Các chỉ tiêu sinh sản và yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái 2.1.3.1 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Một yêu cầu quan trọng của chăn nuôi lợn nái là phải tăng khả năn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP
LÊ VĂN CHÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HAI TỔ HỢP LAI F1 (♂LANDRACE X ♀YORKSHIRE) VÀ (♂YORKSHIRE X
♀LANDRACE) KHI PHỐI VỚI ĐỰC GIỐNG PIDU TẠI
TRẠI LỢN TỈNH VĨNH PHÚC THUỘC CÔNG TY
CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN TÂN LONG
Ngành: Chăn nuôi
Mã số: 28.06.21
THANH HÓA, NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HAI TỔ HỢP LAI F1 (♂LANDRACE X ♀YORKSHIRE) VÀ (♂YORKSHIRE X
♀LANDRACE) KHI PHỐI VỚI ĐỰC GIỐNG PIDU TẠI TRẠI LỢN TỈNH VĨNH PHÚC THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN TÂN
LONG
Người thực hiện: Lê Văn Châu Lớp: Đại học Chăn nuôi K20 Khoá: 2017 - 2021
Giảng viên hướng dẫn: TS Đỗ Ngọc Hà
Thanh Hóa, năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành báo cáo khóa luận tốt nghiệp, cho phép tôi được bày
tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Đỗ Ngọc Hà - Giảng viên Bộ môn Khoa học vật nuôi, Khoa Nông Lâm Ngư Nghiệp, trường Đại học Hồng Đức đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các Thầy, Cô trong Khoa Nông Lâm Ngư Nghiệp, Bộ môn Khoa học vật nuôi - Khoa Nông Lâm Ngư Nghiệp, Trường Đại học Hồng Đức đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành báo cáo tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị, em làm việc tại trại lợn thuộc công
ty cổ phần Tập đoàn Tân Long, đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Thanh Hóa, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
Lê Văn Châu
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Lai giống 3
2.1.2 Ưu thế lai 3
2.1.3 Các chỉ tiêu sinh sản và yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái 6
2.1.4 Đặc điểm sinh lý, sinh trưởng của lợn con và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh trưởng 14
2.1.4.1 Đặc điểm sinh lý và sinh trưởng phát triển của lợn con 14
2.1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn con 14
2.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của lợn con 15
2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước 16
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 16
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
PHẦN 3: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 20
3.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
Trang 53.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 20
3.4.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 20
3.4.5 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 21
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(L x Y) và F1 (Y x L) phối với đực Pidu22 4.2 Một số chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái lai qua các lứa đẻ 29
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 33
5.1 Kết luận 33
5.2 Kiến nghị 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 34
II TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI 35
Trang 6và PiDu qua các lứa đẻ 31 Biểu đồ 4.4 Khối lƣợng cai sữa/con của lợn nái F1 (L Y) và nái F1 (YxL) phối với đực PiDu qua các lứa đẻ 32
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nghĩa tiếng Việt
F1(L x Y) Lợn lai giữa Landrace và Yorkshire F1(Y x L) Lợn lai giữa Yorkshire và Landrace
PiDu Lợn lai giữa Pietrain và Duroc
SCSSS Số con sơ sinh sống
Trang 8PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn đóng vai trò rất lớn trong việc đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng và xuất khẩu ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, trong thời gian qua, ngành chăn nuôi lợn cả nước chịu nhiều tác động của dịch bệnh Dịch tả lợn Châu Phi, sự biến động của giá cả thị trường đã làm cho ngành chăn nuôi lợn phát triển không ổn định Do đó, cần phải có những giải pháp phù hợp để hỗ trợ chăn nuôi lợn phát triển bền vững Một trong số các giải pháp đó là qui hoạch lại cơ cấu các đàn vật nuôi để có kế hoạch tổng thể phát triển phù hợp với từng địa phương; đẩy nhanh việc ứng dụng các tiến bộ khoa học trong chăn nuôi để giảm chi phí chăn nuôi, hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra
Để ổn định sản xuất và thích ứng được với những biến động to lớn do dịch bệnh gây ra, nhiều Tập đoàn, công ty lớn ở nhiều địa phương trong cả nước đã thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng lợn như cải tiến chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, điều kiện chuồng trại chăn nuôi, chọn lọc tốt, … trong đó, việc nhập những giống lợn ngoại như: Yorkshire, Landrace, Duroc, Piétrain , để tiến hành nhân thuần và cho lai tạo trên cơ sở kết hợp một số đặc điểm tốt của mỗi giống, dòng cao sản để sử dụng triệt để ưu thế lai được xem là một giải pháp rất tích cực, đã được ứng dụng rộng rãi mang lại hiệu quả tốt
Công ty cổ phần Tập Đoàn Tân Long đã nhập và nuôi các giống lợn ngoại như Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain từ nước ngoài về nuôi giữ duy trì đàn
cụ, kỵ và phục vụ công tác lai tạo giống Tuy nhiên, năng suất sinh sản của đàn nái ngoại chưa được cao, không đồng đều, chất lượng thịt chưa ổn định so với kỳ vọng Mặt khác việc đánh giá năng suất sinh sản đang là một đòi hỏi cấp thiết đối với người làm công tác chọn giống và nhân giống vật nuôi
Xuất phát từ tình hình trên và để góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn ngoại trong điều kiện chăn nuôi hiên nay, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá năng suất sinh sản của hai tổ hợp lai F1 (♂Landrace X ♀Yorkshire)
và (♂Yorkshire X ♀Landrace) khi phối với đực giống Pidu tại trại lợn tỉnh Vĩnh
Trang 9Phúc thuộc Công ty cổ phần tập đoàn Tân Long”
1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài nghiên cứu
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
Đánh giá đƣợc năng suất sinh sản của tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L x Y) và F1 (Y x L) phối với đực PiDu
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Lai giống
Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho đực giống và cái giống thuộc hai quần thể khác nhau phối giống với nhau, hai quần thể này có thể là hai dòng, hai giống, hai loài khác nhau Do đó đời con của chúng mang đặc tính của bố mẹ nó
Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, còn tần số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên
Lai giống là phương pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc Lai giống có những ưu việt vì con lai thường có ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định
2.1.2 Ưu thế lai
Ưu thế lai là hiện tượng con lai có các đặc điểm vượt trội hơn cha mẹ về sức sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng cho sữa, khả năng sinh sản, về tính chống chịu với điều kiện bất lợi của môi trường và khả năng sử dụng chất dinh dưỡng
Ưu thế lai là do tác động trội lặn và át gen sinh ra, đó là phần sai lệch của con lai so với trung bình của bố mẹ
Thuật ngữ ưu thế lai được hiểu như sau: Ưu thế lai là sự hơn hẳn của đời con so với trung bình của đời bố mẹ Có thể ưu thế lai là sức sống, sức miễn kháng đối với bệnh tật và tính trạng sản xuất của con lai được nâng cao, khả năng lợi dụng thức ăn tốt
Ở lợn có 3 loại ưu thế lai chính: Ưu thế lai của cá thể (ưu thế lai trực tiếp), ưu thế lai của mẹ lai và ưu thế lai của bố lai
Ưu thế lai hay sức sống con lai hoàn toàn ngược với suy hoá cận huyết và sự suy giảm sức sống do cận huyết được khắc phục trở lại khi lai giống
Có thể giải thích ưu thế lai bằng các giả thiết sau:
- Thuyết trội: Giả thiết này cho rằng mỗi bên cha mẹ có những cặp gen trội
đồng hợp tử khác nhau Khi tạp giao ở thế hệ F1 sẽ có các gen trội ở tất cả các locus Nếu bố có kiểu gen AABBCCddeeff và mẹ có kiểu gen aabbccDDEEFF thì thế hệ F1
có kiểu gen là: AaBbCcDdEeFf
Do tính trạng số lượng được quyết định bởi nhiều gen, nên xác suất xuất hiện một kiểu gen đồng hợp hoàn toàn là thấp Ngoài ra, vì sự liên kết giữa các gen trội và gen lặn trên cùng một nhiễm sắc thể, nên xác suất tổ hợp được kiểu gen tốt nhất cũng
Trang 11thấp Hiện tượng này và thuyết trội đã được bổ sung thông qua giả thiết sự liên kết của các gen
- Thuyết siêu trội: Mỗi alen trong một locus sẽ thực hiện chức năng riêng của
mình Ở trạng thái dị hợp tử thì cả hai chức năng này đồng thời được biểu lộ Mỗi gen
có khả năng tổng hợp riêng, quá trình này được thực hiện trong những điều kiện môi trường khác nhau Do vậy, kiểu gen dị hợp tử sẽ có khả năng thích nghi tốt hơn với những thay đổi của môi trường
Ưu thế lai có thể do hiện tượng siêu trội của một locus, hiện tượng trội tổ hợp nhiều locus hoặc do các nguyên nhân khác gây ra Khả năng thích ứng với môi trường của các thể dị hợp tử tạo nên hiện tượng siêu trội là cơ sở của ưu thế lai
