Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến tình hình sâu bệnh hại trên cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che .... Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
HOA CÚC PHA LÊ (Chrysanthemum var Crystal)
TRỒNG TRONG NHÀ CÓ MÁI CHE
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THANH HÓA, NĂM 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
HOA CÚC PHA LÊ (Chrysanthemum var Crystal)
TRỒNG TRONG NHÀ CÓ MÁI CHE
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lắp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Tác giả luận văn
Cao Thị Thoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo, các tập thể, cá nhân, gia đình cùng bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Công Hạnh đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài cũng như hoàn chỉnh bài luận văn
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô cùng toàn thể thầy
cô giáo, cán bộ trong Bộ môn Khoa học cây trồng đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến và tạo điều kiện để tôi hoàn thành bài luận văn này
Để hoàn thành bài luận văn này tôi còn nhận được sự động viên hỗ trợ rất lớn từ gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện vật chất, tinh thần để tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, tháng 7 năm 2021
Tác giả luận văn
Cao Thị Thoa
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
1.1 Giới thiệu chung về cây hoa cúc 5
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại 5
1.1.2 Lịch sử phát triển cây hoa cúc 6
1.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển, nhu cầu sinh thái của cây hoa cúc 7 1.2.1 Đặc điểm thực vật học của cây hoa cúc 7
1.2.2 Yêu cầu ngoại cảnh và dinh dưỡng của cây hoa cúc 9
1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cúc trong và ngoài nước 12
1.3.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cúc trên thế giới 12
1.3.2 Tình hình sản xuất hoa cúc ở Việt Nam 14
1.3.3 Tình hình sản xuất hoa cúc tại vùng trồng hoa chuyên canh tỉnh Thanh Hóa 19
1.4 Kỹ thuật sản xuất hoa cúc trong nhà có mái che 20
1.4.1 Trên thế giới 20
1.4.2 Trong nước 21
1.5 Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về mật độ trồng và phân bón nói chung, phân gà nói riêng cho cây hoa cúc 22
Trang 61.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về mật độ trồng và phân bón trên
cây hoa cúc 22
1.5.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam về mật độ trồng và phân bón trên cây hoa cúc 24
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 2.1 Vật liệu nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng 28
2.3.2 Điều kiện nhà mái che 30
2.3.3 Các biện pháp kỹ thuật canh tác áp dụng trong thí nghiệm 30
2.3.4 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 31
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 32
2.4 Thời gian, địa điểm: 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng bón phân gà dạng viên nở đến tình hình sinh trưởng, phát triển của cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 34
3.1.1 Chiều cao cây 34
3.1.2 Đường kính thân 36
3.1.3 Số lá trên thân 38
3.1.4 Thời gian sinh trưởng 40
3.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến tình hình sâu bệnh hại trên cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 41
3.3 Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 44
3.3.1 Số lượng cành hoa khi thu hoạch 44
3.3.2 Số lượng cành hoa thương phẩm 45
Trang 73.3.3 Khối lượng cây hoa thương phẩm 46
3.3.4 Năng suất hoa cắt cành 48
3.4 Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến một số chỉ tiêu chất lượng hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 49
3.4.1 Đường kính bông hoa 51
3.4.2 Độ dài cổ bông 52
3.4.3 Đường kính cuống bông 53
3.4.4 Độ bền hoa 54
3.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến hiệu quả sản xuất hoa cúc Pha lê trong nhà có mái che 55
3.5.1 Hiệu suất bón phân gà dạng viên nở cho hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 55
3.5.2 Hiệu quả sản xuất hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 56
3.6 Mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở phù hợp cho cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 60
3.6.1 Lượng bón phân gà dạng viên nở tối đa về kỹ thuật và tối thích về kinh tế 60
3.6.2 Mật độ thích hợp cho hoa cúc Pha lê trong nhà có mái che 62
3.6.3 Mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở thích hợp cho hoa cúc Pha lê trong nhà có mái che 62
KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC P1
Trang 8DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Giá trị xuất nhập khẩu hoa cúc hàng năm của một số nước trên thế giới 14Bảng 1.2 Tình hình sản xuất hoa cúc ở một số tỉnh trong cả nước năm 2003 17Bảng 1.3 Kim ngạch xuất khẩu hoa tươi 8 tháng đầu năm 2008 và 2009 18Bảng 3.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng bón phân gà dạng viên nở đến động thái tăng trưởng chiều cao cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 34Bảng 3.2: Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng bón phân gà dạng viên nở đến đường kính thân cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 36Bảng 3.3: Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến số
lá trên thân hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 38Bảng 3.4: Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến thời gian sinh trưởng cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 40Bảng 3.5: Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến tình hình sâu bệnh hại trên cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 42Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến các yếu
tố cấu thành năng suất và năng suất hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 45Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến một
số chỉ tiêu chất lượng hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 50Bảng 3.8 Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến hiệu suất bón phân cho cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 55Bảng 3.9 Tổng hợp các chỉ tiêu xác định hiệu quả sản xuất hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 57Bảng 3.10 Lượng bón phân gà dạng viên nở phù hợp cho cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che 61
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ tăng chiều cao cây hoa cúc Pha lê ở các mật độ và mức bón phân gà dạng viên nở khác nhau 35Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ tăng đường kính thân cây hoa cúc Pha lê ở các mật độ và mức bón phân gà dạng viên nở khác nhau 37Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ tăng số lá trên thân cây hoa cúc Pha lê ở các mật độ và mức bón phân gà dạng viên nở khác nhau 39Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ cây hoa cúc Pha lê bị sâu xanh gây hại ở các mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở khác nhau 42Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ cây hoa cúc Pha lê bị rệp muội ở các mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở khác nhau 43Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ cây hoa cúc Pha lê bị bệnh đốm lá ở các mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở khác nhau 43Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ tăng cành hoa cúc Pha lê thương phẩm ở các mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở khác nhau 45Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ tăng khối lượng cành hoa cúc Pha lê thương phẩm ở các mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở khác nhau 47Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ tăng năng suất hoa cúc Pha lê ở các mật độ và mức bón phân gà dạng viên nở khác nhau 48Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ tăng đường kính bông hoa cúc Pha lê ở các mật độ và mức bón phân gà khác nhau 51Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ tăng độ dài cổ bông hoa cúc Pha lê ở các mật độ và mức bón phân gà dạng viên nở khác nhau 52Biểu đồ 3.12 Tỷ lệ tăng đường kính cuống bông hoa cúc Pha lê ở các mật độ
