Cây húng quế có vị cay, tính ấm nên được sử dụng trong Y học để chữa cảm cúm, đầy bụng khó tiêu,…Ngoài ra, trong cây húng quế có chứa từ 0,4-0,8% tinh dầu.. Đã có những nghiên cứu chỉ ra
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH
THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
NGUYỄN THỊ THÚY
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC, HOẠT TÍNH SINH HOC
CỦA HAI LOÀI HÚNG CHANH (PLECTRANTHUS AMBOINICUS
(LOUR.)) VÀ HÚNG QUẾ ( OCIMUM BASILICUM L.)
Ở HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
NGUYỄN THỊ THÚY
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC, HOẠT TÍNH SINH HOC
CỦA HAI LOÀI HÚNG CHANH (PLECTRANTHUS AMBOINICUS
(LOUR.)) VÀ HÚNG QUẾ ( OCIMUM BASILICUM L)
Ở HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC
Chuyên ngành: Hóa hữu cơ
Mã số: 844.01.14
Người hướng dẫn khoa học:
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS TS Ngô Xuân Lương Người hướng dẫn khoa học 2: TS Ngũ Trường Nhân
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 3Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sỹ khoa học
(Theo Quyết định số : / QĐ- ĐHHĐ ngày tháng năm 2022
của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức)
Học hàm, học vị
Họ và tên Cơ quan Công tác
Chức danh trong Hội đồng
Chủ tịch HĐ
UV Phản biện 1
UV Phản biện 2
Uỷ viên Thư ký
Xác nhận của Người hướng dẫn
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng
Ngày tháng năm 2022
Trang 4i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả của luận văn này chưa được công bố và không trùng lặp với các công trình khác đã nghiên cứu
Thanh Hóa, tháng năm 2022
Người cam đoan
Nguyễn Thị Thúy
Trang 5ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng
dẫn tận tình của PGS TS Ngô Xuân Lương , TS Ngũ Trường Nhân, sự tạo
điều kiện của các thầy cô trong bộ môn; sự tạo điều kiện của ban chủ nhiệm khoa Khoa học tự nhiên, Trường Đại Học Hồng Đức và sự động viên khuyến khích của gia đình, anh em, bạn bè, đồng nghiệp Tôi rất cảm động, biết ơn và
xin gửi lời tri ân sâu sắc
Chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo và những người quan tâm
Thanh Hóa, tháng năm 2022
Tác giả
Nguyễn Thị Thúy
Trang 6iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……… i
LỜI CẢM ƠN……… ii
MỤC LỤC……… iii
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT, CÁC KÍ HIỆU…… v
DANH MỤC SƠ ĐỒ……… vi
DANH MỤC BẢNG……… vii
DANH MỤC HÌNH……… viii
MỞ ĐẦU……… 1
1 Lý do chọn đề tài……… 2
2 Mục đích của đề tài ……… 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 2
4 Đối tượng nghiên cứu ……… 2
Chương 1 TỔNG QUAN……… 3
1.1 Khái quát về các thực vật họ Bạc Hà……… 3
1.1.1 Cây Kinh Giới ( E ciliata (Thunb.) Hyland)……… 3
1.1.2 Cây Ích Mẫu……… 5
1.1.3 Cây Hương Nhu Trắng……… 7
1.1.4 Cây Hương Nhu Tía……… 9
1.1.5 Cây Râu Mèo……… 11
1.1.6 Cây Tía Tô……… 13
1.2 Thành phần hóa học của tinh dầu……… 17
1.2.1 Các hợp chất aliphatic……… 17
1.2.2 Các terpen và dẫn xuất của chúng……… 18
1.2.3 Các dẫn xuất benzen……… 19
1.2.4 Các thành phần pha tạp……… 19
Trang 7iv
1.3 Phân bố của các loài chứa tinh dầu trong hệ thực vật Việt
Nam………
19 1.4.Chi Ocimum……… 20
1.4.1.Cây Húng Quế……… 20
1.4.2 Cây Húng Chanh……… 22
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THỰC NGHIỆM……… 25
2.1 Thiết bị và phương pháp……… 25
2.1.1 Hoá chất……… 25
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu……… 25
2.2 Nghiên cứu các hợp chất từ loài Húng Chanh (Plectranthus amboinicus (Lour.)) và Húng Quế (Ocimum basilicum L.) ở Quảng Xương Thanh Hóa ……… 29
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN……… 35
3.1 Biện giải kết quả của tinh dầu hai loài Húng quế và Húng chanh ……… 35
3.2 Biện giải xác định cấu trúc các hợp chất……… 40
3.2.1 Biện giải xác định cấu trúc hợp chất LT-CH1……… 40
3.2.2 Biện giải xác định cấu trúc hợp chất LT-CH2……… 45
3.3 Biện giải kết quả hoạt tính sinh học……… 50
KẾT LUẬN……… 56
CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN ……… 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 59
Trang 8v
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT, CÁC KÍ HIỆU
CC: Column Chromatography (Sắc kí cột)
FC: Flash Chromatography (Sắc ký cột nhanh)
TLC: Thin Layer Chromatography (Sắc kí lớp mỏng)
IR: Infrared Spectroscopy (Phổ hồng ngoại)
MS: Mass Spectroscopy (Phổ khối lượng)
EI-MS: Electron Impact Mass Spectroscopy (Phổ khối lượng va
chạm electron)ESI-MS: Electron Spray Impact Mass Spectroscopy (Phổ khối
lượng phun sương electron)
1H-NMR: Proton Magnetic Resonance Spectroscopy (Phổ cộng
hưởng từ hạt nhân proton)
13C-NMR: Carbon Magnetic Resonance Spectroscopy (Phổ cộng
hưởng từ hạt nhân Carbon 13) DEPT: Distortionless Enhancement by Polarisation Transfer HSQC: Heteronuclear Single Quantum Correlation
HMBC: Heteronuclear Multiple Bond Correlation
COSY: Correlation Spectroscopy (Phổ COSY)
s: singlet
br s: singlet tù
t: triplet
d: doublet
dd: doublet của douplet
dt: doublet của triplet
m: multiplet
TMS: Tetramethylsilan
DMSO: DiMethylSulfoxide
Đ.n.c.: Điểm nóng chảy
Trang 9vi
DANH MỤC BẢNG
