1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài Tiểu Luận - Môn - Văn Hoá Đa Quốc Gia - Chủ Đề : Trình Bày Về Tôn Giáo Do Thái Và Hinđu

31 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trình Bày Về Tôn Giáo Do Thái Và Hinđu
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn Hoá Đa Quốc Gia
Thể loại Bài Tiểu Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TIỂU LUẬN MÔN VĂN HOÁ ĐA QUỐC GIA CHỦ ĐỀ TRÌNH BÀY VỀ TÔN GIÁO DO THÁI VÀ HINĐU LỜI MỞ ĐẦU Tôn giáo là một phần phải có trong đời sống của rất nhiều người, tùy vào môi trường phát triển của xã hội[.]

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN

MÔN

VĂN HOÁ ĐA QUỐC GIA

CHỦ ĐỀ : TRÌNH BÀY VỀ TÔN GIÁO DO THÁI VÀ

HINĐU

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Tôn giáo là một phần phải có trong đời sống của rất nhiều người, tùy vào môi trườngphát triển của xã hội mà tôn giáo mỗi ngày một thay đổi để thích ứng với hoàn cảnh của xã hội Tôn giáo chỉ có ý nghĩa khi gây dựng được niềm tin tưởng trong quần chúng, khi loài người biết hướng theo con đường dẫn đạo của tôn giáo, tiến dần đến chân thiện mỹ và triệt

để được sự cứu cánh của nó

Hinđu giáo và Do Thái giáo cũng không nằm ngoài trong số đó, sau đây là phần trình bày về Do Thái giáo của nhóm chúng em

A.DO THÁI GIÁO

1 Giới thiệu chung

- Do Thái giáo là 1 trong những tôn giáo cổ xưa nhất còn tồn tại và được coi là tôn giáothờ độc thần đầu tiên (tôn giáo Abraham)

Trang 3

- Do Thái giáo gắn liền với Kinh Thánh Do Thái và lịch sử dân tộc Israel.

- Nhiều phương diện Do Thái giáo tuân theo các khái niệm đạo đức và Luật Dân sự phương Tây

- Do Thái giáo là tôn giáo-dân tộc vì đa số người theo giáo này đều là người Do Thái, các tín đồ còn được gọi là người Do Thái, điều này đã được xác định trong sách Thánh

- Người giảng Do Thái giáo gọi là thầy Rabbi

- Hiện có khoảng 13,2 triệu người Do Thái và 41% trong số họ ở Israel

2 Học thuyết và đức tin

- Do Thái giáo khởi nguồn từ giao ước giữa Thiên Chúa và ông Abraham

- Do Thái giáo xem mình là mối quan hệ giữa con cái Israel và Thiên Chúa

- Đức tin quan trọng nhất: Thiên Chúa duy nhất là đấng toàn năng, rất nhân từ, thông biết mọi sự, người đã tạo dựng vũ trụ và tiếp tục thống trị nó

Trang 4

- 13 nguyên tắc của đức tin (do ông Maimonides soạn):

 Đức Chúa Trời thực hữu

 Đức Chúa Trời có một và khác biệt với muôn vật

 Đức Chúa Trời không có thân thể vật chất

 Đức Chúa Trời là vĩnh cửu

 Chỉ cầu nguyện cùng 1 mình Đức Chúa Trời mà thôi

 Lời của các tiên tri là chân thật

 Những lời tiên tri của Môi-sê là chân thật và Môi-sê là tiên tri vĩ đại nhất

trong các tiên tri

 Bộ Torah được ghi chép thành văn tự và bộ Torah khẩu truyền (về sau được

chép lại thành bộ Talmud) đều do Đức Chúa Trời phán truyền cho Môi-sê

 Sẽ không có một bộ Torah nào khác hơn là bộ Torah truyền thống

 Đức Chúa Trời biết hết các ý tưởng và việc làm của loài người

 Đức Chúa Trời sẽ thương người tốt và phạt người xấu

 Đấng Mê-si sẽ đến

 Người chết sẽ được sống lại

3 Sách luật

Trang 5

- Nền tảng của luật và các truyền thống trong Do Thái giáo là sách Torah Có tất cả 613điều răn trong sách, có những điểu răn cụ thể cho từng đối tượng, tuy nhiên hiện tại người tai chỉ tuân theo chưa đến 300 điều.

