TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆPNGUYỄN VĂN HIẾU KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG AXÍT HỮU CƠ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA LỢN LAI F1 ♂LANDRACE X ♀YORKSHIRE GI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP
NGUYỄN VĂN HIẾU
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG AXÍT HỮU CƠ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA LỢN LAI F1 (♂LANDRACE X ♀YORKSHIRE) GIAI ĐOẠN TỪ CAI SỮA ĐẾN 60 NGÀY TUỔI NUÔI TẠI CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ VÀ CHĂN NUÔI NEW HOPE THANH HOÁ
Ngành đào tạo: Chăn nuôi
Mã ngành: 28.06.21
THANH HÓA, NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG AXÍT HỮU CƠ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA LỢN LAI F1 (♂LANDRACE X♀YORKSHIRE) GIAI ĐOẠN TỪ CAI SỮA ĐẾN 60 NGÀY TUỔI NUÔI TẠI CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ VÀ CHĂN NUÔI NEW HOPE THANH HOÁ
Người thực hiện: Nguyễn Văn Hiếu Lớp: Đại học Chăn nuôi K20
Khoá: 2017 - 2021
GV hướng dẫn: ThS Phan Thị Tươi
THANH HÓA, NĂM 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của trường Đại học Hồng Đức, Khoa Nông Lâm Ngư nghiệp, Bộ môn Khoa học Vật nuôi, tôi đã tiến hành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình tại Công ty TNHH Dịch vụ và Chăn nuôi Newhope Thanh Hóa với nội dung “Ảnh hưởng của bổ sung axít hữu cơ đến khả năng sinh trưởng của lợn lai F1 (♂Landrace x ♀Yorkshire) giai đoạn từ cai sữa đến 60
ngày tuổi tại Công ty TNHH Chăn nuôi và dịch vụ Newhope Thanh Hóa ”
Để thực hiện khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Hồng Đức, Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư nghiệp, các thầy cô giáo trong bộ môn Khoa học Vật nuôi
Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhệm khoa, các thầy cô giáo trong bộ môn Khoa học Vật nuôi, đặc biệt là ThS Phan Thị Tươi, là người đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp Trong quá trình hoàn thành khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự quan tâm góp ý của các thầy cô, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để bản khoá luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 14 tháng 6 năm 2021
Sinh viên
Nguyễn Văn Hiếu
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tình cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Các vấn đề lý luận liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài 3
2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con 3
2.1.2 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con 4
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng của lợn 5
2.1.4 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con 10
2.1.5 Cơ chế tác động của axít hữu cơ lên đường tiêu hóa của vật nuôi 14
2.1.6 Chế phẩm axit hữu cơ sử dụng trong đề tài 15
2.2 Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài 16
2.2.1 Các nghiên cứu trong nước 16
PHẦN 3: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 18
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 18
3.2 Phạm vi nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Thời gian, địa điểm 18
3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 18
Trang 53.4.3 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định các chỉ tiêu 19
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 20
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Khả năng sinh trưởng của lợn giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi 21
4.1.1 Sinh trưởng tích lũy 21
4.1.2 Sinh trưởng tuyệt đối 22
4.1.3 Sinh trưởng tương đối 23
4.3 Tiêu tốn thức ăn của lợn giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi 26
4.4 Chi phì thức ăn của lợn giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi 27
4.5 Tỷ lệ tiêu chảy trên lợn giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi 28
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31
5.1 Kết luận 31
5.2 Kiến nghị 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của bổ sung axit hữu cơ đến sinh trưởng tìch
lũy của lợn giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi
23
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của bổ sung axit hữu cơ đến sinh trưởng
tuyệt đối của lợn giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi
25
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của bổ sung axit hữu cơ đến sinh trưởng
tương đối của lợn giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi
26
Bảng 4.4
Ảnh hưởng của bổ sung axit hữu cơ đến lượng thức ăn thu nhận bính quân của lợn giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi
27
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của bổ sung axit hữu cơ đến tiêu tốn thức ăn
