổi lễ Trong lời của thầy cả đề cập tới lịch sử của người Lự, lịch sử bản mường, cái lý của việc làm lễ và những người sẽ được "thụ lễ" lần này
Khi bắt đầu lễ các thầy lạy một lạy rồi bắt đầu đọc lời khấn Trong phần lễ này không có khèn, sáo, trống hay bất kì một loại nhạc cụ nào để làm âm vang Theo quan niệm của người Lự thì như thế sẽ làm ảnh hưởng tới các linh hồn riêng, mà cái linh hồn ở đây chính là sự thần bí, linh thiêng ẩn hiện trong những lời khẩn cầu của thầy cúng:
Núi rừng mang hồn nước
Khe suối lượn hình sông
Thần rồng bay lượn múa
Phun nước tưới ruộng đồng
Cho ngô lúa trổ bông
Cho mùa vàng trĩu quả.
Người Lự ví lễ là dịp để thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần được thể hiện bằng các lễ vật dâng
tế trong buổi lễ Những lễ vật này do dân bản tự nguyện đóng góp, và thầy cúng sẽ khẩn cầu lên vị thần thấu hiểu lòng thành kính của dân bản, mong được mùa bội thu, thóc lúa đầy bồ, già trẻ gái trai trong bản được vui vẻ sum vầy hạnh phúc
Các chàng trai thổi sáo để các cô gái hát những bài ca của dân tộc mình Những lời hát nhắn nhủ của thế hệ đi trước dành cho lớp trẻ hôm nay phải biết chung tay xây dựng bản mường ngày càng ấm no hạnh phúc Cùng với các bài hát thì các trò chơi như kéo co, đẩy gậy Nó thể hiện sức mạnh của mỗi người, đồng thời nếu ai thắng sẽ gặp may mắn trong năm tới, còn ai thua sẽ là gặp không may Vì vậy
mà kết thúc lễ hội mọi người cùng té nước để cầu may, cũng như gột rửa những điều không may mắn Tất cả họ hàng dòng tộc, các gia đình trong bản sẽ sống đoàn kết, thương yêu nhau hơn Các gia đình sẽ phải cố gắng nuôi dạy con cái học hành để có cuộc sống tốt hơn các thế hệ đi trước
Lễ hội Cầu mùa của người Thái hay Lễ cơm mới, tiếng Thái: Lệ hạy, Kin khảu maứ, là
một lễ hội của dân tộc Thái, miền tây Nghệ An, Việt Nam Lễ này bày tỏ long thành kính của mình đối với những thế lực siêu nhiên thần linh, ma quỷ theo quan niệm của người Thái Lễ cầu mùa được tổ chức
Trang 2vào đầu vụ lúa mới hoặc một số nơi tổ chức sau khi thu hoạch, khoảng trung tuần tháng 9 đến đầu tháng
11 hàng năm
Phần nghi lễ được tiến hành ngay tại nương rẫy, đặc biệt là nơi tập trung nhiều hộ gia đình cùng làm nương rẫy nhất (Tủng hảy) Họ thường tổ chức tại chòi canh rãy của một nhà có diện tích rẫy nhiều nhất, năng suất cao nhất và đó phải là những gia đình có uy tín, khéo ăn ở được cả nhóm và cộng đồng tôn trọng kính nể Họ cắt lấy những bông lúa chin sớm những nơi tốt nhất trong đám rẫy của gia đình mình rồi đun lúa làm cho hạt nếp nứt và chín (tiếng Thái gọi là "khầu hang") Sau đó lúa được phơi khô trên chạn bếp hoặc phơi nắng mục đích là họ tạo ra một loại gạo rất thơm và dẻo hương vị gần giống mùi cốm, hạt gạo có mùa xanh và có mùi thơm rất đặc trưng Trong dịp này họ thường chọn một loại lúa dẻo nhất và quý nhất để dành cho cầu cúng thể hiện tấm lòng với các vị thần linh
Ngoài những đĩa xôi được đò từ thứ gạo đã được luộc chin, phơi khô ra thì mâm cúng của mỗi gia đình còn mổ thêm 2-4 con gà (bắt buộc phải có một con gà trống) Gà được luộc lên và đưa đến mỗi đám nương và nghi lễ cúng bái bắt đầu Rượu được rót ra chén, trầu cau mỗi mâm 9 đôi, cùng với đó là một bát nước chè xanh và một bát nước lã
Công việc cầu cúng thuộc các thầy mo cần có một cái đĩa và hai đồng xu để tung đồng xu, tiếng Thái gọi là thìm lé Năm nào mà các thầy mo tung đồng xu chỉ một lần là được ngay (một bên trắng và một mặt đen) thì coi như năm đó ma nương hài lòng với lễ lạt của con cháu; họ quan niệm rằng năm đó mùa màng có nhiều thuận lợi, hy vọng năm ấy sẽ được mùa màng bội thu Ngược lại năm nào mà thầy mo tung đồng xu hai ba lần mà vẫn không được thì coi như năm đó mùa màng sẽ gặp nhiều khó khăn, trở ngại thất thu Sau khi cúng xong, mọi người làm lễ lạy tả ơn theo sự điều khiển của thầy mo, họ lạy trước bàn thờ dựng ngay tại đám rãy, sau đó rượu được té xuống nương, Nghi thức này nhằm thể hiện sự kính trọng và tấm lòng chân thực của con cháu với thần linh, họ mong rằng trời đất nhận lễ và chấp nhận lòng thành kính của con cháu