và mức bón phân gà dạng viên nở khác nhau 54Biểu đồ 3.13 Tỷ lệ tăng chi phí sản xuất hoa cúc Pha lê ở các mật độ và mức bón phân gà dạng viên nở khác nhau 56Biểu đồ 3.14 Tỷ lệ tăng doanh thu bán sản phẩm hoa cúc Pha lê cắt cành ở các mật độ và mức bón phân gà dạng viên nở dạng viên nở khác nhau 58
Trang 11Biểu đồ 3.15 Tỷ lệ tăng thu nhập thuần sản xuất hoa cúc Pha lê cắt cành ở các mật độ và mức bón phân gà dạng viên nở khác nhau 58Biểu đồ 3.16 Tỷ lệ tăng lợi nhuận thuần sản xuất hoa cúc Pha lê cắt cành ở các mật độ và mức bón phân gà dạng viên nở khác nhau 59
Đồ thị 3.1 Tương quan giữa lượng bón phân gà dạng viên nở và năng suất tươi cây hoa cúc Pha lê trong nhà có mái che - Mật độ 1 60
Đồ thị 3.2 Tương quan giữa lượng bón phân gà dạng viên nở và năng suất tươi cây hoa cúc Pha lê trong nhà có mái che - Mật độ 2 61
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoa cây cảnh là sự chắt lọc kỳ diệu nhất những tinh túy mà tự nhiên đã ban tặng cho con người Mỗi loài hoa ẩn chứa một vẻ đẹp, sức quyến rũ riêng
mà qua đó con người có thể gửi gắm tâm hồn mình Xã hội ngày càng phát triển, thu nhập càng cao, nhu cầu thẩm mĩ của người dân càng lớn thì các sản phẩm hoa cây cảnh càng chiếm vị trí quan trọng Bên cạnh việc mang lại cho con người sự thoải mái, thư giãn thì hoa cây cảnh cũng đem lại cho những người sản xuất hoa giá trị kinh tế cao hơn so với những cây trồng khác
Với các điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi, thị trường tiêu thụ rộng lớn, nghề trồng hoa ở nước ta đã thực sự phát triển và đem lại giá trị kinh tế cho người sản xuất Trong những năm gần đây, nghề trồng hoa thực khởi sắc, dành được sự quan tâm đầu tư của nhiều công ty lớn trong cũng như ngoài nước Ngành sản xuất và kinh doanh hoa được đặc biệt quan tâm, hoa không chỉ dùng vào các dịp lễ, Tết mà còn thường xuyên có mặt trong đời sống hàng ngày của mỗi người dân đặc biệt là ở các thành phố lớn
Hiện nay, diện tích và sản lượng hoa ở Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng với nhiều chủng loại hoa Một trong những loại hoa cắt cành trồng phổ
biến hiện nay đó là hoa cúc (Chrysanthemum sp.) Có rất nhiều loại hoa cúc khác nhau, trong đó giống hoa cúc Pha lê (Chrysanthemum var Crystal) có
nguồn gốc từ Nhật Bản được ưa chuộng nhiều hơn vì có nhiều ưu điểm như màu sắc đẹp, đường kính hoa to (6-10cm), độ bền hoa dài, có thể trồng được bốn mùa trong năm
Ngày nay, cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, thì việc trồng cây nông nghiệp nói chung và việc trồng hoa cúc nói riêng đã áp dụng nhiều giống mới, nhiều thiết bị kỹ thuật hiện đại như nhà lưới, nhà kính,
kỹ thuật canh tác, các hoá chất bảo vệ thực vật, nhiều loại phân bón nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hoa Việc trồng cây rau, cây hoa trong nhà
Trang 13mái che mang lại nhiều lợi ích và đã được chứng minh trên thực tế: Tăng hiệu quả kinh tế trong điều kiện sản xuất thâm canh, nhất là trong vụ mưa (Hè thu); Ít sâu bệnh, hạn chế sử dụng thuốc hóa học, giảm lây lan nguồn sâu bệnh
từ môi trường xung quanh, dễ chủ động trong khâu bảo vệ thực vật Tăng hiệu quả sử dụng phân bón; Chủ động điều khiển được độ ẩm đất, không phụ thuộc vào thời tiết nhất là vụ mưa; ứng dụng hệ thống tưới nước, bón phân tự động,…Rút ngắn thời gian sinh trưởng cây trồng, tăng hệ số sử dụng đất
Qua canh tác rau, hoa trong nhà có mái che nông dân đều ghi nhận tăng được năng suất và phẩm chất rau, hoa một cách rõ rệt nhất là vụ mưa Chính
vì có nhiều ưu điểm do đó hiện nay các mô hình này thường được áp dụng cho sản xuất rau quả sạch cao cấp hay sản xuất các giống hoa mới nhập nội, chất lượng cao, trồng cây với mật độ dày
Một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp tăng năng suất cây trồng chính là phân bón Vai trò của các loại phân bón hữu cơ trong việc cải thiện nâng cao độ phì nhiêu đất, thúc đấy cây trồng sinh trưởng, tăng năng suất, phẩm chất nông sản, hạn chế tác hại của phân bón hóa học, hạn chế nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trong sản xuất cây trồng đã được nghiên cứu và khẳng định qua rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
Đối với độ phì nhiêu đất, phân hữu cơ có tác dụng cải thiện các tính chất lý học, hóa học và sinh học của đất như: cải thiện kết cấu đất, tăng độ xốp, tăng khả năng ngấm nước, giữ nước của đất, cái thiện chế độ nhiệt, chế
độ khí trong đất, thúc đẩy cây sinh trưởng và đạt năng suất, phẩm chất nông sản cao, an toàn thực phẩm
Đối với dinh dưỡng cây trồng, phân hữu cơ có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của cây thông qua việc tạo phức hệ hữu cơ - vô cơ giữa axit humic, axit fulvic có trong thành phần của phân hữu cơ với các nguyên tố dinh dưỡng có trong dung dịch đất Vì vậy phân hữu cơ được xác định là nguồn cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, cân đối để nâng cao năng suất, phẩm chất cây trồng
Trang 14Phân gà (Chicken manure) là loại phân hữu cơ đã được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp từ thời xa xưa và được đánh giá phân hữu cơ có chất lượng, hiệu quả cao về mặt dinh dưỡng cây trồng Phân gà dạng viên nở nhập khẩu từ Nhật Bản Green Fuji 3-2-3 là loại phân chất hữu cơ có chứa đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng (N, P, K), trung lượng (Ca, Mg, S) và vi lượng (Fe, Cu, Zn, Mn, B, Mo, Cl, Ni) đã và đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong sản xuất cây trồng
Trong các biện pháp kỹ thuật trồng hoa cúc, mật độ có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa do vấn đề cạnh tranh nước, dinh dưỡng và ánh sáng Mật độ trồng thưa, đường kính hoa to, thân to, thấp, số bông hoa trên một đơn diện tích thấp Ngược lại, mật độ trồng dày, đường kính hoa nhỏ, thân nhỏ, dài, số bông hoa tăng
Nhằm xác định mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở dạng viên
nở nhập khẩu từ Nhật bản Green Fuji 3-2-3 cho cây hoa cúc pha lê trồng trong nhà có mái che đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất cao nhất, qua đó góp phần cung cấp dữ liệu khoa học để bổ sung hoàn thiện qui trình kỹ thuật và phổ biến vận dụng trong sản xuất, chúng tôi tiến hành thực hiện
nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng bón phân gà dạng
viên nở dạng viên nở đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng hoa cúc Pha