của lợn giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi
28
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của việc bổ sung axit hữu cơ đến chi phì thức
ăn của lợn giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi
29
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của việc bổ sung axit hữu cơ đến tỷ lệ tiêu
chảy của lợn giai đoạn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi
30
Trang 7
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, chữ viết tắt Được hiểu là
ADG Average daily gain = Sinh trưởng tuyệt đối
FCR Feed conversion ratio: Hiệu quả sử dụng thức ăn
Trang 8PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở giai đoạn cai sữa, lợn con rất dễ bị stress Một trong những yếu tố gây stress cho lợn con là sự thay đổi loại thức ăn, từ thức ăn dạng lỏng và ấm sang thức ăn dạng rắn và khô, đồng thời thành phần và chất lượng dinh dưỡng của thức ăn thay đổi mạnh Hậu quả là khả năng tiêu hóa hấp thu chất dinh dưỡng thấp, lợn con chậm tăng trưởng, nguy cơ mắc bệnh đường tiêu hóa cao, đặc biệt là tiêu chảy (Boudry và CS, 2004 [28]) Trong những năm gần đây, việc sử dụng kháng sinh như một chất kìch thìch sinh trưởng trong chăn nuôi
đã bị cấm ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới Điều này gây rất nhiều khó khăn cho người chăn nuôi trong việc kiểm soát bệnh tật và đảm bảo khả năng sinh trưởng cho lợn con trong giai đoạn sau cai sữa Để khắc phục những bất lợi này, cần phải áp dụng các giải pháp thay thế kháng sinh, giúp cải thiện tốt khả năng tiêu hóa hấp thu thức ăn cho lợn con khi cai sữa và phòng chống các bệnh đường tiêu hóa cho vật nuôi Khả năng tiêu hóa và sử dụng các dưỡng chất cũng như sức khỏe của lợn con chịu ảnh hưởng nhiều bởi pH trong đường tiêu hóa Ở pH thấp, các enzyme tiêu hóa hoạt động tốt hơn, đặc biệt là pepsin chỉ được hoạt hóa khi pH dạ dày thấp Mức pH dạ dày thấp cũng rất cần thiết để kiểm soát quần thể vi sinh vật trong dạ dày: kím hãm
hoạt động của các vi khuẩn gây bệnh (như Salmonella, E coli), tạo thuận lợi cho vi khuẩn có lợi phát triển (Lactobacillus, Lactococcus, Bifidobacterium…) (Chế Minh
Tùng và Quách Thị Tuyết Anh, 2011 [25])
Bổ sung axit hữu cơ vào thức ăn cho vật nuôi đã được chứng minh có ảnh hưởng tìch cực như ức chế được sự phát triển của các vi sinh vật gây hại trong đường ruột và thúc đẩy khả năng sinh trưởng của lợn con thông qua các
cơ chế giảm pH dạ dày, hoạt hóa men pepsinogen, giảm số lượng vi khuẩn gây bệnh, kìch thìch tiết enzyme nội sinh, cải thiện hính thái của tế bào biểu
mô ruột và cải thiện hấp thu chất khoáng (Vũ Duy Giảng, 2008 [8]) Tuy nhiên, ảnh hưởng của axit lên khả năng tăng trưởng của lợn biến động rất lớn
và không ổn định Thành phần axit hữu cơ và liều lượng sử dụng, thời gian sử dụng có nhiều tác động lên đáp ứng về tăng trưởng và tiêu hóa chất dưỡng của lợn, có thể ảnh hưởng khả năng sinh trưởng và tỷ lệ mắc bệnh đường tiêu hóa của lợn được bổ sung chế phẩm Do đó, nghiên cứu về ảnh hưởng của bổ sung axit hữu cơ đến khả năng sinh trưởng tỷ lệ tiêu chảy của lợn lai
Trang 9(Landrace x Yorkshire) là cần thiết để đưa ra khuyến cáo trước khi ứng dụng vào thực tiễn sản xuất
Xuất phát từ những vấn đề, tôi tiến hành thực hiện kỳ thực tập cuối
khoá với đề tài “Ảnh hưởng của bổ sung axít hữu cơ đến khả năng sinh
trưởng của lợn lai F1 (♂Landrace x ♀Yorkshire) giai đoạn từ cai sữa đến
60 ngày tuổi nuôi tại Công ty TNHH Chăn nuôi và dịch vụ New Hope Thanh Hóa”
1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
1.2.1.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của bổ sung axit hữu cơ đến khả năng sinh trưởng của lợn, trên cơ sở kết quả nghiên cứu đưa ra khuyến cáo sử dụng phù hợp nhằm tăng khả năng sinh trưởng, cải thiện sức khỏe vật nuôi từ
đó giúp giảm bớt thiệt hại và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài sẽ bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ cho lĩnh vực nghiên cứu chất bổ sung vào thức ăn cho lợn sau cai sữa, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài, đưa ra khuyến cáo về thời gian, liều lượng bổ sung axit hữu cơ thìch hợp nhằm cải thiện tỷ lệ tiêu hóa, nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi
Trang 10PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Các vấn đề lý luận liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con
2.1.1.1 Khả năng thích nghi của lợn con
Khi mới sinh ra vỏ đại não của lợn con vẫn chưa phát triển đầy đủ nên các phản xạ có chức năng bảo vệ còn kém trong đó đáng chú ý là phản xạ điều tiết thân nhiệt Theo một số nhà khoa học, gia súc điều chỉnh nhiệt độ cơ thể nhờ quá trính oxy hóa mô mỡ trong khi ở giai đoạn này lượng nước có trong cơ thể lợn nhiều cộng lớp mỡ dưới da mỏng nên khả năng giữ nhiệt càng kém Do vậy lợn con rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường đặc biệt là nhiệt độ và độ ẩm (Vũ Đính Tôn, 2009 [23])
