ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu và vật liệu nghiên cứu
+ Giống lúa TBR225 là giống lúa thuần do Công ty CP Tổng Công ty Giống cây trồng Thái Bình lai tạo, đƣợc công nhận giống Quốc gia năm 2015
Giống lúa này có đặc điểm là cảm ôn, ngắn ngày, thích ứng rộng và khả năng đẻ nhánh khỏe, chịu thâm canh tốt Thời gian sinh trưởng ở miền Bắc và Bắc Miền Trung dao động từ 120 - 132 ngày cho vụ Xuân và 105 - 110 ngày cho vụ Mùa Cây cao từ 110 - 115 cm, có thân cứng, trỗ bông tập trung với bông to, dài, nhiều hạt; khối lượng 1000 hạt đạt 24 - 25 gam Giống này có khả năng nhiễm nhẹ bệnh đạo ôn và bạc lá, năng suất trung bình đạt 70 - 75 tấn/ha, trong điều kiện thâm canh tốt có thể đạt 85 - 90 tấn/ha Tỷ lệ gạo xay xát cao từ 72-74%, chất lượng gạo ngon, trắng, trong, cơm mềm, vị đậm và có mùi thơm đặc trưng.
+ Phân bón NPKSi Tiến Nông
Thành phần: Đạm (N)16%; Lân (P 2 O5)16%; Kali (K2O) 8%; Silic (SiO2) 1,5%
Các nguyên tố vi lƣợng: Kẽm (Zn Chelated), Đồng (Cu Chelated), Mangan (Mn Chelated), Sắt (Fe Chelated), Bo (B), Molipđen (Mo)
- Phân bón NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông
Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng tình hình sử dụng các loại phân bón cho lúa tại địa phương (xã Quảng Yên) trong 2 năm qua
Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông đến sự sinh trưởng và phát triển của giống lúa TBR225, cũng như khả năng phát sinh và gây hại của một số bệnh hại chính.
Liều lượng phân bón NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa TBR225 tại xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Nghiên cứu này cũng chỉ ra hiệu quả kinh tế khi áp dụng loại phân bón này trong canh tác lúa.
Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: tại xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương
- Thời gian nghiên cứu: vụ Xuân năm 2019
Thực nghiệm đƣợc bố trí theo 4 Công thức Mỗi công thức 100 m 2 Công thức 1(đối chứng) Nền
Công thức 2 bao gồm việc sử dụng phân bón NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông với các liều lượng khác nhau: 240 kg/ha, 320 kg/ha và 400 kg/ha.
* Các biện pháp kỹ thuật
Để chuẩn bị đất cho việc trồng mạ, cần cày bừa ruộng mạ sớm, đảm bảo đất được nhuyễn và sạch cỏ dại Đối với đất cấy, cần cày sâu và bừa kỹ để đất trở nên nhuyễn, sạch cỏ dại và bằng phẳng.
+ Mật độ cấy là 45 khóm/m 2 , cấy 2 dảnh/khóm
- Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh
Theo QCVN 01-166:2014, cần theo dõi thường xuyên diễn biến các loài dịch hại trên đồng ruộng, thực hiện kiểm tra 20 ngày một lần tại 5 điểm chéo góc Khi mật độ dịch hại vượt quá ngưỡng cho phép, cần sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ hiệu quả.