- Cách truyền bá các điều răn chủ yếu là “khẩu luật” (truyền miệng) về sau có được biên soạn thành văn bản

- Halakha – cách sống đạo hằng ngày, là sự kết hợp của 3 việc: đọc sách Torah, các

truyền thống tuyền miệng – sách Mishnah và chú giải, sách Talmud và chú giải =>

Hình thành sách Halakha

- Việc ghi chép và hỏi thầy Rabi hình thành nên sách Responsa

- Sách luật quan trọng nhất là Shulchan Aruch mà ngày nay Chính thống giáo dựa vào

để cử hành các nghi thức phụng vụ

4 Triết học Do Thái giáo

- Là sự kết hợp giữa các nghiên cứu triết học và thần học Do Thái giáo

- Một vài cái tên nổi bật như: Maimonides, Saadia Gaon,

5 L ễ nghi Do Thái giáo

a) Y phục

Trang 6

Kippah

- Là một chiếc nón không vành, hơi tròn để trùm đầu Nón này được đàn ông Do Thái trùm đầu khi cầu nguyện, ăn uống, đọc lời chúc lành hoặc đọc sách thánh, một số người luôn luôn đội nón này bất kể dịp nào

- Ở một số cộng đồng Do Thái giáo phi chính thống, một số phụ nữ cũng dùng nón trùm đầu

Tzitzit

Trang 7

- Là những tua hay quả tua được kết đặc biệt để trang trí vào bốn góc của tallit (có

nghĩa là "khăn choàng cầu nguyện")

- Khăn này được dùng trong các buổi cầu nguyện cho cả nam lẫn nữ Độ tuổi để choàng khăn có thể khác nhau

Hộp Đựng Kinh

- Là những hộp hình vuông bằng da để đựng các câu trích từ Kinh thánh đeo ở trước trán và quấn quanh tay trái bằng các sợi dây da Người ta đeo nó trong các buổi cầu nguyện ban sáng mỗi ngày

Trang 8

Kittel

Trang 9

- Là áo vải trắng, dài tới đầu gối thường được các chủ tế hoặc tín hữu mặc trong các dịp Lễ trọng

- Theo truyền thống, gia trưởng sẽ mặc áo này trong bữa tối Lễ Vượt qua, một số chú rể cũng bận áo này dưới áo cưới Khi qua đời, đàn ông Do Thái được choàng

khăn tallit hoặc mặc áo kittel, đó là y phục tachrichim (đồ tang lễ).

b) Cầu nguyện

Một tín hữu trong buổi cầu nguyện ban sáng, đội Mũ Sợ Chúa Kippah, khăn choàng và đeo

Hộp Đựng Kinh

Trang 10

- Theo truyền thống, tín hữu Do Thái giáo cầu nguyện ba lần mỗi ngày và bốn lần trong ngày lễ Shabbat hoặc các ngày lễ khác của Do Thái giáo

 Hầu hết các tín hữu đều có thể cầu nguyện riêng mặc dù cầu nguyện nhóm được ưa chuộng hơn

- Để cầu nguyện nhóm cần phải có 10 tín hữu trưởng thành, gọi là minyan

- Đại đa số cộng đồng Do Thái giáo chính thống và một số cộng đồng Do Thái giao

bảo thủ chỉ chấp nhận nam giới để tạo nhóm cầu nguyện minyan;

- Ngược lại, hầu hết cộng đồng Do Thái giáo bảo thủ và các hệ phái Do Thái giáo khác, nữ giới cũng tạo nhóm cầu nguyện được

 Ngoài các buổi cầu nguyện chung, người Do Thái còn cầu nguyện và đọc kinh tạ ơn cho các hoạt động khác trong ngày Cầu nguyện khi thức dậy vào buổi sáng, cầu nguyện trước khi ăn hoặc uống, đọc kinh tạ ơn sau bữa ăn v.v

Cách thức cầu nguyện của các hệ phái Do Thái giáo cũng khác nhau:

- Các khác biệt có thể kể đến là kinh đọc, mức độ thường xuyên của các buổi cầu nguyện

- Số lượng kinh cầu trong các buổi phụng vụ

- Cách sử dụng nhạc cụ và thánh ca, các lời kinh cầu theo ngôn ngữ tế lễ truyền thống hoặc tiếng địa phương

Nhìn chung, các giáo đoàn Do Thái giáo chính thống và Do Thái giáo bảo thủ tuân thủ chặt chẽ các truyền thống còn Do Thái giáo cải cách và Do Thái giáo tái thiết thì sử dụng các bản dịch và các bản văn đương đại khi cầu nguyện

c) Các ngày lễ

- Các ngày lễ của Do Thái giáo nhằm tôn vinh mối quan hệ giữa Thiên Chúa và thế giới,như là Sáng thế, Mạc khải và Cứu thế

Shabbat

Trang 11

Hai bánh mì xoắn (challah) đặt dưới khăn thêu trong bữa ăn ngày Shabbat.