Theo Dickerson (1974) [25] khi lai giữa hai giống thì con lai chỉ có ưu thế lai cá thể Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con lai có cả
ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1 Nếu dùng đực lai giao phối với nái của giống thứ ba, con lai có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của bố, do con bố là con lai F1 Trong lai bốn giống, con lai có cả ưu thế lai cá thể, cả ưu thế lai của mẹ và
ưu thế lai của bố
- Tương tác gen: Tương tác gen trong cùng một locus dẫn tới hiện tượng trội
không hoàn toàn Tương tác giữa các gen trong cùng các locus khác nhau, bao gồm vô
số các kiểu tương tác phức tạp, đa dạng, phù hợp với tính chất phức tạp, đa dạng của sinh vật
* Cơ sở thống kê của ưu thế lai
Cơ sở thống kê của ưu thế lai do Falconer đưa ra từ năm 1964
Ưu thế lai ở F1: HF1 = dy2
Trong đó: d là giá trị của kiểu gen dị hợp
y là sai khác về tần số gen giữa hai quần thể bố, mẹ
Ưu thế lai sinh ra bởi ảnh hưởng đồng thời của tất cả các giá trị riêng rẽ của từng locus:
Trang 12huyết Ưu thế lai ở F1, F2 có thể phức tạp do ảnh hưởng của mẹ Ví dụ, tính trạng số con/ổ của lợn, ưu thế lai quan sát được ở F1 không có đóng góp của mẹ ở F2, mặc dù
ưu thế lai mất đi một nửa nhưng lại có ảnh hưởng ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai của F1
Ảnh hưởng của mẹ bao gồm tất cả những đóng góp, những ảnh hưởng tốt xấu do kiểu hình mẹ gây ra đối với kiểu hình của đời con Ảnh hưởng của mẹ đối với kiểu hình của đời con có thể do sự khác nhau về di truyền, về ngoại cảnh hoặc
sự phối hợp giữa di truyền và ngoại cảnh Ảnh hưởng của mẹ có thể được thực hiện trong quá trình thụ tinh, có chửa, tiết sữa và nuôi con Các ảnh hưởng này chỉ có thể xuất hiện tức thời, song cũng có thể kéo dài suốt đời con vật và được thể hiện ở nhiều cơ chế sinh học khác nhau Theo Đặng Vũ Bình (2002) có 5 loại ảnh hưởng của mẹ
- Ảnh hưởng của nguyên sinh chất nhưng không phải là ADN ngoài nhân
- Ảnh hưởng của nguyên sinh chất do ADN ngoài nhân
- Ảnh hưởng của mẹ trong giai đoạn trước khi đẻ
- Ảnh hưởng của mẹ thông qua sự truyền kháng thể từ mẹ sang con
- Ảnh hưởng của mẹ sau khi sinh
Khi lai giữa hai giống con lai chỉ có ưu thế lai cá thể Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con lai có cả ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1 Nếu dùng đực lai giao phối với nái của giống thứ 3, con lai có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của bố, do bố là con lai F1 Trong lai 4 giống, con lai có cả ưu thế lai cá thể, cả ưu thế lai của mẹ và ưu thế lai của bố
Tính ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định từ các giá trị trung bình của đời con và giá trị trung bình của bố mẹ theo công thức sau:
100)
(21
)(
2
1)(
BB AA AB
BA H
Trong đó, H: ưu thế lai, BA: F1(bố B, mẹ A), AB: F1(bố A, mẹ B), AA: bố A,
Trang 13riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể Ưu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ưu thế lai của lợn nái ảnh hưởng đến số con/ổ và tốc độ sinh trưởng của lợn con Ưu thế lai cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa
Ưu thế lai của bố thể hiện tính hăng của con đực, kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai Khi lai hai giống, số lợn con cai sữa/nái/năm tăng 5 - 10%, khi lai 3 giống hoặc lai trở ngược số lợn con cai sữa/nái/năm tăng tới 10 – 15%, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0 – 1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng được 1kg, ở 28 ngày tuổi so với giống thuần (Colin, 1998)
- Tính trạng
Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, có những tính trạng có khả năng di truyền cao nhưng cũng có những tính trạng có khả năng di truyền thấp Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất Các tính trạng
có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là một biện pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn
Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau: số con đẻ ra/ổ có ưu thế lai cá thể là 2%, ưu thế lai của mẹ là 8%; số con cai sữa có ưu thế lai cá thể 9%, ưu thế lai của mẹ là 11%; khối lượng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ưu thế lai cá thể 12%; ưu thế lai của
mẹ 18% (Richard, 2000) [39]
- Sự khác biệt giữa bố và mẹ
Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai, hai giống càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu Nếu các giống hay các dòng đồng hợp tử đối với một tính trạng nào đó thì mức dị hợp tử cao nhất ở F1, với sự phân li của các gen trong các thế hệ sau mức độ dị hợp tử sẽ giảm dần
Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý thì ưu thế lai càng cao Ưu thế lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh Có nhiều yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến gia súc, cũng như ảnh hưởng đến biểu hiện của ưu thế lai
2.1.3 Các chỉ tiêu sinh sản và yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
2.1.3.1 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái
Một yêu cầu quan trọng của chăn nuôi lợn nái là phải tăng khả năng sinh sản nhằm đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng lợn cho khâu sản xuất lợn thịt
Trang 14Người ta thường quan tâm tới một số tính trạng năng suất sinh sản nhất định, đây cũng là các chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản
Các tính trạng phản ánh năng suất sinh sản có hệ số di truyền thấp Để đánh giá một cách đúng đắn năng suất sinh sản của lợn cái cần phải xác định được các chỉ tiêu
cơ bản, quan trọng, lấy đó làm cơ sở, thước đo để định ra thời gian sử dụng lợn cái hiệu quả Các chỉ tiêu này cần phải được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn cái từ lứa đẻ đầu tiên đến lứa đẻ cuối cùng Thảo luận về vấn đề này các chuyên gia có nhiều ý kiến khác nhau:
Vandersteen (1986) [42] cho rằng các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu cho phép đánh giá lợn nái bao gồm: tuổi động dục lần đầu, tỷ lệ thụ thai, số con/ổ, thời gian động dục trở lại Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy các tính trạng năng suất sinh sản có hế số di truyền thấp
Kết quả các nghiên cứu khác cho rằng, các chỉ tiêu ảnh hưởng đến số lượng lợn con cai sữa của 1 nái/1 năm là: tính đẻ nhiều con (số lợn sơ sinh), tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau (Legault, 1980) [34]
Theo Ducos (1994) [27], các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con còn sống khi cai sữa gồm: Số trứng rụng, tỷ lệ sống khi sơ sinh và tỷ lệ lợn con sống tới lúc cai sữa
Theo Marby et al (1997) [35], các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của
lợn nái bao gồm: Số con sơ sinh/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày tuổi
và số lứa đẻ/nái/năm Các tính trạng này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người chăn nuôi lợn nái
Gordon (2004) [30] cho rằng, trong các trang trại chăn nuôi hiện đại, số lượng con cai sữa do một nái sản xuất trong 1 năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất khả năng sinh sản của lợn nái
Theo Trần Đình Miên (1977) [9], việc tính toán và đánh giá sức sinh sản của lợn nái phải xét đến các mặt: chu kỳ động dục, tuổi thành thục sinh dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa, số con sơ sinh/lứa
Ở Việt Nam, Tiêu chuẩn nhà nước về lợn giống (TCVN 1980 – 1981 – TCVN
1982 – 1981) đề ra 4 chỉ tiêu giám định lợn nái tại các cơ sở giống nhà nước là: Số con sơ sinh sống/ổ, khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày, khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày, tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái đẻ lứa 1 hoặc khoảng cách lứa đẻ đối với nái đẻ từ lứa thứ 2 trở đi
Trang 15Theo Nguyễn Khắc Tích (2002) [15], khả năng sinh sản của lợn nái chủ yếu được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm Chỉ tiêu này lại phụ thuộc vào 2 yếu tố là Số con sơ sinh và số lứa đẻ/nái/năm
Năng suất sinh sản của lợn nái được cấu thành bởi nhiều yếu tố, do đó cũng có nhiều chỉ tiêu để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Trong thực tế người ta thường quan tâm đến một số chỉ tiêu quan trọng về năng suất mà qua đó có thể đánh giá được khả năng cũng như năng suất sinh sản của lợn nái như:
- Tuổi động dục lần đầu (ngày): là thời gian từ sơ sinh đến khi lợn cái hậu bị
động dục lần đầu Tùy theo từng giống và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng khác nhau
mà tuổi dộng dục khác nhau Lợn ngoại có tuổi động dục muộn hơn lợn nội, chăm sóc, nuôi dưỡng không hợp lý thì tuổi động dục cũng muộn hơn chăm sóc và nuôi dưỡng hợp lý
- Tuổi phối giống lần đầu (ngày): thông thường người ta phối giống lần đầu vào
lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 vì ở lần động dục đầu cơ thể phát triển chưa đầy đủ, chưa tích lũy đủ dinh dưỡng nuôi bào thai và trứng rụng ít, chưa đều nên thường bỏ qua không phối giống
- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày): là tuổi khi lợn nái đẻ lứa thứ nhất Tuổi đẻ lứa đầu nói
lên tuổi thành thục về tính, thể vóc đảm bảo về khối lượng của lợn nái khi đưa vào phối giống
- Số con đẻ ra/ổ (con): là tổng số con đẻ ra trong một ổ bao gồm cả số con đẻ
ra còn sống và số con đẻ ra chết Chỉ tiêu này phản ánh khả năng đẻ nhiều hay đẻ ít của lợn nái, khả năng nuôi con của lợn nái đồng thời đánh giá được kỹ thuật chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai và kỹ thuật phối giống Nó có ảnh hưởng tới một số chỉ tiêu khác như số con đẻ ra/nái/năm, số con còn sống tới 24 giờ, khối lượng sơ sinh/ổ, … Do đó, đây là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Thông thường số con đẻ ra/ổ khác nhau qua các lứa đẻ và tuân theo một quy luật, lứa đầu thường không cao sau đó tăng lên ở lứa thứ 2, tương đối ổn định ở các lứa tiếp theo đến lứa 6 - 7 sau đó giảm dần
- Số con đẻ ra còn sống (con): là số con đẻ ra sống được đến khi lợn mẹ đẻ ra
con cuối cùng Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng vì nó phản ánh đúng khả năng đẻ sai hay đẻ ít con của giống đồng thời phản ánh cả chất lượng đàn con đẻ ra
- Tỷ lệ sơ sinh còn sống (%): Tỷ lệ này không đảm bảo đạt 100% do nhiều
Trang 16nguyên nhân như lợn con chết khi đẻ ra, thai gỗ, thai non
- Số con cai sữa/ lứa (con): Đây là chỉ tiêu quan trọng thể hiện trình độ chăn
nuôi lợn nái sinh sản Nó quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả kinh
tế của quá trình chăn nuôi Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào trình độ chăn nuôi bao gồm
kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng chống dịch bệnh Số lợn con cai sữa/lứa đẻ tuỳ thuộc kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con, kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ cũng như khả năng tiết sữa của lợn mẹ và sức đề kháng và khả năng phòng chống bệnh của lợn con
Mặt khác số con cai sữa/lứa phụ thuộc vào số con để nuôi Người ta có thể tiêu chuẩn hoá số con để nuôi/lứa là từ 8- 10 con Nếu số con nhiều hoặc ít hơn cần có sự điều phối giữa các lợn nái và phải làm muộn nhất là 48 giờ sau khi đẻ Đơn giản nhất là chuyển lợn đực từ ổ đông con sang ổ ít hơn 8 con, cần ghi rõ số hiệu của mẹ nuôi Khi lợn đạt 21 ngày tuổi cần ghi chép số con nuôi sống/ổ, khối lượng toàn ổ kể cả những con nuôi ghép Việc “chuẩn hoá” số con cho mỗi nái có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá lợn nái sinh sản Số lượng lợn con/ổ có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chính các con đó sau này Những lợn nái từng được nuôi trong ổ đông con sau này sẽ đẻ ra những con cái nhẹ cân hơn, ảnh hưởng này có ý nghĩa kinh tế lớn hơn các ổ đẻ trên 10 con Việc tiêu chuẩn hoá số con đẻ ra/ổ là 8-10 con sẽ giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực đó, giúp cho việc xác định giá trị giống chính xác hơn, vì sau khi được chuẩn hoá và được nuôi dưỡng trong cùng một môi trường nên khả năng làm mẹ, tiết sữa nuôi con của lợn nái được đánh giá chính xác hơn qua số đo về khối lượng của lợn con lúc 21 ngày tuổi
- Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%): tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến cai sữa chịu ảnh
hưởng của một số yếu tố như ỉa chảy 10,8%; bệnh đã biết 9,8%; bệnh chưa biết 13,1%;
bị đói 19,9%; bị mẹ đè 43,2%; nguyên nhân khác 3,2% Lợn con trước cai sữa thường bị chết với các nguyên nhân và tỷ lệ khác nhau như di truyền 4,5%; nhiễm khuẩn 11,1%;
mẹ đè, thiếu sữa 50%; dinh dưỡng kém 8%; nguyên nhân khác 26,4% Theo Nguyễn Khắc Tích (2002) [15] tỷ lệ lợn con chết sau khi sinh ở mỗi giai đoạn có sự khác nhau: ngày 1 là 28%; ngày 2: 24%; ngày 3: 11%; từ ngày 4- 7: 10%; từ ngày 8- 14: 15%; từ ngày 15- 21: 6%; từ ngày 22 trở đi: 6%
- Khối lượng sơ sinh toàn ổ (kg): là khối lượng cân sau khi lợn con đẻ ra, lau
khô, cắt rốn, bấm răng nanh và chưa cho bú sữa đầu Đây là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc, quản lý và phòng bệnh cho
Trang 17lợn nái chửa của cơ sở chăn nuôi Khối lượng sơ sinh cao hay thấp ảnh hưởng đến các giai đoạn sau này
- Khối lượng cai sữa/ổ (kg): Khối lượng cai sữa của lợn con chịu ảnh hưởng và
