TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC LÊ THỊ DUNG NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG NẤM HỒNG CHI TRÊN GỖ KEO LAI TRONG ĐIỀU KIỆN CỦA TỈNH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
LÊ THỊ DUNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NUÔI TRỒNG NẤM HỒNG CHI TRÊN GỖ KEO LAI TRONG ĐIỀU KIỆN CỦA
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Công Hạnh
THANH HÓA, NĂM 2017
Trang 3Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ khoa học
Theo Quyết định số 1607/QĐ-ĐHHĐ ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức:
Học hàm, học vị, Họ và tên Cơ quan công tác Chức danh
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng Ngày tháng năm 2017
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả được nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
đã được cảm ơn và các trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lê Thị Dung
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Công Hạnh – Trưởng Khoa Nông Lâm Ngư nghiệp trường Đại học Hồng Đức, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, dìu dắt tôi trên con đường học tập và nghiên cứu, luôn đồng hành và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài để tôi hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Nông Lâm Ngư nghiệp, Bộ môn Khoa học Cây trồng, lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Phát triển công nghệ sinh học Thanh Hóa đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Luận văn này được hoàn thành còn có sự giúp đỡ tận tình của nhiều bạn bè, đồng nghiệp với sự động viên khuyến khích của gia đình trong suốt thời gian qua
Thanh Hóa, tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Dung
Trang 6
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU vi
DANH MỤC HÌNH VẼ ix
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Khái quát về nấm Linh chi 4
1.1.1 Nguồn gốc nấm linh chi 4
1.1.2 Phân loại nấm linh chi 5
1.2 Đ c điểm sinh vật học của nấm Linh chi 6
1.3 Nhu cầu sinh thái của nấm linh chi 8
1.3.1 Yêu cầu về nhiệt độ 8
1.3.2 Yêu cầu về độ ẩm không khí 8
1.3.3 Yêu cầu về độ ẩm cơ chất 8
1.3.4 Yêu cầu về ánh sáng 9
1.3.5 Yêu cầu về độ thoáng khí 9
1.3.6 Yêu cầu về độ pH cơ chất 9
1.3.7 Yêu cầu về dinh dưỡng 9
1.4 Đ c điểm biến dưỡng của nấm linh chi 10
Trang 71.5 Đ c tính biệt dược của nấm linh chi 10
1.6 Tình hình sản xuất, tiêu thụ nấm Linh chi trên thế giới và Việt Nam 12
1.6.1 Trên thế giới 12
1.6.2 Ở Việt Nam 13
1.7 Tình hình sản xuất và khai thác keo lai ở tỉnh Thanh Hóa 15
1.7.1 Tình hình sản xuất keo lai tại tỉnh Thanh Hóa 15
1.7.2 Tình hình khai thác keo lai ở tỉnh Thanh Hóa 18
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Vật liệu nghiên cứu 22
2.1.1 Giống nấm 22
2.1.2 Nguyên liệu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 22
2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23
2.4 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 28
2.4.1 Quá trình hình thành và phát triển của hệ sợi nấm 28
2.4.2 Quá trình hình thành và phát triển của quả thể nấm 28
2.4.3 Sâu bệnh hại nấm 29
2.4.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất nấm 29
2.4.5 Hiệu quả sinh học: 29
2.4.6 Hiệu quả kinh tế 30
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Diễn biến nhiệt độ, độ ẩm không khí trong thời vụ nuôi trồng nấm 31
3.2 Kết quả nghiên cứu đ c điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất nấm hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 33
Trang 83.2.1 Đ c điểm sinh trưởng, phát triển của hệ sợi nấm Hồng chi nuôi trồng
trên gỗ keo lai 33
3.2.2 Động thái hình thành và phát triển của quả thể nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 34
3.2.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 35
3.3 Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nuôi trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của nấm Hồng chi trên gỗ keo lai 37
3.3.1 Ảnh hưởng của biện pháp xử lý nguyên liệu đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 37
3.3.2 Ảnh hưởng của nguồn cung cấp dinh dưỡng C đến sinh trưởng, phát triển, năng suất nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 42
3.3.3 Ảnh hưởng của phương pháp cấy giống đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của nấm Hồng Chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 49
3.3.4 Ảnh hưởng của kiểu nhà nuôi trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của nấm Hồng Chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 54
3.4 Hiệu quả kỹ thuật, kinh tế của mô hình nuôi trồng nấm Hồng Chi trên gỗ keo lai trên cơ sở ứng dụng các kết quả nghiên cứu 60
3.4.1 Đ c điểm sinh trưởng, phát triển của hệ sợi nấm Hồng chi trên gỗ keo lai khi thực hiện mô hình 60
3.4.2 Động thái hình thành và phát triển của quả thể nấm Hồng Chi trên gỗ keo lai khi thực hiện mô hình 61
3.4.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai khi thực hiện mô hình 62
3.4.4 Hiệu quả sinh học của mô hình 64
KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ 67
1 Kết luận 67
2 Đề nghị 68
PHỤ LỤC P1
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Diễn biến nhiệt độ, độ ẩm không khí trong thời vụ nuôi trồng nấm 32 Bảng 3.2: Đ c điểm sinh trưởng, phát triển của hệ sợi nấm Hồng chi 33 Bảng 3.3: Động thái hình thành và phát triển của quả thể nấm Hồng chi 34 Bảng 3.4: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất nấm Hồng chi 35 Bảng 3.5 Hiệu quả sinh học của nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 37 Bảng 3.6: Ảnh hưởng của biện pháp xử lý nguyên liệu đến sinh trưởng, phát triển của hệ sợi nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 37 Bảng 3.7: Ảnh hưởng biện pháp xử lý nguyên liệu đến động thái hình thành
và phát triển của quả thể nấm Hồng chi 39 Bảng 3.8: Ảnh hưởng của biện pháp xử lý nguyên liệu đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất nấm Hồng Chi 40 Bảng 3.9 Hiệu quả sinh học của biện pháp xử lý nguyên liệu nuôi trồng nấm Hồng chi trên gỗ keo lai 42 Bảng 3.10: Ảnh hưởng của khả năng sử dụng mật rỉ làm nguồn cung cấp dinh dưỡng C đến hệ sợi nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 43 Bảng 3.11: Ảnh hưởng của nguồn cung cấp dinh dưỡng C đến động thái hình thành và phát triển quả thể nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 44 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của nguồn cung cấp dinh dưỡng C đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 46 Bảng 3.13 Hiệu quả sinh học của nguồn cung cấp dinh dưỡng C cho nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 48 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của phương pháp cấy giống đến sinh trưởng,phát triển của hệ sợi nấm Hồng Chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 49 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của phương pháp cấy giống đến động thái hình thành