Xong phần nghi lễ, họ tổ chức ăn uống ngay tại nương hoặc trên chòi của nhà chủ lễ năm đó Hôm đó ai cũng phải ăn uống no say để cầu mong một năm mùa màng phát đạt, cuộc sống no đủ và hạnh phúc Cuối cùng những điệu khắp lăm, nhuôi, xuôi cất lên hoà cùng nhịp múa, họ nói cho nhau nghe về kinh nghiệm làm ăn bằng những lời ca tiếng hát
Trong dịp này đôi trai gái nào quý nhau thì chúc và trao nhau những đùi gà thật ngon, những lời hát thật dằm thằm ngọt ngào Sau khi ăn uống và ca hát, người ta chia tay nhau hẹn mùa lúa sau sẽ gặp lai, hy vọng sẽ có nhiều nương, nhiều lúa gạo hơn và sẽ tổ chức lễ hội cầu mùa thật to hơn, linh đình hơn, đông vui hơn Họ cầu mong có một cuộc sống ấm lo và hạnh phúc hơn
Đây là dịp để mọi người sau một vụ mùa cùng ngồi lài với nhau, truyền cho nhau những kinh nghiệm làm
ăn, kinh nghiệm phòng trừ thiên tai, địch hoạ, tỏ sự đoàn kết của con người trước những thế lực thiên nhiên siêu hình
Lễ hội cầu mưa người Chăm hay lễ mừng mưa tiếng Chăm oai lơ cau chăhơzan là một
lễ hội của dân tộc Chăm H'roi, Vân Canh, Bình Định, Việt Nam Với quan niệm mọi biến chuyển của vũ trụ đều do Phật trời, thần linh hoặc ma quỷ điều khiển Con người muốn đạt được sở nguyện thì phải cầu nguyện, cúng khấn để được thần linh trợ giúp Tùy theo thời tiết mà có tên gọi cho từng dịp lễ hội - trời
Trang 3hạn thì gọi là lễ cầu mưa, còn có mưa mà hành lễ thì gọi là lễ mừng mưa Cứ vào đầu tháng hai âm lịch hàng năm (sau Tết Nguyên đán), dù trời hạn hay trời mưa, họ đều tổ chức lễ hội
Để cầu mưa (hay mừng mưa), người ta có thể làm lễ riêng, trên rẫy của mình Hoặc nếu trời nắng quá lâu, cả làng (Plây) phải làm chung một lễ, cả làng cùng chuẩn bị và cùng đóng góp lễ vật để cúng Đồ lễ Plây trước tiên, làng sẽ cử người dựng một đài dâng lễ vật-lễ vật trên đài cũng gồm một con gà trống, một bình rượu, một vòng sáp ong để đốt và một bát gạo Đài dâng lễ vật được đặt tại sân nhà của già làng hoặc bến nước của làng.Đài và án được dựng từ 4 gốc cây Pay Ch'panh (cây gạo) Phần trên là án, phần dưới là đài, được các nghệ nhân trong làng trang trí những tua, những họa tiết cách điệu hoa văn theo mô típ Chăm có tên gọi Pơrưng Bên cạnh đó là cây Nêu vươn cao, tạo thành đôi cánh chim (loài chim biểu hiện cho sự yên bình của người Chăm H'roi) Đó là một cách thể hiện thông điệp cầu trời cho
sự yên bình của họ
Do từng nhà tự lo liệu lễ vật để cúng tại rẫy của mình Khi hạt giống đã trỉa xuống, chủ nhà làm lễ cầu mưa cho hạt giống ở rẫy mình nảy mầm Ngày giờ do chủ nhà tự chọn sau khi đã xuống giống Chủ nhà thu dọn cây, vun một đống đất ở rẫy, đường kính khoảng 50 cm, cao 30 cm Ở giữa là một cây tre rừng, phần gốc được chôn dưới đất, phần ngọn được chẻ làm tư tỏa ra bốn hướng đông tây nam bắc đón nước mưa Trên phần ngọn tre chẻ tư đó, chủ nhà gác dàn đặt lễ vật gồm một con gà trống (con vật biểu hiện cho sự bền bỉ, dẻo dai trước cuộc sống), một bình rượu nhỏ, một vòng sáp ong để đốt và một đấu thóc (có nơi dùng gạo) Bên cạnh gốc tre là cái cuốc nhỏ buộc chung vào gốc tre Bên cạnh đó, người ta đem từ 7 đến 9 ống nứa nhỏ bằng ngón tay cắm xung quanh một gốc cây rừng đã cháy trên rẫy rồi rót nước đầy vào các ống với ngụ ý nước đã về rẫy, nước làm mát đất Nội dung lời khấn cầu của chủ nhà:
"Ơ Giàng! cầu Giàng cho hạt mưa xuống
Hạt mưa nhỏ nhỏ như hạt lúa
Hạt mưa lớn lớn như hạt bắp
Đổ nước xuống, đổ mưa xuống
Để cái suối không còn khô
Để người và mọi loài sống lại
Cầu nước để người có nước trồng trỉa
Chỉ có Giàng là lớn nhất trần gian
Chỉ có Giàng cho nước
Người mới có nước trồng cây lúa Ơ Giàng!"