có liên quan chặt chẽ với khối lượng sơ sinh Khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng khối lượng cai sữa càng lớn Trong chăn nuôi lợn nái chửa, việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt để có khối lượng sơ sinh lớn là cần thiết, làm tiền đề cho khối lượng cai sữa cao
- Thời gian cai sữa (ngày): tuỳ thuộc vào trình độ chăn nuôi bao gồm kỹ thuật
chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng bệnh
- Thời gian động dục trở lại sau cai sữa (ngày): là thời gian từ lúc cai sữa đến lúc
động dục trở lại Chỉ tiêu này phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, chế độ dinh dưỡng trong giai đoạn nuôi con và sau cai sữa Chỉ tiêu này đánh giá được tỷ lệ hao hụt của lợn nái, trình độ kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con và lợn nái chờ phối
- Khoảng cách 2 lứa đẻ (ngày): khoảng cách 2 lứa đẻ là thời gian từ lứa đẻ này
đến lứa đẻ tiếp theo, bao gồm thời gian nuôi con + thời gian chờ phối + thời gian mang thai Trong đó, thời gian mang thai thường cố định hoặc biến đổi rất nhỏ nên khoảng cách hai lứa đẻ phụ thuộc vào thời gian nuôi con và thời gian chờ phối
2.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào 2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác nhau thì có tính năng sản xuất khác nhau Yếu tố ngoại cảnh bao gồm thức ăn dinh dưỡng, vệ sinh thú y, chuồng trại Mặt khác năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như: số trứng rụng, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra còn sống,
số con cai sữa/lứa, thời gian chờ phối Các chỉ tiêu này có hệ số di truyến thấp nên chúng chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện ngoại cảnh
Trang 18Poland China có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao
- Các giống chuyên dụng "dòng mẹ", đặc biệt một số giống chuyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng cho thịt kém
- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường
- Các giống "dòng bố" thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các giống
đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ lệ lợn con chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với Landrace và Large white
(Blasco et al.,1995) [22]
Năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hưởng của giống và cá thể, mỗi một giống có một đặc tính sản xuất gắn liền với năng suất và hiệu quả kinh tế của nó, giống khác nhau thì có năng suất khác nhau
- Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn nái như: Chế độ nuôi dưỡng, tuổi, phương thức phối, lứa đẻ, mùa vụ, nhiệt độ môi trường, thời gian chiếu sáng, bệnh tật (Martinez, 2000) [36]
- Chế độ nuôi dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái Lợn nái và lợn cái hậu bị có chửa cần được cung cấp đủ về số và chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt
Yamada et al (1998) [44] nhận thấy nuôi dưỡng hạn chế đối với lợn cái trong
giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuôi dưỡng đầy đủ Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số lượng trứng rụng, tăng số phôi sống
Lợn nái ăn gấp đôi lượng thức ăn ở giai đoạn trước khi phối giống và ở ngày phối giống so với bình thường có tác dụng làm tăng số lượng trứng rụng và số con đẻ ra/ổ Nuôi dưỡng lợn nái với mức cao ở thời kỳ chửa đầu có thể làm tăng tỷ lệ chết phôi ở lợn nái mới đẻ
Theo Gordon (2004) [30] cho biết tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu và giữa chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng
Trang 19thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu
Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức protein thấp trong khẩu phần sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại Mức dinh dưỡng protein thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm cho lợn nái phải huy động dinh dưỡng của cơ thể để nuôi thai,
do đó làm giảm khả năng sống của thai và lợn con khi đẻ cũng như sau khi đẻ làm giảm khả năng tiết sữa của lợn mẹ, do đó dẫn đến lợn nái sinh sản kém
Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lyzin thấp và Protein thấp sẽ làm giảm khả năng trưởng thành của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra và số con còn
sống trên ổ, tăng tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ và giảm tốc độ sinh trưởng của lợn con (Yang et
al., 2000) [45], Podtereba (1997) [38] xác nhận có 9 axit amin cần thiết đóng vai trò quan