3.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
* Các chỉ tiêu sinh trưởng
Theo dõi 20 ngày một lần, tiến hành theo dõi 5 điểm/ khối thí nghiệm Các chỉ tiêu theo dõi gồm:
- Các giai đoạn sinh trưởng và thời gian sinh trưởng
- Thời gian bắt đầu đẻ nhánh
- Thời gian đẻ nhánh tối đa
- Thời gian bắt đầu trỗ (trỗ 10%): Lấy 1 ô ngẫu nhiên 15 khóm, theo dõi nếu thấy 10% số bông trỗ thì đó là trỗ 10%
- Thời gian trỗ hoàn toàn (trỗ 80%): Theo dõi 15 khóm trên thấy có 80% số bông trỗ thì đó là trỗ 80%
- Thời gian chín hoàn toàn: Trên 15 khóm đó theo dõi thấy 80% số hạt chuyển vàng trên bông chính
* Các chỉ tiêu sinh trưởng
Theo dõi vào các thời kỳ: đẻ nhánh hữu hiệu, trỗ và chín sáp Lấy ngẫu nhiên mỗi ô 10 khóm/ô thí nghiệm:
Theo dõi tình hình diễn biến sâu, bệnh hại
Theo quy chuẩn Việt Nam QCVN 01-166:2014 của bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, cụ thể là
Tỷ lệ bệnh/tỷ lệ hại (%) Tổng số cây hoặc bộ phận của cây (dảnh, lá, cành, quả…) bị bệnh x 100 Tổng số cây hoặc bộ phận của cây
(dảnh, lá, cành, quả…) điều tra
Chỉ số bệnh/chỉ số hại (%)
N1 là (lá, dảnh, bẹ, cây, búp, củ, quả…) bị bệnh ở cấp 1;
N3 là (lá, dảnh, bẹ, cây, búp, củ, quả…) bị bệnh ở cấp 3; …
Nn là (lá, dảnh, bẹ, cây, búp, củ, quả…) bị bệnh ở cấp n
N là tổng số (lá, dảnh, bẹ, cây, búp, củ, quả…) điều tra n là cấp bệnh cao nhất (cấp 9)
- Bệnh khô vằn: Điểm 1: Vết bệnh nằm thấp hơn 20% chiều cao cây; Điểm 3: 20 – 30%; Điểm 5: 31 – 45%; Điểm 7: 46 – 65%; Điểm 9: trên 65%
Bệnh bạc lá được đánh giá theo tỷ lệ diện tích vết bệnh trên lá như sau: Điểm 1 tương ứng với 1-5% diện tích vết bệnh, Điểm 3 là 6-12%, Điểm 5 từ 13-25%, Điểm 7 từ 26-50%, và Điểm 9 là 51-100% diện tích vết bệnh trên lá.
Tỷ lệ hại (%) Tổng số cây hoặc bộ phận của cây (dảnh, lá, cành, quả…) bị bệnh x 100 Tổng số cây hoặc bộ phận của cây
(dảnh, lá, cành, quả…) điều tra Tính mật độ sâu hại
Mật độ sâu hại (con/m 2 ) = Tổng số sâu điều tra tổng số m 2 điều tra
Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) không chỉ gây hại trực tiếp mà còn là tác nhân truyền virus gây bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá Để điều tra sự xuất hiện của rầy nâu, người ta sử dụng khay có kích thước 20 x 18 x 5 cm, với đáy khay được tráng một lớp dầu nhờn.
Đặt khay từng khóm lúa nghiêng với một gốc lúa ở góc 45 độ, sau đó thực hiện 2 đập và đếm số lượng rầy cũng như phân loại tuổi của chúng trong khay, bao gồm cả số rầy bị ký sinh.
Sâu đục thân Scirpophaga incertulas, hay còn gọi là sâu đục thân hai chấm, cần được theo dõi tỷ lệ dảnh héo trong giai đoạn đẻ nhánh đến làm đòng và bông bạc trong giai đoạn vào chắc đến chín, với tỷ lệ hại (%) được ghi nhận.
Giai đoạn mạ, đẻ nhánh Giai đoạn làm đòng, trỗ Dảnh héo
Để điều tra mật độ sâu cuốn lá nhỏ, cần thực hiện khảo sát tại 10 khóm/điểm, ghi nhận số lượng sâu (con/m²) và tỷ lệ hại (%) Quá trình điều tra bắt đầu bằng việc quan sát từ xa, sau đó tiến lại gần để đếm trực tiếp số lượng các pha phát dục trên từng khóm Đồng thời, cần phân loại tuổi của pha sâu non để có cái nhìn tổng quan về tình hình sâu bệnh.