lê (Chrysanthemum var Crystal) trồng trong nhà có mái che”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Xác độ mật trồng và lượng bón phân gà dạng viên nở dạng viên nở (Green Fuji 3-2-3 nhập khẩu từ Nhật Bản) cho cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che đạt hiệu quả kinh tế hiệu quả cao nhất, tạo cơ sở để bổ sung hoàn thiện qui trình kỹ thuật và phổ biến vận dụng trong sản xuất
2.2 Yêu cầu
1) Xác định được ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng bón phân gà dạng viên nở dạng viên nở đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, tình hình
Trang 15sâu bệnh hại, các yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng, các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che
2) Xác định được mật độ trồng và lượng bón phân gà dạng viên nở dạng viên nở cho cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung dữ liệu khoa học về ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng bón phân hữu cho cây hoa cúc trồng trong nhà có mái che ở Thanh Hóa
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để phổ biến, khuyến cáo vận dụng trong sản xuất hoa cúc trồng trong nhà có mái che nói riêng, trồng ngoài đồng ruộng nói chung, qua đó góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất hoa của nông dân các vùng chuyên canh hoa tỉnh Thanh Hóa
Trang 16Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu chung về cây hoa cúc
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại
Cây hoa cúc có tên khoa học là Chrysanthemum sp có nguồn gốc từ
Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước châu Âu Trong hệ thống phân loại
thực vật, cây hoa cúc được xếp vào lớp 2 lá mầm (Dicotyledone), phân lớp Cúc (Asterydae), bộ Cúc (Asterales), họ Cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa Cúc (Asteroidae), chi Chrysanthemum [3]
Theo Trần Hợp (1993) [8], trong đó có 4 loài thông dụng nhất, được sử
dụng nhiều nhất để chơi hoa, làm cảnh đó là: C morifolium; C maximum; C
coronarium; C.indicum
Nguyễn Quang Thạch và Đặng Văn Đông (2002) [15] đã dựa vào các
cách sau để phân loại hoa cúc ở Việt Nam:
Dựa vào hình dạng hoa để phân biệt cúc đơn hay cúc kép Cúc đơn: Thường là dạng hoa nhỏ đường kính hoa từ 2-5 cm, chỉ có 1-3 hàng cánh ở vòng ngoài cùng còn vòng trong là cánh hoa rất nhỏ thường được gọi là cồi hoa Cúc kép: Hoa có đường kính từ 5-15 cm, có nhiều cánh xếp từng vòng sít nhau, có loại cánh dài cong, có loại cánh ngắn
Dựa vào hình thức nhân giống: Dựa vào hình thức nhân giống vô tính như giâm cành, tỉa chồi hoặc nhân giống bằng phương pháp hữu tính như gieo hạt
Dựa vào thời vụ trồng: dựa vào đặc tính chịu nhiệt của hoa cúc để phân loại và thường phân ra làm hai loại đó là cúc đông và cúc hè Cúc đông là là cây có nguồn gốc ôn đới, có tính chịu lạnh và trồng chủ yếu vào mùa đông Cúc hè là một số giống chịu nhiệt độ cao trồng được vào mùa hè
Để dễ dàng với người sản xuất và tiêu dùng các giống cúc ở Việt Nam chủ yếu phân thành hai loại cúc đơn (1 bông/ cành) và cúc chùm (nhiều bông/ cành)
Trang 171.1.2 Lịch sử phát triển cây hoa cúc
Theo tài liệu cổ Trung Quốc thì hoa cúc có cách đây 3.000 năm Trong văn thơ Hán cổ hoa cúc có 30 đến 40 tên gọi khác nhau như: Nữ hoa, Cam hoa, Diên hoa Hoa cúc có nguồn gốc từ một số loài dã sinh thuộc loại cúc (Dendran thema), trải qua quá trình trồng trọt lai tạo và chọn lọc từ những biến dị để có được những giống cúc ngày nay Tuy không có những ghi chép
về lịch sử trồng trọt bắt đầu từ thời nào nhưng trong Sở từ (Trung Quốc) có nói đến “Thu Cúc” Có một bộ sách nổi tiếng về hoa cúc sớm nhất là vào năm
1104 đời Bắc Tống do Lưu Mông viết gọi là cúc Phổ Sau đời Tống, sách tài liệu về hoa cúc không dưới 30, 40 quyển, nội dung đề cập đến những vấn đề giống, phân loại trồng trọt, sâu bệnh đã đóng góp rất lớn trong việc phát triển hoa cúc ở Trung Quốc nói riêng và của thế giới nói chung [6]
Tuy nhiên phải từ những năm 1930 việc trồng hoa cúc ở Trung Quốc mới bắt đầu được coi trọng, bảo hộ và đề cao Lần đầu tiên vào năm 1982 Trung Quốc tổ chức triển lãm hoa Cúc ở Thượng Hải với trên 1.000 giống, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong sự nghiệp trồng hoa cúc Các nhà làm vườn thế giới đã thảo luận rất sôi nổi về việc phân loại hoa cúc và tương đối thống nhất với cách phân loại của Trung Quốc Năm 1993 giáo sư Lý Hồng Triết trong tác phẩm “Hoa Cúc Trung Quốc” đã thu thập và mô tả trên 6.000 mẫu giống hoa cúc sau đó chỉnh lý thành tập sách trên 3.000 giống, ông đã chụp ảnh 3.302 mẫu giống và miêu tả tính trạng từng giống Ở Thượng Hải (1989), Khai Phong (1992), Vô Tích (1995) và Thành Đô (1998) (Trung Quốc) đều đã có các cuộc triển lãm hoa cúc và có hàng vạn người đến dự Các cuộc triển lãm đã nâng cao trình độ nghiên cứu phát triển và kỹ thuật trồng trọt của nghề trồng cúc [5]
Ở Châu Úc, hoa cúc được trồng tại Tasmania vào năm 1836, tại New Sounth Wales năm 1843, tại Victoria năm 1855 và ở New Zealand năm
1860 [28]
Trang 18Theo Đặng Văn Đông, Đinh Thế Lộc (2003) [6], khi hoa cúc được di thực từ Trung Quốc sang Nhật Bản, đã được đánh giá rất cao ở nước này và được mệnh danh là “Hoàng thất quốc hoa” Năm 1939 Edsmit người Nhật đã bắt đầu lai tạo thành công nhiều giống Cúc và ông đã đặt tên cho hơn 100 giống của các thế hệ sau đó; một số giống này vẫn còn duy trì và được trồng đến ngày nay
Theo Amagasa K, Kameya T (1989) [20], lịch sử phát triển nghề trồng cúc châu Âu muộn hơn Trung Quốc Năm 1843 một nhà thực vật học R Fortune (người Anh) đến Trung Quốc khảo sát và mang về giống hoa cúc Chusan Daisy, giống này chính là giống bố mẹ của giống hoa cúc hình cầu và hình tán xạ ngày nay Năm 1889 nước Pháp nhập từ Trung Quốc 3 giống hoa cúc đại đoá về trồng và đến năm 1827 Bernet (người Pháp) đã thành công trong việc lai tạo ra một số giống cúc mới, từ đó dẫn đến một sự cải tiến rất mạnh mẽ về giống cúc ở châu Âu
Từ đầu thế kỷ XVIII hoa cúc đã được trồng ở Mỹ, nhưng phải đến năm
1860 hoa cúc mới trở thành hàng hoá và được trồng trong nhà lưới Hiện nay
ở Mỹ, hoa cúc là loại hoa rất quan trọng, chủ yếu là để cắt cành, một phần trồng trong chậu
1.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển, nhu cầu sinh thái của cây hoa cúc
1.2.1 Đặc điểm thực vật học của cây hoa cúc
1.2.1.1 Rễ
Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) [9], rễ cây hoa cúc thuộc loại chùm, rễ cây ít ăn sâu mà phát triển theo chiều ngang Khối lượng bộ rễ lớn do sinh nhiều rễ phụ và lông hút, nên khả năng hút nước và dinh dưỡng mạnh Những
rễ này mọc ở mấu của thân cây còn gọi là mắt, ở những phần sát trên mặt đất
Rễ phần lớn phát triển theo chiều ngang, phân bố ở tầng đất mặt 5 - 20 cm
Rễ của các cây nhân từ phương pháp vô tính đều phát sinh từ thân và đều là rễ bất định Thân cúc bất kể ở đốt hay giữa lóng đều rất dễ hình thành rễ bất định, vì vậy cây hoa cúc là một loại cây rất dễ nhân giống từ thể dinh dưỡng
Trang 191.2.1.2 Thân
Theo Van Ruiten và cộng sự (1984) [37] thì chiều cao cây, mức độ phân cành, độ mềm hoặc cứng phụ thuộc rất lớn vào đặc tính di truyền của giống Giống cúc cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc tính di truyền của giống Giống cúc thấp nhất chỉ cao 20-30 cm, còn giống cúc cao nhất, có thể cao trên 3m Các giống thấp, phân cành nhiều thích hợp trồng trong chậu, làm thảm hoa Các giống thân dài, thường phân cành ít, thích hợp trồng trên nền đất hoặc trên nền giàn cao Giống thân cao, ít cành thích hợp với việc trồng hoa cắt cành Giống phân cành nhiều, cành nhỏ và mềm thích hợp với việc tạo hình trồng trong chậu cảnh
1.2.1.3 Lá
Theo Cockshull (1985) [22] thì lá cây hoa cúc mọc cách và thành vòng xoắn trên thân Lá phẳng hoặc hơi nghiêng về phía trên hoặc hơi bị gấp Trên một cành thì gần gốc nhỏ, càng lên phía trên lá càng to dần Kích thước lá thường thay đổi theo điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt Cây sinh trưởng kém thì lá nhỏ, mỏng, cứng hơi chếch về phía trên, màu xanh nhạt, không bóng hoặc hơi vàng Đủ dinh dưỡng, cây sinh trưởng khoẻ, lá to và mềm, phiến lá dày, chóp lá hơi cong xuống, lá xanh thẫm và bóng Lá hoa cúc thường sống được 70-90 ngày, hiệu suất quang hợp của lá mạnh nhất là ở lá thứ 4 tính từ đỉnh ngọn trở xuống
1.2.1.4 Hoa và quả
Các tác giả Quách Trí Cương và Trương Vỹ (Dẫn theo Đặng Văn Đông, 2005) [6] khi nghiên cứu về hình dạng hoa cúc đã cho rằng cây họ cúc
(Asteracea) rất đặc trưng bởi có cụm hoa đầu trạng Cụm hoa đầu trạng rất
điển hình là trục chính của cụm hoa phát triển rộng ra thành hình đĩa phẳng hoặc lồi, trên đó có các hoa không cuống sắp xếp xít nhau, phía ngoài cụm hoa có các lá bắc xếp thành vòng, cả cụm hoa có dạng như một bông hoa
Hoa cúc có thể lưỡng tính hoặc đơn tính Hoa có nhiều màu sắc và đường kính rất đa dạng, đường kính có thể từ 1,5-12 cm Hình dạng của hoa
có thể là đơn hoặc kép, thường mọc nhiều hoa trên một cành, phát sinh từ
Trang 20những nách lá Hoa cúc tuy là lưỡng tính nhưng thường không thể thụ phấn cùng hoa, nếu muốn lấy hạt giống thì phải tiến hành thụ phấn nhân tạo [3]
Hoa cúc có từ 4 – 5 nhị đực dính vào nhau, bao xung quanh vòi nhuỵ Vòi nhuỵ mảnh, hình chẻ đôi Khi phấn chín, bao phấn nở tung phấn ra ngoài, nhưng lúc này vòi nhuỵ còn non chưa có khả năng tiếp nhận hạt phấn Bởi vậy, hoa cúc tuy lưỡng tính nhưng thường biệt giao, nghĩa là không thể thụ phấn trên cùng hoa, nếu muốn lấy hạt phấn phải thụ phấn nhân tạo Nên trong sản xuất, việc cung cấp cây con chủ yếu thực hiện bằng phương pháp nhân giống vô tính
Theo các tác giả Quách Trí Cương và Trương Vỹ (Dẫn theo Đặng Văn Đông, 2005)[6] thì quả cúc rất nhỏ, dài chừng 2-3mm, rộng 0,7-1,5mm, trọng lượng 1.000 hạt khoảng 1g, có nhiều hình dạng khác nhau như hình kim, hình gậy, hình trứng, hình tròn dài… thẳng hoặc hơi cong, hai đầu cùng bằng, hoặc một đầu nhọn, trên mặt có 5-8 vết dọc nông, màu nâu nhạt hoặc đậm, vỏ quả mỏng Theo Lê Kim Biên (1984) [1] thì quả cúc dạng quả bế khô, hình trụ hơi dẹt, hạt có phôi thẳng và không có nội nhũ
1.2.2 Yêu cầu ngoại cảnh và dinh dưỡng của cây hoa cúc
1.2.2.1 Nhiệt độ
Cây hoa cúc có nguồn gốc ôn đới nên ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thích hợp cho cây cúc sinh trưởng, phát triển tốt từ 15 đến 200C, cúc có thể chịu được nhiệt độ từ 10 đến 350C, nhưng trên 350C và dưới 100
C sẽ làm cúc sinh trưởng, phát triển kém Deong (1984) [24], Hoogeweg (1999) [25] và Karlson (1989) [28] cho rằng, nhiệt độ tối thích cho sự ra rễ của cúc là 160C, nên trong điều kiện miền Bắc Việt Nam việc giâm cành cúc trong mùa Hè là hết sức khó khăn nếu không có biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp như tưới tiêu, bảo vệ thực vật và điều chỉnh hợp lý một số yếu tố: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm bằng phương pháp nhân tạo
Trên cơ sở phản ứng ra hoa của cúc với nhiệt độ, Kawata (1987) [29]
đã chia thành 3 nhóm Loại cúc có thể ra hoa ở bất kỳ nhiệt độ nào, trong
Trang 21Yulian, Fujime (1995) [39] đã kết luận, cúc là cây ngày ngắn, ưa sáng
và đêm lạnh Thời kỳ đầu mầm non mới ra rễ cây cần ít ánh sáng, nhưng trong quá trình sinh trưởng, ánh sáng quá mạnh cũng làm cho cây chậm lớn Ngoài ra, Jong J, D (1989) [27] và Strojuy (1985) [36] đã khẳng định, thời gian chiếu sáng rất quan trọng cho cây hay nói cách khác ngày đêm dài hay ngắn có tác dụng khác nhau đối với loại hoa này Hầu hết, các giống cúc trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng cần ánh sáng ngày ngắn, đêm dài trên 13 giờ, còn trong giai đoạn trổ hoa cây chỉ cần ánh sáng ngày ngắn từ 10 đến 11h và nhiệt độ không khí dưới 200C Bởi vậy, trong điều kiện Việt Nam cúc rất phù hợp với thời tiết thu đông, nhưng hiện nay một số giống cúc nhập nội có thể
ra hoa trong điều kiện ngày dài, điển hình như các giống CN93, CN98 rất thích hợp với vụ Xuân Hè và Hè Thu, nên cúc có thể trồng quanh năm thay vì trước đây chỉ có hoa vào mùa Đông
Nhiệt độ, ánh sáng không tác động một cách riêng rẽ mà phối hợp nhau, kìm hãm hay thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc Okada (1999) [33] đã cho rằng: đối với nhóm cúc ra hoa mùa Thu, sự hình thành và phát triển chồi là trong điều kiện ngày ngắn, chồi hoa hình thành ở nhiệt độ
>150C Còn nhóm ra hoa mùa Đông dù trong điều kiện ngày ngắn, nhưng nếu nhiệt độ cao sẽ ức chế sự phát triển của chồi hoa Riêng nhóm ra hoa mùa Hè, chồi thường hình thành ở nhiệt độ 100C trong điều kiện ngày trung tính
Theo Hoogeweg (1999) [25], thời gian chiếu sáng 11 giờ cho chất lượng hoa cúc tốt nhất, nhưng nếu ở nhiệt độ cao vẫn ức chế sự ra hoa nên vào những năm nóng ẩm sự ra hoa của cúc sẽ gặp khó khăn hơn mặc đù điều kiện ánh sáng có thể đã phù hợp Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy độ dài
Trang 22ngày có ảnh hưởng tới sự ra hoa của cúc, vào thời kỳ ra hoa, cây yêu cầu thời gian chiếu sáng là 10 giờ, nhiệt độ thích hợp là 180C, nếu thời gian chiếu sáng dài sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng của cây, cây cao, lá to và ra hoa muộn
1.2.2.3 Độ ẩm
Shewell Cooper (1975) [35] và Vidalie (1986) [38] cho rằng, độ ẩm đất
từ 60 đến 70% và độ ẩm không khí 75 đến 80% là rất thuận lợi cho cúc sinh trưởng Nếu độ ẩm trên 80% cây phát triển mạnh nhưng lá dễ bị mắc một số bệnh nấm Đặc biệt vào thời kỳ thu hoạch, hoa cúc cần thời tiết khô ráo Nếu
độ ẩm không khí quá cao sẽ làm cho hoa lá bị thối dập, cây dễ đổ non, gây khó khăn cho việc thu hoạch
1.2.2.4 Đất đai
Do cúc có bộ rễ ăn ngang, rễ phát triển mạnh và nhiều rễ phụ nên đất thích hợp cho cúc phải là đất thịt nhẹ, cát pha, tơi xốp, nhiều mùn, có tầng canh tác dầy, tương đối bằng phẳng, thoát nước tốt Độ pH đất từ 6 đến 7 là thích hợp Đất trồng cúc nên có một chế độ luân canh hợp lý và phải cày sâu bừa kĩ rồi phơi ải để tăng cường sự hoạt động của sinh vật hữu ích, tăng cường sự lưu thông không khí trong đất, làm cho đất giữ nước tốt [10]
1.2.2.5 Yêu cầu về dinh dưỡng của cây hoa cúc
Dinh dưỡng cho cây hoa cúc bao gồm cả dinh dưỡng đa lượng (N,P,K)
và vi lượng (Bo, Cu, Zn, Fe…) Trong sản xuất hoa nói chung và hoa cúc nói riêng thì dinh dưỡng hay phân bón đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo
ra năng suất và chất lượng hoa cao hay thấp Nếu thiếu dinh dưỡng cây sẽ bị còi cọc, chậm lớn dễ bị sâu bệnh hại, hoa nhỏ, không đạt tiêu chuẩn chất lượng Nhưng nếu thừa dinh dưỡng cây sẽ phát triển quá mức, cây vống cao,
dễ bị đổ, sâu bệnh nhiều, cây ra hoa muộn và chất lượng hoa cũng kém Vì vậy, việc bón phân bón đầy đủ, cân đối, đúng lúc là một kỹ thuật quan trọng sản xuất hoa cúc nói riêng và sản xuất hoa nói chung Đồng thời việc sử dụng phân bón một cách hợp lý không những làm tăng năng suất, chất lượng hoa
Trang 23mà còn làm giảm được tác hại của nó đến kết cấu đất và môi trường theo Hoàng Ngọc Thuận (2005) [17]
1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cúc trong và ngoài nước
1.3.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cúc trên thế giới
Hoa cúc là một trong 5 loại hoa cắt cành phổ biến nhất trên thế giới Cây hoa cúc thu hút người tiêu dùng đặc biệt ở màu sắc phong phú: trắng, vàng, xanh, đỏ, tím, hồng, da cam Không những vậy, hình dáng và kích cỡ hoa cũng rất đa dạng cùng với khả năng có thể điều khiển cho ra hoa tạo nguồn hàng hóa quanh năm đã khiến cho hoa cúc trở thành loài hoa được tiêu thụ đứng thứ hai trên thị trường thế giới (sau hoa hồng) [2]
Hà Lan là một trong những nước lớn nhất thế giới về xuất khẩu hoa, cây cảnh nói chung và xuất khẩu cúc nói riêng Diện tích trồng cúc của Hà Lan chiếm 30% tổng diện tích trồng hoa tươi Hàng năm, Hà Lan đã sản xuất hàng trăm triệu hoa cúc cắt cành và hoa chậu phục vụ cho thị trường tiêu thụ rộng lớn gồm trên 80 nước trên thế giới Tiếp sau là các nước: Nhật Bản, Côlômbia, Trung Quốc Năm 2006, có 4 nước sản xuất hoa cúc trên thế giới đạt sản lượng cao nhất là Hà Lan đứng đầu với sản lượng 1,5 tỷ cành, Côlômbia là 900 triệu cành, Mê-hi-cô và I-ta-li-a đạt 300 triệu cành [40]
Nhật Bản hiện đang dẫn đầu tại châu Á về sản xuất và tiêu thụ hoa cúc, hàng năm Nhật Bản tiêu thụ khoảng gần 4.000 triệu Euro để phục vụ nhu cầu hoa trong nước [27] Người dân Nhật Bản ưa thích hoa cúc và cúc trở thành là loài hoa quan trọng nhất tại Nhật Bản chiếm tới 36% sản phẩm nông nghiệp, mỗi năm Nhật Bản sản xuất khoảng hơn hai trăm triệu cành hoa phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Diện tích trồng hoa cúc chiếm 2/3 tổng diện tích trồng hoa Năm 2008 diện tích trồng hoa ở Nhật Bản là 16.800 ha, giá trị sản lượng đạt 2.599 triệu USD [43] Tuy vậy Nhật Bản vẫn phải nhập một lượng lớn hoa cúc từ Hà Lan và một số nước khác trên thế giới như Trung Quốc, Đài Loan, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, Cô-lôm-bi-a
Trang 24Ở Malaixia, cúc chiếm 23% tổng sản lượng hoa Ngoài lan ra, 3 loại hoa quan trọng nhất là hồng, cúc và cẩm chướng chiếm 91,1% tổng sản lượng hoa ôn đới [41]
Một số nước khác như Thái Lan, cúc đã được trồng quanh năm với sản lượng cành cắt hàng năm là 50.841.500 cành và đạt năng suất 101.700/Rai (1ha= 6,25Rai) [42] Ở Trung Quốc, cúc là 1 trong 10 loài hoa cắt quan trọng sau hồng và cẩm chướng chiếm khoảng 20% tổng số hoa cắt trên thị trường bán buôn ở Bắc Kinh và Côn Minh Vùng sản xuất hoa cúc chính là Quảng Đông, Thượng Hải, Bắc Kinh bao gồm các giống ra hoa mùa Hè, Thu, Đông sớm và Xuân muộn với loại cúc đơn, màu được ưa chuộng nhất là vàng, trắng, đỏ [12]
Ngoài ra hoa cúc còn được trồng nhiều ở các quốc gia khác như Israel, Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bỉ, Italia, Mỹ, Ecuador… Sản xuất hoa trên thế giới sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nhất là ở các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ La Tinh Mục tiêu mà sản xuất hoa cần hướng tới là giống hoa đẹp, chất lượng cao và giá thành thấp
Theo báo cáo năm 2005 của FAO, giá trị sản lượng hoa, cây cảnh của toàn thế giới năm 1995 đạt 45 tỷ USD, đến năm 2004 tăng lên 56 tỷ USD (tốc
độ tăng bình quân là 20%), Trên thế giới có 3 thị trường tiêu thụ hoa chính là
Mỹ, các nước châu Âu và Nhật Bản [21] Hàng năm, giá trị xuất khẩu hoa cắt trên thế giới khoảng 25 tỷ USD, đứng đầu trong 4 nước xuất khẩu hoa trên thế giới là Hà Lan 1.590 triệu USD, Cô-lôm-bi-a 430 triệu USD, Kê-ny-a 70 triệu USD và Ixraen 135 triệu USD [13] Hàng năm, kim ngạch xuất nhập khẩu hoa cúc trên thế giới ước đạt tới 1,5 tỷ USD
Trang 25Bảng 1.1 Giá trị xuất nhập khẩu hoa cúc hàng năm của một số nước
1.3.2 Tình hình sản xuất hoa cúc ở Việt Nam
Trước những năm 1986, sản xuất hoa của Việt Nam chỉ tập trung ở các vùng trồng hoa truyền thống của các thành phố, khu công nghiệp, khu du lịch, nghỉ mát như: Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân, Tây Tựu (Hà Nội), Đằng Lâm, Đằng Hải (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh), quận Gò Vấp, Hóc Môn (Hồ Chí Minh), phường 3,4,5,6,7,8,11,12 (Đà Lạt) [10] và chỉ là ngành kinh doanh nhỏ của các nhà vườn nhỏ cung cấp cho thị trường nội địa là chính
Trang 26Diện tích trồng hoa của Việt Nam theo số liệu thống kê năm 1993 chỉ chiếm 0,02% tổng diện tích đất nông nghiệp (1.585 ha)
Hiện nay trồng hoa là một nghề sản xuất và kinh doanh được đặc biệt quan tâm do mang lại hiệu quả kinh tế cao Chính vì vậy mà diện tích trồng hoa và cây cảnh ngày càng phát triển
Năm 2001, nước ta có 4.500 ha trồng hoa, cây cảnh, năm 2002 là 8.512
ha, năm 2003 là 9.430 ha, năm 2004 là 11.340 ha và đến năm 2009 đạt 15.200
ha trồng hoa, cây cảnh So với năm 1994, diện tích hoa, cây cảnh năm 2009
đã tăng 4,3 lần, giá trị sản lượng tăng 8,2 lần và mức tăng giá trị thu nhập/ha
là 182% Tốc độ tăng trưởng này là rất cao so với các ngành nông nghiệp khác [7]
Theo số liệu của tổng cục Thống kê năm 2006, diện tích trồng hoa cây cảnh của nước ta khoảng trên 13.000 ha Trong đó diện tích trồng hoa cúc chiếm 25 - 30%, chỉ đứng thứ hai sau hoa hồng
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong thời gian từ 17/12/2006 đến 16/1/2007, lượng hoa xuất khẩu của Việt Nam đạt gần 2,6 triệu cành với kim ngạch 500 nghìn USD Số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hoa trong thời gian này gồm 5 doanh nghiệp Trong đó, công ty TNHH Agrivina là doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất, chiếm tới 95% tổng kim ngạch xuất khẩu hoa cắt cành của Việt Nam Cụ thể trong khoảng 2,5 triệu cành hoa với các chủng loại hoa Cúc, cẩm chướng, hồng, địa lan, lily, đồng tiền mà doanh nghiệp này xuất khẩu thì hoa cúc vẫn chiếm ưu thế xuất khẩu nhiều nhất với 1,5 triệu cành (chiếm 61% tổng lượng hoa xuất khẩu của doanh nghiệp)
Theo chương trình phát triển sản xuất hoa của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đến năm 2010 Việt Nam sẽ xuất khẩu 1 tỷ cành hoa các loại
Trang 27trong đó hoa hồng, hoa cúc và phong lan chiếm 85% Theo chương trình này, diện tích trồng hoa của cả nước sẽ đạt 8.000ha cho sản lượng 4,5 triệu cành/lượng hoa
Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hoa trong nước cũng như trên thế giới đòi hỏi các nhà sản xuất hoa Việt Nam phải có kế hoạch đầu tư và phát triển một cách thích hợp, đặc biệt là trong công tác chọn tạo giống và nhân giống…công nghệ đống gói và bảo quản để nâng cao năng suất chất lượng
Hoa cúc được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 15, đến đầu thế kỷ 19 đã hình thành một số vùng chuyên nhỏ cung cấp cho nhân dân Một phần để chơi, một phần phục vụ việc cúng lễ và dùng làm dược liệu Hiện nay cây hoa cúc có mặt ở khắp nơi từ vùng núi cao đến đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị Nếu xét về cơ cấu chủng loại tất cả các loại hoa thì trước những năm 1997 diện tích hoa hồng nhiều nhất chiếm 31% nhưng từ 1998 trở lại đây diện tích hoa cúc đã vượt lên chiếm 42%, trong khi đó hoa hồng chỉ còn 29,4% Riêng
ở Hà Nội tổng giá trị sản lượng hoa cúc năm 1999 đạt 41,3 tỷ đồng, xuất khẩu sang Trung Quốc 3,6 tỷ đồng, tốc độ tăng hàng năm khoảng 10% [11]
Hiện nay trong thực tế sản xuất có rất nhiều các giống cúc nhập nội được trồng phổ biến hầu hết các tỉnh thành trong cả nước Kết quả điều tra về
cơ cấu diện tích trồng các giống cúc trồng ở miền bắc Việt Nam của Đặng Văn Đông (2005) [6] cho thấy trong 51 giống cúc được trồng có 24 giống trồng với diện tích khá lớn, chiếm 88% tổng diện tích trồng Đó là Vàng Đài Loan (13,7%), CN98 (10,3%), CN97 (98,0%), CN93 (7,7%), CN01 (96,0%), Tím sen (6%) 27 giống còn lại cơ cấu diện tích ít (<1%)
Theo Đặng Văn Đông (2005) [6], năm 2003 cả nước có 9.430 ha gồm hoa và cây cảnh các loại, sản lượng 482,6 tỷ đồng, trong đó hoa cúc là 1.484
ha cho giá trị sản lượng cao nhất 129,49 tỷ đồng và được phân bố nhiều tỉnh trong nước
Trang 28Bảng 1.2 Tình hình sản xuất hoa cúc ở một số tỉnh trong cả nước năm 2003
Trong số những mặt hàng hoa xuất khẩu thì hoa cúc vẫn chiếm ưu thế
về kim ngạch với 4,4 triệu USD, tăng 46,5% so với cùng kỳ 2008 Tiếp đến là cẩm chướng với kim ngạch đạt 1,5 triệu USD, giảm 0,5% Xuất khẩu hoa hồng tươi có sức tăng trưởng rất mạnh mẽ, đạt 671,6 nghìn USD, tăng 75,7%
so với cùng kỳ 2008 Giá xuất khẩu hoa cúc tăng nhẹ trong khi lượng hoa và kim ngạch giảm trong tháng 4/2009, đơn giá xuất khẩu hoa cúc các loại đang
có xu hướng tăng lên Đơn giá trung bình xuất khẩu hoa cúc trong tháng 8/2009 là 0,26 USD/cành, tăng 0,03 USD/cành so với tháng 7/2009 và tăng 0,04 USD/cành so với tháng 8 cùng kỳ năm 2008 [44]
Trang 29Bảng 1.3 Kim ngạch xuất khẩu hoa tươi 8 tháng đầu năm 2008 và 2009
á nhiệt đới Với tốc độ đô thị hóa như hiện nay thì các vùng trồng hoa nổi tiếng của Hà Nội như Quảng Bá, Ngọc Hà, Tây Hồ, Nhật Tân đang mất đi và thay thế bởi các vùng trồng hoa rộng khắp các quận huyện ngoại thành Hà Nội Tây Tựu là vùng chuyên canh hoa cúc lớn nhất Hà Nội với hiệu quả kinh
tế cây hoa cúc cao hơn rất nhiều so với cây trồng khác, 1 ha hoa cúc có thể thu được 135-140 triệu đồng, trong khi chi phí sản xuất chiếm khoảng 62-65 triệu đồng, lãi thu được có thể đạt từ 73-74 triệu đồng
Thành phố Hồ Chí Minh là thị trường tiêu thụ hoa cắt lớn nhất Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng hàng ngày từ 40-50 ngàn cành/ngày, tiếp đó là Hà Nội có nhu cầu tiêu thụ từ 25-30 ngàn cành/ngày Trong số các loài hoa cắt tiêu dùng hàng ngày thì hoa cúc chiếm từ 25-30% về số lượng và từ 17-20%
về giá trị [6]
Trang 301.3.3 Tình hình sản xuất hoa cúc tại vùng trồng hoa chuyên canh tỉnh Thanh Hóa
Theo số liệu tổng hợp của Cục Thống kê Thanh Hóa, diện tích trồng hoa cúc trên địa bàn tỉnh liên tục tăng và tăng nhanh từ năm 2016-2020, diện tích năm 2020 là 285,1 ha (tăng 116,1 ha so năm 2016), sản lượng 125,4 triệu bông Trong đó vùng trồng hoa chuyên canh tập trung ở Thành phố Thanh Hoá (chiếm khoảng 20% diện tích toàn tỉnh) Diện tích trồng hoa cúc của Thành phố Thanh Hóa năm 2020 là 66,2 ha (tăng 38,2 ha so năm 2016) sản lượng 29,29 triệu bông
Hiện nay, nhiều chủng loại hoa cúc đã được trồng phổ biến trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và một số vùng sản xuất chính tại Thành phố Thanh Hóa như Đông Cương, Đông Hải… Theo thống kê từ các địa phương sản xuất và các
hộ kinh doanh buôn bán hoa cho thấy giá bán hoa cúc từ 1.000 đến 2.000 đồng/bông, mật độ trồng phổ biến từ 40-50 cây/m2
(300.000-350.000 cây/ha), điều này cho thấy giá trị thu nhập của người dân từ trồng hoa đạt thu nhập khá cao Cùng với giống hoa cúc Pha lê thì các giống hoa nhưng CN98, CN97, Vàng Đài Loan… cũng được trồng trên địa bàn
Sản xuất hoa cúc ở tại Thanh Hóa nói chung và Thành phố Thanh Hóa nói riêng chủ yếu phục vụ thị trường trong tỉnh Quy mô sản xuất nhỏ, tổ chức sản xuất đơn lẻ nên khó áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới Hầu hết những cơ
sở sản xuất hoa cắt cành còn ở quy mô nông hộ nhỏ, tổ chức sản xuất đơn lẻ, với diện tích trung bình từ 2.000 đến 3.000 m2 /hộ Hộ sản xuất hoa lớn cũng chỉ từ 1 đến 2 ha Ở quy mô sản xuất này rất khó có thể áp dụng những kỹ thuật tiến bộ như nhà kính, nhà lưới, sân bãi, mặt bằng, dây chuyền chế biến, bảo quản vận chuyển lạnh,… để đưa ngành sản xuất hoa trở thành sản xuất công nghiệp Từng hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết là trở ngại lớn cho việc tạo nguồn hàng hóa lớn và đa dạng với chất lượng cao, đồng nhất Trên thực tế, đã có nhiều hợp đồng xuất khẩu không thể thực hiện được do không thể tổ chức cung cấp sản phẩm theo yêu cầu, trong khi tiềm năng sản xuất là rất lớn
Trang 31Kỹ thuật trồng hoa chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và phương pháp cổ truyền Bộ giống chưa đa dạng, chưa đáp ứng được sản xuất cúc ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Các giống cúc mới nhập nội có năng suất và chất lượng kém ổn định, nhiều sâu bệnh do mẫn cảm với điều kiện khí hậu trong khi các truyền thống thì ngày một thoái hóa Các cơ sở nghiên cứu chọn tạo giống hoa cúc trong nước chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người dân Bên cạnh đó việc chăm sóc cây hoa đang theo tính chủ quan nên đã không cân đối về cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Vậy để nâng cao năng suất, chất lượng hoa cắt thì bên cạnh yếu tố về giống, phân bón, bảo vệ thực vật, chúng ta cần nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật tác động khác như việc trồng hoa trong nhà có mái che theo mật độ và liều lượng phân bón phù hợp cho cây sinh trưởng phát triển
1.4 Kỹ thuật sản xuất hoa cúc trong nhà có mái che
1.4.1 Trên thế giới
Hiện nay, sản xuất rau an toàn trên thế giới đã được hoàn thiện với trình độ cao Việc sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch không sử dụng đất trong nhà kính (Greenhouse) và đặc biệt là trong nhà màng (Polyethylene Greenhouse) đã trở nên phổ biến Các công nghệ ứng dụng trong nhà kính, nhà màng càng ngày càng hiện đại với hệ thống điều khiển tự động được lập trình và xử lý qua hệ thống máy tính thông qua các cảm biến (sensor) về nhiệt
độ, ẩm độ, EC, pH… Các quốc gia đi đầu lĩnh vực này như Hoa Kỳ, Canada,
Hà Lan, Israel, Mexico, Tây Ban Nha, Pháp, Ý và gần đây có các quốc gia Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản), Singapore, Thái Lan đã phát triển mạnh việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến để sản xuất sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, an toàn phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Các nước tiên tiến như Hà Lan, Israel, Pháp… đã sản xuất lượng lớn hoa và rau phục vụ xuất khẩu từ các nhà kính như những công xưởng nông nghiệp Tại đây, tất cả các khâu trong quy trình trồng trọt đều được điều khiển
tự động theo lập trình sẵn trong máy vi tính như: điều khiển chế độ chiếu sáng, nhiệt độ, ẩm độ, tưới nước, bón phân, phun thuốc…
Trang 32Tại các quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á: Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Phillipin… hệ thống nhà kính trồng cây cũng đang được phát triển khá nhanh Đặc biệt là ở Trung Quốc, cùng với sự phát triển mạnh của các khu nông nghiệp công nghệ cao thì công nghệ trồng cây trong nhà kính cũng được
mở rộng Tuy nhiên, những mẫu nhà kính và hệ thống điều khiển các yếu tố trong nhà kính cũng có những thay đổi nhất định cho phù hợp điều kiện khí hậu từng vùng, trong đó hệ thống điều khiển có thể tự động hoặc bán tự động Riêng vùng Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã hình thành vùng sản xuất hoa khoảng 2.000 ha, hầu hết được trồng trong nhà kính, có hệ thống sưởi ấm về mùa đông và làm mát về mùa hè Những nhà kính này chủ yếu được điều khiển bán tự động để có chi phí thấp nhất, đảm bảo cho việc sản xuất có hiệu quả kinh tế cao Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, những mô hình nhà kính đầu tiên được nhập ở các công ty nước ngoài sau đó cải tiến phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật của vùng Cho đến nay Trung Quốc đã
có nhiều công xưởng chuyên sản xuất nhà kính để thoả mãn nhu cầu trong nước đang ngày một tăng [19]
1.4.2 Trong nước
Trong nước, trình độ kỹ thuật canh tác hoa nói chung đến nay cũng đã
có những tiến bộ đáng kể Gần đây cũng đã xuất hiện nhiều mô hình nhà kính, nhà màng trồng hoa từ đơn giản đến hiện đại tập trung ở các thành phố lớn trong cả nước
Nhà màng dạng đơn giản ở Đà Lạt để ươm rau giống, trồng các loại rau, hoa cao cấp như hoa Hồng, hoa Cúc, ớt ngọt, xà lách Nhà kính có hệ thống điều khiển tự động theo công nghệ Thụy Điển tại Khu Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh; Nhà màng bán tự động của các nhà đầu tư tại Khu Nông nghiệp Công nghệ cao; Nhà màng có hệ thống điều khiển tự động theo công nghệ Israel ở các Khu Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng; nhà màng trồng hoa của Công
ty Đà Lạt Hasfarm, … Các công nghệ, kĩ thuật trồng cây không sử dụng đất
Trang 33cũng đã được áp dụng Những mô hình này bước đầu đã cho thấy những thành công nhất định như nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm Nhiều mô hình trồng rau an toàn trong nhà kính, nhà lưới sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt
từ hoàn toàn tự động đến bán tự động đã được áp dụng khá phổ biến ở các địa phương Trong đó phải kể đến các tỉnh đi đầu như: tỉnh Lâm Đồng với khoảng 1.000 ha nhà màng, nhà kính và 242 ha nhà lưới [19]
Khác với trồng phương thức canh tác truyền thống, việc đưa hoa vào trồng trong nhà lưới giúp chủ vườn hoàn toàn chủ động được quy trình trồng, chăm sóc mà không phụ thuộc vào yếu tố thời tiết Vì vậy, người trồng hoa dễ dàng xây dựng lịch thời vụ trồng và thu hoạch cho từng trà, nhất là căn vào đúng dịp lễ, nên giá bán cao Hoa mới trồng đạt tỷ lệ sống cao, nở đồng đều, thu hoạch đồng loạt, tạo điều kiện thuận lợi để gieo trồng vụ hoa mới Trồng hoa trong nhà lưới có nhiều ưu điểm, hiệu quả kinh tế ổn định Song, để có được những vụ hoa đồng đều, đạt năng suất cao, đòi hỏi người trồng hoa phải nắm vững kỹ thuật trồng, chăm sóc hoa trong nhà lưới Vì vậy, trước khi thực hiện mô hình, người trồng hoa cần tìm hiểu, bổ sung kiến thức về kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa trong nhà lưới để đạt được hiệu quả kinh tế cao ngay trong vụ sản xuất đầu tiên [45]
1.5 Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về mật độ trồng và phân bón nói chung, phân gà nói riêng cho cây hoa cúc
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về mật độ trồng và phân bón trên cây hoa cúc
1.5.1.1 Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ đến cây hoa cúc
Mật độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng không chỉ đến sinh trưởng phát triển của cây trồng mà còn ảnh hưởng đến năng suất cây trồng cũng như thu nhập của người sản xuất
Lee JH và cộng sự, 2002 [30] đã nghiên cứu về ảnh hưởng của một số mật độ (32, 48 và 64 cây/m2) đến hoa cúc cắt trồng trong nhà kính và báo cáo rằng khối lượng tươi, khối lượng chất khô cuối cùng và số hoa trên cây giảm
Trang 34khi tăng mật độ Sự giảm này xảy ra mạnh hơn ở mùa hè so với mùa đông Chiều dài thân hầu như không ảnh hưởng bởi mật độ trồng còn tổng lượng chất khô tính trên mét vuông tăng tuyến tính với mật độ trồng Trọng lượng khô của cây không ảnh hưởng bởi mật độ Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của hoa cúc chủ yếu là thông qua sự cạnh tranh về ánh sáng
S.Ab Kahar và T.M.M.Mahmud, 2005 [34] cũng báo cáo rằng mật độ trồng có ảnh hưởng đến sinh trưởng, sự ra hoa và chất lượng hoa của cây hoa
cúc Các tác giả đã làm thí nghiệm trên giống cúc V720 (Chrysanthemum
morifolium Ramat) ở các mật độ 44, 56, 70, 83 và 104 cây/m2 và thấy rằng đường kính thân, số lá, diện tích lá và trọng lượng tươi của cây giảm 16, 7, 36 và 25% tương ứng nhưng diện tích lá ở mật độ cao nhất (104 cây/m2) tăng tới 50%
so với mật độ thấp nhất (44 cây/m2) Ở mật độ cao, cây chậm ra hoa và chậm thu hoạch hơn Chiều dài cuống hoa và độ bền cắm lọ không bị ảnh hưởng bởi mật
độ trồng Có sự giảm rõ rệt số nhánh cây và số bông/cây ở các mật độ cao (88 và
104 cây/m2) Giống cúc V720 trong nghiên cứu này có thể chịu được mật độ cao (83 cây/m2) ở đất thấp và có khả năng cho chất lượng hoa tốt
Ngày trồng và mật độ là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ra hoa
và chất lượng hoa cúc Các nghiên cứu của Li Xiang Mao và cộng sự, 2007 [31] đối với hoa cúc đơn trồng trong nhà kính tại Thượng Hải chỉ ra rằng sự tương tác mật độ cao và thời vụ muộn khiến chiều cao cây và chiều dài cổ bông tăng lên trong khi số lá/ cây, đường kính thân, khối lượng tươi và đường kính hoa giảm Mật độ không ảnh hưởng đến chiều cao của cây Mật độ và thời vụ tối thích để cho chất lượng hoa loại A là trồng giữa tháng 8 với mật độ
64 cây/m2; hoa loại B là cuối tháng 8, đầu tháng 9 với mật độ 72 - 80 cây/m2
1.5.1.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến cây hoa cúc
Năm 1993, Nakamura và Kageyama [32] khi nghiên cứu lượng phân đạm bón cho giống cúc Fukusuke đã kết luận rằng: hàm lượng đạm tốt nhất
để cung cấp cho mỗi cây/vụ là 800mg, kết quả này đã được áp dụng rộng rãi trong sản xuất và thu được chất lượng hoa cúc trồng chậu rất cao
Trang 35Năm 1995, Danai và Tongmai [23] khi đánh giá về ảnh hưởng của phân bón lá đã cho thấy việc sử dụng phân bón qua lá đã làm tăng số lượng lá trên cây Với mức phân bón 150N-K (đạm - Kali) đã làm tăng số lá/cây từ 2 – 3 lá đồng thời tăng được độ bền hoa cắt từ 3 – 5 ngày so với không bón
1.5.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam về mật độ trồng và phân bón trên cây hoa cúc
1.5.2.1 Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ đến cây hoa cúc
Tùy thuộc vào đặc điểm của giống, mục đích sử dụng, loại đất, mức độ phân bón, kỹ thuật thâm canh và chăm sóc mà quyết định trồng ở mật độ nào cho phù hợp
Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003 [5] cho rằng đối với các giống cúc hoa to, thân to, cứng, để 1 bông/cây và không cần làm cọc giàn (như Vàng Đài Loan, Vàng Tàu, CN93, CN98, CN97) thì mật độ phù hợp là 480.000 cây/ha tương đương với khoảng cách trồng là 12 × 15 cm Đối với các giống hoa trung bình, thân bụi, cành cong, để hoa chùm (cúc chi trắng, tím nồi, vàng nhị nâu…) mật độ thường đạt 300.000 cây/ha (trồng với khoảng cách 15 × 20 cm) Đối với giống hoa nhỏ, cần bấm ngọn nhiều lần để cả cây hay trồng chậu (như cúc mâm xôi, đỏ Ấn Độ) thì mật độ khoảng 80.000 cây/ha (khoảng cách là 30 × 40 cm)
Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu rau quả (2003), thì mật
độ trồng cúc ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng phát triển của cây Mật độ càng cao thì chiều cao cây giảm, số lá/ cây ở các mật độ khác nhau hầu như không có sự sai khác, chất lượng hoa ở mật độ thấp tốt hơn mật độ cao còn năng suất hoa và hiệu quả kinh tế thu được chịu ảnh hưởng bởi mật độ trồng Mật độ thích hợp nhất cho cúc chùm là 500.000 cây/ha (khoảng cách 15 × 15 cm), cúc đơn là 300.000 cây/ ha (khoảng cách 12 × 12 cm)
Nghiên cứu ảnh hưởng mật độ trồng đến năng suất, chất lượng của cây hoa cúc CN93, Nguyễn Thị Kim Lý (2001) [12] đã nhận thấy mật độ quá thưa, tuy cây tốt nhưng làm giảm số cây/đơn vị diện tích, dẫn đến năng suất giảm Còn mật độ quá dày số cây nhiều nhưng chất lượng hoa kém Do đó
Trang 36mật độ vừa phải 40-45 cây/m2 là thích hợp cho CN93 sinh trưởng và đạt năng suất, chất lượng cao nhất
1.5.2.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến cây hoa cúc
Xử lí phân bón lá SNG, Atonik cho cây hoa cúc đã tác động mạnh đến giai đoạn sinh trưởng sinh thực của cây, làm tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu (11% so với đối chứng không xử lí), tăng năng suất, chất lượng, kéo dài tuổi thọ của hoa [15]
Theo kết luận của đề tài “Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến
sinh trưởng, phát triển cây hoa cúc lá nhám (Zinnia sp) tại quận Vò Vấp,
thành phố Hồ Chí Minh” của Lê Minh Thanh, lớp Nông học, Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh [14], cho thấy các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển ở công thức thí nghiệm sử dụng phân bón lá tăng cao hơn so với công thức đối chứng Sử dụng phân bón lá NV2 + NV3 cây cúc có thời gian sinh trưởng ngắn, cho hoa lâu tàn, đường kính hoa lớn, chiều dài cuống hoa ngắn
Về hiệu quả kinh tế: công thức sử dụng phân bón lá NV2 + NV3 cho tỉ lệ cây thương phẩm 100%, thu lợi nhuận cao nhất, trong đó số tiền bội thu từ phun phân bón lá là 33,09%
Theo đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng một số phân bón lá đến sinh
trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc (Chrysanthemum sp), giống vàng Đài Loan và cây hoa đồng tiền (Gerbera Jamesonii Bol) giống
F125” của Nguyễn Hải Tiến (2006) [18], đối với cúc vàng Đài Loan, phun phân bón lá hữu cơ Pomior 0,4% và phân bón lá Yogen No2 cho hiệu quả kinh tế cao gấp 1,29 và 1,25 lần so với đối chứng Ngoài ra kéo dài thời gian sinh trưởng của cây, tạo điều kiện cây sinh trưởng, phát triển ở giai đoạn sau
Hoàng Ngọc Thuận (2005) [16] cho rằng lượng phân bón cho 1 sào bắc
bộ là: 500 – 1000 kg phân chuồng + 10 kg ure + 17 kg supe lân + 20 kg Kali sunlfat + phân bón lá phức hữu cơ Ponior khoảng 500 ml (dùng phun 3 lần, tưới 1 lần) Trong đó, lượng phân dùng bón lót: toàn bộ lượng phân chuồng
và phân lân + 4 kg ure + 4 kg kali Lượng phân bón còn lại dùng để bón thúc
Trang 37Có thể dùng phân chuồng pha loãng tưới thúc thêm cho cây sau trồng 15 – 20 ngày và 30 – 45 ngày Ông cho rằng cũng có thể thay thế bón thúc hoặc bón thúc bổ sung thời kỳ khủng hoảng dinh dưỡng (chuẩn bị phân hoá mầm hoa) bằng phân bón lá, phân phức hữu cơ sẽ làm tăng năng suất, chất lượng hoa Trong một thí nghiệm khác năm tác giả này đã so sánh việc bón thúc 2 loại phân bón NPK Sông Gianh và phân bón qua lá Pomior ở 4 nồng độ khác nhau (từ 0,2 – 0,5%) cho hoa cúc đồng tiền và kết luận rằng tất cả các công thức có bón phân Pomior, phun định kỳ 5 ngày/lần đều cho khả năng sinh trưởng và năng suất cao hơn công thức đối chứng: bón phân thúc bằng NPK Sông Gianh, trong đó, phun Pomior nồng độ 0,4% đã làm tăng năng suất và chất lượng hoa cúc đồng tiền rất rõ rệt, thể hiện tỷ lệ hoa loại 1 đạt cao hơn so với các công thức khác [17]
Nguyễn Xuân Linh và cộng sự, 2006 cũng kết luận rằng bổ sung phân bón lá cho cúc CN97 không chỉ khiến cây sinh trưởng phát triển tốt
mà còn cho năng suất và chất lượng hoa cao hơn, từ đó tăng thu nhập cho người trồng hoa
Như vậy có thể thấy rằng đã có không ít kết quả nghiên cứu về mật độ
và phân bón đối với cây hoa cúc Tuy nhiên những nghiên cứu này chưa thể toàn diện và đầy đủ để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất Ngày nay khi
mà bộ giống cũng như yêu cầu của thị trường ngày càng đa dạng thì càng cần những nghiên cứu cơ bản và chuyên sâu để đáp ứng với đặc tính của từng giống cúc cũng như các yêu cầu phong phú của thị trường Điều này sẽ giúp các nhà khoa học mở rộng kiến thức và giúp người trồng hoa có thể xây dựng được những quy trình sản xuất phù hợp trong từng điều kiện cụ thể
Trang 38Chương 2
VẬT LIỆU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Giống hoa cúc: Sử dụng giống hoa cúc Pha lê (Chrysanthemum var
Crystal) nhân giống bằng phương pháp dâm cành tại các cơ sở sản giống hoa
tại Đa Lạt, tỉnh Lâm Đồng Đặc điểm: cây mập thẳng, có chiều cao từ 75 – 80
cm, lá hình lông chim hẹp có màu xanh đậm, hoa màu vàng tươi, đường kính hoa 8 – 12 cm, thời gian sinh trưởng từ 90 – 95 ngày, thích hợp trồng trong vụ Đông - Xuân, rất được người tiêu dùng ưa chuộng
- Phân gà: Phân gà dạng viên nở Green Fuji 3-2-3 nhập khẩu từ Nhật Bản Thành phần: hữu cơ 44%; tỷ lệ C/N 12; độ ẩm 30%; pHH2O 5,0 Tên thương mại: Chicken Dung Pellet Green Fuji 3-2-3 Made in Japan Quyết định lưu hành số 170/QĐ-BVTV-PB Mã số phân bón 00306 Giấy chứng nhận hợp qui số 19C01CQ5779-01 Đơn vị sản xuất: SSG International PTE LTD Đơn vị nhập khẩu và phân phối: Công ty TNHH thương mại Tuấn Tú Địa chỉ: Thị tứ Đồng Gia, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương ĐT:
02203724114
- Phân khoáng: các loại phân bón thông dụng trên thị trường: đạm u rê 46%N; supelân 16% P2O5; kali sulfat 56% K2O; NPK 16-16-16 (Nga); các loại phân khoáng của tập đoàn Haifa, MKPTM 0-52-34 (Mono Potassium Phosphate); MAPTM 12-61-0 (Mono Amonium Phosphate); KNO3 – 13-0-46
- Các loại thuốc bảo vệ thực vật phòng, trừ sâu bệnh hại nguồn gốc sinh học, hóa học hiện có trên thị trường
- Màng phủ nông nghiệp; lưới chống đổ, kích thước mắt lưới 12,5 x 12,5 cm (64 mắt/m2); 10 x 10 (100 mắt lưới/m2)
Trang 392.2 Nội dung nghiên cứu
1) Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến tình hình sinh trưởng, phát triển hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che
2) Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến tình hình sâu bệnh hại hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che
3) Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến các yếu tố cấu thành năng suất hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che
4) Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến một
số chỉ tiêu chất lượng hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che
5) Ảnh hưởng của mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở đến hiệu quả sản xuất hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che
6) Mật độ và lượng bón phân gà dạng viên nở cho cây hoa cúc Pha lê trồng trong nhà có mái che đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng
- Phối hợp 2 yếu tố: gồm 10 công thức như sau:
Trang 40Công thức Mật độ
trồng (cây/m 2 )
Lƣợng bón phân
gà dạng viên nở (kg/ha)
(M1, M2: mật độ trồng; P0, P1, P2, P3, P4: lượng bón phân gà dạng viên nở)
b) Nền thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí trên nền bón 1,0 tấn/ha vôi bột Lượng bón phân khoáng (kg/ha): 200kgN + 200 P2O5 + 200 K2O
c) Bố trí ô thí nghiệm: Diện tích 5m2/ô Các ô thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn - ô nhỏ (Split - Plot), nhắc lại 3 lần