trọng trong quá trình sinh sản và trong quá trình phát triển của phôi Song mức protein quá cao trong khẩu phần sẽ không tốt cho lợn nái
- Phương thức nuôi và trình độ kỹ thuật
Phương thức nuôi và trình độ kỹ thuật có ảnh hưởng tới quá trình phát triển sinh dục của lợn cái Ở lợn hậu bị nếu nuôi nhốt và cách biệt lợn đực thì tuổi thành thục sinh dục sẽ dài hơn Theo Hughes and Jemes (1996) [31] thì có đến 83% lợn cái hậu bị
có khối lượng cơ thể trên 90kg động dục lúc 165 ngày tuổi nếu được tiếp xúc với đực giống 2 lần/ngày, 20-25 phút/lần Mặt khác tuổi động dục lần đầu của lợn nái sẽ bị chậm ít nhất một tháng nếu điều kiện chuồng nuôi không đảm bảo mật độ và vệ sinh thú y Để đạt kết quả tốt thì lợn cái hậu bị phải được nuôi chung thành nhóm đồng đều
về giống, tuổi, khối lượng với mật độ từng thời kỳ: 3-5 tháng tuổi thì 0,4-0,5m2/con;
6-8 tháng tuổi: 0,5-0,6-8m2/con (5-6 con/nhóm) sẽ đảm bảo cho lợn động dục lần đầu đúng thời gian
Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân (1999) [19] cho thấy giai đoạn nuôi hậu
bị, lợn cái nhốt chung sẽ tốt hơn nuôi riêng biệt từng con và phải đảm bảo diện tích 0,8-1m2/con Khi lợn đực được 5,5-6 tháng tuổi dắt lợn đực đi qua chuồng 2 lần/ngày, 10-15 phút/lần
- Mùa vụ
Mùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái Gaustad
-Aas et al (2004) [28] cho biết mùa vụ có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ
Tỷ lệ thụ thai bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và mùa vụ Lợn nái phối giống vào các
Trang 20tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối giống, giảm khả năng sinh sản
từ 5-20%
Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinh sản của lợn nái Nhiệt độ cao làm cho tỷ lệ loại thải nái cao (30 - 50%) và làm thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi nái sinh sản và từ tháng 7 đến tháng 11, lợn nái dễ dàng không động dục (Gordon, 1997) [29] Số con đẻ ra/ổ khi phối giống vào mùa hè có thể thấp hơn so với khi
phối giống vào mùa thu, mùa đông (Peltoniemi et al., 2000) [37] Tỷ lệ thụ thai thấp và số con đẻ ra ít vào mùa hè đã được Dominguez et al (1998) [26] xác nhận
Stress nhiệt có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai tới 20%, giảm số phôi sống 20% và do
đó làm giảm thành tích sinh sản của lợn nái (Peltoniemi et al., 2000) [37]
- Tuổi đẻ và lứa đẻ
Tuổi đẻ và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Lợn nái kiểm định có tỷ lệ thấp hơn so với lợn nái sinh sản, số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt
tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba (Koketsu et al., 1998) [32] Số con đẻ ra
tương quan thuận với số lượng trứng rụng (Gordon, 1997) [29]
Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì có
sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4, 5 và sau đó gần như
là ổn định hoặc hơi giảm khi lứa đẻ tăng lên
- Phương thức phối giống
Theo Anon (1993) phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ (Trích từ Ian Gordon, 1997) [29] Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo, tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ đều thấp hơn (0-10%) so với phối giống trực tiếp (Whittemore, 1998) [23]
- Thời gian cai sữa
Gaustad-Aas et al (2004) [28] cho biết: Phối giống sớm sau khi đẻ, tỷ lệ đẻ và số
con đẻ ra/ổ thấp hơn so với phối giống muộn Theo Gordon (2004)[30], giảm thời gian cai sữa từ 15 xuống còn 10 ngày sẽ làm giảm trên 0,2 con trong ổ
Lợn nái cai sữa ở 28-35 ngày, thời gian động dục trở lại 4-5 ngày có thể phối giống
và có thành tích sinh sản tốt (Whittemore, 1998) [23] Lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ thụ
thai thấp, số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài (Deckert et al., 1998) [24]
Trang 212.1.4 Đặc điểm sinh lý, sinh trưởng của lợn con và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh trưởng
2.1.4.1 Đặc điểm sinh lý và sinh trưởng phát triển của lợn con
Khả năng sinh trưởng lợn con có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng mang tính quyết định tới khối lượng cai sữa và khối lượng xuất chuồng sau này
Thời gian trong thai của lợn trung bình là 114 ngày Trong thực tế sản xuất chia giai đoạn này làm 2 thời kỳ: Chửa kỳ 1 (từ khi phối giống có chửa đến 84 ngày) và chửa kỳ 2 (từ ngày thứ 85 đến ngày đẻ) Dựa vào đó để định ra chế độ chăm sóc nuôi dưỡng cho phù hợp nhằm đảm bảo cho phôi phát triển tốt mà lợn mẹ vẫn bình thường