BẢNG 3.1: THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TINH DẦU HÚNG QUẾ (OCIMUM BASILICUM L.) Ở QUẢNG XƯƠNG THANH HÓA 35 BẢNG 3.2: THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TINH DẦU HÚNG CHANH (PLECTRANTHUS AMBOINICUS (LOUR.) Ở HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA 36BẢNG 3.3 SỐ LIỆU PHỔ 3C-NMRCỦA HỢP CHẤT LT - CH1……… 44BẢNG 3.4.: SỐ LIỆU PHỔ 13C-NMR CỦA HỢP CHẤT LT-CH2 48 BẢNG 3.5 CHỨNG DƯƠNG (AMPICILLIN) 50 BẢNG 3.6 HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA TINH DẦU HÚNG QUẾ (OCIMUM BASILICUM L.) 51 BẢNG 3.7 HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA TINH DẦU HÚNG
CHANH (PLECTRANTHUS AMBOINICUS (LOUR.) 51 BẢNG 3.8 CHỨNG +: ACID ASCORBIC 53 BẢNG 3.9 HOẠT TÍNH CHỐNG OXI HÓA CỦA TINH DẦU HÚNG QUẾ (OCIMUM BASILICUM L.) 53 BẢNG 3.10 HOẠT TÍNH CHỐNG OXI HÓA TINH DẦU HÚNG CHANH (PLECTRANTHUS AMBOINICUS (LOUR.) 54
Trang 10vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
SƠ ĐỒ 2.1: CHIẾT CÁC PHÂN ĐOẠN TRONG METANOL CỦA CÂY HÚNG CHANH (PLECTRANTHUS AMBOINICUS (LOUR.) 33
SƠ ĐỒ 2.2: TÁCH CÁC HỢP CHẤT TỪ CAO ETYLAXETAT CỦA
HÚNG CHANH (PLECTRANTHUS AMBOINICUS (LOUR.) 33
Trang 11viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cây kinh giới……… 4
Hình 1.2 Cây ích mẫu……… 6
Hình 1.3 Cây Hương nhu trắng……… 8
Hình 1.4 Cây hương nhu tía……… 10
Hình 1.5 Cây râu mèo……… 12
Hình 1.6 Cây tía tô……… 14
Hình 1.7 Cây húng quế (Ocimum basilicum)……… 21
Hình 1.8 Cây Húng chanh……… 23
Hình 2.1: Bộ dụng cụ chưng cất tinh dầu……… 26
Hình 2.2: Máy đo phổ bằng phương pháp GC-MS……… 28
Hình 3.1 Sắc ký đồ GC-MS tinh dầu Húng quế (Ocimum basilicum L) 36
Hình 3.2 Sắc ký đồ GC-MS tinh dầu Húng Chanh (Plectranthus amboinicus (Lour.)……… 38
Hình 3.3: Phổ khối lượng va chạm (EI-MS) của hợp chất LT-CH1 41
Hình 3.4: Phổ 1H-NMR của hợp chất LT-CH1 42
Hình 3.5 Phổ 13C-NMR của hợp chất LT-CH1 42
Hình 3.6 Phổ 13C-NMR của hợp chất LT-CH1 (phổ dãn) 43
Hình 3.7 Phổ DEPT của hợp chất LT-CH1 (phổ dãn) 43
Hình 3.8: Phổ 1H-NMR của hợp chất LT-CH2……… 46
Hình 3.9: Phổ 13C-NMR của hợp chất LT-CH2 46
Hình 3.10: Phổ 1H-NMR của hợp chất LT-CH2 (phổ dãn) 47
Hình 3.11: Phổ 1H-NMR của hợp chất LT-CH2 (phổ dãn) 47
Hình 3.12 Phổ DEPT của hợp chất LT-CH2 ……… 48
Hình 3.13 Khả năng kháng khuẩn ở các nồng độ khác nhau của tinh dầu Húng quế và Húng chanh………
52 Hình 3.14 Khả năng kháng oxi hóa ở các nồng độ khác nhau của tinh dầu húng quế, húng chanh………
54
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cây Húng quế trong dân gian còn được gọi là cây Húng giổi, rau
É, É tía Húng chanh còn gọi là cây Tần dày lá, rau thơm lông, rau thơm
lùn, Dương tử tô, tên khoa học Plectranthus amboinicus (Lour.) Spreng
được trồng phổ biến ở nước ta để làm gia vị Cây húng quế có vị cay, tính ấm nên được sử dụng trong Y học để chữa cảm cúm, đầy bụng khó tiêu,…Ngoài ra, trong cây húng quế có chứa từ 0,4-0,8% tinh dầu Theo báo cáo của tác giả Trần Thanh Quỳnh Anh và các cộng sự, qua phân tích GC-MS cho thấy tinh dầu Húng quế ở Thừa Thiên Huế có thành
phần hóa học chính là: p-Allylanisole (49,09%), Aromadendrene (8,27%) và trans-Ocimene (5,71%) Nghiên cứu trên còn tiến hành khảo
sát hoạt tính kháng oxy hóa và kháng khuẩn của tinh dầu hai loài này cho thấy tinh dầu Húng quế có kháng năng kháng oxy hóa thấp (IC50=35,89 μg/ML) và có khảng năng ức chế hai chủng vi khuẩn E coli, Salmonella Cây Húng chanh thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae), phân bố ở
các khu vực thuộc vùng nhiệt đới và hiện nay được trồng phổ biến ở Việt Nam Lá của cây được sử dụng như một loại gia vị trong chế biến thực phẩm, có vị cay, mùi thơm, không độc Trong y học dân gian, lá hung chanh dùng để chữa ho, cảm sốt, tiêu chảy, sát trùng hoặc đắp lên các vết do các loài côn trùng cắn Đã có những nghiên cứu chỉ ra rằng nguyên liệu được trồng ở vị trí địa lí và thổ nhưỡng khác nhau dẫn đến thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu sẽ không giống nhau Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu cây húng quế và húng chanh ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm tạo cơ sở dữ liệu của tinh dầu húng quế và húng chanh ở Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, góp phần cho sự khai thác và phát triển
Trang 132
của loài cây này nên chúng tôi chọn đề tài ‘‘Nghiên cứu thành phần
hóa học, hoạt tính sinh học của hai loài húng chanh (Plectranthus amboinicus (Lour.)) và húng quế (Ocimum basilicum L.) ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa’’ Kết quả của đề tài sẽ tạo cơ sở khoa
học cho việc phát triển cây thuốc Việt Nam đồng thời mở ra hướng nghiên cứu về tác dụng trị liệu của các hợp chất từ tinh dầu
2 Mục đích của đề tài
Xác định thành phần hóa học, hoạt tính kháng khuẩn và kháng oxi hóa
của tinh dầu húng quế và húng chanh và cấu trúc của các chất tách được
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trong luận văn này, chúng tôi có các nhiệm vụ là:
- Thu tinh dầu 2 loài này bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước và chiết chọn lọc với các dung môi thích hợp để thu được hỗn hợp các
hợp chất của Húng Chanh (Plectranthus amboinicus (Lour.))