- Là ngày nghỉ hàng tuần, bắt đầu từ lúc trước khi mặt trời lặn ngày thứ sáu và kết thúc sau khi mặt trời lặn vào ngày thứ bảy

- Tưởng nhớ ngày nghỉ của Thiên Chúa sau sáu ngày tạo dựng vũ trụ

d) Ba lễ hành hương

Lều tạm ở Jerusalem

Trang 12

- Có ba lễ chính, đó là Lễ Vượt qua, Lễ Ngũ Tuần và Lễ Lều tạm

- Trong ba dịp lễ này, các tín hữu thường hành hương về Jerusalem để dâng sự hy sinh trong Đền Thánh

• Lễ Vượt qua

- Là ngày lễ nghỉ kéo dài một tuần, bắt đầu vào chiều tối ngày thứ 14 của Nisan

(tháng thứ nhất theo lịch Do Thái), để tưởng nhớ ngày thoát khỏi Ai Cập

- Các nước khác ngoài Israel, Lễ Vượt qua được mừng trong tám ngày

• Lễ Ngũ Tuần (Shavuot)

- Kỷ niệm sự mạc khải của sách Torah cho Con cái Israel trên núi Sinai

- Đây còn được gọi là Lễ Bikurim (Lễ hội của hoa quả đầu mùa), lễ này trùng với mùa thu hoạch lúa mì

Hanukkah (còn gọi là Lễ hội Ánh sáng)

- Là lễ kéo dài tám ngày bắt đầu từ ngày thứ 25 của tháng Kislev theo lịch Do Thái

- Trong dịp lễ này, người Do Thái sẽ thắp thêm một ngọn đèn theo số tăng dần củamỗi đêm lễ, đêm thứ nhất thắp một ngọn đèn, đêm thứ hai thắp hai ngọn đèn cho đến đêm cuối cùng là tám ngọn đèn

- Hanukkah không được đề cập đến trong Kinh thánh và cũng chưa bao giờ được xem là lễ chính của Do Thái giáo nhưng lễ này đã được mừng rộng rãi ở nhiều nơi, chủ yếu là do lễ cũng trùng vào dịp Lễ Giáng sinh

Tết Phú Rim

Trang 13

Đường phố trong ngày Tết Phú Rim ở Jerusalem.

- Là lễ mừng, tưởng nhớ việc giải thoát dân Do Thái gốc Iran (Persian Jews) khỏi bị

truy sát của Haman, người đã tìm để tiêu diệt họ, theo như Sách Esther đã ghi chép

- Tết Phú Rim được kỷ niệm hàng năm vào ngày thứ 14 của tháng Adar theo lịch

Do Thái, tương đương với tháng hai hoặc tháng ba của Dương lịch

B HINĐU GIÁO

Trang 14

Biểu tượng của đạo Hindu (Ấn Độ Giáo)

1 Nguồn gốc của Hindu giáo

- Nhìn xuyên suốt dòng lịch sử của đất nước Ấn Độ, ta nhận thấy nước Ấn Độ

là nơi xuất phát tổ chức mô hình tôn giáo của thế giới Ấn Độ không chỉ là

một nước đa sắc tộc , mà còn là một nước đa tôn giáo Những tôn giáo

của nước Ấn phải kể đến Bà-la-môn sau này cải biến thành đạo Hindu, một

tôn giáo chính của người Ấn Độ, còn được gọi là Ấn độ giáo

- Đạo Bà La Môn được truyền bá rộng rãi ở Ấn Độ trong nhiều thế kỷ, nhưng đến khoảng thế kỷ VI TCN bị suy thoái do có sự xuất hiện của Phật giáo Đến khoảng thế kỷ VIII, IX, đạo Bà La Môn dần dần phục hưng và phát

triển lớn mạnh trở lại với nhiều yếu tố mới mẻ hơn được gọi là Hindu Từ đó

Hindu ra đời Vì là đạo ra đời muộn hơn nên đạo Hindu có tổ chức giáo hội chặt chẽ hơn, dấu tích nguyên thủy cũng mờ nhạt dần Hiện nay Đạo Hindu thu hút hơn 80% dân số và đạo này có mặt khắp ở các bang của Ấn Độ Trong lịch sử, Đạo Hindu đã có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống chính trị văn hóa tinh thần của hầu hết các Quốc gia ở Đông Nam Á Khác với các tôn giáo khác trên thế giới như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo,… Hindu là

một tôn giáo không có người sáng lập, không có giáo chủ, giáo điều mà

là sự kết hợp của hệ thống tôn giáo – tín ngưỡng – triết học Tôn giáo – tín ngưỡng – triết học này của đạo Hindu được hình thành và phát triển dọc theonền lịch sử của Ấn Độ Trên cơ sở hỗn dung tín ngưỡng của người Aryan (kẻxâm lược) và của người bản địa Dravidian (người Ấn Độ chính gốc, có nước

da sậm, có khuynh hướng thần bí)