Phụ nữ cầm những bó nan vuốt vào không khí tạo nên âm thanh của gió Đàn ông gõ trống tạo nên
âm thanh của sấm Chủ nhà thành kính rót rượu mời thần Mây, thần Gió và thần Sấm về làm mưa Trong quá trình làm lễ cầu mưa không được vui chơi, ca hát để biểu lộ lòng thành kính thần linh Chỉ khi nào có mưa mới được mừng vui ca múa Sau khi làm lễ xong, tất cả rượu thịt được phân chia cho người và cho thần, tất cả chè chén tại rẫy Đồ chia cho thần để lại Tất cả ra về chờ Mưa
Khi hạn hán kéo dài, cả Plây mới cầu chung một lễ, do già làng (người có uy tín nhất trong làng, trong tộc họ) đứng ra điều hành Công việc chuẩn bị xong bắt đầu lễ cúng, chiếu cói mới (chưa dùng) được trải ra phía dưới đài và án Ở giữa chiếu có đặt một chiếc đĩa dựng hai đồng xu để gieo quẻ âm dương, xung
Trang 4quanh chiếu là các ché rượu cần Số người làm lễ cúng phải là số lẻ do làng chọn, từ 3-5 người (hoặc từ 7-9 người) kể cả lễ vật cũng phải là số lẻ để khi cầu Giàng cho thêm chẵn là đủ Trong các lễ thức, người
ta bao giờ cũng chỉ cầu đủ là vừa bụng-không tham nhiều, sợ lấy nhiều, lần sau xin trời không cho… Trong số người tham gia cúng, dân làng chọn ra một người có uy tín đưa lên ngồi trên đài tượng trưng cho người của Giàng (trời) Bên dưới già làng khấn cúng:
"Ơi Giàng! chỉ có Giàng là lớn nhất trần gian
Giàng ơi! Chỉ có Giàng mới cho người có nước để trồng cây lúa Ơi Giàng!
Giàng hãy mau mưa xuống - mưa hạt nhỏ cây bắp trổ, mưa hạt lớn lúa nẩy cây
Giàng hãy mau mưa xuống Giàng ơi!
Cho măng mía, măng tre mọc nhiều
Cho lúa bắp trên rẫy tươi tốt
Cho dân làng được dự Hội mừng mưa - Ôi Giàng!
Cầu Giàng - Giàng hãy mau mưa xuống!
Cho đụm lúa nếp dân làng ăn đến tháng 5
Cho đụm lúa to dân làng ăn hết tháng 10
Giàng hãy mưa xuống cho lũ làng tay múc nước thành hoa, tay múc nước thành bông
Giàng mưa - cho con chim Kơrơtau không ngừng rỉa cánh, để con ếch trong hang kêu "ộp ộp", con
cá dưới suối quẩy "bun bun"
Xin Giàng nhìn xem dân Plây…
Đều đủ mặt chào Giàng
Xin Giàng cho nước trên trời rơi xuống
Để cây lúa bén rễ
Để lúa dưới đất trồi lên…
Hỡi ông Núi - bà Non
Hỡi ông Coông - bà Ch'ơ
Hãy nghe Giàng đổ nước…"
Già làng gieo quẻ, nếu cả hai mặt của đồng xu đều cùng âm hoặc cùng dương, nghĩa là Giàng chưa nghe, chưa chịu cho mưa… còn nếu một sấp, một ngửa, tức là Giàng đã chịu cho dân làng mưa(Thể hiện đúng luật âm dương của trời đất) Lúc này "người của Giàng" ở trên đài cúng hất rượu theo 4 hướng đông tây nam bắc Đến đây họ coi như trời đã cho mưa đáp ứng lời cầu nguyện của dân làng
và hô to: "Nào hỡi dân làng hãy nổi cồng chiêng chào đón mưa trời cho!"