- Xác định thành phần hoá học của tinh dầu từ Húng Quế (Ocimum basilicum L.), Húng Chanh (Plectranthus amboinicus (Lour.)) thử hoạt tính
kháng khuẩn và kháng oxi hóa của tinh dầu Húng Quế và Húng Chanh và xác định cấu trúc của các chất tách được
4 Đối tượng nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu là 2 loài Húng Quế và Húng Chanh được thu hái
ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá, bao gồm phần bay hơi và không bay hơi
Trang 143
Chương 1.TỔNG QUAN
1.1 Khái quát về các thực vật họ Bạc Hà
Lamiaceae - Họ Bạc Hà: Tên khoa học: Lamiacea; tên tiếng Việt: Hoa
môi; Bạc hà; Húng; cây thảo thân vuông Loài này có lá đơn, mọc đối chéo chữ thập hay mọc vòng và thường có mùi thơm Hoa thường tập trung ở kẽ lá gồm những xim 2 ngả tạo thành những bó ở nách lá Hoa đối xứng 2 bên, lưỡng tính, mẫu 5 Bầu trên gồm 4 ô tách thành 4 thùy rõ Vòi mọc ra giữa 4 thùy bầu và đính ở gốc bầu Thế giới có 200 chi và 3500 loài, phân bố ở khắp thế giới Ở Việt Nam có trên 45 chi và khoảng 147 loài
Phân loại: Nó được chia làm 9 - 10 phân họ Phần lớn các chi thuộc
phân họ Stachyoideae và các chi thuộc phân họ Ocimoideae Nhìn chung nó được xem là một trong những họ tiến hóa của hai lá mầm Lamiaceae gần với Verbenaceae thân gỗ không có tinh dầu và có 4 thùy sâu Giá trị kinh tế: Làm cảnh (Salvia, Coleus), lấy tinh dầu (Mentha, Occimum), làm thuốc (Occimum, Mentha, Hyptis)
1.1.1 Cây Kinh Giới ( E ciliata (Thunb.) Hyland)
Cây kinh giới ( E ciliata (Thunb.) Hyland): Xếp vào cây cỏ đứng, cao 0,5-1,1 m, toàn thân cây có lông màu hơi trắng, mùi thơm dễ chịu Khi còn non thân có màu xanh hình vuông hơi khuyết ở 4 cạnh; khi già thân có màu nâu tía Lá đơn và mọc đối chéo chữ thập có bìa răng cưa nhọn không đều phía trên, mặt dưới nhiều lông tiết, gân lá hình lông chim Cuống lá hình trụ hơi phẳng ở mặt trên, gốc cuống lồi thành u nhỏ Cuống hoa màu xanh rất
ngắn hoặc gần như không có
Trang 15tháng 10 đến tháng 12
Bộ phận dùng: Lá và thân cây được phơi sấy nhẹ ở nhiệt độ phòng đến khô để dùng làm thuốc sắc hoặc tán bột và cũng có thể dùng tươi
Về thành phần hóa học: Cây kinh giới có chứa hàm lương tinh dầu
2% tính theo trọng lượng tươi, chất không bay hơi còn có loại hợp chất
flavonoid và một số hợp chất khác
Về tác dụng dược lý và sử dụng: Cây kinh giới có vị hơi cay và đắng,
có mùi thơm dề chịu có tác dụng làm ra mồ hôi, thanh nhiệt, tán hàn, chỉ ngứa Kinh giới được sử dụng để chữa cảm mạo, sốt, cúm, nhức đầu, hoa mắt, phong thấp, đau xương, đau mình, viêm họng, sởi, lở ngứa, mụn nhọt, băng
Trang 165
huyết, rong huyết, thổ huyết, chảy máu cam, đại tiểu tiện ra máu Còn được sử dụng để cho phụ nữ sau khi sinh bị trúng phong, cây kinh giới có khả năng tiêu diệt vi khuẩn cúm, điều trị hiệu quả các triệu chứng cúm như sốt, cảm lạnh, đau nhức cơ thể, đau đầu… Khi mới có dấu hiệu cảm cúm, một bài thuốc đơn giản mà hiệu quả là nấu cháo trắng với rau kinh giới, hành lá hoặc tía tô và dùng ngay khi còn nóng, cơ thể sẽ cảm thấy dễ chịu Hoặc sắc chung với một số loại rau cũng có tác dụng chữa bệnh như bạc hà, tía tô, cam thảo, cúc tần… lấy nước uống Cây kinh giới còn có đặc tính giúp thông mũi mát họng do bị cảm hoặc dị ứng Có thể xông mũi bằng cách nhỏ một vài giọt tinh dầu kinh giới vào bát nước nóng và hít hơi nước
1.1.2 Cây ích mẫu
Cây ích mẫu (Leonurus japonicus) còn có tên khác là Sung úy, Chói
đèn Họ Bạc hà (Lamiaceae): Là loài thân cỏ đứng, tiết diện vuông, màu xanh lục, đường kính khoảng 2-5 mm, nhiều lông mịn màu trắng Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập Các lá ở gốc thân có cuống dài, phiến chẻ theo hình chân vịt Các lá gần ngọn xẻ thành 3 thùy hẹp và dài, mỗi thùy có thể lại xẻ thành 3 thùy nhỏ, bìa có răng cưa hay hình dãy hẹp, không cuống Phiến lá có nhiều lông ngắn mịn màu trắng ở cả hai mặt Gân lá hình chân vịt với 3 gân chính nổi rõ ở mặt dưới Cuống lá dài 2-4 cm, không phân biệt rõ vì phiến lá kéo dài xuống tạo thành 2 phần hẹp ở hai bên cuống Hoa nhỏ, không đều, lưỡng tính, mẫu 5, không cuống Lá bắc dạng hình kim, dài 4-7 mm, màu vàng lục,
có nhiều lông trắng; các lá bắc tập trung phía dưới cụm hoa Quả là 4 quả hạch con được bao bởi đài tồn tại, họng đài vẫn mở; mỗi quả hạch con có 3 góc, dài khoảng 2 mm, đỉnh cắt cụt, màu nâu đậm, rốn quả hẹp và ở đáy, vỏ quả mỏng, cứng và khô.[3]
Trang 176
Hình 1.2 Cây ích mẫu Đặc điểm bột dược liệu: Bột toàn cây màu xanh lục xám, mùi thơm
hắc, vị đắng Thành phần gồm có:
- Mảnh biểu bì thân mang lông che chở, lông tiết; ở chân lông tiết có
4-8 tế bào biểu bì tỏa ra như hình hoa thị
- Mảnh mô dày
- Mảnh mô mềm
- Mảnh phiến lá với mô giậu
- Sợi có vách ít dày, khoang rộng, riêng lẻ hay kết thành từng đám
- Tế bào mô cứng có vách ít dày