Sau khi được sinh ra khỏi cơ thể mẹ, lợn con sẽ phải trải qua 4 giai đoạn (bú sữa, thành thục, trưởng thành và già cỗi) Giai đoạn bú sữa rất quan trọng, nó ảnh hưởng tới khối lượng lợn con cai sữa Nếu nuôi dưỡng tốt lợn con ở giai đoạn này sẽ làm tăng khả năng sinh sản của lợn mẹ và làm cơ sở cho quá trình sinh trưởng của lợn con những giai đoạn tiếp theo
Đặc điểm sinh trưởng của lợn con: Lợn con có khả năng sinh trưởng rất mạnh, thể hiện bằng khả năng tăng khối lượng của cơ thể Sau khi đẻ ra 1 tuần khối lượng lợn con gấp 2 lần khối lượng sơ sinh, đến khi cai sữa ở 60 ngày tuổi gấp 10- 15 lần Khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng và có liên quan chặt chẽ với khối lượng sơ sinh Khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng khối lượng cai sữa càng lớn Trong chăn nuôi lợn nái chửa, việc chăm sóc nuôi dưỡng tốt để có khối lượng sơ sinh cao là cần thiết, làm tiền đề cho khối lượng cai sữa Tốc độ sinh trưởng của lợn con lớn nhất ở 21 ngày tuổi, sau đó giảm dần và giảm nhanh hơn cho đến 60 ngày tuổi Điều này phù hợp với quy luật tiết sữa của lợn mẹ (cao nhất về số lượng và chất lượng ở 21 ngày sau đẻ, giảm dần đến 45 ngày sau đó giảm rất nhanh) Mặt khác sau 21 ngày tuổi, lượng sắt trong máu lợn con rất thấp do lượng dự trữ trong gan đã hết làm cho lợn con mắc bệnh thiếu máu, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát dục của lợn Để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng mà dinh dưỡng từ sữa mẹ giảm, cần tập cho lợn con ăn sớm vào giai đoạn từ 7 - 10 ngày tuổi Việc này có tác dụng rất lớn trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, vừa đảm bảo đáp ứng dinh dưỡng cho con vừa làm giảm sự hao mòn của lợn mẹ, đồng thời làm cho lợn con quen dần với các loại thức ăn sau này
2.1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn con
- Khối lượng lợn con sơ sinh còn sống (kg): Là tổng khối lượng của lợn con sơ sinh
Trang 22còn sống theo dõi trong 24 giờ sau khi lợn nái đẻ xong con cuối cùng
- Khối lượng cai sữa/lứa (kg): Là tổng khối lượng của tất cả lợn con còn sống ở thời điểm cai sữa mẹ nuôi riêng của 1 lứa đẻ
- Bình quân tăng khối lượng của lợn con (g/con/ngày)
2.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của lợn con
- Yếu tố di truyền: Các giống lợn khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau
Khả năng này được thể hiện qua sự tăng khối lượng cơ thể Đối với lợn con theo mẹ và sau cai sữa tốc độ tăng khối lượng cơ thể rất lớn Khối lượng lợn con tăng lên 2 lần, 4 lần, 5 lần và 10- 15 lần ở 1 tuần, 3 tuần, 30 ngày và 60 ngày tuổi so với khối lượng sơ sinh
Ở lợn Móng Cái: Khối lượng sơ sinh là 0,5- 0,6kg/con
Khối lượng 60 ngày tuổi là 6- 7 kg/con
Ở lợn Duroc: Khối lượng sơ sinh là 13,5kg/ổ; 1,5kg/con
Khối lượng 45 ngày tuổi đạt 13,5kg/con Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng chịu ảnh hưởng của giống, quần thể
và phương thức chăn nuôi Khả năng tăng trọng (g/ngày) có hệ số di truyền h2
= 0,3- 0,4; TTTA/kg tăng trọng có h2
= 0,25 - 0,35
- Giai đoạn sinh trưởng phát triển của lợn con: Do cơ thể của lợn ở từng giai
đoạn có những đặc điểm khác nhau nên cần chú ý tới việc đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng trong từng giai đoạn Do đặc điểm tiêu hoá nên giai đoạn từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi, cần chú ý tới số lượng và chất lượng sữa, đặc biệt là sữa đầu của lợn mẹ Tập cho lợn con ăn từ 7 - 10 ngày tuổi giúp thúc đẩy phát triển và hoàn thiện bộ máy tiêu hoá Lợn con trước 20 ngày tuổi khả năng tiêu hoá kém, sữa nhân tạo nên bổ sung thêm men pepsin và HCl loãng để tiêu hoá được thuận lợi, các loại thức ăn có kháng men phải được khử trước khi sử dụng (đậu tương)
- Phương thức nuôi dưỡng: Có ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ sinh trưởng của lợn
con (theo dõi 3 phương thức nuôi dưỡng là bú mẹ, bú mẹ + sữa bổ sung và nuôi hoàn toàn nhân tạo thì tăng trọng lần lượt là 237g, 324g và 576g/ngày) Mức năng lượng chung cho lợn con hàng ngày ở 1 tuần tuổi là 965Kcal, ở 3 tuần tuổi là 1430Kcal/kgTA Ở Việt Nam, mức năng lượng trao đổi thức ăn cho lợn con 10 - 20kg
là 3000Kcal/kg với lợn nội, 3200Kcal/kg với lợn lai và lợn ngoại Nhật Bản đưa ra mức năng lượng trao đổi (ME) cho lợn có khối lượng cơ thể từ 1 - 5kg là