2 Sự hình thành và phát triển

Lịch sử Đạo Hinđu có ba giai đoạn lớn: Giai đoạn Vệ đà, giai đoạn Bàlamôn

và giai đoạn Hindu

- Giai đoạn Vệ đà kéo dài từ khoảng năm 1800 đến năm 500 Tr CN và gắn

liền với sự xâm nhập của người Arian vào Ấn Độ Vào thời gian này, một trong những bộ kinh cốt yếu nhất của Đạo Hinđu đã ra đời: Kinh Vệ Đà Những vị Thần của giai đoạn này chủ yếu là các biểu tượng của hiện tượng

tự nhiên như Inđra (Thần Sấm), Surya (Thần Mặt trời), Vayu (Thần Gió), Agni(Thần Lửa), Varuna (Thần Không trung) Giáo lý cơ bản của giai đoạn Vệ đà

là ý niệm cho rằng, con người thường xuyên có mối quan hệ với các Thần linh và có sự hoà đồng với Vũ trụ Việc cúng tế các Thần linh có vai trò quan trọng, nên dần dần đội ngũ các thày cúng tế trở nên đông đảo và biến thành tầng lớp có uy tín và quyền lực nhất trong xã hội Ấn Độ Thế là đẳng cấp tăng

lữ Bàlamôn ra đời Các tăng lữ Bàlamôn không chỉ phụ trách các việc cúng lễ

mà còn tìm cách chú giải và diễn giải các bộ Kinh Vệ đà Từ đó, bộ Thánh điển Brahmana của Đạo Hinđu xuất hiện Vì thế mà giai đoạn thứ hai của Đạo

Hinđu được gọi là giai đoạn Bàlamôn giáo

- Đến giai đoạn Bà la môn giáo, thuyết về bốn giai đoạn của cuộc đời một

con người được gọi là Ashrama của Đạo Hinđu đã hình thành Theo thuyết

Ashrama, mỗi con người đều lần lượt trải qua các giai đoạn: đồ đệ Bàlamôn,

chủ gia đình, ẩn sĩ và đạo sĩ khất thực Như vậy, tới giai đoạn Bàlamôn giáo,

ba yếu tố cốt lõi của Đạo Hinđu là Dharma (Đạo), Varna (Đẳng cấp) và

Ashrama (các giai đoạn cuộc đời) đã được hình thành.Sau đó, trong suốt hơn

Trang 15

một chục thế kỷ Tr và S.CN, Đạo Hindu liên tục được các tác phẩm văn học

và tôn giáo như sử thi Mahabharata, sử thi Ramayana cùng các truyền thuyếtPurana bộ Kinh Upanishad, tác phẩm triết học Veđanta bổ sung và hoàn thiện Giai đoạn cuối cùng và dài nhất này (kéo dài từ những Thế kỷ đầu Tr

CN tới tận ngày nay) được gọi là Hindu giáo

- Trong giai đoạn Hindu, các vị Thần đã được trìu tượng hoá thành những

biểu tượng: các vị Thần tượng trưng cho những hiện tượng thiên nhiên chính

họ đã được quy tụ lại thành ba vị Thần, chủ thể của một hình tượng tam vị

nhất thể (Trimurti) Ba vị Thần chủ thể đó là: Brahma, Vishnu và Shiva, đại

diện cho ba lực lượng phổ biến của Vũ trụ: Sáng tạo, Bảo tồn và Phá hoại

Để dễ dàng hoà nhập vào đông đảo dân chúng, ở giai đoạn này, nhiều lễ thức của Đạo Hinđu đã được đơn giản hoá Giờ đây, các công việc như hiến

tế súc vật tốn kém được thay thế bằng thờ cúng các ảnh tượng; bên cạnh cácđền thờ lớn, đã xuất hiện các đền thờ nhỏ của từng gia đình; thuyết sùng tín (Bhắc ti) chủ trương chỉ cần có lòng thành là có thể giao cảm được với Thần linh đã ra đời Đến thế kỷ XIX và XX một số nhà hoạt động tôn giáo nổi tiếng của Ấn Độ như Ram Môhanroy, Ram Krishna, Vivơka nanđa, Ôrôbinđô đã làm cuộc cách tân lớn đối với Đạo Hinđu Cuộc cách tân này không chỉ phục hồi những giá trị đích thực ban đầu của Đạo Hinđu mà còn loại trừ những yếu

tố lạc hậu và thái quá ra khỏi tư tưởng của Đạo này Chính nhờ khả năng

thích ứng với những đổi thay của lịch sử, mà Đạo Hinđu luôn luôn là tôn giáo

chính, lớn nhất của người Ấn và có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi tầng lớp dân cư Ấn Độ từ ngàn xưa tới nay