- Mảnh mạch có nhiều loại: mạch xoắn, mạch vòng, mạch vạch, mạch mạng, mạch điểm
- Hạt phấn hoa hình cầu hay hình bầu dục có rãnh dọc
- Mảnh cánh hoa có lông che chở uốn lượn
- Hạt tinh bột, hình đa giác
Trang 187
Phân bố, sinh học và sinh thái: Phân bố ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc,
Triều Tiên, Nhật Bản, Việt nam, Lào, Thái Lan, Malaysia, Indonesia và nhiều nước châu Phi, châu Mỹ Ở nước ta gặp từ Lào cai, Yên Bái, Hà Giang, Lạng Sơn, Hà Bắc, Hà Tây, Hà Nội, Hà Nam vào tới Lâm Đồng và thành phố Hồ Chí Minh Cũng được trồng ở nhiều nơi, có thể trồng quanh năm nhưng tốt nhất là đầu mùa mưa Cây ưa nóng và ẩm, đất thịt và đất phù sa Thường gặp ở dọc bờ sông, bãi
hoang và ven đường Ra hoa tháng 6-9, có quả tháng 9-10
Thành phần hóa học: Toàn cây chứa leonurin, stachydrin, leonuridin
Ích mẫu ở nước ta có chứa 3 alkaloid, 3 flavonosid, 1 glucosid có khung
steroid Hạt chứa leonurin
Tác dụng dược lý - Công dụng: Chữa kinh nguyệt không đều, bế tắc,
hành kinh đau bụng; còn dùng trị viêm thận phù thủng, giảm niệu, tiểu ra máu Có thể dùng riêng hay phối hợp với Ngải cứu, Hương phụ, Nghệ đen
Dùng ngoài trị mụn nhọt, viêm da, lở ngứa
1.1.3 Cây Hương Nhu Trắng
Cây Hương Nhu Trắng (O gratissimum L) còn có tên khác là É trắng
Hương nhu trắng lá to, cây bụi nhỡ, cao 0,7-3 m, rất phân nhánh, toàn cây có lông màu trắng xanh và có mùi thơm dịu Thân có mấu thường phình to, khoảng cách giữa hai mấu 5-10 cm Thân non màu xanh nhạt hoặc hơi tía, tiết diện vuông Thân già màu nâu xám, gần gốc tiết diện gần tròn Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập Phiến lá hình trứng - mũi mác, đầu nhọn thường hơi lệch về một bên, gốc hình nêm men xuống một phần cuống, mặt trên xanh đậm hơn mặt dưới và có ít đốm tuyến hơn mặt dưới Gân lá hình lông chim nổi rõ ở mặt dưới, 5-7 cặp gân phụ Cuống lá màu xanh nhạt, nhiều lông, hình trụ hơi phẳng ở mặt trên Hoa nhỏ, lưỡng tính, không đều
Trang 198
Hình 1.3 Cây Hương nhu trắng
Đặc điểm bột dược liệu: Bột toàn cây màu xanh, mùi thơm, vị
hơi cay Soi dưới kính hiển vi thấy: Mảnh biểu bì lá có lỗ khí kiểu trực bào, tế bào vách uốn lượn Mảnh biểu bì gân tế bào đa giác dài Lông che chở đa bào một dãy bị gãy Lông tiết đa bào nhiều Mảnh cánh hoa Hạt phấn hình gần bầu dục có rãnh, bề mặt có vân mạng Mảnh mạch (xoắn, mạng, vạch, điểm Sợi dài và ít tế bào mô cứng Mảnh mô
mềm thân và lá tế bào vách mỏng Mảnh mô dày
Phân bố, sinh học và sinh thái: Hương nhu trắng là cây bụi ưa sáng,
có biên độ sinh thái khá rộng, có thể thích nghi với vùng có khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm cũng như vùng cận nhiệt đới Cây mọc hoang và được trồng ở nơi
sáng và ẩm Ở độ cao trên 1000 m, cây mọc chậm Mùa hoa quả : tháng 5-7
Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Ocimi gratisssimi), thu hái
khi cây ra hoa, phơi khô Có thể cất tinh dầu
Trang 209
Thành phần hóa học: Phần trên mặt đất của Hương nhu trắng chứa
tinh dầu với thành phần chủ yếu là eugenol, D- germacren, cis β-ocimen
Tác dụng dược lý - Công dụng: Hương nhu trắng có vị the, mùi thơm, tính ấm; có tác dụng giải cảm, giải nhiệt, lợi tiểu
1.1.4 Cây Hương Nhu Tía
Cây Hương Nhu Tía( Ocimum tenuiflorum L.) có tên khác: É đỏ, É tía,
É rừng Họ Bạc hà (Lamiaceae) Cây cỏ đứng, cao 0,5-1 m, toàn cây có lông màu trắng xanh hoặc tía, có mùi rất thơm Thân non màu xanh tía hay tía đậm, tiết diện vuông hơi lõm ở bốn cạnh; thân già màu nâu tía tiết diện gần tròn hoặc có bốn ngấn lồi lớn Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập Phiến lá hình bầu dục, đáy men xuống một phần cuống, bìa răng cưa hơi nhọn, màu xanh tía hoặc tía sậm ở mặt trên, mặt dưới màu xanh nhạt hoặc hơi tía và có nhiều đốm tuyến hơn mặt trên, nhiều lông ở hai mặt, màu nhạt hơn phiến lá Cuống
lá giống màu gân lá, hình trụ, mặt trên hơi có rãnh ở giữa Hoa nhỏ, lưỡng tính, không đều, mẫu 5 Lá đài 5, không đều, màu tía, dính nhau bên dưới thành ống hình chuông dài khoảng 2-3 mm Quả bế 4, màu nâu, hình trứng, dài khoảng 1,2 mm, rốn hơi hẹp ở đáy, mang trong đài tồn tại màu vàng nâu khô xác
Trang 21vách mỏng
Phân bố, sinh học và sinh thái: Hương nhu tía phân bố phổ biến ở
vùng nhiệt đới Ở Việt Nam, Hương nhu tía thường được trồng làm rau và
làm thuốc Cây ưa sáng, nóng và ẩm Mùa hoa tháng 5-7
Bộ phận dùng: Dược liệu là toàn cây trên mặt đất
Thành phần hóa học: Phần trên mặt đất chứa tinh dầu với thành phần
chính của tinh dầu là eugenol (trên 70%), methyleugenol (trên 12%) và
β-caryo-phyllen
Trang 2211
Tác dụng dược lý - Công dụng: Hương nhu tía có vị cay, mùi thơm,
tính ấm, có tác dụng phát hãn (làm ra mồ hôi), thanh nhiệt, tán thấp, hành thủy, giảm đau