Trong quá trình trưởng thành, cần tiến hành điều tra và đếm toàn bộ số lượng trưởng thành tại các điểm điều tra Một phương pháp khác là sử dụng vợt để thu thập mẫu, với mỗi điểm điều tra sử dụng 3 vợt, sau đó tính toán số trưởng thành trên mỗi mét vuông.
* Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
Vào thời điểm thu hoạch tiến hành lấy mẫu 5 khóm/ô thí nghiệm để xác định các chỉ tiêu về năng suất:
- Số bông/ khóm: đếm tổng số bông hữu hiệu trên khóm
- Số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc: lấy ngẫu nhiên 10 bông đếm tổng số hạt, số hạt chắc, tính tỷ lệ hạt chắc
- Khối lƣợng 1000 hạt: trộn đều hạt chắc của 5 khóm trong ô, đếm 2 lần
500 hạt, nếu chênh lệch giữa 2 lần cân không quá 5% thì khối lƣợng 1000 hạt bằng tổng 2 lần cân đó, nếu chênh lệch hơn 5% thì làm lại
-NSLT= Số bông/m 2 x số hạt/bông x khối luợng 1000 hạt x 10 -4 (Tấn/ha)
- Hiệu quả kinh tế, xác định các chỉ tiêu:
+ Thu nhập thuần = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
+ Hiệu quả 1 đồng chi phí = Tổng thu/Tổng chi phí
Trong đó: Tổng thu nhập/1 ha = sản lƣợng x giá bán
Tổng chi phí/1ha: Giống, phân bón các loại, thuốc trừ dịch hại, công lao động
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đánh giá đƣợc tình hình sử dụng phân bón của xã trong 2 năm qua tại xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
Xã Quảng Yên, nằm ở phía Tây huyện Quảng Xương, có điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi cho cây lúa phát triển Trong những năm tới, xã sẽ tập trung vào việc sản xuất các cây trồng có giá trị kinh tế cao, nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân Cây lúa thuần ngắn ngày sẽ đóng vai trò quan trọng trong công thức luân canh tăng vụ, mang lại hiệu quả kinh tế cao và tăng thu nhập trên mỗi đơn vị diện tích.
Xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, với hơn 90% dân số phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, đang đối mặt với giá trị sản xuất nông nghiệp thấp và đời sống khó khăn Người dân nơi đây chưa có đủ điều kiện để cải thiện chất lượng bữa ăn, dẫn đến nhu cầu cao về lúa gạo nhằm đáp ứng một phần nhu cầu prôtêin trong bữa ăn hàng ngày.
Từ năm 2013 đến nay, diện tích trồng lúa đã có sự thay đổi nhưng ở mức thấp, với một số thôn thậm chí còn giảm diện tích qua các năm Mặc dù diện tích trồng lúa giảm, nhu cầu phục vụ đời sống và hiệu quả sản xuất lúa ngày càng tăng cao Do đó, chủ trương của xã trong những năm tới là duy trì diện tích trồng lúa, chú trọng vào loại phân bón và đặc biệt là phương pháp, kỹ thuật bón phân.
* Tình hình sử dụng phân bón tại địa phương trong 2 năm qua
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng phân bón tại địa phương trong 2 năm qua
Năm Loại phân (tấn/ha) Năng xuất lúa
Trong 2 năm qua tình hình sử dụng phân bón tại xã Quảng Yên nhìn chung là chưa được hợp lý nên cây lúa sinh trưởng và phát triển chưa đảm bảodo đó năng suất lúa chƣa đạt đƣợc nhƣ mong muốn Đặc biệt là giai đoạn sau cây lúa thường thiếu dinh dưởng lá thường khô và vàng sớm.
Ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển trên giống lúa TBR225 vụ Xuân năm 2019
4.2.1 Ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân phân bón NPKSi Tiến Nông đến thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn sinh trưởng của giống lúa TBR225
Thời gian sinh trưởng của cây lúa đóng vai trò quan trọng trong việc xác định thời vụ và cơ cấu cây trồng của từng vùng sinh thái Ngoài ra, nó cũng ảnh hưởng đáng kể đến sự phát sinh và tác hại của các loài dịch hại.
Nghiên cứu thời gian sinh trưởng của cây lúa là rất quan trọng để bố trí thời vụ và cơ cấu cây trồng tại xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương Chúng tôi đã đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật bón phân trên giống lúa TBR225 về thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa vụ Xuân năm 2019, với kết quả được thể hiện qua bảng 4.2.
Bảng 4.2 Ảnh hưởng liều lượng phân bón NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông đến các giai đoạn sinh trưởng của giống lúa TBR225 tại xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương Đơn vị: N
Các giai đoạn sinh trưởng
*Lưu ý: BĐĐN- Bắt đầu đẻ n n ; ĐNX đẻ n n xon ; HT o n to n
Kết quả nghiên cứu bảng 4.2 cho thấy thời gian từ gieo mạ đến cấy của giống lúa là 15 ngày
Thời gian từ khi cấy đến khi bắt đầu đẻ nhánh của giống lúa TBR225 không có sự khác biệt giữa các công thức bón phân Tuy nhiên, từ giai đoạn bắt đầu đẻ nhánh đến khi trỗ hoàn toàn, có sự khác biệt rõ rệt giữa các công thức Cụ thể, công thức bón phân đối chứng có thời gian từ bắt đầu đẻ nhánh đến trỗ hoàn toàn ngắn hơn so với các công thức bón phân khác.
NPKSi của công ty cổ phần phân bón Tiến Nông có thời gian sinh trưởng ngắn hơn 1 ngày so với các công thức bón phân đối chứng Cụ thể, công thức bón phân bổ sung NPK Si 16-16-8-1,5 của Tiến Nông cũng chỉ kéo dài thêm 1 ngày.
Việc sử dụng quy trình bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông cho giống lúa TBR225 tại xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương đã làm tăng tổng thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn, kéo dài hơn so với bón phân đối chứng Sự gia tăng này thúc đẩy quá trình sinh trưởng của cây lúa, tạo cơ sở cho việc bố trí thời vụ hợp lý Do đó, cần xem xét việc bố trí thời vụ sớm hơn để đảm bảo thu hoạch đúng thời gian.
4.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông, đến động thái tăng trưởng chiều cao giống lúa TBR225
Chiều cao cây lúa là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa Phân bón và quy trình bón phân là những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển của cây, bao gồm cả chiều cao cây Dữ liệu từ Bảng 4.3 cho thấy ảnh hưởng của phân bón và quy trình bón đến sự sinh trưởng chiều cao của giống lúa TBR225.
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến
Nông đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống TBR225 Đơn vị: cm
Thời gian theo dõi sau cấy
Số liệu ở bảng 4.3 cho thấy:
Loại phân bón và liều lượng bón phân đã ảnh hưởng rất rõ rệt đến chiều cao của giống lúa TBR225 cụ thể là:
Giống lúa TBR225 khi được bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 của Tiến Nông có chiều cao cuối cùng dao động từ 110,4 cm đến 114,6 cm Trong khi đó, các công thức đối chứng không bón phân có chiều cao thấp nhất là 110,4 cm, và các công thức bón phân của Tiến Nông cho thấy chiều cao tăng thêm từ 2,2 đến 4,2 cm Đặc biệt, công thức bón 400 kg NPKSi 16-16-8-1,5/ha đạt chiều cao cao nhất là 114,6 cm Như vậy, việc bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 của Tiến Nông đã góp phần làm tăng chiều cao của cây lúa.