Kơtoong cùng dàn chiêng trỗi lên giai điệu A Tonh Ch'yong e pla (Chào trời-chào khách) Theo chiều ngược kim đồng hồ, trai, gái trong làng nhịp nhàng nhảy múa hú gọi Tư thế của họ tượng trưng cho gió thổi, mây bay, sấm nổ đón những giọt mưa từ "người của Giàng" ngồi trên đài đổ xuống… Người làm lễ cúng cùng già làng chia lễ vật cho thần linh Mọi người ăn uống, nhảy múa "Người của Giàng" vẩy nước xuống cho ướt mọi người và rải những hạt lúa xuống… Dân làng tin rằng trời chấp thuận cho mưa, vui vẻ vào hội Dân làng uống rượu và múa xoang Ch'yong với niềm tin trời sẽ mưa thuận gió hòa cho dân Plây có nước sản xuất
Trang 5Lễ hội cồng chiêng là một lễ hội được tổ chức hàng năm theo hình thức luân phiên tại các tỉnh có văn hoá cồng chiêng trong đó Đắk Lắk là một điểm quan trọng và hay được chọn nhất do vị trí trung tâm văn hoá, chính trị, xã hội của khu vực Tây nguyên nơi có nhiều cồng chiêng nhất ở Việt Nam
Đặc điểm
Lễ hội được tổ chức nhằm quảng bá hình ảnh Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản truyền khẩu và phi vật thể nhân loại Đó không những là một sự kiện quan trọng của người dân tây nguyên mà còn cả với đất nước Việt Nam Trong lễ hội nghệ nhân của các tỉnh sẽ trình bày, biểu diễn không gian văn hoá của dân tộc và của tỉnh mình Do mang đậm màu sắc du lịch nên nó thường được giới thiệu trong các chương trình du lịch như của du lịch Đắk Lắk Những lễ hội dân gian đặc sắc của các dân tộc Tây Nguyên sẽ được dựng lại, nhằm kêu gọi cộng đồng cùng chung sức bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của cư dân các dân tộc Đồng thời giới thiệu với du khách những thành tựu về kinh tế, văn hóa và tiềm năng du lịch của các dân tộc Tây Nguyên Cũng trong khuôn khổ của Festival, bên cạnh các hoạt động văn hóa còn hội chợ triển lãm về công cụ sản xuất, đồ gia dụng
và hàng thủ công mỹ nghệ của các dân tộc Tây Nguyên
"Một cảm giác hoành tráng, thiêng liêng sẽ trỗi dậy trong ta khi nghe dàn cồng chiêng Gia Rai và Bahnar trình diễn" (GS Tô Ngọc Thanh) Đó chính là cảm giác mà nhiều người đã trải nghiệm qua phần trình diễn của 40 nghệ nhân Bahnar với dàn cồng chiêng tái hiện lễ Đâm trâu, Mừng nhà rông, Mừng lúa mới, Mừng đám cưới, Mừng được mùa, Bỏ mả Cồng chiêng Tây nguyên là nơi tiết tấu và giai điệu gặp nhau Mỗi nhạc công chơi một nốt và một mô hình tiết tấu, kết hợp lại thành bè, thành giai điệu
"Cồng chiêng Tây nguyên bảo lưu được hình thức diễn xướng tập thể - cộng đồng, hợp tấu bằng cách nghe nhau, tức phải có tâm linh cộng đồng ứng vào - GS Tô Vũ khẳng định - Hoàn toàn xa lạ với việc cá nhân hóa, nghệ sĩ hóa người biểu diễn, văn hóa cồng chiêng chỉ còn ở Đông Nam Á, và nguyên thủy nhất
là ở Tây nguyên" TS Vũ Nhật Thăng cho rằng cồng chiêng dựa theo hàng âm của ống hơi không khoét
lỗ bấm - loại nhạc cụ lâu đời hơn và phổ biến ở Tây nguyên - "cũng có nghĩa là dựa theo thang âm của Trời, vừa thiêng liêng vừa độc đáo"
Một nghệ thuật thiêng "Cồng chiêng càng cổ bao nhiêu thì thần chiêng càng mạnh bấy nhiêu Người chủ nhiều cồng chiêng không chỉ là người nhiều của cải mà cái chính là được sức mạnh của thần chiêng phù hộ" (Tô Ngọc Thanh) "Dòng họ, làng nào có nhiều cồng chiêng sẽ được các dòng họ, làng khác nể nang, nghe theo Già làng ở làng ấy có thể được tôn lên làm già làng cho cả một vùng" (Phạm Cao Đạt) Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà một vài người trong vùng có thể đảm nhiệm việc "lên dây" chiêng sau mỗi kỳ
sử dụng thường chính là già làng
Ngay khi đứa trẻ vừa ra đời, người ta đã đem cồng đến đánh bên tai nó, gọi là lễ thổi tai Chiêng cồng luôn có mặt trong các lễ cúng từ khi con người còn là thai nhi trong bụng mẹ cho tới khi vĩnh biệt cuộc đời, chưa kể trong vô số nghi lễ nông nghiệp ở Tây nguyên, kéo dài từ tháng ba đến tháng mười hai Trong mỗi lễ hội, cồng chiêng là phương tiện duy nhất để con người thông linh (với thần), giao hòa với trời đất và giao tiếp trong cộng đồng Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến ngã xuống
Trang 6đất/ Đánh cho ma quỷ mải nghe đến quên làm hại người (Trường ca Đam San) Sử thi của người Êđê, M’Nông còn kể lại những cuộc "chiến tranh" giữa các bộ tộc nhằm chiếm đoạt cồng chiêng
Người Xêđăng kể rằng: Thuở xa xưa có lần voi dữ tràn về phá rẫy, phá buôn Con trai Xêđăng mang theo lao, tên lá cùng hợp sức tiêu diệt thú dữ, đánh nhau suốt mấy ngày đêm, sức tàn lực kiệt mà thú dữ càng hung tợn Họ chỉ còn biết chắp tay cầu Yàng Bỗng họ thấy đùn lên một ụ đất, đào xuống thấy một vật bằng đồng tròn như ông mặt trời to bốn người ôm mới xuể
Gõ vào vật ấy phát ra tiếng trầm vang động núi rừng khiến đàn thú dữ ngơ ngác Rồi các ụ đất liên tiếp mọc lên, mang theo các vật bằng đồng hình dáng tương tự nhưng nhỏ dần, âm càng cao Khi đã có trong tay hơn 10 chiếc chiêng, đồng thanh gõ lên thì tiếng trầm như thác đổ, tiếng cao như thác reo khiến voi
dữ phải chạy vào rừng sâu
"Các tộc người Tây nguyên quan niệm nhạc cụ như con người - càng nhiều tuổi tiếng nói càng được tôn trọng Cồng chiêng càng lâu năm, trải qua nhiều lần nghi lễ càng thiêng" (Phạm Nam Thanh) Những bộ chiêng tiếng hay và thiêng có giá trị tính bằng 1-2 con voi hoặc 40 con trâu Người B’Râu cho rằng chiêng tha (gồm hai chiếc chồng và vợ) chính là tổ tiên của họ Đánh chiêng họ gọi là gọ tha pơi, nghĩa là "mời tha nói" Thủ tục để mở một bài chiêng rất khắt khe, phải cho tha ăn, cho tha uống, khấn mời trời đất và nhiều người đến chứng kiến
Người Xêđăng Sdrá có chiêng duy nhất một chiếc - chủ nhân phải cất rất kỹ, sợ người ngoài hoặc trẻ con không biết đem ra đánh thì khổ, sẽ bị già làng phạt nặng Các dân tộc Tây nguyên đều đặt tên chiêng trong một bộ theo vai vế như trong một gia đình và phân biệt chiêng thiêng (có Yàng trú ngụ) với chiêng thường để dùng trong các dịp lễ trọng hoặc sinh hoạt thường ngày Có bộ chiêng chỉ được đánh khi có vật hiến sinh từ bò trở lên!