Theo kinh nghiệm dân gian, Hương nhu tía được dùng để hạ sốt, chữa cảm nhất là cảm nắng, say nắng, nhức đầu, đau bụng, đi ngoài, nôn mửa, phù thũng Dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc uống hãm Eugenol chiết từ Hương nhu tía được dùng trong nha khoa và là nguyên liệu để tổng hợp vanilin
1.1.5 Cây Râu Mèo
Cây Râu Mèo (Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr) còn có tên khác là
cây bông bạc thuộc họ Bạc hà (Lamiaceae) Là loài cây cỏ cao khoảng 0,6
m Tiết diện thân vuông, màu xanh ở thân thật non, thân già có 2 cạnh màu xanh và 2 cạnh màu tím ; có ít lông ngắn màu tím, ở mấu có nhiều lông hơn
Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập Phiến lá hình trứng, đầu nhọn, gốc hình chót buồm ; màu xanh lục đậm ở mặt trên, nhạt ở mặt dưới, có ít lông nằm ngắn, màu tím trên gân lá ở cả 2 mặt Cuống lá lõm ở mặt trên, lồi ở mặt dưới, dài 1
- 4 cm, màu tím ở mặt trên, màu xanh ở mặt dưới, có nhiều lông màu tím và nhiều hơn ở mặt trên Cánh hoa 5, không đều, màu trắng, dính nhau phía dưới tạo thành ống hình trụ cao 1cm
Trang 23Phân bố, sinh học và sinh thái: Râu mèo là cây nhiệt đới điển hình Ở
nước ta phân bố rải rác ở một số tỉnh miền núi.Mùa hoa quả: từ tháng 4 đến
tháng 7
Bộ phận dùng: Toàn cây
Thành phần hóa học: Lá Râu mèo chứa một saponin, một alkaloid
Tinh dầu 0,2 – 0,6%, tanin, acid hữu cơ và dầu béo Lá khô và ngọn tươi có hoa chứa các chất vô cơ khoảng 12% với hàm lượng Kali cao, flavonoid (sinensetin, 3’-hydroxy-3,6,7,4’-tertramethoxy flavon, tetrametylscutelarein),
Trang 24đặc hiệu các bệnh thận và bàng quang, ngoài ra còn điều trị thấp khớp và gút Cao lỏng Râu mèo dùng làm thuốc hạ đường huyết.
1.1.6 Cây Tía Tô
Cây Tía Tô (Perilla frutescens (L.) Britt.) còn có tên khác là tử tô họ
bạc hà (Lamiaceae) Thân cỏ mọc đứng, cao 40-100 cm, phân nhánh nhiều, toàn cây có mùi thơm và có nhiều lông Thân và cành vuông, lõm ở cạnh, màu xanh hay tím, có nhiều lông Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập, phiến mỏng Cuống lá dạng sợi, dài 2-5 cm, đường kính 1,5-2 mm, màu tím xanh Cụm hoa dạng chùm ở ngọn cành hoặc nách lá, dài 5-20 cm, mỗi đốt mang 2 hoa mọc đối hình chữ thập Hoa không đều, lưỡng tính, mẫu 5 Lá bắc hình trứng rộng, dài hơn hoa, đầu nhọn, có lông dài, tồn tại đến khi hoa thành quả Cuống hoa dài 1-3 mm Hạt phấn gần hình cầu, nhiều rãnh ngoằn ngoèo, đường kính 40-45 µm Lá noãn 2, bầu 2 ô sau có vách giả chia thành 4 ô, mỗi
ô 1 noãn, đính đáy Quả bế hình trứng hoặc gần hình cầu, có gốc quả hơi nhọn, gồm 4 hạch nhỏ, mỗi hạch chứa 1 hạt Hạt có mùi thơm nhẹ khi vỡ, vị cay
Trang 25mềm hình đa giác; nhiều hạt tinh bột hình nhiều cạnh
Phân bố, sinh học và sinh thái: Cây tía tô mọc hoang hoặc trồng
nhiều nơi trong cả nước Cây ưa sáng và ẩm, thích hợp với đất thịt, đất phù sa Tía tô ra hoa kết quả nhiều, sau khi quả già, cây tàn lụi, hạt giống phát tán ra
Trang 2615
xung quanh, đến mùa mưa ẩm năm sau mới nảy mầm Cây được trồng bằng
hạt Mùa hoa từ tháng 7 đến tháng 9, mùa quả từ tháng 10 đến tháng 12
Thu hái và chế biến: Lá tía tô được thu hoạch vào mùa hạ, khi cành lá
mọc xum xuê, rửa sạch, bỏ lá sâu, để riêng lá hoặc nhánh non, loại bỏ tạp chất, phơi trong bóng râm hoặc sấy nhẹ đến khô Quả thu hoạch vào mùa thu,
loại tạp chất, phơi khô
Thành phần hóa học: Tía tô chứa 0,4 -0,5% tinh dầu theo trọng lượng
tươi Thành phần hóa học chủ yếu là perillaldehyd, L-perrilla alcohol, limonen, α-pinen và hydrocumin, ngoài ra còn có elsholtziaceton, β-cargophylen, bergamoten và linalool perillaldehyd Tinh dầu của hạt chứa nước 6,1%, protein 23,11%, dầu béo 45,06%, N 10,23%, tro 4,61%, acid nicotinic 3,96 mg/100 g Thành phần dầu béo của hạt gồm acid béo chưa no 3,6-7,5%, oleic 3,8-13,2%, linoleic 33,5-59,3%, acid linolenic 23,1-48% một
số mẫu dầu còn chứa trên 71% acid linolenic.[5]
Tác dụng dược lý - Công dụng: Toàn thân cây tía tô đều có thể dùng
làm thuốc, chữa hắt hơi sổ mũi, giảm ho hoặc nấu với các loại lá thơm khác
để xông chữa cảm mạo, nấu cháo giải cảm, giúp tiêu hóa, hạ khí trị ho suyễn
và thuốc an thai Tía tô không chỉ là một vị thuốc dân gian mà còn là một vị
thuốc thảo dược của đông y, có vị cay, tính ấm vào 3 kinh phế - tâm - tỳ, chuyên làm ra mồ hôi, bệnh nào do phong hàn gây nên dùng tía tô sẽ giúp thoát mồ hôi, hạ sốt Thành phần hóa học của tinh dầu chứa 0,31%-1,29% lượng tinh dầu theo trọng lượng tươi Chủ yếu là perilla aldehyde, phenylpropanoid và β-caryophyllene có tác dụng ức chế các loại vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm Ngoài ra, nó còn có tác dụng khử mùi tanh hải sản, giải độc cua cá Đặc biệt là dùng lá tía tô chữa bệnh gout được ưa chuộng không chỉ vì rẻ, dễ kiếm mà tác dụng lại nhanh nên người bệnh dễ kiểm chứng hiệu quả mang lại Dùng bột tía tô là phương pháp hiệu quả và phù hợp hơn cả đối với việc phòng và ngăn chặn tận gốc bệnh gout nên có thể sử dụng bột tía tô