Các vị thần trong thế giới đạo Hindu có rất nhiều vị thần được thờ, trong đó nổi bật và nhất là bộ tam thần Trimurti bao gồm: Brahma là đấng tạo hóa, Shiva là đấng hủy diệt, Vishnu là đấng bảo hộ Cả ba thường được gọi là

"Brahma-Vishnu-Maheshwara”.

Hình ảnh tượng ba vị thần Trimurti tai đền thờ Hoysaleswara ở Halebidu

Trang 16

3. Các vị thần

a Thần Brahma

- Là cha của các vị thần, của loài người

- Được thể hiện bằng một hình tượng có 4 đầu để chứng tỏ thần có thể nhìn thấu mọi nơi Bốn tập kinh Vêđa chính là được phát minh ra từ 4 cái miệng của thần Brahma

- Các vật biểu trưng của thần gồm một chai đựng nước sông Hằng và một vòng hoa hồng Thần cưỡi trên một con ngỗng hay con thiên nga có tên Hamsa

- Vợ của Brahma là người đẹp Sarasvati, nữ thần của học vấn và là thần đỡ đầu của nghệ thuật, khoa học và ngôn từ

- Là thế lực cần bằng giữa Vishnu và Shiva

Trang 17

b Thần Shiva

- Là vị thần chính của Hindu giáo

- Vị thần tử tế và che chở nhưng cũng là vị thần đáng sợ, Là thần sáng tạo, cũng là vị thần thời gian do đó là vị thần hủy diệt, Mặc dù Shiva đem lại chết chóc nhưng thần này cũng chinh phục cái chết cùng bệnh tật và được cầu khấn mỗi khi chữa bệnh

- Được thể hiện thành hình tượng có mắt thứ ba ở trên trán, luôn luôn cầm một cái đinh ba Shiva thường cưỡi bò hoặc ngồi trên tấm da hổ, có những con rắn hổ mang quấn quanh cổ Thàn Shiva là thần phá hoại những thứ mà thần Brama sáng tạo ra, nhưng Shiva cũng có mặt sáng tạo Sự sáng tạo ấy được thể hiện qua hình tượng linga - yoni mà nhân dân Ấn Độ sùng bái

- Shiva là cha của vị thần đầu voi Ganesha và của chiến thần Karttikeya Vật cưỡi của ông là con bò mộng Nandi Vợ ông hay Shakti (năng lượng nữ) của ông có tên là Parvati trong hình thái dịu dàng của bà

Trang 18

- Tượng thần Shiva tại thiền đình tại Bengaluru

-Thần Vishnu cũng được xem như cây cột vũ trụ chống đỡ bầu trời Vợ ông làLakshmi, nữ thần của sự giàu có và may mắn

-Thần Vishnu được quan niệm là đã giáng trần 9 lần Trong sáu lần đầu, thần xuất hiện dưới dạng các động vật như cá, lợn rừng Đến lần thứ 7, thần Vishnu chính là Rama, nhân vật chính trong sử thi Ramayana Lần thứ 8, thần Vishnu giáng thế thành thần Krisna Thần Krisna thường bênh vực kẻ nghèo, chữa bệnh cho người mù, người điếc và làm cho người chết sống lại Lần thứ 9, thần Visnu biến thành Phật Thích ca Đây là một biểu tượng chứng

tỏ đạo Hinđu có tiếp thu một số yếu tố của đạo Phật, đồng thời đây cũng là một thủ đoạn để đạo Hinđu thu hút các tín đồ đạo Phật cải giáo theo đạo Hinđu Đến kiếp thứ 10 tức là lần giáng sinh cuối cùng, thần Visnu sẽ biến thành thần Kali Đó là vị thần sẽ hủy diệt thế giới cũ tội lỗi, tạo dựng thế giới mới với đạo đức trong sáng Sự tôn sùng đối với các vị thần và các loại vật ở đạo Hindu có phần cao hơn trước

Ngày đăng: 18/07/2023, 03:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w