Lễ hội dâng hoa mănglà một lễ hội của đồng bào dân tộc người La Ha (Việt Nam), là để tỏ lòng cảm tạ, tri ân thầy lang có công vì sức khỏe cộng đồng, tổng kết khả năng cứu chữa bệnh tật của thầy lang, rồi truyền lại cách thờ cúng tổ tiên cho con cháu Vào dịp đầu xuân năm mới, việc trên nương chưa nhiều, để con cháu, bà con bản dưới mường trên gặp nhau giao lưu văn hóa, văn nghệ Trước ngày rằm hằng tháng trong ba tháng mùa xuân
Thầy lang là người chủ trì chuẩn bị ngày hội về thủ tục, các loại con vật sống cần có trong lễ hội, các loại hoa rừng trang trí và các dụng cụ cần thiết khác, tổ chức tại nhà thầy lang Làm lễ cúng Cúng xong, thầy lang cho các con nuôi về dâng lễ, cúng mời các vị thần mà dân tộc La Ha che chở cho người
La Ha trường tồn, để có được sức mạnh như Thần Hổ-chúa Sơn Lâm thắng mọi dã thú, bảo vệ cuộc sống cho dân bản Con nhím là thần đất, phải cúng nó để gây cảm tình, để nó không phá lúa; phải mời về
ăn nó sẽ bảo vệ thành quả lao động của mình, sống lâu, vững chắc như tảng đá lớn Là con chim cu gáy-thần của các loài chim hay ăn lúa trên nương cũng phải cúng nó, để bảo vệ lúa nương cho mình Cuối cùng là cúng con ma cang cói, một thú rừng to như con mèo, dân tộc nào ở miền núi cũng sợ nên phải cúng nó để nó không quấy rầy sức khỏe nhân dân.Cúng các thần xong, thầy lang biểu diễn các trò mà ông đã chữa khỏi cho "bệnh nhân" Ông giả làm người bị bướu cổ khi buộc cái bát ăn cơm vào cổ mình Ông diễn các trò làm người què chân, người ngớ ngẩn, hình ảnh người đi coi nương vung cây sào, hú
Trang 7đuổi lũ chim, sóc cút khỏi nương nhà Cuối cùng là trò giả làm con khỉ (tô rôốc), ông bò quanh cây móc giữa nhà, vừa bò, vừa kêu chí chóe, mắt đảo nhìn rất nhanh, để tìm hoa, ngô, chuối lộc ở cây móc, lúc thì gãi tai, gãi bụng, lúc thì nhảy nhót, chộp lấy bắp ngô Một tiếng súng nổ, ông giả lăn đùng ra chết, nhiều tiếng cười vang khen người thiện xạ
Khi màn độc diễn của thầy lang kết thúc, dân bản vào ngay màn múa "tăng bu", đạo cụ chỉ là 1 ống tre trổ xuống tấm ván theo nhịp "chát chát", tay lúc vung ra sau, khi thì 2 tay cầm ống tre nghiêng sang bên trái, nghiêng sang bên phải, múa say sưa, phụ nữ múa mềm dẻo, khỏe khoắn, linh hoạt.Sau tăng bu,
là các điệu múa cày bừa, cầu mưa, múa khăn, múa kiếm, múa trống Cuối cùng là điệu múa "A sừng lừng"
Vẫn tồn tại đến ngày nay, phần lễ là để cảm tạ trời đất, tổ tiên, sông núi luôn phù hộ cho con cháu ăn nên làm ra, phần hội thì sôi nổi, vui vẻ, tuy còn một số mặt hạn chế, nhưng vẫn thể hiện được những nét phong tục, văn hóa, tín ngưỡng đặc biệt khác hẳn các dân tộc anh em khác trên địa bàn Ôn lại truyền thống, trao đổi thông tin kinh nghiệm làm ăn, chữa bệnh để cùng nhau phát triển
Lễ hội đâm trâu (người Ba Na gọi là x'trǎng, người Cor gọi là xa-ố-piêu, người Gia Lai gọi
là mnăm thu, người Lạch gọi là sa rơpu) là một lễ hội nhằm mục đích tế thần linh hoặc những người đã
có công chủ trì thành lập buôn làng, ăn mừng chiến thắng, ăn mừng mùa màng bội thu hay ăn mừng các
sự kiện quan trọng khác Đây là một trong những lễ hội truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên ởViệt Nam.Con trâu sẽ là vật hiến tế để cầu thần phù hộ cho buôn làng được khỏe mạnh, ấm no, để mừng ngày mùa hay để mừng chiến thắng