4.2.3 Ảnh hưởng liều lượng bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông tới tốc độ ra lá của giống lúa TBR225
Lá là cơ quan quang hợp chính của cây, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các chất hữu cơ cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây, đồng thời quyết định năng suất lúa, với 95% năng suất đến từ quá trình quang hợp Phân bón và quy trình bón phân có ảnh hưởng đáng kể đến sự ra lá và độ bền của lá lúa, như được trình bày trong bảng 4.4.
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến
Nông đến động thái ra lá của lúa Đơn vị: l /n n
Công thức thí nghiệm Thời gian theo dõi
Bảng 4.3 cho thấy rằng, với công thức bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông, số lá trên giống lúa TBR225 có sự thay đổi nhưng không đáng kể Điều này cho thấy rằng giống lúa này có chỉ tiêu di truyền tương đối ổn định.
Quá trình bón phân và loại phân bón không có ảnh hưởng đáng kể đến số lượng lá của giống lúa Trong giai đoạn trỗ, số lá tối đa ở công thức đối chứng đạt 15,2 lá, trong khi các công thức bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông cho số lá từ 15,4 đến 15,8 lá.
4.2.4 Ảnh hưởng của liều lương phân bón NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông đến động thái đẻ nhánh
Số nhánh đẻ có vai trò quan trọng trong việc xác định số bông trên mỗi đơn vị diện tích, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lúa Dữ liệu từ bảng 4.5 cho thấy tác động của các loại phân bón lá đến sự phát triển của số nhánh và số nhánh hữu hiệu.
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến
Nông đến động thái đẻ nhánh của giống lúa TBR225 Đơn vị: n n /k óm
Thời gian theo dõi sau cấy
4 tuần 8 tuần 12 Tuần Số nhánh hữu hiệu
Sử dụng phân bón NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông cho thấy sự khác biệt rõ rệt về số nhánh đẻ và nhánh hữu hiệu so với đối chứng Cụ thể, công thức đối chứng chỉ đạt 6,7 nhánh hữu hiệu/khóm, trong khi đó, công thức NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông có số nhánh hữu hiệu dao động từ 6,9 đến 7,3 nhánh/khóm Đặc biệt, số nhánh đẻ và nhánh hữu hiệu cao nhất được ghi nhận ở mức bón này.
400 kg NPKSi16-16-8-1,5/ha là 7,3 nhánh hữu hiệu/ khóm.
Ảnh hưởng của liều lượng bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông đến sâu hại trên giống lúa TBR225
sâu hại trên giống lúa TBR225
Sâu hại là yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất cây trồng, đặc biệt là cây lúa Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm ở nước ta tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và gây hại của sâu hại.
Sâu hại trong sản xuất lúa đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng, do đó, việc hạn chế tác hại của chúng là rất cần thiết Mặc dù thuốc hóa học mang lại hiệu quả cao và tức thời trong việc phòng trừ sâu hại, nhưng cũng gây ra nhiều khó khăn như ô nhiễm môi trường và phá vỡ cân bằng sinh thái Do đó, áp dụng các kỹ thuật canh tác như chọn giống kháng và bón phân cân đối là rất quan trọng để nâng cao khả năng chống chịu của cây lúa Việc bón phân không cân đối có thể làm cho cây lúa yếu đi, dễ bị sâu hại tấn công Kết quả nghiên cứu về khả năng chống chịu sâu hại của thí nghiệm được trình bày trong bảng 4.6.
Theo bảng kết quả nghiên cứu 4.6, việc bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông cho giống lúa TBR225 không ảnh hưởng nhiều đến khả năng chống chịu sâu hại, đặc biệt là đối với sâu cuốn lá nhỏ trong các công thức thí nghiệm với mức độ hại khác nhau Tuy nhiên, sâu đục thân 2 chấm lại gây hại nặng hơn.