Sau khi sinh, gia súc non phải tự lập hoàn toàn trong quá trính hô hấp với cấu tạo lỗ mũi lợn ngắn và nhỏ, mao mạch ở niêm mạc lộ rõ, tổ chức phổi mềm yếu, hệ thống hạch phát triển kém, sức đề kháng kém, lồng ngực còn nhỏ và hẹp nên chúng thở nhanh, nông, thở thể bụng Do vậy việc tạo bầu tiểu khì hậu chuồng nuôi thông thoáng, sạch, đảm bảo đủ nhiệt độ sẽ tạo điều kiện cho lợn phát triển tốt và nâng cao sức đề kháng
Cộng với cấu tạo bộ máy tuần hoàn cũng chưa như giai đoạn trưởng thành Cơ tim mềm yếu, tần số tim nhanh và hay loạn nhịp sinh lý, tốc độ máu nhanh, độ pH trong máu nghiêng về toan, hàm lượng protein trong máu thấp, lượng γ- glubulin trong máu rất ìt, sự cân bằng về Ca và P thay đổi liên tục do nhu cầu tạo xương, nhu cầu sắt ngày càng tăng cao do nhu cầu tạo máu (Vũ Đính Tôn, 2009 [23])
Như vậy khả năng thìch nghi của lợn con rất yếu nên để nuôi dưỡng lợn giai đoạn này cần có những biện pháp riêng so với các giai đoạn khác, cần hạn chế tối đa ảnh hưởng của ngoại cảnh như: nhiệt độ, độ ẩm… Nếu việc chăm sóc, quản lý lợn không tốt thí bệnh rất dễ xảy ra đặc biệt hội chứng tiêu chảy ở lợn con, gây thiệt hại lớn về kinh tế
2.1.1.2 Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con
Hệ thống miễn dịch bắt đầu phát triển ở thai lợn 50 ngày tuổi, ở 70 ngày tuổi thai lợn đã có thể phản ứng với kháng nguyên lạ Tuy nhiên, lợn con mới đẻ ra trong máu hầu như chưa có kháng thể, lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu (Đặng Xuân Bính, 2003 [1]) Khả năng miễn dịch của lợn con hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể
Trang 11hấp thu được nhiều hay ìt từ sữa mẹ Sau khi cai sữa, lượng kháng thể từ sữa của lợn mẹ không còn, lợn con phải dựa vào miễn dịch chủ động mới hính thành Do đó, đáp ứng miễn dịch của lợn con trong giai đoạn đầu đời tương đối chậm và yếu
2.1.2 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
Bộ máy tiêu hóa của lợn con vẫn chưa hoàn thiện cả về cơ năng và tổ chức Giai đoạn đầu dạ dày lợn sơ sinh chỉ chứa khoảng 35-50g sữa nhưng 3 tuần sau thí sức chứa tăng lên khoảng 4 lần Khi mới sinh, độ pH trong dạ dày lợn ở mức 5-6 do khả năng sinh axit HCl của dạ dày hạn chế, trong khi đó dạ dày của lợn trưởng thành có môi trường axit mạnh, pH nằm trong khoảng 2-3 (Cranwell và CS, 1976 [29])
Hoạt động của hệ thống men tiêu hóa còn nhiều biến động, số lượng cũng như hoạt lực của một số enzyme trong đường tiêu hóa lợn con bị hạn chế Men tiêu hóa tinh bột hoạt động rất yếu trong giai đoạn đầu đời của lợn con Sự thay đổi mạnh mẽ về tình chất vật lý, hóa học và lượng thức ăn sau khi cai sữa (từ bú sữa chuyển sang thức ăn bổ sung) kết hợp với hoạt động yếu của hệ thống men tiêu hóa là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tiêu hóa và hấp thu thức ăn thấp, lợn con thiếu hụt dinh dưỡng nghiêm trọng
Ngoài ra, sự không hoàn thiện về bộ máy tiêu hóa liên quan mật thiết đến sự phát triển của hệ sinh vật có lợi và có hại trong đường ruột và sức đề kháng của cơ thể chống lại bệnh tật Lợn con trước 1 tháng tuổi hoàn toàn không có axit HCl tự do, ví lúc này lượng axit HCl tiết ra ìt và nhanh chóng liên kết với niêm dịch Thiếu HCl tự do chình là nguyên nhân quan trọng làm cho vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hóa và gây bệnh (Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi, 1985 [4])
Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng về dung tìch và khối lượng của
bộ máy tiêu hóa, được thể hiện cụ thể là ở dạ dày lợn sơ sinh đạt 2,5ml nhưng
đã tăng lên gấp 3 lần lúc 10 ngày tuổi Lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần và lúc 70 ngày tuổi tăng hơn 70 lần Ruột non lợn lúc sơ sinh với dung tìch 100ml thí ở lợn 70 ngày tuổi là 6000ml và tăng 60 lần Đối với ruột già, lợn sơ sinh có dung tìch 40ml nhưng đã tăng lên hơn 50
lần và ở lợn 70 ngày tuổi đạt 2100ml (Nguyễn Thiện và CS, 2007 [20])
Sau cai sữa, thức ăn của lợn con chuyển chủ yếu sang ăn thức ăn hỗn hợp, do đó hệ tiêu hóa của lợn cũng có sự thay đổi để thìch ứng với điều này
Trang 12Theo Trần Đính Miên và CS (1975) [14] thí: Lợn là loài ăn tạp, bất cứ loại thực phẩm nào dù sống hay chìn đều có thể ăn được Lợn nặng 90 - 100kg có dung tìch dạ dày 5 - 6 lìt và có chiều dài ruột non dài gấp 14 lần thân của nó,
ví thế lợn tiêu hoá và đồng hoá thức ăn tốt Tuy nhiên, lợn con có bộ máy tiêu hoá chưa hoàn thiện, nhưng tốc độ sinh trưởng cao, do đó ta cần có chế độ ăn uống thìch hợp cho chúng Lúc bú sữa, lợn con tiết ra dịch vị khoảng 31% (vào ban ngày) và 69% (ban đêm), do đó chúng thường bú nhiều vào ban đêm Lợn trưởng thành thí ngược lại, vào ban ngày dịch vị của nó tiết ra 62%,