Ở mỗi dân tộc, các nghi thức phụ của lễ hội có phần khác nhau nhưng đâm trâu vẫn là tiết mục linh đình của lễ hội Tùy theo mục đích, hoàn cảnh cụ thể và tùy theo từng sắc tộc mà lễ hội này được tổ chức trong những thời điểm, khoảng thời gian và không gian khác nhau, song thường là một không gian rộng bên cạnh những ngôi nhà chung của buôn làng như nhà dài, nhà rông, Giữa quảng trường/không gian rộng này có dựng một cây cột cao bằng gỗ hoặc tre, ngọn cột được trang trí bằng hoa lá rừng, cờ, phướn thật đẹp, và những lục lạc tre gọi là cù nan Trên đỉnh cột thường gắn một con chim phượng hoàng làm bằng gỗ, chạm trỗ hoa văn tỉ mỉ Cây cột này tương tự cây nêu của người Kinh, người Êđê gọi là blang
kbâo Người Ba Na gọi cây cột này là gưng sakapô, người Gia Rai gọi là ging ga.Người chủ trì lễ hội là
một già làng Dân làng chọn một con trâu thuộc giống trâu Langbiang khỏe mạnh đưa đi tắm rửa sạch sẽ
và cho ăn uống no nê rồi đem buộc bằng sợi dây rừng mềm dẻo nhưng rất bền chắc Sợi dây này được buộc lỏng quanh cổ trâu chứ không xỏ vào mũi như khi dắt trâu đi làm đồng
Chủ trì lễ hội đâm trâu đọc lời khấn cầu xin hay tạ ơn thần linh và mời thần linh xuống ăn thịt trâu, uống rượu cần Chủ trì khấn xong thì các đội cồng chiêng bắt đầu diễn tấu Đám đông dân làng ca múa, đấu võ, kể khan và ăn uống suốt đêm và đến sáng lễ đâm trâu mới bắt đầu Nghi lễ đâm trâu là phần quan trọng bậc nhất của lễ hội Các tráng sĩ được trang bị lao dài sẽ phóng lao giết trâu, vừa phóng lao vừa biểu diễn các bài võ thuật Con trâu bị giết được đem xẻ thịt nhỏ chia cho các nhà trong buôn làng cùng liên hoan.Sau khi dứt hồi nhạc và các nghi thức cúng bái, người chủ tế là ông riu yàng cầm cây giáo hình mũi mác đến gần con trâu và bất thình lình đâm một nhát vào đùi trước rồi quay về chỗ ngồi Đây chỉ
là một cú đâm tượng trưng để mở màn Tuy vậy con trâu cũng bị đau, nhảy dựng lên, máu chảy ròng ròng Tiếng cồng chiêng lại tưng bừng nổi lên Một đội hành quyết gồm 4 chàng trai bước vào quảng
Trang 8trường, trong đó hai người cầm mã tấu đứng yên một chỗ, hai người cầm lao nhọn, vừa nhún nhảy theo tiếng nhạc vừa dứ ngọn lao làm như thử muốn đâm con trâu Trâu sợ hãi chạy vòng vòng cột.Nhưng những chàng trai chưa vội ra tay Họ chờ cho bước chân nhún nhảy và tiếng nhạc kết hợp thật nhịp
nhàng với âm điệu rụp thì thụp rụp kala rụp! Đúng vào nốt nhạc mạnh kala rụp, khi những bàn tay của
các chàng trai đấm vào vú chiêng và khi bàn tay của các cô gái trong đội múa xòe ra, một ngọn lao chí tử phóng tới đâm vào sườn trâu, chỗ dưới vai bên trái Nếu là nhát đâm chuyên nghiệp mũi lao sẽ trúng ngay tim con vật khiến trâu chết liền Nếu đâm không trúng tim trâu sẽ lồng lên dữ dội khiến đám đông hoảng sợ Khi đó, hai người cầm mã tấu sẽ tiến lên, một người chém một nhát vào cổ, một người chém một nhát vào cột xương sống phía đuôi làm trâu gãy thành ba khúc Sau đó các dũng sĩ đâm trâu rút lui nhường chỗ cho một nhóm khác, kẻ hứng máu, người phân thây xẻ thịt trâu
Lễ hội đua voi là một trong những lễ hội quan trọng trong hệ thống các lễ hội cổ truyền của người vùng cao Tây Nguyên Việt Nam.Hội Đua Voi là một trong những hoi của văn hóa truyền thống các dân tộc tỉnh Đắk Lắk được tổ chức 02 năm 01 lần vào tháng 3 âm lịch Là Tháng của những con ong rừng đi lấy mật và cũng là thời điểm bắt đầu làm nương rẫy
Hội Đua Voi nhằm tôn vinh tinh thần thượng võ và tài nghệ thuần dưỡng voi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.Ngoài ra, du khách đến đây cũng được thưởng thức ẩm thực độc đáo, đậm đà bản sắc của các dân tộc cua dan toc Tay Nguyen tại chỗ và được cưỡi voi tham quan buôn làng, trải nghiệm với hành trình cưỡi Voi lội sông Sêrêpốk tham quan Rừng Yok Don
Được tổ chức ở vùng Đắk Lắk
Hội Đua Voi là một trong những hoạt động của Lễ hội văn hóa truyền thống các dân tộc huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk được tổ chức 02 năm 01 lần vào tháng 3 âm lịch.Đây là mùa khô, nắng đẹp, đường sá đi lại
dễ dàng, đồng bào Buôn Đôn mở Hội Đua Voi cùng với các lễ hội khác như: Lễ cúng bến nước, Lễ cúng sức khỏe cho Voi, Lễ Ăn Trâu mừng mùa (Lễ Đâm Trâu), Lễ cúng lúa mới (Lễ mừng mùa), Văn hóa cồng chiêng để cầu mong cho sự bắt đầu của một mùa vụ mới tốt tươi, đạt năng suất cao, mang lại no ấm cho buôn làng
Hội Voi chỉ diễn ra trong 01 ngày với các hoạt động Đua Voi như: Voi chạy tốc độ, Voi bơi vượt sông Sêrêpốk, Voi đá bóng Số lượng tham gia từ 15 – 18 con Voi
Hội Đua Voi nhằm tôn vinh tinh thần thượng võ và tài nghệ thuần dưỡng voi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên Ngoài ra, du khách đến đây cũng được thưởng thức ẩm thực độc đáo, đậm đà bản sắc của các dân tộc tại chỗ và được cưỡi voi tham quan buôn làng, trải nghiệm với hành trình cưỡi Voi lội sông Sêrêpốk tham quan Rừng Yok Don
Nội dung trong lễ hội gồm:
-Lễ cúng bến Nước
-Lễ cúng sức khỏe cho Voi
-Lễ ăn trâu mừng mùa (Lễ Đâm Trâu)
-Lễ hội văn hoá các dân tộc huyện Buôn Đôn
-Thi Voi đá bóng
Trang 9-Thi Voi chạy.
-Thi Voi bơi
-Lễ cúng lúa mới (Lễ mừng mùa)
-Lễ tắm và cúng sức khỏe cho Voi sau khi kết thúc các hoạt động của Voi tại Lễ hội
Bãi đua được chọn thường là dải đất bằng phẳng đủ để 5-10 con voi giăng hàng ngang để thi theo từng tốp Sau hiệu lệnh là một hồi tù và, đàn voi phóng nhanh về phía trước sự cổ vũ nhiệt tình của đông đảo
du khách và người dân trong khu vực cùng tiếng chiêng, tiếng trống thúc giục Sau hội đua, cả buôn làng tập trung về nhà cộng đồng để ăn tiệc, uống rượu cần và nhảy múa trong không khí của lễ hội với âm vang cồng chiêng rộn rã
Ngày nay, do yêu cầu của du lịch và để bảo tồn, phát triển một bản sắc văn hóa, lễ hội đua voi được chính quyền địa phương đứng ra tổ chức Ngoài chạy đua, các chú voi nhà còn tham gia nhiều môn thi như bơi vượt sông, đá bóng Vì vậy, nó thường được giới thiệu trong các chương trình của du lịch Đắk Lắk.Du khách còn được thưởng thức ẩm thực theo phong tục của dân tộc ở đây được cưỡi voi, tham quan buôn làng và rất nhiều điều thú vị mà du khách sẽ được thử qua
Lễ hội nhảy lửa là một lễ hội của đồng bào dân tộc Dao đỏ, Hà Giang Những người xa quê chuyến đi đầu xuân trở về quê hương, dự lễ hội khai xuân Thường từ mồng 2 đến mồng 5 tháng giêng âm lịch Các ngày tổ chức lễ hội cố định, mà phụ thuộc vào ngày đẹp, giờ đẹp được các già làng, trưởng họ hay thầy tào định ngày
Buổi sáng, mọi người trong các bản cùng nhau kéo về khu trung tâm (thường là xã), họ mang theo nhiều thức ăn, đồ uống Những già làng, các ông trưởng họ đã cùng với thanh niên chuẩn bị những thứ cần thiết, các vật lễ như đồ cúng, thực phẩm, lương thực, bánh trái dành cho bữa ăn trưa
Vào đúng giờ tốt, những đồ lễ mang tính dân tộc, theo tập quán được bày ra một chiếc bàn dài, nơi được coi là chỗ trang nghiêm nhất, trước chiếc sân rộng Một đống củi to đã được thanh niên mang đến, như đống củi thường đốt trong những đêm lửa trại Ông chủ lễ bắt đầu ngồi xuống ghế, phụ lễ và bài cúng thần lửa được cất lên bằng những câu cầu may cho một năm mới, một cuộc sống bình yên, hạnh phúc, cầu mong "mưa thuận, gió hòa", muôn nhà khỏe mạnh Chủ lễ mong cầu thần lửa mang hơi ấm của mình về sưởi ấm dân làng, về vui cùng lễ hội Trong lúc cầu khấn, cũng là lúc người phụ lễ dùng một gióng vầu tre đã được chuẩn bị từ trước, được chẻ đôi, cầm chặt vào nhau như chưa hề chẻ ra, gieo xuống bàn Gieo quẻ xin âm dương, khi hai mảnh tre hay vầu cùng ngửa, hay cùng sấp thì cũng có nghĩa