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến
Nông đến sâu hại trên giống lúa TBR225
Sâu đục thân 2 chấm Sâu cuốn lá Rầy nâu
Tỷ lệ hại (%) Tỷ lệ hại (%) Tỷ lệ hại (%)
Trong bảng 4.6, công thức đối chứng không bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông cho thấy tỷ lệ hại cao nhất Mức độ nhiễm sâu hại ở các công thức bón phân Tiến Nông khác nhau có sự khác biệt, nhưng tỷ lệ bị hại thay đổi tùy theo mức độ bón Cụ thể, ở mức bón 400 kg NPKSi 16-16-8-1,5/ha, tỷ lệ hại của các loại sâu hại là nhẹ nhất Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa, mỗi giai đoạn đều tiềm ẩn sự gây hại của các loại sâu hại khác nhau, ảnh hưởng đến tất cả các bộ phận của cây, làm giảm diện tích quang hợp.
Số lượng nhánh/khóm của cây lúa là 27, trong đó một số sâu hại chính như sâu đục thân 2 chấm làm giảm mật độ bông trên mỗi mét vuông, dẫn đến năng suất giảm Sâu cuốn lá gây hại trong giai đoạn cây lúa đẻ nhánh đến trỗ, trong khi rầy nâu gây hại mạnh từ lúc trỗ đến khi chín hoàn toàn.
Sâu hại lúa phát sinh không theo quy luật cố định mà thay đổi tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và canh tác hàng năm Trong điều kiện thuận lợi, sâu hại có thể phát triển mạnh, dẫn đến giảm năng suất lúa Sử dụng công thức bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông giúp giảm mật độ sâu và tỷ lệ hại so với công thức đối chứng, do lúa không được bón cân đối NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông có mức độ phát sinh và gây hại cao hơn.
Ảnh hưởng của liều lượng bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông đến bệnh hại trên giống lúa TBR225
Mức độ chống chịu bệnh hại của cây trồng, đặc biệt là cây lúa, phụ thuộc vào khả năng sinh trưởng và phát triển của cây, chế độ chăm sóc, cũng như điều kiện ngoại cảnh Việc chăm sóc tốt và tạo điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng sẽ giảm thiểu khả năng nhiễm bệnh.
Qua điều tra sự phát sinh phát triển của một số sâu bệnh hại chính trên cây lúa vụ xuân 2019 kết quả thu đƣợc ở bảng 4.6 nhƣ sau:
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến
Nông đến bệnh hại trên giống lúa TBR225
Xanthomonas oryzae pv oryzae (Dowson)
Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)
Bệnh khô vằn do nấm Rhizoctonia solani gây ra, tuy không gây dịch nghiêm trọng trong vụ mùa Nấm này tồn tại trong tự nhiên, như trong rơm rạ và phân chuồng chưa hoai mục Kết quả theo dõi cho thấy tất cả các công thức thí nghiệm đều bị bệnh, nhưng tỷ lệ lúa bị bệnh cao nhất ở công thức đối chứng Công thức bón 240 kg NPKSi/ha của công ty cổ phần phân bón Tiến Nông cho thấy mức độ hại nặng nhất, trong khi công thức bón 320 kg NPKSi/ha là hợp lý nhất cho giống lúa TBR225 Các công thức phân NPKSi giúp lúa phát triển tốt hơn, đẻ nhánh khỏe hơn, và số lá nhiều hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích lũy chất khô vào hạt.
Bệnh bạc lá do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv oryzae (Dowson)
Bệnh bạc lá là một bệnh nghiêm trọng và phổ biến ở vùng nhiệt đới nóng ẩm, gây ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng Bệnh lây lan nhanh chóng, thường do hạt giống hoặc nguồn nước bị nhiễm bệnh Theo quan sát, quy trình bón phân NPKSi Tiến Nông cho giống lúa TBR225 cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh bạc lá thấp hơn so với công thức đối chứng, với tỷ lệ nhiễm bệnh ở công thức đối chứng là 4,8%.