lúc đêm chỉ còn 38% (Phạm Tất Thắng và Lã Văn Kình, 2010 [19]) Tiêu hóa
và hấp thu chất dinh dưỡng tiến hành chủ yếu ở dạ dày, ruột non Trong một ngày đêm, dạ dày phân giải 45% carbohydrate, 50% protein, 20 - 25% đường
Dạ dày và ruột non phân giải và hấp thu 85% đường và 87% protein, ruột già chỉ còn không quá 10 - 15% (Trương Lăng, 2003 [13])
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng của lợn
2.1.3.1 Khái niệm và các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng ở lợn
Khái niệm về sự sinh trưởng: sinh trưởng là một quá trính tìch lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, thể tìch, khối lượng các cơ quan bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở các tình chất di truyền từ đời trước truyền lại Trong quá trính sinh trưởng sự tăng số lượng tế bào và tăng thể tìch tế bào do kết quả của quá trính đồng hóa
là quan trọng nhất (Đặng Vũ Bính và CS, 2018 [2])
Quá trính phát triển của cơ thể là quá trính đồng hóa các vật chất dinh dưỡng, các chất dinh dưỡng lấy vào cơ thể vừa là điều kiện để tế bào sinh sôi, nảy nở, vừa là cơ sở để hính thành chất trong tế bào và giữa các tế bào, đó là protein, lipit, gluxit và các chất khoáng Về mặt sinh học, sinh trưởng ở lợn được xem là sự tăng cường tổng hợp protein trong các mô bào, ví thế thường lấy việc tăng khối lượng và kìch thước các chiều làm chỉ tiêu đánh giá quá trính sinh trưởng Quá trính này thể hiện ở ba mặt:
+ Phân chia tế bào để làm tăng số lượng tế bào
+ Tăng thể tìch của mỗi tế bào
+ Tăng thể tìch giữa các tế bào
Sinh trưởng của gia súc là một quá trính mang 3 đặc tình: tốc độ, thời gian và tình chất diễn biến Tốc độ sinh trưởng biểu thị sự tăng khối lượng, thể tìch, kìch thước các chiều cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định
Trang 13Thời gian sinh trưởng là khoảng thời gian xác định để cân đo và tình tốc độ sinh trưởng nói trên (Đặng Vũ Bính và CS, 2018 [2]) Tốc độ sinh trưởng là tình trạng có hệ số di truyền cao (h2
= 0,4-0,5) và liên quan chặt chẽ tới các đặc điểm trao đổi chất đặc trưng cho từng dòng, giống, cá thể
Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng: Trong chăn nuôi lợn và các gia súc, gia cầm người ta thường dùng 3 chỉ tiêu đánh giá tốc độ sinh trưởng là sinh trưởng tìch lũy, sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối
+ Sinh trưởng tìch lũy: Là sự tăng lên về khối lượng cơ thể, kìch thước theo thời gian khảo sát
+ Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, thể tìch và kìch thước các chiều cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn có dạng Parabol
+ Tốc độ sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, thể tìch và kìch thước các chiều cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn có dạng Hyperbol, tốc độ sinh trưởng tương đối giảm dần theo tuổi của gia súc (theo Đặng Vũ Bính và CS,
2018 [2])
2.1.3.2 Đặc điểm sinh trưởng của lợn
Lợn sau khi sinh có tốc độ sinh trưởng rất nhanh, thể hiện thông qua sự tăng về khối lượng cơ thể Thông thường khối lượng lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần so với lúc sơ sinh, 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần khối lượng sơ sinh, 30 ngày tuổi tăng gấp 5 lần, 60 ngày tuổi tăng gấp 10 - 14 lần lúc sơ sinh
Sinh trưởng của lợn con tuân theo quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều Từ khi sinh ra đến 21 ngày tuổi lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh nhất, sau đó tốc độ sinh trưởng giảm dần Sự giảm này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm Ở tuần đầu tiên sau cai sữa, lợn con thường bị stress cai sữa nên tốc độ tăng khối lượng kém hoặc không tăng khối lượng nếu điều kiện chăm sóc và quản lý không tốt Người ta gọi giai đoạn này là “khoảng hụt tăng trưởng sau cai sữa” Theo Tsiloyiannis và CS (2001) [45], tác động của “khoảng hụt tăng trưởng sau cai sữa” ở lợn thương phẩm đã làm giảm 25% lợi nhuận của các cơ sở chăn nuôi Chúng ta có thể hạn chế giai đoạn khủng hoảng này bằng cách cho lợn con tập ăn sớm
Khối lượng lợn con cai sữa là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng
Trang 14suất chăn nuôi Khối lượng lợn con cai sữa càng lớn (lúc 21 - 28 ngày tuổi) thí tăng khối lượng của lợn ở các giai đoạn sau càng cao, rút gắn được thời gian nuôi thịt Theo Vũ Duy Giảng (2005) [7], cứ chênh lệch nhau 1kg khối lượng
cơ thể lúc cai sữa thí có thể chênh lệch nhau 4,1kg ở 133 ngày tuổi (khối lượng cơ thể đạt 100kg), cứ tăng được 0,1kg khối lượng lúc cai sữa hoặc chỉ với mức tăng 5 - 10 g/ngày có thể rút gắn được thời gian nuôi đến giết thịt là