là thần lửa đã đồng ý về vui cùng dân bản, còn một sấp, một ngửa thi phải xin lại, đến lúc nào được thì thôi Đống củi được đốt lên, trở thành một đống than hồng rừng rực cháy
Những người muốn được nhảy lửa đã ngồi "hầu lễ" từ đầu buổi lễ, họ lấy que tre gõ liên tục vào những nửa ống vầu đã chuẩn bị sẵn và sẵn sàng ngồi xin thần lửa, chủ lễ lại tiếp tục "gieo quẻ xin âm dương", đến khi thần lửa đồng ý Từng đôi một nhảy lửa, họ đi chân không trên đống than, họ nhảy, họ lăn vòng trên than hồng khi lửa còn lem lém bốc cháy theo từng bước chân của họ Và khi những đôi bắt đầu được thần lửa đồng ý cho nhảy lửa thì cũng là lúc các đôi khác tiếp tục vào "hầu lễ" để được là người nhảy lửa Tiếp theo, cứ đôi nọ, nối tiếp đôi kia cho đến khi đống than hồng tắt lịm dưới những đôi chân trần đen nhẻm do than để lại
Trang 10Lễ hội Mùa xuân của người Êđê hay Lễ hội mừng lúa mới là lễ hội mà người Êđê tổ
chức sau mùa gặt hái, đón năm mới Một số dân tộc ở Tây Nguyên khác, như Gia Rai, Ba Na, Xơ-đăng,M'Nông, cũng có lễ hội tương tự.Vào dịp này, mọi gia đình đều khẩn trương đưa lúa về chòi và rước hồn lúa về nhà, đồng thời tổ chức lễ ăn cơm mới để tạ ơn trời đất, thần lúa, ông bà tổ tiên đã cho một mùa lúa bội thu và cầu mong một mùa mới thóc lúa đầy nhà Là mùa "ăn năm uống tháng", mùa sinh hoạt văn hoá cộng đồng, mùa giao lưu văn hóa, mùa tìm bạn đời của những chàng trai cô gái Mùa mà cả cộng đồng nghỉ ngơi, vui chơi thỏa thích Các lễ hội bắt đầu từ cuối tháng 12 năm cũ đến hết tháng 3 dương lịch-năm mới Trong lễ hội các buôn người ta mời các buôn làng gần xa đến dự, cứ lần lượt diễn
ra trong suốt bảy ngày đêm Do cácgià làng chủ trì trong các buôn làng của mình
Theo phong tục của các dân tộc Tây Nguyên, hàng năm vào dịp kết thúc một mùa rẫy là các dân tộc nơi đây cùng tổ chức lễ hội đón năm mới (gọi là mùa ăn năm, uống tháng) Sau lễ ăn cơm mới, các buôn làng tổ chức lễ cúng bến nước, để cầu mong mưa thuận, gió hòa, nguồn nước dồi dào, trong lành, mọi người khỏe mạnh, nhà nhà nhiều lúa, bắp, trâu, bò, heo, gà Là một lễ lớn của mọi buôn làng, nhằm góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn sống của cộng đồng, đồng thời nhắc nhở mọi người phải
có ý thức bảo vệ rừng, đất đai, nguồn nước… vì đó là tài sản quý giá nhất từ bao đời của ông cha để lại
Có các lễ khác:
Lễ bỏ mả cho người quá cố Đây là một lễ lớn trong vòng đời người, nên hầu hết các dân tộc đều tổ chức rất chu đáo
Lễ hiến sinh (giết trâu) cúng thần linh và người quá cố
Lễ kết nghĩa anh em, lễ cưới, lễ trưởng thành, lễ cúng sức khỏe cho mọi thành viên trong cộng đồng
Lễ cúng hòn đá bếp (vì thần đã giúp gia chủ một năm no đủ), làm lễ cúng hòn đá cổng buôn làng (vì thần đã gìn giữ buôn làng một năm yên ổn, không có ai đói nghèo, bệnh tật) và cúng sức khỏe cho những con vật nuôi trong gia đình (như voi, trâu, bò, heo, chó, mèo, dê, gà…) vì những con vật này là người bạn của con người, thiếu nó con người sẽ cảm thấy cô đơn, bé nhỏ trước thiên nhiên vũ trụ
Lễ cúng cầu mưa, cúng thần gió, cầu một năm mưa thuận gió hòa, làm ăn phát đạt, nhà nhà no ấm, hạnh phúc
Không khí lễ hội khắp các buôn làng càng lúc càng rộn ràng, náo nhiệt, tiếng chiêng, tiếng trống, vang khắp núi rừng Người Êđê còn tổ chức các sinh hoạt văn hóa như kể khan (sử thi), thổi kèn đing năm, đing Ktút, múa chim grứ, hát dân ca…
Có các lễ phụ trong hội:
Lễ đón bạn
Lễ cúng hồn lúa
Lễ khóc trâu
Lễ đâm trâu
Lễ tiễn bạn…
Lễ lớn vòng đời người và lễ hội nông nghiệp văn hóa lễ hội, văn hóa cồng chiêng, văn hóa giao tiếp, văn hóa ẩm thực, văn hóa sử thi, văn hóa cộng đồng và các trò chơi dân gian… Đồng thời cũng là mùa mà