và phát triển của quả thể nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 50 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của phương pháp cấy giống đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 52
Trang 11Bảng 3.17 Hiệu quả sinh học của phương pháp cấy giống của nấm Hồng chi
nuôi trồng trên gỗ keo lai 53
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của kiểu nhà nuôi trồng đến sinh trưởng, phát triển của hệ sợi nấm Hồng Chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 55
Bảng 3.19 Ảnh hưởng của kiểu nhà nuôi trồng đến động thái hình thành và phát triển của quả thể nấm Hồng Chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 56
Bảng 3.20 Ảnh hưởng của kiểu nhà nuôi trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai 58
Bảng 3.21 Hiệu quả sinh học của kiểu nhà nuôi trồng đến nuôi trồng nấm Hồng chi trên gỗ keo lai 60
Bảng 3.22 Đ c điểm sinh trưởng, phát triển, của hệ sợi nấm Hồng Chi trên gỗ keo lai khi thực hiện mô hình 60
Bảng 3.23 Động thái hình thành và phát triển của quả thể nấm Hồng Chi nuôi trồng trên gỗ keo lai khi thực hiện mô hình 61
Bảng 3.24: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất nấm Hồng chi khi thực hiện mô hình 63
Bảng 3.25 Hiệu quả sinh học của mô hình 64
Bảng 3.26 Đơn giá, nguyên vật liệu 65
Bảng 3.27: Hiệu quả kinh tế của mô hình 65
Trang 12DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Biểu đồ năng suất nấm trên nguyên liệu gỗ keo lai 36
Hình 3.2: Năng suất nấm ở các công thức xử lý nguyên liệu 41
Hình 3.3: Năng suất bổ sung mật rỉ cung cấp nguồn dinh dưỡng C cho nấm 47
Hình 3.4: Năng suất nấm khi sử dụng phương pháp cấy giống khác nhau 52
Hình 3.5: Năng suất nấm khi nuôi trồng ở kiểu nhà nuôi trồng khác nhau 58
Hình 3.6: Năng suất của các công thức khi xây dựng mô hình 63
Trang 13MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ cách đây hàng nghìn năm, Linh Chi đã được coi là một loại nấm dược liệu được dùng để làm thuốc, người Trung Quốc đã coi Linh Chi là loại thuốc “Thần dược”, là “thứ dược liệu kết tinh được cái quý của mây mưa trên núi cao, cái tinh của ngũ hành trong ngày đêm mà khoe năm sắc nên có thể giữ sức khỏe cho các bậc đế vương” Theo cách diễn đạt của người phương Đông, Linh Chi có tác dụng kiện não (làm sáng suốt, minh mẫn); bảo can (bảo vệ gan); cường tâm (thêm sức cho tim); kiện vị (cũng cố dạ dày và hệ tiêu hóa); cường phế (thêm sức cho phổi, hệ hô hấp); giải độc (giải tỏa trạng thái dị cảm) và trường sinh (sống lâu, tăng tuổi thọ)
Ngày nay, y học hiện đại đã chứng minh, Linh Chi có tác dụng điều hòa và ổn định huyết áp đối với người huyết áp cao Đối với những người suy nhược cơ thể, huyết áp thấp Linh Chi có tác dụng nâng huyết áp lên gần mức
dễ chịu nhờ cải thiện và chuyển hóa dinh dưỡng Đối với bệnh nhiễm mỡ, xơ mạch, dùng nấm Linh Chi có tác dụng giảm cholesterol toàn phần, làm tăng nhóm lipoprotein tỷ trọng cao trong máu, làm giảm hệ số sinh bệnh Linh Chi làm giảm xu thế kết bờ của tiểu cầu, giảm nồng độ mỡ trong máu, giảm co tắc mạch, giải tỏa cơn đau thắt tim,
Hàng năm trên thế giới sản xuất khoảng 4.300 tấn nấm Linh chi, tập trung ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài loan, Thái Lan, Srilanca, Mỹ, Malaysia… Riêng Trung Quốc, mỗi năm sản xuất khoảng 3.000tấn (chiếm 70% tổng sản lượng toàn thế giới) và là Trung tâm lớn nhất thế giới về nuôi trồng nấm Linh Chi
Ở Việt Nam, việc nuôi trồng nấm Linh Chi cũng đã và đang được hình thành Từ thực tế sản xuất cho thấy, m c dù nghề trồng nấm Linh Chi không yêu cầu vốn đầu tư cao, kỹ thuật nuôi trồng không quá phức tạp, thị trường tiêu thụ sản phẩm mở rộng, rất phù hợp với điều kiện của các hộ gia đình nông dân, tạo thêm được việc làm, tăng thu nhập và tận dụng các nguồn lao
Trang 14động, song tốc độ và quy mô phát triển nuôi trồng nấm Linh Chi ở nước ta vẫn còn ở mức rất hạn chế Nguyên nhân chủ yếu được xác định là do vấn đề cung cấp giống và nguyên liệu cho nuôi trồng nấm
Nhiều năm nay, cây keo được xem là cây trồng chủ lực trong phát triển kinh tế đồi rừng ở tỉnh Thanh Hóa Diện tích trồng keo toàn tỉnh ở mức 92.714,6 ha, trữ lượng gỗ trung bình hàng năm 600-700 m3/ha/năm, thời gian
từ trồng đến khai thác trung bình 6 năm Sản phẩm gỗ keo được sử dụng vào sản xuất các sản phẩm gia dụng công nghiệp & dân dụng Các sản phẩm phụ trong quá trình khai thác (ngọn cây, cành cây) chủ yếu được đốt ho c bỏ cho mục nát Vì vậy nghiên cứu sử dụng các phụ phẩm này để nuôi trồng nấm linh chi là vấn đề vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn, góp phần tạo thêm công việc làm tăng thu nhập, hạn chế phát thải khí nhà kính từ việc đốt các sản phẩm phụ sau khi thác rừng keo trồng
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài“Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất và một số biện
pháp kỹ thuật nuôi trồng nấm Hồng chi trên gỗ keo lai trong điều kiện của tỉnh Thanh Hóa”
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và một số biện pháp kỹ thuật phù hợp cho nuôi trồng nấm Hồng chi trên gỗ keo lai trong điều kiện của Thanh Hóa, tạo cơ sở để hoàn thiện qui trình công nghệ và phổ biến nhân rộng trong sản xuất
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
1) Đánh giá được đ c điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất của nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai trong điều kiện của Thanh Hóa
2) Xác định được một số biện pháp kỹ thuật phù hợp cho nuôi trồng nấm Hồng chi trên gỗ keo lai trong điều kiện của Thanh Hóa
3) Đánh giá được hiệu quả kỹ thuật, kinh tế mô hình nuôi trồng nấm Hồng chi trên gỗ keo lai trên cơ sở ứng dụng các kết quả nghiên cứu
Trang 151.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp dữ liệu khoa học về
đ c điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất và hiệu quả nuôi trồng nấm Hồng chi trên gỗ cây keo lai
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để phổ biến, nhân rộng mô hình nuôi trồng nấm Hồng chi trên gỗ keo lai, qua đó tận dụng phế phụ phẩm, tạo thêm công việc làm, tăng thu nhập cho người dân có diện tích trồng keo lai ở các địa phương trong tỉnh Thanh Hóa
Trang 16
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát về nấm Linh chi
1.1.1 Nguồn gốc nấm linh chi
Ngày nay, các nhà khoa học đã xác định nấm linh chi Việt Nam là một loài nấm có tên khoa học là Ganoderma Lucidum, viết theo kiểu phiên âm Trung Hoa là Lingzhi, tên Nhật là Reishi Nấm linh chi có rất nhiều tên gọi: nấm vạn năng, nấm thần tiên, Cỏ trường sinh, Hạnh nhĩ…trong đó tên gọi Linh chi là phổ biến nhất và được truyền tụng từ hàng ngàn năm nay với rất nhiều truyền thuyết Nấm linh chi là dược thảo đứng đầu trong Thần Nông Bản Thảo Kinh -Tác phẩm chuyên tập hợp những kinh nghiệm về dược vật từ đời Hán trở về trước Cuốn kinh này chia các vị thuốc ra làm ba loại, thượng,
trung và hạ phẩm[22]
Nấm linh chi là dược liệu đứng đầu của thượng phẩm, trên cả nhân
sâm, là một dược thảo được xem là kỳ diệu, có rất nhiều hiệu năng, dùng lâu không hại, có thể giúp người ta diên niên trường thọ Thời trước chỉ có vua chúa và vương hầu biết tới chứ người bình dân thì chỉ nghe mà không mấy khi được g p
Năm 1621 nấm linh chi được trồng ở Trung Quốc, nhưng mãi đến năm
1971, sau khi nhà khoa học Nhật Bản Yukio Naoi trồng thành công trong phòng thí nghiệm thì kỹ thuật trồng mới bắt đầu được phổ biến, lan sang Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan [25]
Nấm linh chi Việt Nam được trồng bằng mạt cưa của các loài cây như
cao su, cọ dầu, liễu, được phối trộn, bổ sung các chất dinh dưỡng như cám gạo, cám ngô, vôi, thạch cao, tùy từng công thức và được làm ẩm từ 65-70%, sau đó được cho vào bịch PP ho c PE ho c lọ chịu nhiệt, nén ch t, và được cho vào nồi hấp thanh trùng bởi hơi nước có áp suất ho c không áp suất để giết các vi sinh vật, các bào tử nấm mốc trong cơ chất Sau đó để nguội và được cấy giống đã thuần khiết
Trang 17Thời gian ủ sợi kéo dài từ 35-40 ngày tùy theo thể tích bịch, khi bịch nấm ra quả thể thời gian kéo dài từ 120 -150 ngày Chu kỳ sản xuất nấm linh chi Việt Nam theo công nghệ này kéo dài trong khoảng từ 4-5 tháng
1.1.2 h n lo i nấm linh chi
Linh Chi có nhiều hình dáng khác biệt Có những cái hình nấm nhưng
mũ nấm không được tròn mà lại rất nhăn nheo, có những cây giống như trái thận, có cây lại hình giống như sừng hươu
Theo các danh y cổ thì dựa theo màu sắc mà phân biệt nấm linh chi thành
6 loại cơ bản đó là: nấm Linh chi đỏ, đen, xanh da trời, trắng, vàng và tím
Linh chi xanh: Còn gọi là Thanh chi hay Long chi có màu xanh, vị chua, tính bình, không độc và có tác dụng trị sáng mắt, bổ gan khí, an thần, tăng trí nhớ
Linh chi đỏ: Còn được gọi là Hồng chi, Xích chi hay Đơn chi có màu
đỏ vị đắng, tính bình, không độc giúp tăng trí nhớ, dưỡng tim, bổ trung, chữa trị tức ngực
Linh chi vàng: Còn được gọi là Hoàng chi hay Kim chi, màu vàng vị ngọt, tính bình, không độc, chuyên trị an thần, ích tì khí
Linh chi trắng: Còn gọi là Bạch chi hay Ngọc chi, màu trắng vị cay, tính bình, không độc, ích phổi, thông mũi, cường ý chí, an thần, chữa ho nghịch hơi
Linh chi đen: Linh chi đen còn được gọi là Hắc chi hay Huyền chi, màu đen vị m n, tính bình, không độc trị chứng bí tiểu, ích thận khí
Linh chi tím: Còn được gọi với tên Tử chi hay Mộc chi, màu tím vị ngọt, tính ôn, không độc, đ c trị đau nhức khớp xương, gân cốt
Trong 6 loại kể trên thì nấm linh chi đen và đỏ được coi là có tác dụng trị liệu tốt nhất và được dùng nhiều nhất trên thế giới hiện nay Tuy nhiên, linh chi đỏ được chứng minh là tốt cho sức khỏe hơn cả vì nó thúc đẩy sự làm việc của hệ thống miễn dịch, làm tăng sự hoạt động của cơ thể và chống lão hóa và linh chi đỏ được gọi là linh chi chuẩn để phân biệt nấm linh chi với những loài khác theo [23]
Trang 18Thông thường, người ta có thể nhận thấy sự công hiệu từ 10 ngày cho tới 2 tuần sau khi sử dụng Và khi đã dùng lâu mà chưa thấy biểu hiện tích cực người dùng cần xem lại chất lượng nấm mà mình đang có vì với thị trường thật giả lẫn lộn như hiện nay thì việc mua phải hàng giả hàng kém chất lượng là điều khó tránh khỏi Vậy nên, người dùng cần lưu ý: Chỉ nên mua nấm linh chi có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Đừng xuôi lòng trước những quảng cáo đường mật
Nói chung, Linh chi bổ đủ ngũ tạng, nhưng mỗi loại có một tính năng khác nhau Tuy nhiên trong Thần Nông Bản Thảo xem ra chỉ thuần lý, dựa trên ngũ hành, ngũ sắc để luận hơn là được thử nghiệm thực tế Màu xanh thuộc mộc, chủ can nên thanh chi bổ gan, màu trắng thuộc kim, chủ phế nên bạch chi bổ phổi, màu đen thuộc thủy, chủ thận nên bổ thận, màu vàng thuộc thổ, chủ tì vị nên bổ tì Gần đây khi tìm được cách gây giống, tại Nhật Bản đã chứng minh được rằng những cây nấm màu sắc khác nhau không phải vì khác loại mà chỉ vì môi trường và điều kiện sinh hoạt khác nhau Thay đổi điều kiện người ta cũng có thể có được đủ sáu loại từ cùng một giống
1.2 Đ c điểm sinh vật học của nấm Linh chi
Nấm Linh chi thuộc: Họ Ganodermataceae, Bộ Ganodermatales, Lớp
phụ hymenomycetidae, lớp Hymenomycete, Ngành phụ Basidiomycotina, ngành nấm thật – Eumycota,Giới nấm – Mycota hay Fungi, Chi Ganoderma (trên thế
giới có trên 50 loài, riêng Trung Quốc đã có tới 48 loài khác nhau), Nhóm
Lucidum có 21 loài, nhóm Sinenses có 27 loài (Nguyễn Lân Dũng, 2007) [1]
Nấm Linh chi là một trong những loại nấm phá gỗ, đ c biệt trên các cây
thuộc bộ đậu (Fabales) Linh chi phân bố ở khắp nơi trên thế giới, ký sinh
rộng khắp ở các loài cây lá rộng đến lá kim, thậm chí ở cả tre trúc, dừa, cau,
cọ dừa và nho Có thể mọc trên cây sống lẫn cây đã chết Có những loại đa niên, tai nấm phát triển qua nhiều năm và những loại hằng niên, tai nấm chỉ phát triển qua một mùa (Nguyễn Hữu Đống, 2003) [4]
Trang 19Nấm Linh chi thuộc loại thực vật hạ đẳng, thực tế chúng không có thân,
rễ, lá như các cây thượng đẳng khác Cơ thể của nấm là những sợi nhỏ màu trắng len lõi trong rơm, rạ, trong thân gỗ ho c các cơ chất nuôi trồng khác Phần chúng ta thường nhìn thấy được gọi là cây nấm nhưng thực chất là quả thể nấm Quả thể nấm tương đương với bông hoa ở cây thượng đẳng Trong quả thể có các bào tử, tương đương với các hạt ở cây thượng đẳng (Nguyễn Lân Dũng, 2007 [2]; Lương Ngọc Toản, 1998) [8]
Về hình thái bên ngoài, quả thể nấm có cuống dài ho c ngắn, thường đính bên, đôi khi đính tâm do quá trình liền tán mà thành Cuống nấm hình trụ
ho c thanh mảnh (đường kính 0,3 – 0,8cm), ho c mập khỏe (đường kính 0,2 – 3,5cm) Quả thể ít phân nhánh, đôi khi uốn khúc cong do biến dạng trong quá trình nuôi trồng Lớp vỏ cuống có màu láng đỏ, nâu đỏ, nâu đen, bóng, không
có lông Mũ nấm dạng thận, gần tròn, đôi khi xòe hình quạt và có tia rãnh phóng xạ Màu sắc từ vàng chanh, vàng nghệ, vàng nâu, đỏ nâu, nâu tím, nhẵn bóng và láng như verni Khi nấm già quả thể sẫm màu, trên bề m t láng một lớp phấn màu đỏ nâu Kích thước tai nấm biến động lớn, từ 5 – 12cm, dày 0,8 – 3,3cm Phần đính cuống thường gồ lên ho c lõm Phần thịt nấm dày
từ 0,4 – 2,2cm, có màu vàng kem nâu nhợt ho c trắng kem, phân chia lớp trên
ho c lớp dưới, lớp trên có thể thấy rõ các tia sợi hướng lên, lớp dưới hệ sợi tia xuống đều đ n, tiếp giáp tầng sinh bào tử
Tầng sinh sản (bào tầng, phụ tầng - hymennium) là một lớp ống dày từ
0,2 – 1,8 cm, màu kem, nâu nhạt, gồm các ống nhỏ thẳng, miệng gần tròn có màu trắng nhạt ho c chanh nhạt, có khoảng 3 – 35 ống trên 1mm Đảm đơn
bào (Holobasidie) hình trứng không màu, dài 16 - 22m, mang 4 bào tử đảm
(Basidiospoes) Bào tử đảm thường được mô tả dưới dạng trứng cụt, đôi khi
là dạng hình trứng có đầu chóp tròn, nhọn Kích thước bào tử rất nhỏ dao động từ 8,0 – 11,5m ho c 6 – 7,7m Bào tử Linh chi có hai lớp vỏ rất cứng, dày 0,7 – 1,2m Bào từ có cấu trúc tinh vi và tương đối ổn định về kích thước ở các điều kiện sinh sống khác nhau Bào tử có chứa các thành phần
Trang 20giống như Linh chi như: polisaccharit, triterpen, acid béo, acid amin, vitamin
và các nguyên tố vi lượng, nhưng hàm lượng cao hơn Linh chi từ 7 – 20 lần
Số lượng bào tử Linh chi là rất ít, trung bình thu hoạch 1tấn nấm chỉ thu được 1kg bào tử
1.3 Nhu cầu sinh thái của nấm linh chi
1.3.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của nấm Linh chi thay đổi qua các giai đoạn sinh trưởng khác nhau Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của hệ sợi nấm là 20 – 300C (tối thích là 23 – 270C) Đối với quá trình hình thành và phát triển quả thể, nhiệt độ thích hợp là 22 – 280C (tối thích là 24 – 260C) Việc tạo ra
sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ “sốc nhiệt” giữa giai đoạn nuôi sợi và giai đoạn hình thành quả thể là một trong những biện pháp nhằm tạo quả thể to, đồng đều, năng suất cao
1.3.2 Yêu cầu về độ ẩm không khí
Linh chi yêu cầu độ ẩm không khí tương đối cao Giai đoạn ươm sợi, yêu cầu độ ẩm không khí từ 65 – 70%, giai đoạn phát triển của quả thể yêu cầu độ ẩm không khí cao hơn từ 80 – 95% Như vậy để nuôi trồng nấm Linh chi yêu cầu độ ẩm không khí tương đối cao
1.3.3 Yêu cầu về độ ẩm cơ chất
Trong quá trình sinh trưởng, phát triển, Linh chi yêu cầu một lượng nước nhất định, lượng nước cần phần lớn được hấp thụ từ trong cơ chất và một phần nhỏ được hấp thụ từ bên ngoài trong quá trình hình thành quả thể (tưới bổ sung) Các thí nghiệm của Van Griensven cho thấy, để được 1kg nấm, trong cơ chất sẽ mất đi 220g chất khô và 900ml nước, trong đó chỉ có khoảng 35 – 40% chất khô tham gia vào việc tạo thành quả thể nấm, phần còn lại sẽ bị chuyển hóa để tạo năng lượng cho các hoạt động sống khác, từ đó cho thấy nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc vận chuyển hòa tan các chất dinh dưỡng, tạo cơ sở cho hệ sợi nấm hấp thu dinh dưỡng từ cơ chất một cách dễ dàng Độ ẩm cơ chất thích hợp cho sự phát triển của sợi nấm là 60 – 70%[14]
Trang 211.3.4 Yêu cầu về ánh sáng
Nấm Linh chi không có khả năng quang hợp như cây xanh và chúng sống được là nhờ năng lượng phân hủy từ cellulose của cơ chất Do đó, về cơ bản chúng không cần ánh sáng Nhưng trong quá trình sinh trưởng và phát triển, nấm Linh chi vẫn yêu cầu một lượng ánh sáng nhất định Giai đoạn nuôi sợi dù ở điều kiện tối hay sáng, hay chỉ có ánh sáng tán xạ, sợi nấm Linh chi vẫn phát triển bình thường Đến giai đoạn phát triển của quả thể thì cần ánh sáng tán xạ (ánh sáng đủ đọc được sách trong nhà nuôi), cường độ ánh sáng khoảng 250 – 1000lux để kích thích sự phát triển của quả thể, cường độ ánh sáng phải cân đối từ mọi phía để đảm bảo cho quả thể phát triển cân đối Nếu thiếu ánh sáng trong giai đoạn phát triển của quả thể sẽ ảnh hưởng đến mức
độ xòe tán, cuống nấm sẽ kéo dài, làm tăng thời gian nuôi trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế Do vậy khi nuôi trồng nấm Linh chi cần có chế độ chiếu sáng phù hợp
1.3.5 Yêu cầu về độ thoáng khí
Do nấm là cơ thể sống nên trong hoạt động sống của chúng, quá trình hô hấp vẫn diễn ra và đóng một vai trò rất quan trọng Vì vậy, trong quá trình sinh trưởng và phát triển của nấm độ thoáng khí có ảnh hưởng rất lớn
Trong giai đoạn nuôi sợi yêu cầu không khí của nấm Linh chi là lượng lớn CO2 nhưng khi hình thành quả thể thì nồng độ CO2 lại phải giảm Nồng
độ CO2 trong không khí không được vượt quá 0,1%, sự thông thoáng còn có
ý nghĩa lớn đối với việc hạn chế sự gia tăng nhiệt độ của nhà nuôi trồng
1.3.6 Yêu cầu về độ pH cơ chất
Linh chi có thể sinh trưởng và phát triển được trong môi trường cơ chất nuôi trồng từ axit yếu đến hơi kiềm Độ pH thích hợp nhất cho nấm sinh trưởng, phát triển là từ 5,5 – 7,0
1.3.7 Yêu cầu về dinh dưỡng
Linh chi có khả năng phát triển tốt trên rất nhiều các loại nguyên liệu khác nhau như: Mùn cưa, bã mía, cây gỗ… Chính nhờ hệ men celluloza rất
Trang 22mạnh có trong sợi nấm Linh chi mà chúng có thể sử dụng nguồn hydratcacbon có trong các loại nguyên liệu trên Nó sẽ chuyển chúng từ dạng khó tiêu sang dạng dễ tiêu để sợi nấm hấp thụ được
Vào thời kỳ ươm sợi, nếu cung cấp thêm 1 lượng đạm vừa phải (0,1% canxi nitrat) thì sẽ giúp nấm phát triển mạnh hơn Linh chi cũng cần một số vitamin nhóm B để sợi nấm phát triển mạnh hơn Ngoài các nguồn dinh dưỡng nói trên, để hệ sợi nấm phát triển tốt có thể cung cấp thêm Ca, Mg,
P2O5, K2O và cả nguyên tố vi lượng Fe, m c dù chỉ với lượng rất nhỏ Do đó khi trồng Linh chi người ta có thể thêm bột nhẹ (CaCO3) ho c thạch cao ((CaSO4).2H2O) ho c thêm 1 lượng nhỏ KH2PO4 để bổ sung lân và kali (Đinh Xuân Linh, 2008) [5]
1.4 Đ c điểm iến dƣ ng của nấm linh chi
Nấm chủ yếu sống dị dưỡng, lấy thức ăn từ các nguồn hữu cơ (động vật
ho c thực vật) Nấm có hệ men (enzyme) phân giải tương đối mạnh, giúp chúng ta có thể sử dụng các dạng thức ăn phức tạp Dựa theo các dinh dưỡng của nấm, có thể chia thành 3 nhóm:
- Hoạt sinh: thức ăn là xác bã thực vật hay động vật Ở nhóm nấm này, chúng có khả năng biến đổi những chất khó phân hủy thành những chất đơn giản, dễ hấp thu, nhờ hệ men ngoại bào
- Ký sinh: chủ yếu các loài nấm gây bệnh, chúng sống bám vào thành
cơ thể sinh vật khác để hút thức ăn của sinh vật chủ
- Cộng sinh: Lấy thức ăn từ cơ thể sinh vật chủ nhưng không làm tổn hại sinh vật chủ, ngược lại còn giúp cho chúng phát triển tốt hơn (như nấm
Tuber hay Bolesus cộng sinh với cây thông sồi…)
1.5 Đ c tính iệt dƣ c của nấm linh chi
Theo Hiroshi Hikino (Nhật Bản), Linh chi là một trong những vị thuốc
bổ quan trọng nhất trong Đông y Các thầy thuốc đã dùng Linh chi trong việc chữa trị các chứng mệt mỏi, suy nhược, tiểu đường, các chứng bệnh về gan và nhiều chứng bệnh thuộc sức đề kháng của cơ thể con người [22]
Trang 23Kết quả phân tích về thành phần các chất kết hợp với nghiên cứu lâm sàng đã ghi nhận tác dụng biệt dược của các thành phần có trong Linh chi: Alcaloide có tác dụng trợ tim; polysaccharid b-D-glucan, ganoderan A, B, C,
D - 6 có tác dụng chống ung thư, tăng tính miễn dịch; hạ đường huyết; tăng tổng hợp protein, tăng chuyển hoá acid nucleic; chống rối loạn miễn dịch và chống cao huyết áp, làm mạnh gan, cô lập và diệt các tế bào ung thư; Steroid (Ganodosteron; Lanosporeic acid A; Lonosterol) có tác dụng giải độc gan; ức chế sinh tổng hợp cholesterol; triterpenoid: Ganodermic acid Mf, T - O; ganodermic acid R; ganodermic acid B,D,F,H,K,S,Y ; ganodermadiol; ganosporelacton A, B; lucidon có tác dụng ức chế sinh tổng hợp cholesterol;
ức chế giải phóng histamin của cơ thể, giúp giảm nhẹ các dị ứng, đẩy mạnh sự hấp thụ ôxy; hạ huyết áp, ức chế ACE, chống khối u; tăng sự hoạt động của gan; nucleosid: Adenosin dẫn suất có tác dụng ức chế kết dính tiểu cầu, thư giãn cơ, giảm đau; protein: Lingzhi – 8 có tác dụng chống dị ứng phổ rộng, điều chỉnh hệ thống miễn dịch; acid béo (Oleic acid) có tác dụng ức chế giải phóng histamin; acid ganoderic có tác dụng chống dị ứng và chống viêm
Ngoài ra trong thành phần của nấm Linh chi có khoảng 40 nguyên tố
khoáng, trong đó phải kể đến germanium Germanium có liên quan ch t chẽ
với hiệu quả lưu thông khí huyết, tăng cường chuyển vận oxy vào mô giúp các tế bào hấp thu oxy tốt hơn, đ c biệt là giảm bớt đau đớn cho người bệnh
bị ung thư ở giai đoạn cuối (Đỗ Tất Lợi, 2003) [6]
Hiện nay, Linh chi được dùng làm giảm huyết áp, kích thích sự làm việc của gan, tẩy máu giúp cơ thể chống lại các chứng lao lực quá độ và giải độc, khắc phục được tác hại của hóa trị liệu và xạ trị trong điều trị ung thư Gần đây người ta còn tìm thấy tác dụng với ung thư tử cung, khoang miệng, ung thư đại tràng, ung thư gan, đ c biệt khi kết hợp với hóa trị liệu Vì vậy Linh chi đã và đang được khai thác, nuôi trồng, chế biến thành các sản phẩm công nghệ cao với quy mô công nghiệp và sản lượng lớn Mỗi năm trên thế giới tiêu thụ hàng trăm tấn Linh chi dưới dạng thực phẩm ho c dược phẩm nhờ khả năng nâng cao tính miễn dịch của cơ thể [21]
Trang 241.6 T nh h nh sản uất, tiêu thụ nấm Linh chi trên thế giới và Việt Nam
1.6.1 Trên thế giới
Trên thế giới, việc nuôi trồng nấm Linh chi đã được ghi nhận đầu tiên vào năm 1621, nhưng mãi đến 300 năm sau (1936), trường Đại học Nông nghiệp Tokyo - Nhật Bản mới nuôi trồng đại trà thành công nấm Linh chi Năm 1971, hai nhà bác học người Nhật là Yukio Naoi và Zenzaburo Kasai, giáo sư của khoa Nông nghiệp, trường Đại học Tokyo đã thành công trong việc nhân giống nấm Linh chi Năm 1986, Nhật Bản đã nuôi trồng thành công nấm Linh chi trên môi trường nhân tạo
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản cho thấy, nấm Linh chi có màu sắc khác nhau không phải là do các loại nấm khác nhau mà là do môi trường và điều kiện sinh sống khác nhau tạo ra Bằng cách thay đổi điều kiện môi trường, từ cùng một giống, các nhà khoa học đã tạo ra được 6 loại nấm Linh chi theo như phân loại nấm Linh chi trong tự nhiên
Hiện nay, các nước trên thế giới tập trung nghiên cứu và sản xuất các loại nấm ăn nói chung, nấm Linh chi nói riêng ở quy mô công nghiệp Khu vực châu Âu và Bắc Mỹ áp dụng cơ giới hóa, tự động hóa trong nuôi trồng nấm, từ khâu chuẩn bị nguyên liệu đến khâu thu hái, bảo quản, đóng gói (sử dụng robot trong các khâu nuôi trồng, chăm sóc và thu hái nấm) Khu vực Châu Á, việc nuôi trồng nấm còn mang tính chất thủ công, qui mô nhỏ (hộ gia đình, trang trại nuôi trồng nấm), song chiếm tới 70% tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới hàng năm Các nước có sản lượng nấm lớn trên thế giới là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan [19]
Nhật Bản tuy là nước đưa ra kỹ thuật nuôi trồng nấm đầu tiên và có tốc
độ tăng trưởng nhanh qua các năm (trong thời gian 16 năm, sản lượng nấm tăng 40 lần, từ 5 tấn năm 1979 tăng lên 200 tấn năm 1995), song vẫn đứng sau Trung Quốc về sản lượng
Hàn Quốc là đất nước nổi tiếng với nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) mỗi năm xuất khẩu thu về hàng triệu USD Ở Đài Loan, theo báo cáo của
Trang 25Peng (1990) và Hseu (1992), Đài Loan đã nuôi trồng tới hơn 10 loài Ganoderma khác nhau Doanh thu hàng năm từ các chế phẩm chống ung thư điều chế từ Linh chi ở Đài Loan đạt trên 350 triệu USD [17]
Ở Đông Nam Á, nuôi trồng nấm Linh chi mới được chú trọng trong vài thập kỷ gần đây, đ c biệt nuôi trồng nấm Linh chi ngắn ngày trên các phế thải giàu chất xơ, thậm chí cho thu hoạch quả thể chỉ sau 40 ngày
Hiện nay, việc nghiên cứu cải tiến kỹ thuật nuôi trồng nấm Linh chi, nghiên cứu đ c tính biệt dược của Linh chi không còn giới hạn trong phạm vi một số nước mà đã mang tính chất toàn cầu Đến nay đã có khoảng 250 bài báo cáo của các nhà khoa học trên toàn thế giới được công bố liên quan đến dược tính và lâm sàng của Linh chi Tháng 7 năm 1994 hội nghị “Nấm học” tại Vancouver - Canada đã nhất trí thành lập viện nghiên cứu quốc tế về Linh chi
đ t trụ sở tại New York, Hoa Kỳ [10]
1.6.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, nấm dược liệu cũng đã được biết đến từ lâu Từ xa xưa, Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác đã đề cập đến việc sử dụng Linh chi làm thuốc Theo Lê Quý Đôn, “nấm Linh chi là nguồn sản vật quý hiếm của núi rừng Đại Nam” Song trong thực tế, việc nghiên cứu và phát triển các loại nấm ăn, nấm dược liệu ở nước ta mới được bắt đầu từ những năm 1970
Năm 1978, viện Dược liệu – Hà Nội đã tiến hành nuôi trồng thành công nấm Linh chi (giống của Trung Quốc) Năm 1997, các nhà khoa học thuộc Đại học Khoa học Tự nhiên đã chọn được giống nấm Linh chi mọc hoang ở rừng núi Lâm Đồng để nhân giống và đưa vào sản xuất, đạt kết quả khả quan tại trại trồng nấm Linh chi của xí nghiệp Dược phẩm Trung ương [17]
Năm 1986, Thành phố Hồ Chí Minh thành lập xí nghiệp nấm Thành phố
Hồ Chí Minh Ngoài ra còn một số đơn vị như: Công ty nấm Thanh Bình (Thái Bình), xí nghiệp nấm (thuộc Tổng công ty rau quả Vegetexco) Một số đơn vị
có nhập khẩu nấm: Unimex Hà Nội, Liên hiệp các Xí nghiệp thực phẩm vi sinh
Hà Nội (Công ty nấm Hà Nội), xí nghiệp nấm thành phố Hồ Chí Minh, xí
Trang 26nghiệp đ c sản rừng số 1 nay là Công ty mây tre đan Hà Nội Năm 1991 –
1993 Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường triển khai dự án sản xuất nấm theo công nghệ Đài Loan (Nguyễn Hữu Đống, 2000) [3]
Đến thập niên 90, nuôi trồng Linh chi mới thực sự bùng nổ tại thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên sản lượng hàng năm mới đạt khoảng 10 - 15 tấn/năm (Cổ Đức Trọng,2008)[9]
* Về nuôi trồng
Người nuôi trồng nấm Linh Chi đầu tiên ở Việt Nam là kỹ sư Nguyễn Thanh, ông đã đưa được nấm Linh Chi chuẩn từ Trung Quốc về Việt Nam Nhờ đó vào cuối năm 1978 dưới sự hướng dẫn của giáo sư Trịnh Tam Kiệt lần đầu tiên nấm Hồng chi Trung Quốc đã ra quả thể trong phòng thí nghiệm, nhưng mãi đến năm 1987 sau khi kỹ sư Nguyễn Thanh, TS Nguyễn Thiện Tịch cùng với thạc sĩ Cổ Đức Trọng đi tìm Linh chi mọc hoang ở vùng rừng núi tỉnh Lâm Đồng để tìm nguồn giống ban đầu thì Linh Chi mới thực sự được đưa vào nghiên cứu trồng trọt và sản xuất
Đến năm 1988, xí nghiệp dược phẩm Trung ương 24 đã nghiên cứu các dạng thành phẩm, cùng sự khảo sát về dược lý của giáo sư Bùi Chí Hiếu tại viện y học thành phố Hồ Chí Minh và khảo sát về lão khoa lâm sàng của giáo
sư Nguyễn Thiện Thành tại bệnh viện Thống Nhất, đã đưa ra những kết luận bước đầu rất quan trọng về giá trị của Linh Chi Việt Nam từ năm 1996 (Đàm Nhuận, 1996) [7]
* Ở Thanh Hóa
Trong những năm gần đây tỉnh Thanh Hóa xuất hiện một số trang trại
và nhiều hộ gia đình nuôi trồng nấm Linh chi đạt hiệu quả kinh tế cao, Song thực tế cho thấy các trang trại và nhiều hộ nông dân cũng mới sản suất trên nguyên liệu mùn cưa chưa thử nghiệm sản suất trên gỗ keo lai
Hàng năm Thanh Hóa đã tổ chức dạy nghề cho hàng chục ngàn lao động theo 3 cấp trình độ: cao đẳng, trung cấp và sơ cấp nghề Đ c biệt đã tập trung dạy nghề cho lao động chính sách, dân tộc thiểu số, lao động nông thôn,
Trang 27lao động bị thu hồi đất để xây dựng các khu kinh tế, công trình công cộng, khu đô thị, khu công nghiệp…
Kết quả dậy nghề đã góp phần đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đến hết năm 2016 đạt 58%, lao động qua đào tạo nghề đạt 42,9 % Hàng năm
đã giải quyết việc làm cho gần 50.000 lao động, góp phần hạ tỷ lệ lao động thiếu việc làm ở khu vực nông thôn Do được đào tạo miễn phí, lại có chương trình tuyên truyền rộng khắp của trung tâm dạy nghề tỉnh nên nhiều hộ dân đã nhận thức được lợi ích của việc tham gia các lớp dạy nghề Sau thành công của các đợt tập huấn trồng nấm từ năm 2007 đến nay trung tâm dạy nghề, hội phụ nữ tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp với Trung tâm nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học Thanh Hóa tiếp tục mở thêm 50 lớp dạy nghề cho trên 1.500 người, giúp nông dân tiếp cận với mô hình sản xuất mới Đến nay, mô hình sản xuất nấm đã phát triển ở hầu khắp các huyện trong tỉnh Ở một số huyện như Nga sơn, Đông Sơn, Thọ Xuân, Ngọc L c, Như Thanh, Thành phố Thanh Hóa
Về thị trường tiêu thụ của sản phẩm nấm Linh chi hiện nay trên địa bàn tỉnh mới có một số ít trang trại, hộ nông dân sản suất được nấm Linh chi nên nguồn cung không đủ nhiều người phải mua ở các tỉnh khác như ở Ninh Bình,
Hưng Yên, Hà Nội Một điều dễ nhận thấy là hầu hết các gia đình đầu tư
trồng nấm đều đã và đang thoát nghèo, vươn lên làm giàu “Làm nấm phải có quyết tâm cao và sự kiên nhẫn” - đó là câu nói của những người dân rút ra sau gần 10 năm bám trụ với nghề, vì nếu không có 2 yếu tố đó thì mô hình trồng nấm này đã không tồn tại cho đến ngày nay
1.7 T nh h nh sản uất và khai thác keo lai ở tỉnh Thanh Hóa
1.7.1 Tình hình sản xuất keo lai t i tỉnh Thanh Hóa
Thời gian gần đây, rừng tự nhiên đã bị suy giảm nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Trước tình hình đó, nhiều cơ quan lâm nghiệp, tổ chức
cá nhân và người dân nhiều địa phương đã đẩy mạnh kinh doanh rừng trồng Việc trồng rừng đã góp phần đáng kể nâng cao tỷ lệ che phủ đất trống đồi núi
Trang 28trọc, đáp ứng nhu cầu về gỗ đồng thời tạo thêm nhiều việc làm cho người dân sống gần rừng nhất là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa
Hiện tại việc trồng các loài cây mọc nhanh cho năng suất cao đang là nhu cầu thực tiễn cấp thiết, với nhiều thành phần kinh tế tham gia Theo số liệu thống kê năm 2014 toàn tỉnh Thanh Hóa có diện tích đất lâm nghiệp 626.576,1 ha Với các dòng keo lai BV 16, BV 32 năng suất trung bình đạt
20 - 25m3/ha/năm, Các dòng TB03, TB05, TB 06, TB12, AH1, AH7 năng suất có thể đạt từ 30 - 35 m3/ha/năm [24]
Diện tích che phủ rừng năm 2013 đạt 51% Phát triển lâm nghiệp ở đây không chỉ để phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái mà còn tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho người dân tại chỗ, hạn chế tình trạng phá rừng làm nương rẫy, nâng cao tỷ lệ che phủ bề m t đất Trong nhiều năm qua, có nhiều đơn vị sản xuất lâm nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã chú trọng công tác trồng rừng sản xuất, rừng nguyên liệu phục
vụ cho công nghiệp chế biến gỗ và rừng nguyên liệu giấy [24]
Cây keo lai là loại cây lâm nghiệp có giá trị cao, được nhiều người dân tin tưởng, lựa chọn là giống cây phát triển kinh tế Keo lai là tên gọi của giống lai tự nhiên giữa Keo lá tràm và Keo tai tượng Các đ c tính của Keo lai đều thể hiện tính trung gian giữ 2 loài keo bố mẹ Cây keo lai hơn Keo tai tượng
về độ tròn đều của thân, có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành
tự nhiên khá hơn, độ thẳng thân và chiều cao dưới cành đều tốt hơn keo bố
mẹ Cây Keo lai rất dễ sống, đ c biệt là sống ở khu vực đồi núi, vùng sườn dốc hay có gió mà cây lâm nghiệp khác không trồng được Cây có thể cao đến 25-30 mét, đường kính lên đến 60-80 cm
Keo lai là cây gỗ thẳng, thuộc nhóm cây gỗ chất lượng tốt, màu vàng trắng có vân, có giác lõi phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều m t Cho nên keo lai rất phù hợp với các dự án lâm nghiệp thương mại Cây Keo lai có khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, chống cháy rừng Keo lai mọc nhanh, cành lá phát triển mạnh, sau khi trồng 1-2 năm rừng đã khép tán, cải thiện được tiểu khí
Trang 29hậu, đất đai nơi trồng, che chắn hạn chế dòng chảy, trả lại 1 lượng cành khô lá rụng cho đất Đó mới chỉ là một vài đ c điểm cơ bản dễ thấy nhất cho biết lý
do tại sao cây leo lai lại được trồng làm cây lâm nghiệp giá trị cao [25]
Nhiều năm nay, cây keo luôn được xem là cây trồng chủ lực trong phát triển kinh tế đồi rừng ở tỉnh Thanh Hóa Cùng với việc chuyển giao các tiến
bộ khoa học – kỹ thuật, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên truyền, vận động người dân chuyển dần diện tích keo bản địa sang trồng các giống keo lai, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế Bén duyên trên những vùng đất đồi của tỉnh, keo đã chứng minh là loại cây phù hợp với địa hình, khí hậu và thổ nhưỡng nơi đây
Cây keo luôn là nguồn thu nhập chính những năm trước, gần như tất cả diện tích rừng của tỉnh đều được trồng bằng giống cây bản địa Nhưng từ năm 2012, qua học tập, tiếp thu kiến thức khoa học - kỹ thuật các hộ nông dân trong tỉnh đã mạnh dạn mua giống keo lai về trồng Kết quả bước đầu cho thấy cây keo lai lớn nhanh, cùng một thời gian nhưng kích thước của giống keo lai lớn hơn gấp 2 lần so với giống cây bản địa, do đó thời gian qua thu hoạch dự kiến được rút ngắn, sinh khối tăng
Từ hiệu quả mà cây keo đã và đang đem lại, tỉnh Thanh Hóa xem đây là cây trồng chủ đạo để phát triển kinh tế đồi rừng nhằm xóa đói, giảm nghèo cho
bà con nhân dân Theo đó, tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo các huyện Như Thanh, Tỉnh Gia, Ngọc L c, Hà Trung… thực hiện nhiều giải pháp để mở rộng diện tích và nâng cao năng suất, hiệu quả của cây keo trên địa bàn như: Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân phát triển kinh tế đồi, rừng, trong đó tập trung trồng cây keo thông qua hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể; thành lập các ban phát triển rừng cấp xã, cấp thôn và triển khai nhiều hoạt động
hỗ trợ phát triển rừng giúp người dân yên tâm sản xuất; hỗ trợ các hộ dân vay vốn với lãi suất thấp để mở rộng sản xuất Cùng với đó, huyện chú trọng lồng ghép nhiều chương trình, dự án hỗ trợ nhân dân trồng và đầu tư chăm sóc rừng theo hướng thâm canh, chuyển giao khoa học, kỹ thuật cho nhân dân Nhờ thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp, nên số hộ tham gia phát triển kinh
tế đồi rừng, đ c biệt là trồng keo lai ngày một tăng lên
Trang 301.7.2 Tình hình khai thác keo lai ở tỉnh Thanh Hóa
Theo sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tính đến nay trên địa bàn tỉnh có trên 90 ngàn héc ta rừng nguyên liệu giấy ở nhiều độ tuổi từ các chương trình trồng rừng Keo lai là một trong các loài cây chủ lực cung cấp
gỗ nguyên liệu giấy Tỷ trọng gỗ 0,542, hàm lượng xenlulô 45,36%, tổng các chất sản xuất bột giấy 95,2%, hiệu suất bột giấy 52,8%, độ nhớt của bột 36,6,
độ chịu gấp, chịu đập cao hơn ho c trung gian của 2 loài keo bố mẹ Tất nhiên, những cây keo nhỏ mới được bán dùng làm nguyên liệu gỗ Gỗ Keo lai to, tròn là nguyên liệu sử dụng để sản xuất đồ nội thất xuất khẩu Với đường kính từ 17-18 cm trở lên có giá cao hơn hẳn so với giá nguyên liệu dùng để sản xuất giấy Ngoài ra keo lai còn dùng làm gỗ dán, ván dán cao cấp, gỗ xẻ dùng trong xây dựng, làm đồ gia dụng, dùng sản xuất các chủng nấm ăn, nấm dược liệu, cây keo được trồng và sản xuất một cách đại trà nên khi nhắm tới một sản phẩm nào đó sử dụng gỗ keo sẽ được các sản phẩm đồng bộ nhất… Chỉ cần trồng keo lai 5 năm là đã có thể thu hoạch Tuy nhiên, nếu muốn lợi nhuận cao hơn từ cây này, người trồng có thể để lâu hơn, giá trị cây keo lai sẽ tăng lên [25]
Tác dụng lớn nhất của phát triển rừng là chủ động tạo nguồn nguyên liệu trong nước cho ngành công nghiệp chế biến lâm sản.Thực tế, do diện tích rừng trồng ở nước ta hiện chủ yếu là rừng ngắn ngày, chất lượng gỗ không cao, 80% được sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp giấy Chỉ một lượng gỗ nhỏ khai thác trong nước được sử dụng trong chế biến đồ gỗ nội thất và mỹ nghệ, cho thu nhập cao Do vậy hàng năm có đến 60% lượng
gỗ keo là nhập sỉ cho các nhà máy chế biến gỗ dăm trên địa bàn tỉnh Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thanh Hóa về tình hình hoạt động sản xuất của các cơ sở băm dăm gỗ trên địa bàn, tính đến tháng 4/2016, toàn
trong khu kinh tế Nghi Sơn đã có 6 nhà máy chế biến gỗ Để đáp ứng nhu cầu chế biến gỗ, hàng năm các doanh nghiệp phải nhập khẩu từ 70 - 80% gỗ nguyên liệu từ nước ngoài
Trang 31Do giá gỗ nguyên liệu thời gian gần đây ở mức cao nên người dân tích cực hưởng ứng chương trình trồng rừng Mỗi năm toàn tỉnh trồng mới từ 8.000 – 10.000 ha rừng nguyên liệu, góp phần tạo việc làm, đem lại thu nhập
ổn định tại hầu hết các địa phương trong tỉnh Giá gỗ nguyên liệu giấy đang tăng cao là điều đáng mừng, song từ nhiều năm nay giá m t hàng này không bền vững mà bấp bênh, lúc thấp, lúc cao tùy thuộc vào nhà nhập khẩu
Từ năm 2013 đến nay, giá gỗ nguyên liệu giấy trên địa bàn nước ta liên tục tăng, hiện đang ở mức 1,2 – 1,3 triệu đồng/tấn (tăng 200- 300 ngàn đồng/tấn so với năm trước), nên người trồng rừng rất phấn khởi Với mức giá như hiện nay, mỗi hec ta rừng trồng cho lãi 40 -60 triệu đồng
1.8 Một số kết quả nghiên cứu về nuôi trồng nấm linh chi trên khúc gỗ tự nhiên
Trong những năm qua việc nuôi trồng nấm Linh Chi thường theo ba phương pháp chính: cấy trên các khúc gỗ, cấy trong chai lọ hay túi nilon, và cấy trong bồn lớn Trong ba mươi năm qua, nhiều cuộc thí nghiệm đã được tiến hành để tìm xem phương pháp nào hiệu quả nhất và g t hái được loại phẩm chất tốt hơn cả Theo những kết quả thu lượm được, việc trồng Linh Chi trên thân cây có kết quả nhất Tuy nhiên, ngoài việc chọn gỗ, nhiều yếu tố khác cũng ảnh hưởng nhiều đến phẩm chất của cây nấm, đó là: giống đã chọn (strain), phương pháp cấy (method of cultivation), mùa thu hoạch (harvest time) và cách bào chế (treatment)
Ở Ấn Độ lợi thế hiện nay phương pháp trồng trọt là việc sử dụng các cành nhánh bên sau khi cắt tỉ và ch t bỏ của cây bạch dương được sử dụng một cách dễ dàng tại các vùng trồng cây bạch dương của phía Bắc Ấn Độ Việc trồng nấm Linh chi theo phương pháp mới này đã mang lại hiệu quả kinh tế và lợi nhuận cao (Singh S, 2013) [12]
Trang 32Trước nhu cầu rộng lớn của thị trường, từ năm 2012, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ Lạng Sơn đã tiến hành nghiên cứu, trồng thử nghiệm nấm Linh Chi đỏ với những kỹ thuật tiên tiến và công nghệ hiện đại Để xây dựng thành công quy trình sản xuất nấm trên thân cây gỗ, Trung tâm đã cử cán bộ đi tham quan, học tập và tiếp nhận quy trình sản xuất nấm từ Trung tâm nghiên cứu phát triển nấm và sản phẩm sinh học, thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn nấm Linh chi
Khi đưa vào nuôi trồng, Trung tâm đã áp dụng nghiêm ng t các quy trình, phương pháp kỹ thuật Trong quá trình ươm sợi và nuôi trồng, nhiệt độ mỗi giai đoạn luôn được kiểm tra, đảm bảo độ ẩm không khí đạt từ 80% - 90%, ánh sáng khuếch tán và kín gió Đ c biệt, trong thời gian từ khi nấm bắt đầu lên đến lúc thu hoạch, ngoài việc duy trì độ ẩm trong phòng thì phải tưới phun sương nhẹ trực tiếp trên bề m t túi giúp luôn duy trì độ ẩm
Nấm Linh Chi đỏ có thể trồng trên tất cả các loại cây thân gỗ như trám, keo, sau sau và mùn cưa… Do vậy, việc sản xuất nấm Linh Chi đỏ ở Lạng Sơn hiện nay còn tận dụng tối đa nguồn tài nguyên sẵn có, từ đó khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương
Trung tâm KH&SX lâm nông nghiệp Quảng Ninh cũng đã thử nghiệm giải pháp sử dụng gỗ có đường kính cây từ 15-20cm được xử lý thanh trùng
để đảm bảo gỗ khúc trước khi đưa vào trồng hoàn toàn sạch bệnh Sau đó, nấm giống được cấy vào giữa thân bằng khoan ho c chẻ ra làm đôi Toàn bộ những thân cây đã được cấy giống được ủ trong những phòng bảo ôn qua mùa đông từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, lúc đó hệ sợi nấm đã lan đầy các khúc
gỗ Các khúc gỗ được đưa vào những nhà trồng nấm được phủ những màn nhựa ho c đ t trên m t đất và được phủ một lớp đất trên bề m t; có thể rải lên một lớp phân hữu cơ mỏng, đảm bảo độ ẩm luôn luôn được giữ vào khoảng 85-90% Sau một thời gian mầm nấm mọc lên từ thân gỗ dưới đất tạo thành cuống nấm và tăng trưởng ngang tạo quả thể, quả thể (tai nấm) tăng trưởng
Trang 33ngày càng to đến cuối tháng 10, đầu tháng 11 thì thu hoạch Tai nấm lớn trọng lượng khô mỗi tai có thể từ 200g-400g Thời gian ủ nấm qua mùa đông là 6 tháng và thời gian để hình thành và tăng trưởng quả thể là khoảng 6 tháng, chu kỳ sản xuất kinh doanh là từ 11-12 tháng Được biết, Trung tâm đã ứng dụng thành công trên các loại gỗ không có tinh dầu, gỗ mềm, các cây thuốc thuộc họ thân thảo và đang nghiên cứu trồng nấm linh chi trên gỗ lim Giải pháp đã được ứng dụng trong thực tế tại các khu vực miền núi trên địa bàn tỉnh gần một năm nay và được người trồng nấm đánh giá cao
Trang 34CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Giống nấm
Giống nấm Hồng chi do Trung tâm nghiên cứu ứng dụng và phát triển
công nghệ sinh học Thanh Hóa phân lập, tuyển chọn, hiện đang phổ biến áp
dụng trong nuôi trồng ở Thanh Hóa và nhiều địa phương khác trong cả nước
2.1.2 Nguyên liệu
- Nguyên vật liệu cho nuôi trồng nấm: các loại nguyên liệu cho nuôi
trồng nấm: mùn cưa cao su, khúc gỗ keo lai, túi bóng kính (25x35), cổ nút, cám gạo, cám ngô, đường saccaroza, đường mantoza, mật rỉ, CaCO3, vôi bột,
ni lông, tre, cát, vòng chun, lưới che râm, đất, rơm khô…
- Thiết bị, nhà xưởng phục vụ cho nhân giống và nuôi trồng nấm: tủ cấy,
dụng cụ cấy, nồi hấp vô trùng, phòng cấy giống vô trùng, nhà nuôi trồng nấm
2.2 Nội dung nghiên cứu
1) Nghiên cứu đ c điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất của nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai trong điều kiện của Thanh Hóa
2) Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật phù hợp cho nuôi trồng nấm Hồng chi trên gỗ keo lai trong điều kiện của Thanh Hóa
3) Nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật, kinh tế mô hình nuôi trồng nấm Hồng chi trên gỗ keo lai trên cơ sở ứng dụng các kết quả nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
+ Thời gian nghiên cứu: 8 tháng, từ tháng 01/2017 đến tháng 8/2017
+ Địa điểm nghiên cứu: tại Trại thực nghiệm Quảng Thắng - Trung tâm nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thanh Hóa
Trang 352.3.2 hương pháp bố trí thí nghiệm
Bố trí các thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật nuôi trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của nấm Hồng Chi trên
gỗ keo lại, cụ thể như sau:
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đ c điểm sinh trưởng, phát triển,năng suất
của nấm Hồng Chi nuôi trồng trên gỗ keo lai:
Công thức 1: Nuôi trồng nấm Hồng Chi trên nguyên liệu mùn cưa (ĐC) Công thức 2: Nuôi trồng nấm Hồng Chi trên gỗ keo lai
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp xử lý nguyên
liệu đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai
Công thức 1: Không ngâm xử lý (ĐC)
Công thức 2: Ngâm trong dung dịch đường Mantoza 1%; 12-14 giờ Công thức 3: Ngâm trong dung dịch đường Mantoza 1% + vôi bột 1% 12-14 giờ
Thí nghiệm 3: Nghiên cứu nguồn cung cấp dinh dưỡng C đến sinh
trưởng, phát triển, năng suất của nấm Hồng chi nuôi trồng trên gỗ keo lai
Công thức 1: Không bổ sung đường (ĐC)
Công thức 2: Bổ sung đường Mantoza 1%
Công thức 3: Bổ sung đường sacarozơ 1%
Công thức 4: Bổ sung mật rỉ 1%
Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp cấy giống đến
sinh trưởng, phát triển, năng suất nấm Hồng Chi nuôi trồng trên gỗ keo lai
Công thức 1: Cấy giống trực tiếp trên gỗ (ĐC)
Công thức 2: Cây giống trên phụ gia bổ sung
Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của kiểu nhà nuôi trồng đến sinh
trưởng, phát triển, năng suất nấm Hồng Chi nuôi trồng trên gỗ keo lai
Công thức 1: Nuôi trồng trong nhà trồng nấm thông thường (ĐC)
Công thức 2: Nuôi trồng trên đất
Trang 362.3.3 Cách ố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên; mỗi công thức thí nghiệm 30 bịch nuôi trồng; nhắc lại 3 lần
2.3.3.1 Các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm
- Đối với các công thức nuôi trồng nấm trên mùn cưa: Nuôi trồng nấm Hồng Chi trên mùn cưa theo qui trình hiện đang phổ biến, cụ thể như sau:
* Sơ đồ qui tr nh kỹ thuật nuôi trồng nấm trên mùn cƣa
10- 15 ngày 10- 15 ngày
Xử lý nguyên liệu bằng nước vôi
(pH=12) Mùn cưa
Cấy giống - Phòng cấy giống vô trùng
Chăm sóc-
Thu hái- Chế biến
70-75 ngày
Độ ẩm đạt 62%
Trang 37* Đối với các công thức nuôi trồng nấm trên gỗ keo lai:
*Mô tả sơ đồ qui tr nh chung nuôi trồng trên khúc gỗ
* Giải thích quy trình
- Chuẩn bị nguyên liệu:
+ Chọn nguyên liệu nuôi trồng không bị nhiễm nấm mốc, không bị mục, gỗ còn tươi vừa được đốn ch t từ 10 -15 ngày Khúc gỗ keo lai được tập kết về nơi tiến hành thí nghiệm có chiều dài 12-15cm, đường kính từ 4-5cm
Trang 38+ Chuẩn bị cổ nút,vòng chun, bông, bột nhẹ (CaCO3) túi nilon chịu nhiệt 25x35cm, các phụ gia khác
- Xử lý nguyên liệu: Xử lý bằng cách ngâm trong nước 12-14h để độ ẩm
đạt 60-65%
- Đóng bịch: Đóng bịch bằng cách cho các khúc gỗ keo lai theo chiều
thẳng đứng vào trong túi nilon chịu nhiệt 25cm x 35cm bịch được đóng căng, tròn đều có trọng lượng khoảng 1,2 – 1,4kg, sau đó làm cổ và nút bông
- Hấp thanh trùng: Môi trường trồng linh chi phải được hấp khử trùng để
phòng trừ các bào tử và sợi nấm dại Thanh trùng bịch nuôi trồng được tiến hành bằng cách hấp cách thủy ở nhiệt độ 100oC kéo dài trong khoảng 10-12 giờ đối với nồi hấp thanh trùng không có áp suất ho c từ 105 – 115o
C kéo dài 3 - 4h đối với nồi có áp suất Sau khi hấp đủ thời gian và nhiệt độ thanh trùng giảm xuống 70 -75oC thì mở lò và vận chuyển ngay bịch vào phòng cấy giống
+ Cách cấy giống: Để bịch nguyên liệu nguội dưới ngưỡng 280C (trong khoảng 12-14h) khử trùng tủ cấy và dụng cụ cấy bằng cồn Đốt lửa đèn cồn trong tủ cấy, điều chỉnh ngọn lửa cao 3-4cm.Tiếp tục dùng tay mở nút bông, khều một lượng giống từ chai giống sang bịch nấm (10-12g/ 1 bịch), đậy nút bông, lắc nhẹ cho giống không dính vào nút bông
- Ươm sợi: Sau khi cấy giống chuyển các bịch nấm sang nhà ươm sợi
Thời gian ươm sợi kéo dài 15-30 ngày Sau khi cấy giống từ ngày thứ 3 trở đi cần kiểm tra để loại bỏ những bịch nhiễm mốc xanh, mốc đen, mốc vàng hoa cau Liên tục duy trì độ ẩm không khí trong nhà ươm sợi từ 75% trở lên để bịch ra quả thể tốt Khoảng 20-30 ngày kể từ ngày cấy giống khi quan sát thấy
Trang 39sợi tơ nấm lan ¾ bịch và xuất hiện quả thể nấm nhú ra ở m t báo bọc cổ nút thì giai đoạn ươm sợi đã kết thúc Chuyển các bịch sang nhà nuôi trồng để chăm sóc
- Chăm sóc: Tiến hành tưới nước dưới dạng sương mù lên các bịch
nấm Nhà chăm sóc nấm có mái che, thoáng mát, ánh sáng khuyếch tán đều, không có gió lùa vào thổi ngang giàn nấm để hạn chế sự phân thùy của quả thể ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm Luôn duy trì nhiệt độ trong nhà nuôi trồng nấm từ 22 – 300C và độ ẩm đạt 80 – 95%
* Đối với các thí nghiệm nuôi trồng nấm trên gỗ keo lai ngoài yếu tố thí nghiệm, quy trình kỹ thuật được áp dụng giống như quy trình chung sản xuất nấm trên khúc gỗ, nhưng ở các thí nghiệm khác nhau ta sẽ thay đổi theo các công thức thí nghiệm nghiên cứu
2.3.3.2 Phương pháp xây dựng mô hình
Xây dựng mô hình nuôi trồng nấm Hồng chi trên cơ sở kết quả nghiên cứu theo 2 công thức thử nghiệm:
Công thức 1: Nuôi trồng nấm Hồng Chi trên mùn cưa theo qui trình hiện đang phổ biến
Công thức 2: Nuôi trồng nấm Hồng Chi trên gỗ keo lai trên cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu của từng thí nghiệm:
Trang 40- Các công thức thử nghiệm được bố trí l p lại 3 lần (300 bịch nuôi trồng/công thức/lần nhắc lại)
- Kỹ thuật nuôi trồng áp dụng trong nhà nuôi trồng, ngoài yếu tố giống, nguyên liệu nuôi trồng và thành phần bổ sung dinh dưỡng, các biện pháp kỹ thuật nuôi trồng khác được áp dụng thống nhất theo qui trình chung
2.4 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
2.4.1 Quá trình hình thành và phát triển của hệ sợi nấm
- Thời gian từ cấy giống đến ngày bắt đầu xuất hiện hệ sợi nấm (ngày): là
số ngày từ cấy giống đến khi xuất hiện hệ sợi lan bám vào cơ chất nuôi trồng
- Thời gian từ cấy giống đến ngày hệ sợi nấm lan kín bịch nuôi trồng (ngày): Tính từ ngày cấy giống đến ngày hệ sợi nấm lan kín toàn bộ cơ chất
nuôi trồng
- Tốc độ lan truyền của hệ sợi nấm (cm/ngày): bằng chiều cao bịch nuôi
trồng chia cho số ngày từ khi xuất hiện hệ sợi nấm đến ngày hệ sợi nấm lan kín bịch nuôi trồng
- Tỷ lệ bịch nhiễm: Định kỳ 3 ngày 1 lần theo dõi tỷ lệ nhiễm của các
bịch nuôi trồng để loại bỏ các bịch bị nhiễm mốc Tính tỷ lệ nhiễm
Số bịch bị nhiễm
Tỷ lệ nhiễm(%) = x 100
Số bịch nuôi trồng ban đầu
2.4.2 Quá trình hình thành và phát triển của quả thể nấm
- Thời gian từ cấy giống đến ngày bắt đầu hình thành quả thể (ngày): là
số ngày từ cấy giống đến khi có 50% số bịch theo dõi có mầm quả thể xuất hiện vượt khỏi cổ túi nuôi trồng Định kỳ 5 ngày theo dõi 1 lần kể từ khi hệ sợi nấm lan kín toàn bộ cơ chất nuôi trồng
- Thời gian từ cấy giống đến ngày hình thành quả thể (ngày): là số
ngày từ cấy giống đến khi có 50% số bịch theo dõi có quả thể xuất hiện rõ với đầy đủ cuống nấm và mũ nấm Định kỳ 5 ngày theo dõi 1 lần kể từ ngày bắt đầu hình thành quả thể