Trang 2716
như một thức uống, một loại gia vị hấp dẫn trong các bữa ăn hằng ngày mà không lo tác dụng phụ Đó chính là nhờ kết quả của một số nghiên cứu ở
giống tía tô Perilla ocymoides L var bicolorlaciniata có giá trị dược liệu cao
hơn cả và hỗ trợ điều trị tích cực cho các triệu chứng gout hơn các giống tía tô khác của Nhật Bản Họ đã tìm thấy có 4 chất khác nhau trong loại rau gia vị này ức chế các enzym xanthine oxidase - loại enzyme thúc đẩy sự hình thành axít uric Bằng cơ chế này, nồng độ axít uric có thể được giữ ở mức thấp Ở nước ta vẫn chưa có một nghiên cứu chính thức nào nhưng lá tía tô chữa bệnh gout không còn xa lạ với nhiều người Chẳng hạn để ngừa bệnh gout tái phát
có thể ăn lá tía tô như rau sống Chỉ đơn giản là thêm tía tô vào bữa ăn, ăn như rau sống tốt hơn là nấu chín Tất nhiên là nên chọn mua nguồn rau sạch nếu không muốn bị thêm “tác dụng phụ” Mỗi khi thấy khớp xương có dấu hiệu sắp sưng tấy lên, hãy lấy ngay tía tô nhai và nuốt để chặn cơn đau tái phát Hoặc hằng ngày dùng bột tía tô rắc cơm, rắc vào thức ăn như gia vị trong các bữa cơm đề phòng bệnh tái phát Lúc nào thấy các khớp xương sắp bị sưng tấy lên, dùng bột tía tô hãm nước uống như uống trà, bã bột sau khi pha trà đắp vào chỗ khớp bị sưng để chặn cơn đau Hoặc cũng có thể hãm nước bột tía tô làm nước ngâm, rửa các khớp khi bị đau hoặc trước khi đi ngủ hằng ngày sẽ có tác dụng rất tốt Có thể dùng lâu dài để ngăn bệnh tái phát Khi xảy
ra gout đau cấp nghĩa là trong cơn gout cấp do nồng độ axít uric trong máu tăng cao, lắng đọng ở các khớp kích hoạt phản ứng viêm khiến các khớp sưng tấy, đỏ và đau rất nhiều Trong lá tía tô có chứa nhiều tinh dầu và các hoạt chất có tác dụng giảm đau chống viêm, giãn mạch, ngăn chặn quá trình nhiễm khuẩn nên có tác dụng rất tốt trong các đợt cấp tính của bệnh gout Do đó dùng nước bột tía tô hãm đặc uống có tác dụng chống viêm, lợi tiểu nên tăng cường đào thải axít uric trong máu giúp giảm nhanh các triệu chứng sưng đau
Có thể đồng thời hòa bột tía tô với nước chín, đem đắp trực tiếp vào vị trí khớp bị viêm sẽ nhanh chóng làm giảm cơn đau nhức, giảm tình trạng viêm
Trang 2817
tấy đỏ Cơn đau sẽ hết ngay trong vòng nửa giờ Hay rửa thật sạch 6-12 g lá tía tô rồi cho vào nồi đun sôi, gạn lấy nước uống (không sắc nước lá tía tô quá
15 phút vì sẽ làm mất tinh dầu trong lá) Kinh nghiệm của các bậc tiền bối cho
hay chỉ sau 30 phút là cơn đau đã thuyên giảm.[3]
1.2 Thành phần hóa học của tinh dầu
Tinh dầu là những hỗn hợp của hợp chất hữu cơ, có cấu tạo phân tử phức tạp và khác nhau về các đặc tính lý học cũng như hóa học
Tính chất vật lý của tinh dầu:
- Tất cả tinh dầu đều là hợp chất lỏng, sánh, có hoạt động quang học, gây hiện tượng quay cực của ánh sáng
- Đa số tinh dầu có tỷ trọng nhỏ hơn nước (d<1), một số có tỷ trọng lớn hơn nước (d>1), không tan hoặc rất ít tan trong nước, nhưng lại tan trong các dung môi hữu cơ
- Có mùi thơm do thành phần tinh dầu có các cấu tử dạng tự do
- Tinh dầu có khả năng bay hơi
Căn cứ vào cấu tạo phân tử và tầm quan trọng của tinh dầu đã sắp xếp tinh dầu vào 4 nhóm chủ yếu sau:
Trang 2918
các loại hương liệu và nước hoa Các ceton aliphatic thường gặp trong tự nhiên, đây là những hợp chất tạo nên hương vị của thực phẩm Ngoài ra các este alphatic thường được sử dụng trong công nghệ thực phẩm
1.2.2 Các terpen và dẫn xuất của chúng
Đây là nhóm lớn, thường gặp trong các loài thực vật Các terpen được cấu tạo từ isopren (C5H8)n với n = 2 (monoterpen), n=3 (sesquiterpen)
- Các hydrocarbon terpen góp phần tạo nên một phần của mùi vị tinh dầu, nhưng các dẫn xuất oxy hóa của chúng lại là những hợp chất thơm rất quan trọng
- Các monoterpen (C10H16) có thể không vòng như geraniol, 1 vòng như limonen, 2 vòng hoặc 3 vòng như cyclofenchen và tricyclen Các monoterpen acyclic thường liên kết không bền, do chúng có cấu trúc không bão hòa Các monoterpen acyclic ít tham gia thành phần của mùi hoặc sản phẩm mang hương vị ở thực phẩm song chúng lại được sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sinh tổng hợp hoặc hóa học để tạo thành các hương liệu có giá trị trong thực phẩm và mỹ phẩm như: -terpinen, limonen, -terpinen,
- Các terpen bicyclic thì -pinen, -pinen là là những hợp chất có giá trị cao trong công nghệ hương liệu
- Sesquiterpen là những hợp chất được hình thành từ 3 đơn vị isopren
và có công thức cấu tạo chung là C15H24 Các hợp chất sesquiterpen luôn thường gặp cùng với monoterpen trong thành phần của nhiều loài thực vật Trong tinh dầu, các sesquiterpen luôn là những thành phần quan trọng, song chúng lại có nhiệt độ sôi cao (nhiệt độ sôi thường trên 200oC) do đó thường không thu được hoặc chỉ thu được rất ít
Các hợp chất oxy hóa của các monoterpen và các sesquiterpen thường
có giá trị hơn các hydrocarbon terpen Sự kết hợp của các thành phần oxy hóa thường tạo thành mùi thơm đặc trưng của nhiều loại tinh dầu Các alcohol,
Trang 30Este của những alcohol terpen và các axít béo thấp hơn trong thành phần các acetat đặc trưng là những chất thơm quan trọng trong công nghệ chế biến thực phẩm và hóa mỹ phẩm Các este của alcohol terpen cyclic như α-terpinyl acetat, methyl acetat, bornyl acetat và một số alcohol sesquiterpen như guaiyl acetat, cedryl acetat, là những hợp chất thơm có giá trị sử dụng cao trong công nghệ hương liệu
1.2.3 Các dẫn xuất benzen
Các dẫn xuất của benzen hoặc các benzoid là những hợp chất có chứa 1 vòng benzen đặc trưng và thường được biểu thị như 1 vòng C6 có 3 nối đôi luân phiên với các nối đơn giữa các nguyên tử carbon Đây là nhóm hợp chất khá đa dạng và được dùng nhiều trong công nghệ thực phẩm và hóa mỹ phẩm dưới dạng tổng hợp hay tự nhiên Các este của các alcohol thơm và các axít aliphatic có mùi thơm đặc trưng nên được sử dụng trong công nghệ thực phẩm và mỹ phẩm
1.2.4 Các thành phần pha tạp
Một vài hợp chất chứa nitrogen có những tính chất khá đặc trưng, tuy chỉ với hàm lượng rất nhỏ, thường nhỏ hơn 0,1%, nhưng lại có tác dụng nâng cao hương vị hấp dẫn của nhiều loại tinh dầu ngay cả ở dạng thô
1.3 Phân bố của các loài chứa tinh dầu trong hệ thực vật Việt Nam
Khi nghiên cứu thành phần các loài cây chứa tinh dầu ở các khu vực khác nhau trên thế giới, các nhà nghiên cứu nhận định rằng khu vực có khí hậu nhiệt đới là nơi tập trung cây tinh dầu với số lượng lớn Bên cạnh đó, một số loài cây tinh dầu trong vùng khí hậu này có sự đa dạng về thành phần hóa học
Trang 3120
Phân bố cây tinh dầu trong mỗi hệ thực vật nói chung theo 2 nguyên tắc:
- Nguyên tắc phổ biến: Theo nguyên tắc này, ở một số taxon thực vật, sự
có mặt tinh dầu trong cây và trong các bộ phận xác định là đặc tính phổ biến Giới hạn của quy luật này thường xác định ở các bậc họ (ngay trong 1 họ, có chi hầu như tất cả các loài đều chứa tinh dầu, trong khi đó ở các chi khác hoàn toàn không có loài nào được coi là có tinh dầu) Với những họ mà tích lũy tinh dầu là đặc tính chung của các loài trong cả họ thì được gọi là họ cây tinh dầu
- Nguyên tắc ngẫu nhiên: Theo nguyên tắc này, sự có mặt của tinh dầu
ở các cá thể trong taxon là một đặc tính ngẫu nhiên Khi nghiên cứu phân bố cây tinh dầu ở các họ khác nhau, dễ nhận thấy rằng trong đa số họ thực vật, đặc tính tích lũy của tinh dầu chỉ là một số chi nhất định trong họ
Phân tích và tìm hiểu quy luật phân bố của cây tinh dầu ở các họ thực vật không chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu tiến hóa sinh lý, sinh hóa mà còn
có giá trị rất lớn đối với công tác điều tra, phát hiện Hiện nay, trong hệ thực vật Việt Nam có khoảng 657 loài thuộc 357 chi và 114 họ chứa tinh dầu Như vậy, nguồn tài nguyên cây tinh dầu nói riêng và tài nguyên thực vật Việt Nam rất là đa dạng và phong phú
1.4 Chi Ocimum
1.4.1 Cây Húng Quế
Cây húng quế :Tên khoa học là O basilicum L còn có tên khác như
Húng chó, Húng giổi, Rau é, É tía, É quế , họ Bạc hà (Lamiaceae)
Đặc điểm thực vật : Là loài cây cỏ đứng, cao 0,5-1,2 m, rất phân nhánh, toàn cây có mùi thơm Thân có mấu, mấu thường phình to ở đoạn già, khoảng cách giữa hai mấu 2-8 cm Thân non màu xanh có phớt tía hoặc màu tía, rất ít lông tơ, tiết diện vuông hơi lõm ở bốn cạnh Thân già màu xám nâu hay xám tía, tiết diện vuông hơi tròn hoặc có bốn góc lồi tròn, nhẵn Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập Phiến lá hình trứng nhọn ở đầu và đáy phiến hình nêm men dần xuống cuống, kích thước 3-8 x 2-5 cm, màu xanh lục, mặt trên
Trang 3221
đậm hơn mặt dưới, bìa có răng cưa cạn ở 2/3 phía trên, nhiều đốm tuyến Gân
lá hình lông chim, nổi rõ ở mặt dưới, 6-8 cặp gân phụ hơi cong lên ở mép lá,
có ít lông tơ ngắn Cuống lá màu xanh nhạt, hình trụ hơi phẳng ở mặt trên, dài 2-5 cm, ít lông ngắn Cụm hoa ở ngọn cành kiểu chùm xim bó hoặc chùm xim
biến dạng hình tháp Hoa nhỏ, không đều, lưỡng tính, mẫu 5 Cuống hoa màu
xanh hoặc màu tía, có lông, thường dựng đứng áp vào trục hoa Lá đài 5, không đều, màu tím sậm hoặc xanh tía, mặt ngoài có nhiều lông trắng và đốm tuyến, mặt trong màu nhạt và ít lông hơn mặt ngoài, dính thành một ống ngắn hình chuông dài khoảng 0,5-0,7 cm Cánh hoa 5, không đều, màu trắng hồng, rìa màu hồng, dính nhau bên dưới thành ống ngắn 0,3-0,4 cm Nhị 4, rời, kiểu
2 trội, đính gần đáy ống tràng xen kẽ với cánh hoa, hơi thò khỏi tràng, chỉ nhị
màu trắng, dạng sợi; bao phấn bầu dục rộng, màu trắng sữa chuyển thành
màu vàng nâu khi đã nứt Bộ nhụy: Lá noãn 2, vị trí trước sau, bầu trên hình cầu, 2 ô, có vách giả chia làm 4 ô Quả bế tư, màu đen, hình trứng ngược, dài khoảng 1,2 mm, đựng tro
Hình 1.7 Cây húng quế (Ocimum basilicum)
Trang 3322
Đặc điểm bột dược liệu: Bột toàn cây màu xanh, mùi thơm, vị hơi
cay Thành phần gồm: Mảnh biểu bì lá tế bào vách uốn lượn có lỗ khí kiểu trực bào Mảnh biểu bì gân lá tế bào đa giác dài Lông tiết đa bào nhiều Mảnh cánh hoa Hạt phấn hình gần bầu dục có rãnh, bề mặt có vân mạng Mảnh mạch (xoắn, mạng , vạch, điểm ) Sợi dài và ít tế bào mô cứng Mảnh
mô mềm thân và lá tế bào vách mỏng Mảnh mô dày
Phân bố, sinh học và sinh thái: Ở Việt Nam, Húng quế có ở nhiều
tỉnh Cây ưa sáng và ẩm, sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm, thích hợp với
đất phù sa và đất thịt Mùa ra hoa tháng 7-9, quả chín tháng 10-12
Bộ phận dùng: Toàn cây húng quế được dùng để làm vị thuốc, trong
đó lá và ngọn có hoa là được dùng phổ biến nhất
Thành phần hóa học: Phần trên mặt đất của cây Húng quế chứa tinh
dầu có hàm lượng cao nhất lúc cây đã ra hoa Trong tinh dầu có linalol (60%), cineol, estragol metyl-chavicol (25-60-70%) và nhiều chất khác
Tác dụng dược lý - Công dụng:
Húng quế có vị cay, tính ấm, vào 2 kinh phế, tâm, có tác dụng làm ra
mồ hôi, giải cảm, tán máu ứ, giảm đau Húng quế được dùng phổ biến làm rau gia vị trong bữa ăn Trong y học, Húng quế chữa cảm cúm, đầy bụng khó tiêu, vấp ngã hay bị đòn sưng đau Dùng uống hoặc giã đắp Hạt dùng làm thức giải khát như chè và có tác dụng nhuận tràng
1.4.2 Cây Húng Chanh
Cây Húng Chanh: tên khoa học Plectranthus amboinicus (Lour.) Spreng Còn có tên khác: Tần dày lá, Rau thơm lông, Rau thơm lùn, Dương tử
tô, thuộc họ Bạc hà (Lamiaceae)
Đặc điểm thực vật : Thân cỏ nhiều năm, mọc đứng, cao 30-70 cm, phân nhánh nhiều; cành non vuông, có nhiều lông Thân già gần tròn, mập Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập; phiến lá dày, mọng nước, hình trứng rộng hay gần tròn, kích thước 4-8x3-6 cm, đỉnh lá nhọn hoặc tù, gốc tròn hay
Trang 3423
cụt, mép có răng cưa to, không nhọn, cả 2 mặt lá có lông ngắn Gân chính to, gân bên nhỏ, 4-5 đôi, gân hình mạng nổi rõ ở mặt dưới lá Lá có mùi thơm dễ chịu như mùi chanh, vị chua Cuống lá dài 2-4 cm, hình lòng máng, có lông Cây rất hiếm khi thấy ra hoa
Hình 1.8 Cây Húng chanh Đặc điểm bột dược liệu: Bột cành lá: Màu xanh, mùi thơm Thành
phần gồm: mảnh biểu bì vách hơi ngoằn ngoèo mang lỗ khí kiểu trực bào, có thể thấy lông che chở và lông tiết ; mảnh lỗ khí nằm riêng rẽ hoặc có tế bào bạn xung quanh; lông che chở rất to hoặc nhỏ, vách mỏng lấm chấm, đứt gãy;
lông tiết nhiều kích thước và nhiều loại Hạt tinh bột hình đa giác
Phân bố, sinh học và sinh thái: Trồng ở nhiều tỉnh và thành phố nước
ta Còn có ở Ấn Độ, Indonexia, Philippin
Mùa hoa tháng 7-9, mùa quả tháng 10-12 Cây ưa sáng và ẩm
Bộ phận dùng: Lá (Folium Plectranthi amboinici) hoặc lá có lẫn
nhánh non
Thu hái và chế biến: Thu hái quanh năm, lúc trời khô ráo hái những
lá bánh tẻ, loại bỏ lá sâu và lá già, phơi âm can cho khô
Trang 3524
Thành phần hóa học: Lá chứa tinh dầu, thành phần chính là
carvacrol: 40-60% Tuy nhiên cũng có tác giả cho rằng thành phần chính trong tinh dầu là thymol 41,30%
Tác dụng dược lý - Công dụng: Tinh dầu có tác dụng ức chế mạnh
các vi khuẩn Cao nước có tác dụng ức chế sự phát triển của phế cầu khuẩn và
tụ cầu vàng Thường dùng trị cảm cúm, ho sốt do phong hàn, ho, hen, viêm họng, ho ra máu, nôn ra máu, chảy máu cam, ho gà, khản tiếng, côn trùng cắn
Ngày dùng 10-16 g, dạng thuốc sắc, thuốc xông, thường dùng lá tươi
Trang 3625
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THỰC NGHIỆM
2.1 Thiết bị và phương pháp
2.1.1 Hoá chất
Các dung môi để ngâm chiết mẫu thực vật đều dùng loại tinh khiết (pure), khi dùng cho các loại sắc ký lớp mỏng và sắc ký cột sử dụng loại tinh khiết phân tích (PA).Dung môi được sử dụng là: metanol (CH3OH), metyclorua (CH3Cl), etylaxetat (CH3COOC2H5), nước cất
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu
+Phương pháp lấy mẫu: Mẫu thực vật được thu hái vào thời điểm thích hợp trong năm Mẫu tươi sau khi lấy về được rửa sạch, để nơi thoáng mát hoặc sấy khô ở 400C Việc xử lý tiếp các mẫu bằng phương pháp chiết chọn lọc với các dung môi thích hợp để thu được hỗn hợp các chất dùng cho nghiên cứu được nêu ở phần thực nghiệm
+ Quy trình xử lý mẫu thực vật: Mẫu thực vật sau khi thu về được bảo quản, tạo tiêu bản theo quy trình thống nhất như sau:
- Chụp ảnh nơi lấy mẫu, chụp ảnh mẫu
+ Thu mẫu và chưng cất tinh dầu: Mẫu nguyên liệu để chưng cất tinh dầu (lá, cành, vỏ, ) (từ 0,5-5 kg) được thu khi trời khô ráo Sau đó, cắt nhỏ và chưng cất bằng phương pháp lôi cuốn theo hơi nước trong thời gian 2-4 giờ ở
áp suất thường theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam I Lắp dụng cụ như hình: