KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Tình hình mắc bệnh sinh sản trên đàn lợn nái ngoại của trại
4.1.1 Tình hình mắc bệnh sinh sản trên đàn lợn nái ngoại của trạ
Để đạt hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, việc đảm bảo dinh dưỡng, vệ sinh và phòng bệnh là rất quan trọng Mặc dù đã áp dụng các biện pháp phòng bệnh và kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến, đàn lợn nái vẫn có thể mắc một số bệnh sinh sản do nhiều nguyên nhân Tình hình mắc bệnh sinh sản trên đàn lợn nái đã được khảo sát và số liệu được thể hiện ở bảng 4.1.
4.1: Tình hình mắc bệnh sinh sản trên đàn lợn nái ngoại của trại qua các năm
Viêm nhiễm đường sinh dục ở lợn nái, với tỷ lệ mắc bệnh là 32,21%, có thể do dụng cụ thụ tinh nhân tạo không đảm bảo vệ sinh, gây xây xát và tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập Tinh dịch nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng cũng là nguyên nhân dẫn đến viêm nhiễm Ngoài ra, lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật có thể truyền bệnh trực tiếp sang lợn nái khi giao phối.
Nguyễn Thanh Sơn và cs (2005) [17] chỉ ra rằng lợn mẹ đẻ khó cần can thiệp, thao tác không đúng kỹ thuật gây tổn thương cổ tử cung, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm nhiễm Vệ sinh kém trước và sau khi đẻ, cùng với nền chuồng bẩn, làm tăng nguy cơ viêm tử cung ở lợn nái.
Bại liệt ở lợn nái thường xảy ra do thai quá to, tư thế thai bất thường hoặc thủ thuật kéo dài gây tổn thương thần kinh tọa và đám rối hông khum, đặc biệt ở lợn nái gầy yếu do điều kiện nuôi dưỡng kém.
4.1.2 Tình hình mắc bệnh sinh sản trên đàn lợn nái ngoại của trại trong 3 tháng năm 2018
Bệnh sinh sản ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, làm giảm sức sinh sản, thậm chí gây mất khả năng sinh sản Bệnh còn gây chậm sinh và giảm khả năng sống sót của lợn con, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả chăn nuôi.
Bảng 4.2: Tình hình mắc bệnh sinh sản trên đàn lợn nái ngoại của trại
Chỉ tiêu theo dõi Tên
Số nái điều tra (con)
Số nái mắc bệnh (con)
Qua bảng 4.2 cho thấy: Đàn lợn của trại hay mắc các bệnh sinh sản sau: viêm
Tuy nhiên tỷ lệ mắc các bệnh này không giống nhau Cụ thể như sau
Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một vấn đề đáng quan tâm, với tỷ lệ được ghi nhận trong một nghiên cứu là 17,68% trên tổng số 345 nái được điều tra Kết quả này tương đồng với nghiên cứu trước đó của Nguyễn Văn Thanh (2003), cho thấy tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại tại vùng đồng bằng sông Hồng là 23,65%.
Nguyên nhân chính khiến lợn nái mắc bệnh viêm tử cung cao là do công tác đỡ đẻ và chăm sóc sau đẻ chưa đảm bảo Can thiệp thô bạo khi lợn đẻ khó gây tổn thương bộ phận sinh dục Việc công nhân không sát trùng tay cẩn thận trước khi can thiệp tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập.
Viêm tử cung ở lợn nái thường do 35 loại vi khuẩn xâm nhập vào đường sinh dục, tăng cao do can thiệp bằng tay trong quá trình đỡ đẻ, đặc biệt vào ca trực đêm Vệ sinh kém sau khi đẻ, với sản dịch còn sót lại trên thân lợn và sàn chuồng, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh cao, nhưng thường ở thể nhẹ và được điều trị sớm.
Nguyễn Văn Thanh và cs (2007)[21] cho rằng: Việc dùng tay can thiệp trong khi heo nái đang đẻ cũng gây viêm đường sinh dục khá cao
Bệnh viêm vú : Tỷ lệ mắc bệnh viêm vú 4,35 % nguyên nhân là do:
Lợn con mới sinh chưa bấm nanh nên khi bú dẫn đến xây xát núm vú
Lợn mẹ tiết nhiều sữa do chế độ ăn giàu đạm, nhưng lợn con không bú hết dẫn đến ứ đọng sữa, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển gây viêm vú Tình trạng này cũng xảy ra khi lợn mẹ đẻ ít con hoặc chỉ cho con bú một bên, khiến các vú thừa bị căng sữa Chuồng trại không đảm bảo vệ sinh và sát trùng kém tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập gây viêm vú, viêm tử cung cũng có thể dẫn đến viêm vú ở lợn mẹ.
Triệu chứng của viêm vú là bầu vú căng cứng, nóng đỏ, đau khi sờ vào, sốt cao(40.5 - 42˚C), bỏ ăn, không cho con
Viêm vú ở lợn nái thường xảy ra do chăm sóc kém sau sinh hoặc viêm tử cung kéo dài, trong khi ở lợn con, việc mài nanh không kỹ có thể gây tổn thương núm vú mẹ khi bú, dẫn đến viêm nhiễm.
Theo chúng tôi tìm hiểu, bệnh đẻ khó hay gặp ở
Để tránh đẻ khó ở lợn nái, cần chú trọng chăm sóc toàn diện từ giai đoạn hậu bị đến khi mang thai và sinh sản, đảm bảo vận động đầy đủ để phát triển cơ bụng, cơ hoành và cơ liên sườn, đồng thời ngăn ngừa tình trạng liệt trước khi đẻ gây biến dạng khung xương chậu.
Bệnh mất sữa, giảm sữa : Tỷ lệ mắc bệnh mất sữa là 4,06%
Mất sữa ở lợn nái thường do chăm sóc kém sau sinh, thiếu dinh dưỡng ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa và viêm vú Triệu chứng bao gồm vú không căng, không có sữa khi vắt, và teo nhỏ dần đến mất sữa hoàn toàn.
Lợn con mất sữa thường gầy yếu, đói và kêu do không có sữa để bú, dẫn đến thiếu dinh dưỡng Tình trạng này làm lợn con yếu ớt, dễ mắc bệnh và có nguy cơ tử vong cao.
Bệnh bại liệt sau đẻ : Tỷ lệ bệnh bại liệt sau đẻ là 1,
Nguyên nhân chính gây bệnh bại liệt sau đẻ ở lợn nái là do chăm sóc nuôi dưỡng không đúng cách, đặc biệt là khẩu phần ăn thiếu cân bằng dinh dưỡng, thiếu hụt Canxi, Photpho hoặc tỷ lệ Canxi/Photpho không phù hợp.
Một nguyên nhân quan trọng là chuồng trại không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, thiếu ánh sáng, và quy trình chăm sóc không tạo điều kiện cho lợn vận động, tắm nắng, dẫn đến thiếu Vitamin D, yếu tố xúc tác quan trọng cho quá trình hấp thu canxi và photpho.
Kết quả điều trị thử nghiệm bệnh viêm tử cung
4.2.1 Tỷ lệ khỏi bệnh khi điều trị thử nghiệm bệnh viêm tử cung
Viêm tử cung là một tổn thương đường sinh dục thường gặp ở lợn nái sau sinh, biểu hiện qua dịch tiết lẫn mủ có mùi tanh thối, sốt và bỏ ăn Nguyên nhân chính gây bệnh là do vi sinh vật, trong khi các yếu tố khác như dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, và điều kiện chuồng nuôi làm giảm sức đề kháng hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển.
Trước tình hình bệnh viêm tử cung diễn ra với tỷ lệ lớn,
, bệnh viêm tử cung trên đàn lợn vẫn có tỷ lệ cao trong các bệnh sinh sản Trại cũng rất tích cực áp dụng các
40 biện pháp, phác đồ điều trị khác nhau để giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và nâng cao hiệu quả điều trị
Trong thời gian thực tập, chúng tôi đã thử nghiệm điều trị bệnh cho gia súc bằng hai loại thuốc khác nhau Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung được trình bày chi tiết trong bảng 4.4.
Bảng 4.4:Kết quả điều trị thử nghiệm bệnh viêm tử cung
Số nái điều trị (con)
Trong đó tỷ lệ khỏi bệnh khi điều trị bằng phác đồ 1 là đạt 100% Tỷ lệ khỏi bệnh ở phác đồ 2 là 90%
Ở phác đồ 1 chúng tôi sử dụng thuốc Bio-Cefquin của Công ty Bio-Pharmachemie trong thành phần có chứa kháng sinh cefquinome,
Tỷ lệ khỏi Tỷ lệ không khỏi
Cephalosporin; đó là kháng sinh ;
Phác đồ điều trị viêm tử cung bằng hai thuốc, đặc biệt là Nova – Amox LA chứa Amoxicillin, một kháng sinh phổ rộng, cho thấy hiệu quả cao Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỵ Dung (2011) [6] chỉ ra rằng tỷ lệ mẫn cảm với Amoxicillin là 100%, củng cố thêm cơ sở khoa học cho việc sử dụng kháng sinh này trong điều trị.
Trong điều trị viêm tử cung nặng ở lợn nái, tình trạng nhiễm trùng máu có thể gây viêm toàn bộ bầu vú, khiến lợn mẹ sốt cao, bỏ ăn và không cho con bú Trong những trường hợp nghiêm trọng này, giải pháp là loại thải lợn nái và ghép bầy con để đảm bảo sức khỏe cho đàn lợn con.
Dùng hàm chitest để so sánh 2 tỷ lệ khỏi bệnh cho thấy:
Giá trị P (X>χ 2 ) = 0,30> 0,05 Vậy tỷ lệ khỏi bệnh của 2 lô là không khác nhau với độ tin cậy 95%.
4.2.2 Kết quả theo dõi thời gian điều trị và chi phí điều trị của hai phác đồ
Đánh giá hiệu quả điều trị viêm tử cung bằng hai phác đồ, chúng tôi tập trung vào thời gian và chi phí điều trị, được trình bày chi tiết trong bảng 4.5.
Bảng 4.5: Kết quả theo dõi thời gian điều trị và chi phí điều trị của hai
Thời gian điều trị (ngày)
Lượng thuốc điều trị (ml)
Chi phí điều trị (vnđ)
M±m SE SD Cv% M±m SE SD Cv% M±m SE SD Cv%
Chú thích: Các giá trị trong cùn có ý nghĩa thống kê
42 ều trị là số ngày trung bình kể từ ngày điều trị đến khi kết thúc điều trị
+ Thời gian điều trị khi sử dụng Bio - cefquin là 3,4 ngày, độ lệch chuẩn là 0,69 sai số chuẩn mẫu là 0,22
+ Thời gian điều trị khi sử dụng Nova – amox LA là 5,4 ngày, độ lệch chuẩn là 1,34, sai số chuẩn mẫu là 0,42
Như vậy khi sử dụng Bio - cefquin để điều trị bệnh thì thời gian điều trị ngắn hơn khi sử dụng Nova – amox LA
Với thời gian điều trị ta có: Ttn = 4,16 > Tlt = 2,10, do vậy thời gian điều trị của hai 95%
Chi phí điều trị cho một ca bệnh là một chỉ số kinh tế quan trọng, phản ánh giá trị của việc lựa chọn một phác đồ điều trị cụ thể.
Sử dụng Bio-cefquin trong điều trị bệnh có chi phí cao hơn so với Nova-amox LA, cụ thể là 193.900 VNĐ so với 150.620 VNĐ cho mỗi ca điều trị.
Với chi phí điều trị: Ttn = 2,21 > Tlt = 2,10 do vậy chi phí điều ở độ tin cậy 95%