1 ngày Do vậy, cần có các biện pháp tác động nhằm nâng cao khối lượng lợn con cai sữa và sau khi cai sữa
2.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
- Yếu tố bên trong
+ Ảnh hưởng di truyền của dòng, giống cá thể: Ảnh hưởng của dòng, giống đến sự sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu và khẳng định trên các loại gia súc gia cầm Theo Trần Văn Phùng và Chăn thavy Phomy (2009) [17] cho biết: Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Còn Nguyễn Thiện và
CS (2007) [20] cho rằng: Giống là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục và năng suất của lợn
Điều khiển quá trính trao đổi chất của các hormone: Hormone tham gia vào tất cả các quá trính trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu Trong thời kỳ đầu tiên của quá trính sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trính sinh trưởng.Về sau điều khiển quá trính sinh trưởng có sự tham gia của tuyến
yên Hormon của thuỳ trước tuyến yên STH (somatotropin hormone) là loại
hormon rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể, có tác dụng sinh lý chủ yếu kìch thìch sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein
và kìch thìch sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài)
- Yếu tố bên ngoài
Trong chăn nuôi lợn ngoài việc cải tiến giống thí thức ăn dinh dưỡng là một yếu tố quyết định đến khả năng sinh trưởng và phát triển
+ Thức ăn và dinh dưỡng: Trong chăn nuôi lợn dinh dưỡng là một yếu
tố quyết định đến khả năng sinh trưởng và phát triển Theo Vũ Đính Tôn (2009) [23] protein là nhóm chất hữu cơ có phân tử lượng cao và có chứa nitơ Protein đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng và là nguồn nguyên liệu cấu tạo nên tế bào Quá trính sinh trưởng của lợn là quá trính tăng lên của
Trang 15khối lượng protein, hàm lượng protein trong cơ thể rất cao Các cơ quan bộ phận có hàm lượng protein không giống nhau Protein có nhiều nhất trong cơ
từ 30 - 35% so với tổng lượng protein trong cơ thể
Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tìch lũy protein lớn, do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao Nếu trong khẩu phần thiếu protein thí sinh trưởng của lợn con sẽ giảm hoặc ngừng, khả năng sống sẽ kém Nhu cầu protein trong thức ăn bổ sung cho lợn là 16 - 18% Trong chăn nuôi thâm canh người ta đề nghị hàm lượng protein trong khẩu phần là 22 - 24% Axit amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein Theo Từ Quang Hiển và Phan Đính Thắm (2001) [10] vai trò của các axit amin trong cơ thể rất đa dạng, nó là thành phần chủ yếu của protein, nhu cầu protein của cơ thể chình là nhu cầu về axit amin Cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên protein của nó theo mức cân đối các axit amin trong thức ăn, nhưng axit amin nào nằm ngoài cân đối sẽ bị oxy hóa cho năng lượng Do vậy, nếu cung cấp axit amin theo tỷ lệ cân đối sẽ nâng cao hiệu quả lợi dụng protein, tiết kiệm được protein thức ăn
Trong các loại thức ăn hàm lượng các loại protein rất khác nhau Một
số loại giàu protein động vật như cá, bột cá, bột thịt, bột máu, tôm, cua, trứng sữa một số loại protein thực vật như các loại đậu, đỗ và sản phẩm phụ của
nó Theo Trần Văn Phùng và Chăn thavy Phomy (2009) [17] cho biết: Nói chung lợn con tiêu hóa protein một cách dễ dàng, nhưng do nguồn gốc của thức ăn (động vật hay thực vật) và bản chất protein khác nhau nên sự tiêu hóa
có những đặc điểm khác nhau quan trọng
Song song với việc cung cấp đầy đủ nhu cầu về protein và axit amin thí chúng ta cần cung cấp đầy đủ và cân bằng về năng lượng Năng lượng trong thức ăn được sử dụng cho các hoạt động sống của cơ thể và hính thành nên các hợp chất hữu cơ của tế bào Chất cung cấp năng lượng chu yếu là gluxit như: Tinh bột, đường, xơ Hàng ngày gluxit đảm bảo từ 70-80% nhu cầu về dinh dưỡng của lợn Nếu thiếu lợn sẽ gầy yếu, còi cọc, sinh trưởng kém, chậm lớn Năng lượng có ảnh hưởng quyết định đến việc sử dụng vật chất dinh dưỡng trong thức ăn phù hợp với từng loài, giống, tuổi, chức năng sản xuất
Gia súc non cần được cung cấp đầy đủ khoáng chất để phát triển bộ xương và đảm bảo cho các quá trính xảy ra trong cơ thể Nếu tình theo mức
Trang 16tăng trọng thí khoáng chất chiếm 3 - 4% khối lượng cơ thể tăng Nếu so với
bộ xương thí khoáng chất chiếm 26% khối lượng xương Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn của gia súc non tốt hơn gia súc trưởng thành Quá trính trao đổi khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi và phot pho xảy ra mạnh
mẽ ở gia súc non Khi gia súc còn non khả năng tìch luỹ canxi, photpho cao Tuổi càng tăng, khả năng tìch luỹ giảm Nhín chung, gia súc non yêu cầu canxi lớn hơn phot pho, càng lớn và trưởng thành nhu cầu canxi giảm, nhu cầu photpho tăng lên Để đảm bảo cho quá trính tiêu hoá hấp thu và sử dụng canxi, photpho được tốt, tránh được hiện tượng còi xương, ở gia súc non cần chú ý cung cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho (đối với gia súc non tỷ lệ Ca/P thìch hợp là 1,5 - 2) (Từ Quang Hiển và Phan Đính Thắm, 2001 [10])
Vitamin là loại vi chất dinh dưỡng, nó rất cần thiết để xúc tác cho mọi quá trính trao đổi chất cho sinh trưởng của động vật Trong các loại vitamin thí, vitamin A và D là hai loại vitamin quan trọng nhất cho sinh trưởng Vitamin A xúc tiến quá trính sinh trưởng, nếu thiếu vitamin A có thể dẫn đến
mù lòa, tốc độ sinh trưởng giảm, lông xù, gầy còm, năng suất sinh sản thấp, gây bệnh bần huyết ở lợn con, xù lông, da khô ở lợn sinh trưởng, vitamin D cần thiết cho sự trao đổi can xi, photpho để phát triển bộ xương (Từ Quang Hiển và Phan Đính Thắm, 2001 [10])
- Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tính trạng sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thìch hợp thí sẽ không thể đảm bảo quá trính trao đổi chất diễn
ra bính thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn Nhiệt độ chuồng nuôi
có liên quan mật thiết với ẩm độ không khì, ẩm độ không khì thìch hợp cho lợn ở vào khoảng 70%
- Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn Đối với
lợn vỗ béo nhu cầu về ánh sáng thấp hơn, đặc biệt sau khi lợn ăn xong Trong thực tế ở một số trang trại, người ta đã giảm cường độ chiếu sáng xuống mức tối thiểu cho lợn vỗ béo, đặc biệt cho các giống lợn cao sản (do các giống lợn sinh sản sinh trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn) và cũng không có một phát hiện nào về ảnh hưởng của thiếu ánh sáng đối với lợn vỗ béo
- Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát
triển lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khì hậu chuồng nuôi như không khì, tốc độ gió lùa, nồng độ
Trang 17các khì thải nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa (Vũ Đính Tôn, 2009 [23])
2.1.4 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con
2.1.4.1 Khái niệm chung về hội chứng tiêu chảy
Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trính bệnh lý đặc thù ở đường tiêu hóa Biểu hiện lâm sàng này tùy theo đặc điểm, tình chất diễn biến, mức
độ tuổi mắc bệnh Tùy theo yếu tố được coi là nguyên nhân chình mà nó được gọi theo nhiều tên bệnh khác nhau như: Bệnh xảy ra với gia súc non theo mẹ được gọi là bệnh phân trắng lợn con, còn ở gia súc sau cai sữa là chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hóa, Tiêu chảy luôn là triệu chứng phổ biến trong các dạng bệnh của đường tiêu hóa, xảy ra mọi lúc, mọi nơi và đặc biệt là gia súc non có biểu hiện triệu chứng là ỉa chảy, mất nước và mất chất điện giải, suy kiệt
cơ thể và có thể dẫn đến trụy tim mạch
Tiêu chảy ở gia súc là một hiện tượng bệnh lý phức tạp gây ra bởi sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố Đặc điểm của sự rối loạn về tiêu hóa thường gây tiêu chảy nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước so với
bính thường do tăng tiết dịch ruột (Radostits và CS, 2001 [39])
2.1.4.2 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy
- Ảnh hưởng của môi trường: Khi thời tiết thay đổi đột ngột, nhiệt độ môi trường không thìch hợp đặc biệt là thời tiết lạnh Do ảnh hưởng của thời tiết lạnh, nhiệt độ cơ thể giảm xuống làm cho mạch máu ngoại vi co lại dồn máu vào cơ quan phủ tạng Khi đó, mạch máu thành ruột bị xung huyết làm trở ngại đến tiêu hóa, thức ăn bị đính trệ tạo điều kiện cho các vi sinh vật sinh sôi phát triển, đặc biệt là quá trính lên men tạo ra các sản phẩm độc, các chất độc này kìch thìch vào hệ thống thần kinh ruột gây hưng phấn làm cho ruột co bóp mạnh và nhiều lần, đẩy thức ăn ra ngoài Đồng thời do hiện tượng xung huyết làm cho tình thấm thành mạch tăng lên, đẩy thức ăn ra ngoài gây tiêu chảy Ngoài ra, nước ta là một nước nhiệt đới, khì hậu quá nóng, quá lạnh, mưa gió, độ ẩm cao, kết hợp với điều kiện vệ sinh chuồng trại không hợp lý, không thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông,… đều là các tác nhân stress bất lợi dẫn tới viêm dạ dày - ruột, dẫn đến tiêu chảy
Theo Hồ Văn Nam và CS (1997) [15] cho biết: Khi gia súc tiếp xúc với điều kiện ẩm ướt, bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm khả năng phản ứng miễn
Trang 18dịch, giảm tác dụng thực bào, do đó gia súc dễ bị các vi khuẩn cường độc gây bệnh, đặc biệt với lợn sơ sinh và lợn sau cai sữa ìt ngày ví các phản ứng thìch nghi bảo vệ của lợn con lúc này là chưa hoàn thiện Ví vậy việc đảm bảo nhiệt
độ và độ ẩm thìch hợp cho tiểu khì hậu chuồng nuôi là rất cần thiết
- Nguyên nhân do thức ăn - nước uống: Thức ăn là nguồn nguyên liệu cung cấp năng lượng cho cơ thể tồn tại và phát triển Nhưng trong nhiều ca tiêu chảy, nguyên nhân là do sự sai sót trong kỹ thuật chăn nuôi… nhận xét về nguyên nhân gây viêm ruột ỉa chảy ở vật nuôi nước ta, Hồ Văn Nam và CS (1997) [15] cho rằng: Thức ăn kém phẩm chất (bẩn, mốc ), khẩu phần ăn không thìch hợp, nuôi dưỡng không đúng, thức ăn quá lỏng, quá lạnh… là nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa, viêm ruột ỉa chảy
Nước là yếu tố quan trọng trong cơ thể gia súc nhất là gia súc non Nếu mất nước 10% ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng sinh lý, mất 20% gia súc non sẽ chết Lợn con thiếu nước uống, uống nước bẩn ở nền chuồng, hố rãnh dễ bị nhiễm khuẩn, gây viêm ruột ỉa chảy (Đào Trọng Đạt, 1996 [6])
- Nguyên nhân do tác động của vi khuẩn: Theo Vũ Văn Ngữ (1997)
[16], do một nguyên nhân nào đó, trạng thái cân bằng các khu hệ vi sinh vật
trong đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loại nào đó tăng sinh quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn Sự thay đổi hoặc biến động này có thể xảy ra ở các nhóm vi khuẩn hoặc họ vi khuẩn đường ruột cũng như nhóm vi khuẩn vãng lai, có thể biến đổi cả về số lượng lẫn chất lượng (bội nhiễm và tăng độc lực) Thường là các vi khuẩn gây bệnh thừa cơ tăng sinh và tăng độc lực, các vi khuẩn có lợi cho quá trính tiêu hóa do không cạnh tranh được bị giảm đi Loạn khuẩn đường ruột là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh ở đường tiêu hóa đặc biệt là gây tiêu chảy
Khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút vi khuẩn gây thối là nguyên nhân gây bệnh đường ruột Vi khuẩn gây thối hoạt động, phân giải các chất trong đường ruột, sinh CO2, H2S, NH3, CH4, Indol, Scatol, … Làm biểu mô niêm mạc đường tiêu hóa tổn thương, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [21], tác nhân chủ yếu gây bệnh của lợn
con là E.coli, nhiều loại Salmonella (Salmonella cholerae suis, Salmonella typhisuis) và đóng vai trò phụ là Proteus, trực trùng sinh mủ và song cầu
khuẩn, liên cầu khuẩn
Theo Nguyễn Bá Hiên (2001) [9], ở gia súc non khi mắc hội chứng tiêu
chảy thí số lượng các loại vi khuẩn như Salmonella, E.coli và Cl.Perfringens
Trang 19tăng lên từ 2 - 10 lần so với bính thường Mặt khác, tỷ lệ các chủng mang yếu
tố gây bệnh và sản sinh độc tố cũng tăng cao
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [5], qua theo dõi 6.876 lợn con theo
mẹ tại 5 cơ sở chăn nuôi ở một số tỉnh thành miền Bắc Việt Nam cho thấy tỷ
lệ lợn tiêu chảy bính quân là 28,72% (dao động từ 33,08% đến 24,37%) Trong đó tỷ lệ lợn chết bính quân là 4,45%
- Nguyên nhân do tác động của virus: Ngoài sự có mặt của các vi khuẩn người ta cũng chứng minh được virus cũng là một tác nhân gây tiêu chảy Các nghiên cứa về nguyên nhân hội chứng tiêu chảy ở lợn con trên thế giới đã chỉ
ra 2 nhóm virus chủ yếu (thuộc họ Corona viridae và Rota viridae) gây bệnh tiêu chảy ở lợn đặc biệt là lợn con Trong nhóm Corona viridae có 2 đại diện chình gây bệnh tiêu chảy ở lợn là Transmissble – Gastro – Enteritis virus (TGEV) và Porcine – Epidemic – Diarrhea virus (PEDV) ngoài ra còn có Porcine – Hemagglutinatinl – Encephalomyelitis virus và Porcine – Respiratory – Corona virus, những virus này ìt khi gây bệnh ở đường tiêu hóa của lợn Còn trong nhóm Rotaviridae có Rotavirus (RV) gây bệnh tiêu chảy ở lợn
Khi bị nhiễm, virus sinh sản theo đường tuần hoàn, virus phá hủy thành mạch máu, gây viêm tụ máu, xuất huyết làm cho niêm mạc bị tụ máu dầy lên, thấm huyết tương và hính thành màng giả từ dịch rỉ, huyết tương hỗn hợp với những mảng biểu mô, khi bong tróc ra để lại những vết lõm không đều Viêm loét rải rác trong đường tiêu hóa: Miệng, dạ dày, ruột, trực tràng Vết loét sâu, rộng nếu có các vi khuẩn kết hợp tác động Đặc biệt virus làm trỗi dậy những vi khuẩn kết hợp làm cho bệnh trở lên nặng và phức tạp hơn (Đào Trọng Đạt và CS,
1996 [6])
- Nguyên nhân do tác động ký sinh trùng: Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Ngoài việc chúng cướp đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc
cơ thể vật chủ, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa và là cơ hội khởi đầu cho một quá trính nhiễm trùng Có rất nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra hội chứng tiêu chảy như
sán lá ruột lợn (Fasciolopsis busky), giun đũa lợn (Ascaris suum)…
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và CS (2009) [11] khi tiến hành xét nghiệm
624 mẫu phân lợn ở một số địa phương tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện có trứng giun lươn trong phân của lợn bính thường và lợn tiêu chảy, tuy nhiên
Trang 20lợn tiêu chảy có tỷ lệ nhiễm cao hơn Trong 348 lợn tiêu chảy có 193 lợn nhiễm giun lươn chiếm 55,46%; trong 326 lợn bính thường có 128 lợn nhiễm chiếm 39,26%
- Một số nguyên nhân khác: Gia súc ăn phải thức ăn có tác dụng kìch thìch, các loại thuốc tẩy ký sinh trùng, dị vật hay các axit, kiềm… đây cũng là nguyên nhân gây bệnh ví khi đó niêm mạc dạ dày, ruột bị kìch thìch làm trở ngại nghiêm trọng tới cơ năng vận động và tiết dịch gây rối loạn tiêu hóa
2.1.4.3 Triệu chứng của hội chứng tiêu chảy ở lợn con
Khi nghiên cứu về tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn E coli, Nguyễn Như Pho
(2003) cho rằng, sự mất nước kéo theo mất các chất điện giải trong đó đặc biệt là các ion: HCO3 -
, K+, Na+, Cl- … Đồng thời, khi gia súc bị rối loạn tiêu hoá thí cũng làm cản trở đến khả năng tái hấp thu nước ở gia súc ỉa chảy, nếu lượng dịch mất di trong đường ruột vượt quá lượng dịch đưa vào khi ăn uống, thận sẽ cố gắng bù lại bằng cách cô đặc nước tiểu để giảm lượng nước thải ra Nếu thận không bù được mức dịch thể trong tổ chức bị giảm và máu bị đặc lại Hiện tượng này gọi là mất nước và triệu chứng lâm sàng là yếu, bỏ ăn, thân nhiệt hạ thấp và có thể truỵ tim, mắt bị hõm sâu, nhín lờ đờ, da khô khi véo da lên nếp da chậm trở lại vị trì cũ Lợn bị tiêu chảy gầy sút nhanh, da nhăn, tình đàn hồi kém; nếu tiêu chảy lâu ngày lợn gày nhô xương sống, da thô, lông dựng ngược Mặt khác khi cơ thể mất nước và chất điện giải kéo theo sự biến đổi hàng loạt các bệnh lý khác nhau
Hiện tượng trúng độc xảy ra do thức ăn lên men phân giải sinh độc tố,
hệ vi khuẩn đường ruột sinh sôi, sản sinh ra nhiều độc tố Các độc tố đó cùng với các sản phẩm của viêm, tổ chức phân huỷ ngấm vào máu tác động vào gan làm chức năng gan rối loạn, gia súc bị trúng độc, đồng thời tác động cản trở quá trính tiêu hoá tiếp tục, quá trính gây tiêu chảy nặng hơn, tăng nguy cơ nhiễm độc máu và gây tử vong
2.1.4.4 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy
Hậu quả trực tiếp và nặng nề của hiện tượng tiêu chảy là sự mất nước và mất các chất điện giải của cơ thể, kéo theo hàng loạt các biến đổi bệnh lý (Lê Minh Chì, 1995 [3]) Hiện tượng mất nước rất nghiêm trọng và có thể gây chết nếu không được điều chỉnh Gia súc non dự trữ dịch thể tương đối thấp nên đặc biệt mẫn cảm với sự mất nước Ví vậy, trong điều trị tiêu chảy luôn luôn phải đặt vấn đề điều trị mất nước lên hàng đầu
Trang 21Lợn bị tiêu chảy giảm khả năng tiêu hoá, chuyển hoá và hấp thụ các chất dinh dưỡng nên lợn gầy còm, chậm tăng trọng, dễ dàng mắc các bệnh khác (Phạm Sỹ Lăng và CS 1997 [12])
Ở lợn, hiện tượng tiêu chảy thường có quá trính nhiễm khuẩn Khi tiêu chảy do nhiễm khuẩn, các triệu chứng trầm trọng hơn và hậu quả để lại nặng
nề hơn, có thể kế phát nhiều bệnh khác, gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi Như vậy, với mỗi một nguyên nhân gây bệnh khác nhau để lại những hậu quả khác nhau
2.1.5 Cơ chế tác động của axít hữu cơ lên đường tiêu hóa của vật nuôi
2.1.5.1 Cơ chế diệt khuẩn
Các axit hữu cơ chưa phân ly (chưa ion hóa, ưa lipid) có thể thâm nhập qua thành tế bào vi khuẩn và phá hủy các quá trính sinh lý bính thường của một số loại vi khuẩn Sau khi thâm nhập qua thành tế bào của vi khuẩn, các axit hữu cơ chưa phân ly sẽ gặp môi trường pH cao hơn bên trong vi khuẩn và phân ly, giải phóng H+
và các anion (A-) pH bên trong sẽ giảm và bởi ví các
vi khuẩn nhạy cảm với pH như là Coliform, Clostridium, và Listeria spp
không chịu được với một khoảng rộng giữa pH bên trong và bên ngoài tế bào, một cơ chế đặc biệt (bơm H+ ATPase) sẽ hoạt động để đưa pH bên trong vi khuẩn trở về mức bính thường Hiện tượng này cần sử dụng năng lượng, do
đó làm mất năng lượng dùng cho sự sinh trưởng và sinh sản của vi khuẩn, dẫn đến kiềm hãm sự sinh sản và phát triển, thậm chì giết chết chúng Sự giảm pH nội bào của vi khuẩn cũng gây ra các ảnh hưởng khác, như là ức chế sự đường phân, ngăn cản sự vận chuyển chủ động và can thiệp vào sự vận chuyển tìn hiệu (Giesting and Easter, 2002 [32])
2.1.5.2 Cơ chế kiềm khuẩn
Sự giảm pH xảy ra khi các axit phân ly trong một môi trường chất lỏng trong đường tiêu hóa và giải phóng các proton (H+) Các axit vô cơ sẽ phân ly hoàn toàn và do đó có một tác động mạnh lên pH Việc giảm được pH dạ dày bằng axit cũng có thể kiềm chế vi khuẩn có hại trong dạ dày và ruột non
Salmonella spp sống sót trong khoảng pH 4 - 9, với một khoảng tối ưu cho tăng
trưởng từ 6,5 - 7,5, do đó khi pH môi trường thấp hay cao đều ức chế sự phát triển của vi khuẩn (Stonerock, 2009 [41])
2.1.5.3 Cải thiện khả năng tiêu hóa, hấp thu chất dinh dưỡng