Ảnh hưởng của liều lượng bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
Năng suất lúa được xác định bởi bốn yếu tố chính: số bông trên đơn vị diện tích, số hạt trên mỗi bông, tỷ lệ hạt chắc và khối lượng 1000 hạt Để đạt được năng suất cao, cần đảm bảo các yếu tố này hợp lý, cụ thể là số bông trên mỗi mét vuông phải cao, số hạt chắc trên mỗi bông phải đủ lớn và khối lượng 1000 hạt phải cao Kết quả theo dõi năng suất lúa từ hai quy trình bón phân khác nhau được thể hiện trong bảng 4.8.
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của liều lượng bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất trên giống lúa TBR225
Số bông/m 2 của giống TBR225 trên các công thức thí nghiệm biến động từ
Số bông/m² trong công thức bón đối chứng là 335 bông/m², trong khi công thức bón 400 kg NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông/ha đạt 365 bông/m² Số hạt/bông dao động từ 120 đến 130 hạt/bông Tỷ lệ hạt chắc trên bông cao nhất đạt 97,5% ở công thức bón 320 kg NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông/ha, trong khi công thức đối chứng có tỷ lệ hạt chắc thấp nhất là 95,4%.
Năng suất lý thuyết (NSLT) của giống lúa TBR225 đạt cao nhất 9,2 tấn/ha với công thức bón 320 kg NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông, trong khi công thức đối chứng chỉ đạt 7,7 tấn/ha Năng suất thực thu cao nhất cũng đạt 7,0 tấn/ha với công thức bón 320 kg NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông, tiếp theo là công thức bón 400 kg NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông Năng suất thực tế thấp nhất ghi nhận ở công thức đối chứng là 5,4 tấn/ha.
Hiệu quả bón phân NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông đến giống lúa TBR225 tại xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế là mục tiêu hàng đầu mà người sản xuất hướng tới Việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi và phương thức đầu tư để đạt hiệu quả cao nhất luôn là câu hỏi quan trọng Để tăng tính thuyết phục cho nghiên cứu, chúng tôi đã tính toán hiệu quả kinh tế của 4 công thức thí nghiệm, với kết quả được trình bày trong bảng 4.9 Chi phí cho 1ha giống lúa TBR225 cũng được thể hiện trong bảng 4.10.
Bảng 4.9: Tổng thu cho 1ha sản xuất lúa ở 4 công thức thí nghiệm ĐVT: triệu đồng
Tổng chi (triệu đồng)/ha
Tổng thu (triệu đồng)/ha
Ghi chú giá bán lúa l 6.300.000 đ/k
Bảng 4.10 Chi phí sản xuất cho 1ha lúa giống TBR225 Đơn vị tín : 1000 đồn
STT Nội dung Đơn vị tính Đơn giá Số lƣợng Thành tiền
2 Bón lót và cấy Công 200.000 20 4.000.000
3 Làm cỏ, bón thúc Công 150.000 20 3.000.000
Do sự tăng năng suất khi sử dụng phân bón NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến
Nông ở các mức bón khác nhau, trong khi chi phí bón phân cho 1 ha (bảng
4.10) 16.930.000đ/ha Tổng thu đƣợc do sử dụng phân bón NPKSi của Tiến
1 Mức bón 240 kg NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông /ha là 17.710.000đ/ha
2 Mức bón 320 kg NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông /ha là 19.860.000đ/ha
3 Mức bón 400 kg NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông /ha là 16.970.000đ/ha Kết quả nghiên cứu này khẳng định rằng, sử dụng phân bón NPKSi 16-16-8-1,5 Tiến Nông cho lúa là 1 biện pháp kỹ thuật đơn giản, dễ áp dụng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn không bón Công thức 3 bón với tỉ lệ 320kg/ha là mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất