1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trƣờng giáo dục hõa nhập ở các trƣờng mầm non thành phố thanh hóa, tỉnh thanh hóa

154 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Vũ Thị Thu Thủy
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Thu Hà
Trường học Trường Đại Học Hồng Đức
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính bởi vậy, dạy kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập sẽ mang lại cho các em nhiều lợi ích về mặt sức khỏe, tâm lý, giáo dục và cả văn hóa xã hội giú

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

VŨ THU THỦY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN TRONG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC HÕA NHẬP Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8140114

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Thu Hà

THANH HÓA, NĂM 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã được công bố

Người cam đoan

Vũ Thu Thủy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Cô giáo, TS Lê Thị Thu Hà - Người đã chỉ bảo, hướng dẫn em một cách tận tâm, chu đáo giúp em hoàn thành luận văn

Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các Thầy Cô giáo khoa Tâm lý – Giáo dục, phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học và Ban lãnh đạo trường Đại học Hồng Đức đã hết sức tạo điều kiện để em có thể học tập và nghiên cứu

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các giáo viên và phụ huynh học sinh ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa: Mầm non Hàm Rồng, Mầm non Tân Sơn, Mầm non Điện Biên, Mầm non Lam Sơn, Mầm non Hoa Mai, Mầm non Ba Đình đã hợp tác, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu tại trường

Xin cảm ơn gia đình, anh chị em đồng nghiệp, bạn bè đã luôn ủng hộ

và giúp đỡ mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn

Do thời gian và khả năng nghiên cứu của bản thân còn có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Vũ Thu Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC CÁC BẢNG x

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp của luận văn 6

9 Cấu trúc nội dung của luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN TRONG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC HÕA NHẬP Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Những nghiên cứu về quản lý giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 7 1.1.2 Những nghiên cứu về quản lý giáo dục trẻ chậm phát triển trong môi trường hòa nhập 9

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 10

1.2.1 Quản lý 10

1.2.2 Trẻ chậm phát triển 11

1.2.3 Giáo dục hòa nhập cho trẻ chậm phát triển 12

1.2.4 Khái niệm về môi trường hòa nhập 13

1.2.5 Kỹ năng sống 14

Trang 5

1.2.7 Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển 15

1.2.8 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát 15

1.3 Những vấn đề chung về trẻ chậm phát triển 15

1.3.1 Tiêu chí chẩn đoán trẻ chậm phát triển 15

1.3.2 Phân loại trẻ chậm phát triển 16

1.3.3 Đặc điểm của trẻ chậm phát triển 18

1.4 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 24

1.4.1 Ý nghĩa của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 24

1.4.2 Mục tiêu và nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 25

1.4.3 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 26

1.4.4 Hình thức giáo dục kỹ năng kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 28

1.4.5 Các điều kiện thực hiện giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 30

1.5 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 31

1.5.1 Quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 31

1.5.2 Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 32

1.5.3 Quản lý phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 33

1.5.4 Quản lý hình thức giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở trường Mầm non 34

1.5.5 Quản lý kết quả công tác kiểm tra đánh giá giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 34

Trang 6

1.5.6 Quản lý các điều kiện thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm

phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 35

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non 36

1.6.1 Yếu tố khách quan 36

1.6.2 Yếu tố chủ quan 39

Kết luận chương 1 41

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN TRONG MÔI TRƯỜNG HÕA NHẬP Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ THANH HÓA 42

2.1 Vài nét khái quát về các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 42

2.1.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 42

2.1.2 Khái quát chung về trường lớp và đội ngũ giáo viên Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 42

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 43

2.2.1 Mục đích khảo sát 43

2.2.2 Nội dung khảo sát 43

2.2.3 Khách thể khảo sát 44

2.2.4 Phương pháp khảo sát 44

2.2.5 Chuẩn bị cho điểm và đánh giá 45

2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa 45

2.3.1 Thực trạng nhận thức về hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 45

2.3.2 Thực trạng nhận thức mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 47 2.3.3 Thực trạng nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển

Trang 7

2.3.4 Thực trạng phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 52 2.3.5 Thực trạng hình thức giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 54 2.3.6 Thực trạng các lực lượng tham gia giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 57 2.3.7 Thực trạng các điều kiện thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 59 2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa 62 2.4.1 Thực trạng quản lý mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 62 2.4.2 Thực trạng quản lý nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 63 2.4.3 Thực trạng quản lý phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 65 2.4.4 Thực trạng quản lý hình thức giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 66 2.4.5 Thực trạng quản lý các điều kiện thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 66 2.4.6 Thực trạng quản lý các lực lượng tham gia giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 67 2.4.7 Thực trạng quản lý kết quả giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 68 2.4.8 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở trường Mầm non 69 2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa 72

Trang 8

2.5.1 Ưu điểm 72

2.5.2 Hạn chế 73

2.5.3 Nguyên nhân 74

Kết luận chương 2 76

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN TRONG MÔI TRƯỜNG GDHN Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ THANH HÓA 77

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp: 77

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 77

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 77

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 78

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 78

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 78

3.2 Các biện pháp đề xuất 79

3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức cho CBQL, GV và PH trẻ về tầm quan trọng của GD KNS cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN 79

3.2.2 Xây dựng nội dung chương trình giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển trong môi trường hòa nhập 82

3.2.3 Chỉ đạo đa dạng hóa các phương pháp giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN 84

3.2.4 Chỉ đạo đa dạng hóa các hình thức GDKNS cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN 86

3.2.5 Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GV dạy KNS cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN 87

3.2.6 Quản lý việc phối hợp giữa nhà trường mầm non với gia đình trẻ và các lực lượng khác về giáo dục KNS cho trẻ em trong môi trường GDHN 89

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 93

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 94

3.4.1 Mục tiêu khảo nghiệm 94

3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 94

3.4.3 Cách thức khảo nghiệm 94

Trang 9

3.4.4 Thời gian khảo nghiệm 95

3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 95

Kết luận chương 3 97

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

1 Kết luận 98

2 Khuyến nghị 99

2.1 Đối với các cấp quản lý giáo dục 99

2.2 Đối với các trường Mầm non 99

2.3 Đối với phụ huynh trẻ chậm phát triển 100

2.4 Đối với các cấp chính quyền địa phương 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC P1

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng khách thể khảo sát 44Bảng 2.2 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV và PH về tầm quan

trọng của hoạt động giáo dục KNS cho trẻ CPT trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 46Bảng 2.3 Đánh giá của CBQL, GB về phương pháp giáo dục KNS cho

trẻ CPT trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 52Bảng 2.4 Thực trạng hình thức giáo dục KNS cho trẻ CPT trong môi

trường GDHN ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa 54Bảng 2.5 Thực trạng quản lý mục tiêu giáo dục KNS cho trẻ CPT trong

môi trường GDHN ở trường Mầm non 62Bảng 2.6 Thực trạng quản lý phương pháp giáo dục KNS cho trẻ CPT

trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 65Bảng 2.7 Thực trạng kết quả giáo dục kĩ năng sống giáo dục KNS cho

trẻ CPT trong môi trường GDHN ở trường Mầm non 68Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi 95

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việc giáo dục KNS cho trẻ ở giai đoạn lứa tuổi mầm non có vai trò quan trọng Ở giai đoạn này chính là thời điểm bước ngoặt, là sự kiện quan trọng khiến các nhà giáo dục cần quan tâm để giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm lý trong suốt thời kỳ mẫu giáo cũng như sự chuẩn bị tích cực cho trẻ đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học tập và cuộc sống

ở trường phổ thông, để trẻ bước vào lớp 1 với sự tự tin, thích nghi nhanh chóng với môi trường giáo dục mới Bởi vậy, giáo dục KNS đối với trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập lại càng phải quan tâm nhiều hơn nữa Trẻ chậm phát triển cũng là một nhóm trẻ trong xã hội, do đó trẻ chậm phát triển cần được quan tâm, chăm sóc, được đối xử tế nhị và công bằng Đặc biệt trẻ chậm phát triển còn được tạo mọi cơ hội học tập và phát triển bình thường như bao trẻ em khác Xuất phát từ quan điểm đó, việc chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển đã được khẳng định là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 7,8 triệu người khuyết tật và trong đó

có 1,3 triệu trẻ em khuyết tật (Trẻ chậm phát triển) Trẻ chậm phát triển còn gặp nhiều khó khăn để có cuộc sống tốt hơn, có sức khoẻ và khả năng Và điều kiện tiên quyết để giúp trẻ chậm phát triển hoà nhập cộng đồng chính là giáo dục và đặc biệt là giáo dục hoà nhập Theo Luật Trẻ em, Luật người khuyết tật, Công ước LHQ về quyền trẻ em; Công ước LHQ về quyền của người khuyết tật đều có các điều khoản đảm bảo trẻ em phải được đi học và được hưởng nền giáo dục tốt nhất Tuy vậy việc tiếp cận giáo dục với trẻ em chậm phát triển là một vấn đề phức tạp bởi vì mỗi dạng tật khác nhau đòi hỏi các phương pháp giáo dục, cách tiếp cận khác nhau Trẻ em chậm phát triển tham gia vào các mô hình giáo dục và mức độ giáo dục khác nhau ở từng đối tượng Mức độ tham gia vào giáo dục của trẻ em chậm phát triển cũng phụ thuộc vào khả năng đáp ứng của nhà trường tại địa phương và các chương trình, trung tâm, dự án dành cho trẻ chậm phát triển sẵn có trên địa bàn Một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ chậm phát triển đó là

Trang 13

thái độ và sự hiểu biết của cha mẹ, người chăm sóc trẻ hay chính những người bạn của trẻ tại trường học Với những gia đình coi trọng việc học hỏi kỹ năng, kiến thức cho trẻ gia đình đó sẽ dành nhiều thời gian, công sức, nguồn lực hơn so với những gia đình không đánh giá cao việc học cho trẻ chậm phát triển Chính bởi vậy, dạy kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập sẽ mang lại cho các em nhiều lợi ích về mặt sức khỏe, tâm lý, giáo dục và cả văn hóa xã hội giúp trẻ sớm có ý thức và khả năng thích nghi với cuộc sống, làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như cho cộng đồng

Trong những năm gần đây, giáo dục cho trẻ chậm phát triển trên khắp thế giới có xu hướng chủ yếu tiến tới giáo dục hòa nhập – trẻ chậm phát triển được học tập cùng một lớp học với các trẻ phát triển bình thường Đây là một bước tiến lớn trong quá trình phát triển giáo dục cho các nhu cầu đặc biệt, khi

sự tách biệt và các trường chuyên biệt đã trở thành phương pháp chính trong nhiều thập kỷ Vì vậy, để có được quyền được giáo dục này là một cuộc chiến dài hơi, bởi vì có ít người biết đến hoặc họ có những hiểu biết sai lầm về trẻ chậm phát triển Như Bản tuyên bố Salamanca (từ Hội nghị Quốc tế UNESCO ở Salamanca về Giáo dục Đặc biệt năm 1994) đã nói, giáo dục hòa nhập là “cách tốt nhất để đấu tranh với những thái độ phân biệt đối xử, để xây dựng một xã hội hòa nhập và tiến tới giáo dục cho tất cả mọi người” (UNESCO, 1994) Giáo dục hòa nhập mang lại cho trẻ chậm phát triển cơ hội tiếp xúc bình đẳng với nền giáo dục mà các trẻ em bình thường nhận được, dạy cho các em các kỹ năng và sự hiểu biết để thành công trong xã hội; Mang đến nhiều cơ hội việc làm, giúp trẻ chậm phát triển không chỉ sống độc lập mà còn trở thành những người có đóng góp tích cực cho xã hội Khiến cho tất cả các em được tiếp xúc với những người có hoàn cảnh khác nhau, giúp xây dựng một thái độ tích cực với sự đa dạng, nền móng vững chắc cho một xã hội hòa nhập Giáo dục hòa nhập sẽ đem lại lợi ích cho cả trẻ chậm phát triển

và trẻ bình thường bằng cách chuẩn bị cho các em cho một xã hội tích hợp phù hợp với quyền bình đẳng không thể chối bỏ của con người Việt Nam là một đất nước đã cam kết bảo vệ toàn bộ trẻ em, là tương lai của đất nước, vì

Trang 14

vậy cần đặt giáo dục hòa nhập làm trọng tâm hàng đâu trong các nỗ lực cải cách hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay

Xuất phát từ tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn của hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ

chậm phát triển ở trường MN nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt

động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” làm vấn đề nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp quản

lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ em lứa tuổi mầm non hiện nay

3 Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ CPT trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ CPT trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

4 Giả thuyết khoa học

Trong những năm qua, quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ CPT trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã đạt được những thành tựu nhất định song vẫn tồn tại nhiều hạn chế và bất cập trong công tác quản lý nên hiệu quả công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em mầm non chưa cao Nếu xác định được các nguyên nhân và đề xuất được những biện pháp quản lý giáo dục KNS phù hợp với điều kiện trên địa bàn thành phố, đảm bảo khoa học, có tính khả thì sẽ nâng cao hiệu quả việc GDKNS cho trẻ

Trang 15

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non

5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục

kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Khảo sát thực trạng ở 6 trường mầm non và xây dựng biện pháp quản

lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

6.2 Khách thể khảo sát:

- Cán bộ quản lý: 42 người

- Giáo viên: 118 người

- Phụ huynh: 38

6.3 Chủ thể quản lý: Hiệu trưởng trường Mầm non

6.4 Thời gian nghiên cứu: Số liệu được khảo sát ở các năm học 2018 -

2019, 2019 - 2020

7 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng các nhóm phương pháp sau:

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết nhằm nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu khoa học gồm các đề tài khoa học về bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên; các sách tham khảo, giáo trình, các bài báo khoa học; các luận văn thạc sĩ, luận

Trang 16

văn tiến sĩ, các tài liệu trong nước và nước ngoài… liên quan đến vấn đề nghiên cứu

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Đề tài sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phương pháp này

nhằm khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các cán bộ quản lý, giáo viên có

kinh nghiệm trong quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho

trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Từ thực tiễn nhằm tổng

hợp các ưu điểm, tồn tại, nguyên nhân và giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập

ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tiến hành xin ý kiến chuyên gia,

nghiên cứu hồ sơ lưu trữ, các văn bản tổng kết kinh nghiệm quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay

7.3 Phương pháp sử dụng toán thống kê

Phương pháp này sử dụng toán thống kê và phân tích số liệu Đây là khâu quan trọng sau khi tiến hành các phương pháp điều tra khác, đặc biệt là phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi Từ đó đánh giá định lượng, định tính được kết quả điều tra

Trang 17

8 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về giáo dục kĩ sống cho trẻ chậm phát triển, quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống trong môi trường giáo dục hòa nhập cho trẻ chậm phát triển ở các trường Mầm non

- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa phù hợp với thực tiễn

ở địa phương, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

9 Cấu trúc nội dung của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý GDKNS cho trẻ chậm phát triển

trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non

Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho

trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay

Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ

chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN TRONG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC HÕA NHẬP Ở CÁC TRƯỜNG

MẦM NON 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu về quản lý giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo

Kỹ năng sống và các vấn đề về giáo dục KNS cho con người đã được người xưa quan tâm từ việc học ăn, học nói, học gói, học mở; học để làm người, học để giao tiếp và học để sinh tồn Những kỹ năng đó chính là những

kỹ năng đơn giản nhất được tích lũy từ kinh nghiệm trong quá trình sống ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát có các tác giả P.Ia.Galperin, V.A.Crutexki, P.V.Petrovxki… Trong các công trình nghiên cứu của mình, P.Ia.Galperin chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể, các tác giả nghiên cứu kỹ năng ở các lĩnh vựchoạt động khác nhau như: kỹ năng lao động gắn với tên tuổi của các nhà tâm lý học – giáo dục (V.V.Tseburseva); kỹ năng học tập (G.X.Cochiuc, N.A.Menchinxcaia…); kỹ năng hoạt động sư phạm gắn với tên tuổi của các tác giả X.I.Kixegops, Nguyễn Như An, Nguyễn Văn Hộ…

“Kỹ năng sống có chủ yếu trong các chương trình hành động của UNESCO, WHO, UNICEF và chương trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài ngoài nước Ở hướng nghiên cứu này, các tác giả xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thể

và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thông các kỹ năng đó Trong chương trình giới thiệu những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị và kỹ năng ra quyết định” [24]

Giáo dục KNS ở Lào được bắt đầu quan tâm từ những năm 1997 với cách tiếp cận nội dung quan tâm đến giáo dục cách phòng chống HIV/AIDS được tích hợp trong chương trình giáo dục chính quy Năm 2001, giáo dục KNS ở Lào được mở rộng sang các lĩnh vực như giáo dục dân số, giới tính,

Trang 19

Tại Campuchia, người ta coi KNS là năng lực mà con người cần phải

có để nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia, kỹ năng tìm việc và kiếm tiền để nuôi sống bản thân, gia đình là những KNS quan trọng đối với thế hệ trẻ và người lớn Vì thế, họ phân loại KNS thành 3 nhóm chủ yếu:

và tăng cường sự đầu tư của địa phương và quốc tế, đồng thời sẽ tạo ra nhu cầu tự học của người học” [3]

Giáo dục KNS ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ: Các kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, kỹ năng sống trong gia đình Ở Ấn Độ, giáo dục KNS cho trẻ mầm non được xem xét dưới góc độ giúp con người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần, nhằm phát triển năng lực người Các KNS được khai thác giáo dục là các kỹ năng: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quan hệ liên nhân cách

Tác giả Nguyễn Thanh Bình (năm 2006) trong tác phẩm Giáo dục KNS

ở Việt Nam tác giả đã nêu lên Giáo dục KNS trong Giáo dục mầm non Tác giả đã đưa ra nội dung, chương trình giáo dục trẻ mầm non những năm 2003 Nội dung giáo dục theo 5 chủ đề, tác giả đã khái quát được nội dung giáo dục phù hợp với lứa tuổi mầm non những năm đầu thế kỷ XXI [2]

Tác giả Lê Bích Ngọc (2009) nghiên cứu Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi được viết dành cho các bậc phụ huynh có con từ 5-6 tuổi ở vùng nông thôn Tác giả đã đưa ra 7 nhóm kỹ năng sống cần giáo dục cho trẻ

5 đến 6 tuổi: Kỹ năng vận động, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng tình cảm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội, kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng nhận thức; Đưa ra cách thức giáo dục KNS cho trẻ [15]

Trang 20

1.1.2 Những nghiên cứu về quản lý giáo dục trẻ chậm phát triển trong môi trường hòa nhập

Việc nghiên cứu giáo dục trẻ chậm phát triển theo hướng hòa nhập được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm Các tác giả đều nhấn mạnh, giáo dục trẻ chậm phát triển đểu hướng hòa nhập xã hội không phải đơn thuần đem lại ý nghĩa riêng cho trẻ chậm phát triển mà quan trọng hơn,

nó tạo ra cộng đồng thân ái, xóa bỏ mọi phân biệt để xây dựng một xã hội bình đẳng cho tất cả mọi người

Ban đầu mô hình giáo dục trẻ chậm phát triển hội nhập xuất hiện ở Mỹ Năm 1950, mô hình giáo dục hội nhập xuất hiện ở nhiều nước Năm 1956, Philipin đã đưa trẻ điếc vào học ở trường phổ thông Năm 1945, Anh đưa trẻ chậm phát triển vào trường hội nhập

Cho đến năm 1960, trên toàn thế giới đã xuất hiện và trở thành trào lưu

tư tưởng tôn trọng giá trị và bình đảng cho mọi người, trong đó có trẻ em, từ đó giáo dục hòa nhập ra đời Ở đây, trẻ chậm phát triển được giáo dục ngay trong trường học của trẻ bình thường, tại công đồng nơi các em đang sinh sống

Những thành công của giáo dục hòa nhập được công nhận từ nửa đầu thế kỉ XX đã giúp số lượng trẻ khuyết tật, chậm phát triển của mọi quốc gia trên thế giới có cơ hội hòa nhập và phát triển Nhiều trẻ đã thành đạt, có cuộc sống bình thường như mọi người xung quanh

Tác giả Lê Văn Tạc trong cuốn “Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật” [19]

đã xem xét hiệu quả của công tác giáo dục hòa nhập trong việc xây dựng chương trình dạy học phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ khuyết tật, trẻ chậm phát triển Theo tác giả, dựa trên những điểm khác nhau về khả năng, nhu cầu, sở thích của trẻ chậm phát triển, sau đó dựa vào nội dung của môn học, bài học, trong lớp học hòa nhập có thể áp dụng một trong các cách điều chỉnh sau: phương pháp đồng loạt, phương pháp đa trình độ, phương pháp trùng lặp giáo án, phương pháp thay thế Việc điều chỉnh cần dựa vào khả năng của từng trẻ và cũng không có một phương pháp nào có thể áp dụng cho mọi trẻ chậm phát triển

Đứng ở góc độ quản lý giáo dục thì một số tác giả đã chú ý đến việc chỉ đạo, việc thực hiện giáo dục hòa nhập Cụ thể, các tác giả Lê Văn Tạc, Trần Ngọc Giao đã viết: “Cần nhìn trẻ khuyết tật như mọi trẻ em khác, những em

Trang 21

này cũng có năng lực nhất định… các em phải được tham gia một cách bình đẳng trong mọi công việc của cộng đồng để thực hiện lí tưởng của một xã hội cho mọi người” [6]

Trong những năm qua, ở trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non và Viện khoa học giáo dục đã thực hiện nhiều đề tài và dự án hợp tác quốc tế về giáo dục hòa nhập cho trẻ mầm non Bên cạnh đó, các tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trâm, Phạm Mai Chi, Trương Đắc Nguyên, Nguyễn Thị Thu Hà, Lê Thị Đức, Nguyễn Văn Hường, Trương Văn Đích… đã có những nghiên cứu

về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trí tuệ và xuất bản các tác phẩm như: Tài

liệu bồi dưỡng giáo viên mầm non về phát hiện sớm và giáo dục hòa nhập, Phương pháp giáo dục hòa nhập lứa tuổi mầm non…

Các tài liệu đã khẳng định tầm quan trọng của giáo dục hòa nhập cho trẻ chậm phát triển, đồng thời hướng dẫn các kỹ năng, phương pháp giáo dục trẻ, khẳng định tầm quan trọng của việc can thiệp sớm đối với trẻ chậm phát triển, trẻ khuyết tật Các tác giả chủ yếu nhấn mạnh đến việc vận dụng tổ chức, quản

lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở trường mầm non, mà chưa nghiên cứu một cách có hệ thống và khoa học về các thành tố của quản lý giáo dục Đặc biệt, chưa có tác giả nào nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển trong môi trường GDHN ở các trường Mầm non

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lý

Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người Nhu cầu quản lý ngày càng phát triển gắn với tiến trình phát triển của nhân loại, trở thành quan điểm, tư tưởng quan trọng Khái niệm quản lý được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau đó là: Cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức

Theo góc độ điều khiển thì quản lý là điều khiển, điều chỉnh

Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản

lý đến khách thể quản lý (hay đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất để đạt được mục đích đã định

Còn trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đặt ra, nó thường phụ thuộc vào hoạt động nghiên cứu của mỗi người

Trang 22

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến" [16; 4]

Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người,

sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành thành tựu của xã hội” [11;10]

Có nhiều khái niệm, cách định nghĩa khác nhau về quản lý, song có thể

hiểu: Quản lý là quá trình tác động có định hướng phù hợp quy luật khách

quan của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm khai thác phát huy tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và

cơ hội của tổ chức/hệ thống trên cơ sở đó đảm bảo cho tổ chức/hệ thống vận hành (hoạt động) tốt, đạt được các mục tiêu đã đặt ra với chất lượng và hiệu quả tối ưu trong các điều kiện biến động của môi trường

1.2.2 Trẻ chậm phát triển

Trẻ chậm phát triển là tình trạng không đạt được các mốc phát triển thông thường Chậm phát triển ở trẻ có thể biểu hiện qua các hình thức như trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, trẻ chậm phát triển hành vi và trẻ chậm phát triển nhận thức

- Trẻ chậm phát triển ngôn ngữ

+ Trẻ chậm nói: Chậm nói là khả năng nói của trẻ chậm hơn so với mốc

phát triển thông thường Mỗi trẻ là một là cá thể độc lập, cho nên thời điểm trẻ học nói là khác nhau nhưng thường trẻ sẽ bắt đầu bi bô nói từ 18 tháng tuổi Trẻ sau 2 tuổi chưa nói được từ nào bị xem là trẻ chậm nói

+ Trẻ tự kỷ: Trẻ không đáp ứng được các nhu cầu về giao tiếp trong cuộc sống thường ngày do trẻ chậm phát triển ngôn ngữ Trẻ mắc chứng tự kỷ chỉ có thể lặp đi lặp lại một số từ đơn giản hoặc lặp lại lời nói của người khác Trẻ tự kỷ thường gặp khó khăn với trò chơi giàu trí tưởng tượng và phát triển biểu tượng thành ngôn ngữ

- Trẻ chậm phát triển hành vi

+ Trẻ tăng động: Trẻ tăng động giảm chú ý thường chạy nhảy vận động không ngừng, không biết mệt mỏi Trẻ hay leo trèo như: trèo cây, trèo lên lan can đánh đu, trượt trên tay vịn cầu thang và bất chấp tất cả các nguy hiểm nhiều khi dẫn đến tình trạng bầm tím, gãy chân, gãy tay do ngã, do va đập Trẻ hay cáu gắt, hay để quên đồ hoặc mất đồ…

Trang 23

+ Trẻ tự kỷ: Trẻ tự kỷ thường có những hành vi bất thường như chống lại việc học và thực hành hoạt động mới hoặc trẻ có những hành vi có tính rập khuôn, lặp đi lặp lại (Ví dụ: vung vẩy hai cánh tay, hoặc đưa bàn tay lên gần mặt rồi xoắn vặn hoặc bật bật các ngón tay…), trẻ thường xếp đồ chơi, vật dụng thành hàng dài và rất khó chịu nếu như trật tự này bị thay đổi…

- Trẻ chậm phát triển nhận thức

Trẻ chậm phát triển nhận thức là một khiếm khuyết của sự phát triển trí tuệ Trẻ có chỉ số IQ thấp, khả năng tư duy kém và hạn chế về các kỹ năng thích ứng với xã hội Những khuyết tật này thường xuất hiện trước năm 18 tuổi

1.2.3 Giáo dục hòa nhập cho trẻ chậm phát triển

Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ chậm phát triển cùng học với trẻ em bình thường trong trường mầm non ngay tại nơi trẻ sinh sống Giáo dục hòa nhập dựa trên quan điểm xã hội trong việc nhìn

nhận trẻ chậm phát triển là những trẻ em có quyền bình đẳng như mọi trẻ

em khác [24]

Thuật ngữ giáo dục hòa nhập xuất phát từ Canada và được hiểu là trẻ ngoại lệ được hòa nhập, quy thuộc vào vào trường hòa nhập Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục cho mọi trẻ em, trong đó có trẻ khuyết tật, trong lớp học bình thường ở trường phổ thông Giáo dục hòa nhập là hỗ trợ mọi học sinh, trong đó có trẻ chậm phát triển, trẻ khuyết tật, cơ hội bình đẳng tiếp nhận dịch vụ giáo dục với những hỗ trợ cần thiết trong lớp học phù hợp tại trường mầm non nơi trẻ sinh sống nhằm chuẩn bị trở thành những thành viên đầy đủ của xã hội Hòa nhập không có nghĩa là “xếp chỗ” cho trẻ khuyết tật trong trường, lớp mầm non và không phải tất cả mọi trẻ đều đạt trình độ hoàn toàn như nhau trong mục tiêu giáo dục.Giáo dục hòa nhập đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết để mọi đứa trẻ phát triển hết khả năng của mình Sự hỗ trợ cần thiết

đó được thể hiện trong việc điều chỉnh chương trình, các đồ dùng dạy học, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt, các kỹ năng giảng dạy đặc thù… Trường hòa nhập là

tổ chức giải quyết vấn đề đa dạng nhằm chú trọng đến việc học của mọi trẻ Mọi giáo viên, cán bộ và nhân viên nhà trường cam kết làm việc cùng nhau tạo ra việc học tập và môi trường trách nhiệm để mọi trẻ được chia sẻ

Trang 24

Giáo dục hòa nhập dựa trên quan điểm tích cực về trẻ chậm phát triển Mọi trẻ chậm phát triển đều có những năng lực nhất định Chính từ sự đánh giá đó mà trẻ chậm phát triển được coi là chủ thể chứ không phải là đối tượng thụ động trong quá trình tiếp nhận các tác động giáo dục Từ đó, người ta tập trung quan tâm, tìm kiếm những cái mà trẻ chậm phát triển có thể làm được Các em sẽ làm tốt những việc phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình.Trong giáo dục, gia đình, cộng đồng xã hội cần tạo ra sự hợp tác và hòa nhập với các em trong mọi hoạt động Vì thế các em phải được học ngay ở trường học gần nhất, nơi các em sinh ra và lớn lên Các em luôn được gần gũi gia đình, luôn được sưởi ấm bằng tình yêu thương của cha mẹ, anh chi em của mình và được cả cộng đồng đùm bọc, giúp đỡ Trẻ chậm phát triển sẽ được học cùng một chương trình, cùng lớp, cùng trường với các bạn học sinh bình thường Cũng như mọi học sinh khác, học sinh chậm phát triển là trung tâm của quá trình giáo dục Các em được tham gia đầy đủ và bình đẳng mọi công việc trong nhà trường và cộng đồng để thực hiện lý tưởng “trường học cho mọi trẻ em, trong một xã hội cho mọi người” Chính quan điểm đó tạo cho trẻ chậm phát triển niềm tin, lòng tự trọng, ý chí vươn lên để đạt đến mức cao nhất mà năng lực của mình cho phép

1.2.4 Khái niệm về môi trường hòa nhập

Môi trường giáo dục trong trường mầm non cho mọi trẻ nói chung và cho trẻ chậm phát triển trí tuệ nói riêng, theo tổng thể bao gồm: yếu tố môi trường vật chất và yếu tố môi trường tâm lý Trong đó, môi trường vật chất là môi trường với các điều kiện về cơ sở vật chất, đồ dùng, các phương tiện thiết

bị đảm bảo cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục và dạy học Môi trường tâm lý là môi trường thân thiện, chia sẻ, hợp tác và vòng tay bạn bè Ở đó diễn ra sự tương tác về tâm lý, tình cảm giữa trẻ - trẻ, trẻ - giáo viên, giáo viên – giáo viên, trẻ - môi trường vật chất, đồng thời là nơi diễn ra quá trình thống nhất trong giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ

Môi trường hòa nhập thân thiện là ở đó trẻ chậm phát triển trí tuệ được tôn trọng sự khác biệt và không phân biệt đối xử trên cơ sở nhìn nhận tính đa dạng của trẻ về trình độ nhận thức, đặc điểm hành vi, trải nghiệm… Môi trường hòa nhập an toàn, không có bạo lực, không sử dụng hình phạt về thể chất và tâm lý đối với trẻ Giáo viên và mọi thành viên trong nhà trường, lớp học tin tưởng và hỗ trợ trẻ chậm phát triển trí tuệ trong các hoạt động giáo

Trang 25

dục KNS Đảm bảo sự hợp tác, sự tham gia của gia đình trẻ và cộng đồng địa phương trong quá trình giáo dục trẻ chậm phát triển, đặc biệt là hoạt động giáo dục KNS cho các em

Tạo ra môi trường hòa nhập thân thiện kích thích trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động của lớp học Được học tập trong môi trường hòa nhập ở trường mầm non giúp trẻ chậm phát triển có được cảm giác an toàn, được thừa nhận và tôn trọng Các em sẽ tự tin và hứng thú tham gia vào các hoạt động do giáo viên tổ chức, đặc biệt là hoạt động giáo dục KNS cho các em

1.2.5 Kỹ năng sống

Theo quan điểm của UNESCO, KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày (UNESCO Hà Nội, 2003)

Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý xã hội liên quan đến tri thức, những giá trị và những thái độ Bốn trụ cột giáo dục của thế kỉ XXI là một cách tiếp cận KNS Đó chính là sự kết hợp các kĩ năng tâm lí xã hội (Học để biết là KNS liên quan đến tri thức; Học để tự khẳng định mình là KNS liên quan đến giá trị; Học để cùng chung sống là KNS liên quan đến thái độ; Học

để làm liên quan đến kĩ năng thực hành)

Theo Tổ chức Y thế thế giới (WHO), KNS là những năng lực đáp ứng

và những hành vi tích cực giúp cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày

KNS là những kĩ năng mang tính tâm lý xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày [3; tr.12]

Như vậy, quan niệm cho rằng KNS là năng lực để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày có nội hàm rộng hơn vì nó sẽ bao gồm cả những kĩ năng cơ bản như: kĩ năng đọc, viết, làm tính… Đây chính là cơ sở dẫn đến điểm riêng trong phân loại về KNS trong giáo dục thường xuyên Quan niệm KNS là những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội giúp giải quyết có hiệu quả những tình huống trong cuộc sống… có nội hàm hẹp hơn, nhưng là những kĩ năng phức tạp hơn đòi hỏi sự tổng hợp các yếu tố kiến thức, thái độ và hành vi Quan niệm này được vận dụng phổ biến trong giáo dục chính quy

Trang 26

Kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội KNS mang tính cá nhân vì đó là năng lực của cá nhân.KNS còn mang tính xã hội

vì trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở mỗi vùng miền lại đòi hỏi mỗi cá nhân có những KNS thích hợp KNS không phải chỉ để giải quyết những vấn đề tệ nạn xã hội mà nó còn giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của con người

Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm về KNS, chúng tôi thống nhất với

định nghĩa về KNS của WHO: KNS là những khả năng để thích nghi và có

những hành vi tích cực, giúp cá nhân đối mặt một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày

1.2.6 Giáo dục kỹ năng sống

Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình cùng cộng sự cho rằng “Giáo dục kỹ

năng sống thực chất là rèn năng lực tâm lý xã hội cho con người và giúp họ

có những hành vi tích cực, mang tính xây dựng, thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thích hợp” [3; tr47]

Chúng tôi cũng đồng quan điểm với các tác giả trên

1.2.7 Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển

Từ khái niệm về Giáo dục kỹ năng sống nêu trên, chúng tôi cho rằng:

Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển là rèn năng lực tâm lý xã hội cho trẻ không đạt được các mốc phát triển thông thường, giúp trẻ có những hành vi tích cực, thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp trẻ có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng phù hợp với lứa tuổi

1.2.8 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển

Theo chúng tôi: Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho trẻ chậm phát

triển là những tác động một cách có hệ thống, có tổ chức và kế hоạch củа chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý trong hоạt động giáo dục kỹ năng sống với trẻ không đạt được các mốc phát triển thông thường nhằm thực hiện mục đích phát triển tоàn diện nhân cách chо trẻ em

1.3 Những vấn đề chung về trẻ chậm phát triển

1.3.1 Tiêu chí chẩn đoán trẻ chậm phát triển

Theo DSM-V, có 3 tiêu chí để chẩn đoán khuyết tật trí tuệ:

(1) Suy giảm chức năng trí tuệ thể hiện trong sự lí giải, giải quyết vấn

Trang 27

trải nghiệm, được thực hiện bởi những đánh giá lâm sàng và trắc nghiệm trí thông minh cá nhân mang tính tiêu chuẩn và chỉ số thông minh đạt gần 70

(2) Bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết trong chức năng thích ứng kết quả

là gặp thất bại trong việc đạt được các tiêu chuẩn về sự phát triển và tiêu chuẩn văn hóa xã hội đối với sự độc lập cá nhân và trách nhiệm xã hội Nếu không có sự hỗ trợ liên tục, những thiếu hụt về kĩ năng thích ứng sẽ hạn chế

sự thích ứng ở một hoặc hơn các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày như giao tiếp, sự tham gia về mặt xã hội, sống độc lập, vượt qua nhiều môi trường như: ở nhà, ở trường, nơi làm việc và cộng đồng

(3) Những suy giảm về trí tuệ và thích ứng diễn ra trong suốt quá trình phát triển và khuyết tật trí tuệ xuất hiện trước 18 tuổi

Chức năng trí tuệ tổng quát là chỉ số thông minh (có thể gọi là IQ hoặc các thuật ngữ tương đương với IQ) được đánh giá bằng một hoặc hơn một trắc nghiệm trên cá nhân về trí thông minh.Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình

là chỉ số thông minh đạt khoảng từ 70 hay thấp hơn (chỉ khoảng 2 điểm so với chuẩn này)

Khả năng thích ứng có nghĩa là mức độ theo kịp yêu cầu của cuộc sống chung của cá nhân và khả năng độc lập, kiến thức văn hóa - xã hội và khả năng hòa nhập cộng đồng ở một lứa tuổi nào đó so với mức độ chuẩn mực

Khả năng thích nghi có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, chẳng hạn như giáo dục, động cơ, cá tính, cơ hội về xã hội và dạy nghề, rối loạn tinh thần và những vấn đề sức khỏe có thể xuất hiện cùng với khuyết tật trí tuệ Những khó khăn về khả năng thích nghi có thể cải thiện đáng kể nhờ

sự can thiệp của các nỗ lực giáo dục, còn chỉ số trí tuệ thì khó hơn

1.3.2 Phân loại trẻ chậm phát triển

Theo bảng phân loại DSM-IV, có 4 mức độ chậm phát triển trí tuệ như sau:

- Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức độ nhẹ

Trẻ chậm phát triển trí tuệ nhẹ có thể đạt tuổi trí tuệ từ 7 đến 12 tuổi (IQ từ 50,55 đến khoảng 70) Ở độ tuổi mầm non, trẻ không có sự khác biệt rõ ràng Trẻ trong độ tuổi đến trường và người lớn thì tập trung những kĩ năng học tập liên quan đến việc đọc, thời gian viết toán hoặc tiền Ở người lớn, tư duy trừu tượng, lập kế hoạch linh hoạt nhận thức có phần bị suy yếu

Khả năng tương tác xã hội của trẻ kém, trẻ gặp một số khó khăn trong việc thu thập các tín hiệu giao tiếp xã hội bằng ngôn ngữ hơn so với các bạn

Trang 28

đồng trang lứa Khó khăn có thể trong điều tiết cảm xúc và hành vi thích ứng với lứa tuổi

Ở trẻ chậm phát triển mức độ nhẹ, kĩ năng chăm sóc cá nhân có thể phù hợp với lứa tuổi, nhưng các nhiệm vụ phức tạp hơn có thể cần hỗ trợ Ví dụ: mua sắm đồ ăn, vận chuyển đồ đạc, chuẩn bị thực phẩm và quản lý tiền

- Trẻ chậm phát triển trí tuệ ở mức độ trung bình

Trẻ chậm phát triển trí tuệ ở mức độ trung bình đạt chỉ số trí tuệ IQ từ

35, 40 đến 50, 55 Kĩ năng khái niệm của trẻ giảm rõ rệt về phát triển ngôn ngữ và kĩ năng học đường Trẻ em ở độ tuổi đi học tiến bộ trong việc đọc viết hiểu biết về thời gian và tiền bạc nhưng chậm hơn so với các bạn đồng trang lứa Người lớn phát triển kĩ năng học tập là ở cấp tiểu học Hỗ trợ liên tục cần thiết trong việc ra quyết định khái niệm

Có sự khác biệt trong xã hội và giao tiếp của trẻ chậm phát triển ở mức

độ trung bình so với các bạn đồng trang lứa Ngôn ngữ diễn đạt đơn giản hơn nhiều so với các bạn khác Trẻ gặp vấn đề với nhận thức các thông tin trong các tình huống xã hội Trẻ bị giới hạn khả năng đánh giá và đưa ra quyết định của mình Trẻ cần nhiều sự trợ giúp trong cuộc sống

Trẻ có thể chăm sóc bản thân tốt ở tuổi trưởng thành Người lớn thường

có thể tham gia vào tất các công việc gia đình Có thể làm việc với sự hỗ trợ đáng kể tại nơi làm việc

- Trẻ chậm phát triển trí tuệ ở mức độ nặng

Trẻ chậm phát triển trí tuệ ở mức độ nặng đạt chỉ số trí tuệ IQ từ 20, 25 đến 35, 40 Ở mức độ này, trẻ hạn chế đạt được các kĩ năng khái niệm Trẻ ít hoặc không hiểu về ngôn ngữ và toán, thời gian và tiền bạc Trẻ cần hỗ trợ rất nhiều để giải quyết vấn đề

Trong lĩnh vực xã hội, ngôn ngữ nói của trẻ bị hạn chế về từ vựng và ngữ pháp Giao tiếp của trẻ được tập trung vào các sự kiện hàng ngày Trẻ cần

hỗ trợ cho mọi hoạt động trong cuộc sống hàng ngày Cần giám sát trẻ mọi lúc

- Trẻ chậm phát triển trí tuệ ở mức độ rất nặng

Trẻ chậm phát triển trí tuệ ở mức độ rất nặng đạt chỉ số trí tuệ IQ dưới

20 hoặc 25 Trẻ không có khái niệm về các biểu tượng, một số chức năng của các đồ vật, mặc dù điều này có thể bị hạn chế bởi các kĩ năng vận động thô và tinh

Trang 29

Trẻ có thể hiểu các hướng dẫn đơn giản và tín hiệu Trẻ sử dụng các tín hiệu không lời để thể hiện Có thể trả lời và cảm thấy thoải mái với những người thân quen Có thể bắt đầu tương tác xã hội với những người như vậy thông qua các cử chỉ đơn giản Các vấn đề về cảm giác và thể chất có thể gây ảnh hưởng đến các hoạt động xã hội

Trẻ phụ thuộc vào người khác về tất cả các công việc liên quan đến chăm sóc cơ thể hàng ngày Việc tham gia các hoạt động hàng ngày bị hạn chế Một số nhiệm vụ cụ thể đơn giản như mang bát đĩa đến bàn có thể được hoàn thành Trẻ cùng lúc bị suy giảm thể chất và cảm giác là rào cản đối với

sự tham gia vào các hoạt động tự phục vụ

1.3.3 Đặc điểm của trẻ chậm phát triển

1.3.3.1 Đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao của trẻ chậm phát triển

Các công trình nghiên cứu về hoạt động thần kinh cấp cao của I.P Pavlov đã chỉ ra 4 đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao của trẻ chậm phát triển như sau:

- Quá trình hình thành các kiến thức mới diễn ra chậm chạp và không vững chắc Nguyên nhân cơ bản là do các chức năng của vỏ não bị suy giảm,

trẻ rất khó khăn trong việc tiếp thu và lĩnh hội các kiến thức mới Để hình thành một khái niệm mới cho trẻ, giáo viên cần nhiều thời gian, công sức và phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau

- Khó khăn trong quá trình phân biệt hóa Sự hình thành các mối quan

hệ mới phụ thuộc vào cường độ của quá trình hưng phấn và ức chế Nếu quá trình hưng phấn yếu sẽ gây khó khăn cho quá trình biến đổi các mối quan hệ mới; nếu quá trình ức chế yếu, quá trình phân biệt hóa sẽ gặp khó khăn Đối với những trẻ bị chấn thương não, khả năng làm việc của các tế bào thần kinh giảm sút, cho nên sau thời gian làm việc ngắn, các tế bào thần kinh rơi vào trạng thái ức chế, làm cho hoạt động trí tuệ của trẻ giảm đi rõ rệt, quá trình học tập trở nên khó khăn

- Tính thụ động cao Trẻ chậm phát triển thường có biểu hiện không

hứng thú trong hoạt động học tập, thờ ơ với mọi công việc, lãnh đạm với mọi người xung quanh, thiếu chú ý trong mọi công việc và không thích học Trẻ chậm phát triển có thể ngồi im, ít tham gia các hoạt động với bạn bè cùng lứa tuổi và tỏ ra mệt mỏi

Trang 30

- Hệ thống tín hiệu thứ hai (ngôn ngữ) kém phát triển Khi giải quyết

nhiệm vụ, trẻ chậm phát triển thường không thích làm theo chỉ dẫn bằng lời nói mà chỉ làm theo sự tri giác trực quan Nguyên nhân của hiện tượng này là

do sự phá hủy mối quan hệ giữa hệ thống tín hiệu thứ nhất với hệ thống tín hiệu thứ hai

1.3.3.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ chậm phát triển

- Đặc điểm quá trình nhận thức của trẻ chậm phát triển

+ Đặc điểm phát triển cảm giác – tri giác của trẻ chậm phát triển

Thời gian tri giác chậm chạp: Trẻ chậm phát triển tri giác các đối

tượng chậm hơn trẻ bình thường, trong một thời gian nhất định thì khối lượng thông tin các em thu nhận được ít hơn so với trẻ bình thường (chỉ bằng 40%

so với trẻ bình thường) Tri giác thị giác của trẻ cũng rất hạn chế, khả năng phân biệt bắt chước các hình dạng kém.Trẻ bình thường khi muốn tri giác một

đồ vật quen thuộc chỉ cần nhìn qua là gọi được tên, nhưng với trẻ chậm phát triển thì quá trình này đòi hỏi nhiều thời gian hơn

Khả năng phân biệt kém: Khi đưa cho trẻ chậm phát triển một bức

tranh và yêu cầu trẻ quan sát rồi kể lại những gì thấy trong tranh, hầu hết các

em đều không hiểu được bố cục bức tranh, không phân biệt được nét mặt vui, buồn của nhân vật trong tranh, không phân biệt được các đối tượng gần giống nhau, chẳng hạn như con chuột và con dơi, cái la bàn và cái đồng hồ, con sóc

và con mèo… Những trẻ gặp khó khăn khi phân biệt màu sắc, hình dáng, độ lớn, đặc biệt là những đồ vật có hình dạng gần giống nhau như hình vuông hay hình chữ nhật.Trẻ cũng rất khó phân biệt và nhận biết âm thanh

Thiếu tích cực trong quá trình tri giác: Trong quá trình quan sát, trẻ

thường có biểu hiện không muốn xem xét kĩ càng các chi tiết, không muốn hiểu rõ nội dung cần tri giác mà chỉ muốn tri giác qua loa, hời hợt Do thần kinh bị yếu nên quá trình tri giác, thính giác của trẻ gặp khó khăn và có biểu hiện kém phát triển Không phân biệt tốt âm thanh là nguyên nhân gây ra sự kém phát triển về ngôn ngữ, tư duy và khả năng định hướng trong môi trường xung quanh

Ngưỡng cảm giác của trẻ có nhiều bất thường.Phần lớn cảm giác của

trẻ chậm phát triển nhạy cảm hơn so với trẻ bình thường, có nghĩa là ngưỡng cảm giác phía dưới và ngưỡng cảm giác phía trên của trẻ thấp, do đó độ nhạy

Trang 31

cảm của cảm giác cao Một số trẻ chậm phát triển không nhạy cảm hoặc quá nhạy cảm với các kích thích: Trường hợp này không nhiều và rơi vào một số trẻ thuộc nhóm trẻ chậm phát triển đi kèm các hội chứng như tự kỷ, AD/HD, Rett… Trẻ rất thiếu hoặc quá nhạy cảm với các âm thanh, ánh sáng cũng như các kích thích khác

Khó khăn trong quá trình tri giác không gian: Khả năng bao quát các

sự vật của trẻ chậm phát triển hạn chế, trẻ khó có khả năng tri giác cùng một lúc nhiều đối tượng mà chỉ có thể tri giác tốt khi tập trung vào một đối tượng Tính bất thường trong tri giác đặc điểm này rơi vào một số trẻ chậm phát triển

đi kèm tự kỷ và tăng động, giảm chú ý Khi quan sát đối tượng, trẻ bình thường thì nhìn thấy tổng thể của nó, nhưng trẻ chậm phát triển chỉ nhìn tới chi tiết của đối tượng đó thôi

Hoạt động của hệ thống cảm giác tiền đình khó khăn như: Khả năng

giữ thăng bằng của trẻ không tốt, trẻ cần được người lớn chú ý luyện tập và hướng dẫn từ khi còn nhỏ, một số trẻ chậm phát triển cũng gặp khó khăn về khả năng định hướng không gian như phân biệt phải trái, trên dưới…

+ Đặc điểm trí nhớ của trẻ chậm phát triển

Trẻ chậm phát triển thường khó khăn trong việc ghi nhớ tài liệu học tập, nếu không luyện tập thường xuyên thì trẻ sẽ quên hết mọi kiến thức.Đó là hiện tượng chậm nhớ chóng quên Đây cũng là hệ quả tất yếu kho hoạt động thần kinh cấp cao của trẻ chậm phát triển có những vấn đề rối nhiễu

Ghi nhớ máy móc tốt hơn ghi nhớ có ý nghĩa: Trẻ chậm phát triển

thường nhớ các sự kiện, đồ vật hoặc kiến thức như cách học vẹt, không hiểu ý nghĩa vì các em ít phân tích thông tin

Ghi nhớ trực tiếp tốt hơn ghi nhớ gián tiếp: Ghi nhớ trực tiếp là cách

ghi nhớ không thông qua mã hóa hay biểu tượng, còn ghi nhớ gián tiếp là hình thức ghi nhớ thông qua mã hóa biểu tượng Trẻ chậm phát triển thường không thể mã hóa thông tin tốt và cũng không biết “đọc” các kí hiệu mã hóa

Ghi nhớ không chủ định tốt hơn ghi nhớ có chủ định: Ở trẻ bình

thường, ghi nhớ có chủ định tốt hơn ghi nhớ không chủ định Ví dụ, khi yêu cầu trẻ đọc hai câu chuyện có độ khó như nhau, câu chuyện nào thực nghiệm viên yêu cầu trẻ phải ghi nhớ thì trẻ sẽ nhớ tốt hơn câu chuyện không được yêu cầu phải ghi nhớ.Trong khi đó, ở trẻ chậm phát triển, vì các em không có

Trang 32

động cơ học tập nên ghi nhớ có chủ định không tốt hơn so với ghi nhớ không chủ định

Khó nhớ, nhanh quên, tái hiện không chính xác: Trẻ chậm phát triển

muốn ghi nhớ một nội dung nào đó cần thời gian để tiếp thu và luyện tập lâu hơn trẻ bình thường Hơn nữa, khi tái hiện thông tin, trẻ còn tỏ ra rất kém, trẻ

có thể làm mất bớt thông tin, lẫn nội dung này sang nội dung kia…

+ Đặc điểm tư duy của trẻ chậm phát triển

Tư dung mang tính cụ thể, trực quan, yếu về khái quát hóa là đặc

điểm tư duy đầu tiên của trẻ chậm phát triển Điều này được thể hiện rõ trong quá trình học tập của trẻ, nhiều em khi thực hiện nhiệm vụ phân loại đối tượng, quan sát tranh, thường đưa ra những nhận xét không đúng về bản chất của đối tượng

Thiếu tính liên tục trong tư duy: Trong quá trình học tập, một số trẻ khi

giải quyết nhiệm vụ thường bộc lộ đặc điểm: ban đầu khi mới thực hiện nhiệm vụ, trẻ có thể làm đúng, nhưng sau một thời gian thì sai sót càng nhiều, trẻ chóng mệt mỏi, ít chú ý tới công việc Những trẻ này khi giải quyết nhiệm

vụ ở nhà thường cho kết quả đúng nhưng khi ở lớp học lại thường đưa ra những câu trả lời thiếu suy nghĩ, không phù hợp với nội dung Có một số trẻ

tỏ ra chăm chỉ, cố gắng học tập nhưng hiệu quả không cao Nguyên nhân của hiện tượng này theo I.Pavlov là do trương lực thần kinh của trẻ bị yếu làm cho

sự chú ý của trẻ không ổn định, thường xuyên dao động, làm cho tre không có khả năng tập trung trong thời gian đủ lâu về một đối tượng nào đó

Hiện tượng yếu vai trò điều chỉnh của tư duy: thể hiện ở chỗ khi được

giao nhiệm vụ, trẻ hăng hái làm ngay, hoặc khi nhận được câu hỏi, trẻ giơ tay xin trả lời ngay lập tức, không có suy nghĩ kĩ càng, nghĩa là thiếu giai đoạn định hướng nên kết quả bao giờ cũng có sai sót và phải làm đi làm lại nhiều lần, những trẻ này ít khi nhận ra sai lầm của bản thân mình

- Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ chậm phát triển

Qua nghiên cứu, các nhà Tâm lý học kết luận rằng, ở trẻ chậm phát triển, ngôn ngữ cũng chậm phát triển hơn trẻ bình thường cùng độ tuổi Trẻ có vốn từ nghèo nàn hơn, ít dùng những câu phức tạp, câu có liên từ, khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ để diễn tả ý kiến bản thân và hay trả lời cộc lốc.Trẻ chậm phát triển thường không hiểu những từ ngữ có tính chất trừu

Trang 33

tượng.Trong quá trình giao tiếp, trẻ rất khó đáp ứng được những yêu cầu của người khác, đặc biệt là những yêu cầu nhiều nhiệm vụ

Trẻ chậm phát triển 3 – 4 tuổi, rất chậm trong phân biệt âm thanh cũng như việc hình thành lời nói xuất hiện, ngôn ngữ của trẻ nghèo nàn và sai sót Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do yếu chức năng khép kín (vòng) của vỏ não, chậm thành lập mối liên hệ phản xạ có điều kiện mới trong các cơ quan phân tích và đôi khi điều này chiếm ưu thế trong một cơ quan phân tích nào đó

Các công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học đã khẳng định: vốn

từ của trẻ chậm phát triển nghèo nàn hơn rất nhiều so với trẻ bình thường

cùng độ tuổi Sự khác nhau giữa những từ tích cực và tiêu cực tồn tại ở trẻ chậm phát triển với mức độ đặc biệt hơn, trong đó từ tiêu cực chiếm đa số, từ tích cực rất hạn chế Trẻ ít sử dụng tính từ, động từ và liên từ Hơn nữa vốn từ

mà trẻ chậm phát triển có được mất một thời gian dài để hoàn thiện được ý nghĩa Điều này cũng có cả ở trẻ bình thường, ví dụ như trẻ dùng từ “con mèo” để chỉ con mèo nuôi trong nhà, con gấu, thú nhồi bông hay cổ áo lông… Theo thời gian, trẻ dần xác định ý nghĩa của từ và sử dụng mang tính chính xác hơn Theo ý kiến của K.M.Xesenov, từ tồn tại đối với trẻ em trong một thời gian nào đó không phải là khái niệm mà chỉ là tên riêng để dành cho một vài sự vật Qua thực tiễn học tập, ý nghĩa của từ mới được tăng lên và hình thành khái niệm chính xác Ở trẻ khuyết tật trí tuệ, quá trình chuyển từ tên riêng đến từ khái niệm được hoàn thiện được hoàn thiện rất lâu và khó khăn hơn nhiều

Hệ thống ngữ pháp ở trẻ chậm phát triển cũng khó hoàn thiện Những câu nói của trẻ thường rất đơn giản, ít sử dụng mệnh đề phụ và rất khó khăn trong việc chọn lựa từ để thể hiện những ý nghĩ có các sắc thái khác nhau Khi tới tuổi đến trường, trẻ chậm phát triển vẫn sử dụng những cấu trúc câu

mà trẻ bình thường sử dụng ở độ tuổi 3 hoặc 4 tuổi Ngôn ngữ của trẻ chắp

vá, không nêu được nội dung ý nghĩa, vì vậy muốn biết được ý nghĩ của trẻ phải hiểu được tâm trạng của chúng

- Đặc điểm về mặt tình cảm – xã hội của trẻ chậm phát triển

Trẻ chậm phát triển khó xây dựng các mối quan hệ gắn bó: Trẻ chậm

phát triển cùng với mẹ khó xây dựng được mối quan hệ gắn bó mẹ con theo

Trang 34

hướng tích cực Trẻ chậm phát triển gặp rất nhiều khó khăn về thể chất cũng như về hoạt động của não bộ Do vậy, tín hiệu mà trẻ phát ra, sự chủ động thực hiện hành động của trẻ là rất yếu Nếu sự đáp ứng của người mẹ mạnh thì có thể phần nào xây dựng được mối quan hệ gắn bó, dù không được tốt nhất nhưng nếu sự đáp ứng của người mẹ cũng yếu thì sự phát triển mối quan

hệ của trẻ với người xung quanh là rất khó khăn

Các giai đoạn phát triển tình cảm – xã hội của trẻ chậm phát triển chậm hơn so với trẻ bình thường, trẻ cần nhiều kích thích hơn trẻ bình thường.Tần số kích thích không quan trọng bằng chất lượng kích thích, nghĩa

là mức độ đáp ứng đúng những nhu cầu thực sự của trẻ.Vì những nhu cầu này khác nhau ở mỗi trẻ và người lớn thường không nhận ra điều đó nên trẻ chậm phát triển thường ít nhận được những kích thích phù hợp hơn trẻ bình thường.Trái lại, trẻ thường bị kích thích quá mức hoặc bị kích thích dưới mức thông thường.Các kích thích cũng ảnh hưởng tới chất lượng của sự phát triển tình cảm – xã hội ở trẻ

Trẻ chậm phát triển không hứng thú tham gia vào các tương tác xã hội:

Do tính thụ động của trẻ kéo dài trong giai đoạn phát triển đầu tiên nên trẻ chậm phát triển có thể không hứng thú tham gia vào các tương tác xã hội với môi trường Những kích thích từ tiếp xúc với mẹ có thể không đủ với trẻ.Thêm vào đó, việc cha mẹ trẻ ý thức rằng họ có một đứa con chậm phát triển có thể gây ra những vấn đề trong gia đình

Phản ứng với sự trêu đùa: Tại sao nghiên cứu về sự trêu đùa lại có ý

nghĩa trong việc nghiên cứu đặc điểm phát triển tình cảm – xã hội của trẻ chậm phát triển? Trêu đùa, chọc tức người khác là một trong những cách trẻ tìm hiểu thế giới xã hội và những giới hạn của giao tiếp xã hội

Với trẻ chậm phát triển kém nhạy cảm trong nắm bắt thái độ của người xung quanh, bộc lộ sự đồng cảm của mình một cách rất “trẻ con”, chỉ như những trẻ 12 – 18 tháng tuổi (khóc, buồn, diễn đạt sự đồng cảm bằng từ ngữ đơn giản, khiến người khác không hiểu)

Tìm hiểu mục tiêu của người khác: Với trẻ chậm phát triển khó hiểu

được các mục tiêu của người khác, bởi mục tiêu đó không thể thực hiện trực quan Trẻ khó liên kết được các tình huống có tính chất liên hệ

Trang 35

Tìm hiểu nguyên tắc xã hội: Trẻ chậm phát triển biết được các nguyên

tắc xã hội song không thể áp dụng được các nguyên tắc đó trong các tình huống nhất định

Hiểu biết cảm xúc: Trẻ chậm phát triển khó có thể hiểu được các suy

nghĩ biểu hiện ra bên ngoài Do vậy, trẻ khó khăn trong việc đoán biết ý định của người khác để có những phương thức cũng như những hành động phù hợp trong giao tiếp

Từ những đặc điểm của trẻ CPT ở trên, GV trực tiếp dạy trẻ cần hiểu rõ đặc điểm của từng trẻ CPT để tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho trẻ đạt hiệu quả cao Đồng thời phối hợp chặt chẽ với gia đình trẻ CPT trong quá trình tổ chức giáo dục KNS cho các em Có sự phối hợp của gia đình giúp trẻ hình thành và phát triển KNS tích cực, thích ứng nhanh hơn với sự thay đổi của môi trường sống Cán bộ quản lý cũng cần nắm bắt kịp thời đặc điểm của trẻ CPT, hiểu rõ về hoạt động giáo dục KNS cho trẻ CPT để tổ chức, chỉ đạo đội ngũ GV thực hiện tốt hoạt động này trong môi trường giáo dục hòa nhập ở trường mầm non

1.4 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non

1.4.1 Ý nghĩa của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non

Giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở trường Mầm non có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ

- Giáo dục KNS giúp trẻ chậm phát triển được an toàn, khỏe mạnh, khéo léo, bền bỉ, có khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường sống

- Giáo dục KNS giúp trẻ chậm phát triển biết kiểm soát cảm xúc, biết thể hiện tình yêu thương, biết chia sẻ, đồng cảm với những người xung quanh

- Giáo dục KNS giúp trẻ chậm phát triển mạnh dạn, tự tin, tự trọng và tôn trọng người khác, có khả năng giao tiếp tốt, trẻ biết lắng nghe, nói năng lịch sự, hòa nhã và cởi mở

- Giáo dục KNS giúp trẻ chậm phát triển ham hiểu biết, sáng tạo, có những kĩ năng thích ứng với hoạt động ở trường mẫu giáo như: sẵn sàng hòa nhập, nỗ lực vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, có trách nhiệm với bản thân, với công việc, các mối quan hệ xã hội…

Trang 36

1.4.2 Mục tiêu và nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non

- Mục tiêu giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển

Theo nghĩa rộng, mục tiêu giáo dục trẻ chậm phát triển là: đảm bảo cho trẻ chậm phát triển những quyền giáo dục cơ bản, quyền tự do không tách biệt, tham gia vào hoạt động xã hội và có cơ hội cống hiến

Phát triển toàn diện các mặt cho trẻ chậm phát triển bao gồm: đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và khả năng lao động; phát triển kiến thức, kĩ năng văn hóa xã hội, thái độ tích cực, tạo điều kiện hòa nhập cộng đồng khi trẻ 18 tuổi

Trẻ chậm phát triển có cơ hội hòa nhập vào môi trường giáo dục bình thường, phát triển hài hòa và tối đa những khả năng còn lại để hình thành phát triển nhân cách Những mục tiêu giáo dục cụ thể cho trẻ chậm phát triển gồm:

sự phát triển về thể chất, vận động và các giác quan; sự phát triển nhận thức;

sự phát triển ngôn ngữ; khả năng tự phục vụ; xúc cảm – tình cảm xã hội và khả năng thẩm mĩ

- Nội dung giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển

Giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở trường mầm non gồm 10 nhóm KNS cơ bản sau [2]:

+ Giao tiếp: bao gồm những kĩ năng như nghe hiểu và diễn đạt thông

tin thông qua những hành ví có tính chất biểu tượng (ví dụ như lời nói, chữ viết, các kí hiệu, ngôn ngữ kí hiệu…) hoặc những hành vi phi biểu tượng (nét mặt, cử động cơ thể, sự động chạm, cử chỉ)

+ Tự chăm sóc: những kĩ năng liên quan tới việc đi vệ sinh, ăn mặc,

tắm rửa

+ Sống tại nhà: những kĩ năng liên quan tới việc thực hiện các chức

năng tại nhà bao gồm cả việc chăm sóc quần áo, giữ gìn nhà cửa, bảo dưỡng

đồ đạc, chuẩn bị và nấu ăn, đặt kế hoạch và tính toán việc chi tiêu, mua bán, giữ an toàn nhà cửa, lên lịch hoạt động công việc hàng ngày

+ Xã hội: những kĩ năng liên quan tới việc trao đổi với các cá nhân khác + Sử dụng các tiện ích công cộng: những kĩ năng liên quan tới việc sử

dụng các dịch vụ công cộng, đi lại nơi công cộng

+ Tự định hướng: những kĩ năng liên quan tới sự lựa chọn, cách mà cá

nhân có thể sống, sự nhất quán trong đánh giá và lựa chọn điều chỉnh mình theo khả năng riêng

Trang 37

+ Sức khỏe và an toàn: những kĩ năng liên quan tới việc duy trì, sức

khỏe và ăn uống, xác định bệnh tật, phòng và trị bệnh, tìm kiếm trợ giúp cơ bản nhất, vấn đề giới tính, sức khỏe thể chất và an toàn

+ Học đường chức năng: những khả năng và kĩ năng nhận thức liên

quan tới việc học ở trường sẽ áp dụng trực tiếp vào cuộc sống cá nhân

+ Giải trí: hình thành những sở thích giải trí, trong đó phản ánh những

ưu tiên, lựa chọn và quan niệm về độ tuổi, văn hóa nếu như hoạt động được tiến hành ở nơi công cộng

+ Lao động: những kĩ năng liên quan tới quá trình làm một công việc

cả ngày hoặc nửa ngày trong cộng đồng, với những kĩ năng đặc thù, những hành vi xã hội và những kĩ năng lao động phù hợp

Nhóm kĩ năng nào trong số những kĩ năng trên là quan trọng, cần thiết, còn phụ thuộc vào mức độ khuyết tật, khả năng, nhu cầu của trẻ và môi trường sống Tất cả các nhóm kĩ năng trên giúp trẻ có thể sống như một người bình thường

Quan điểm khi dạy trẻ chậm phát triển là: chấp nhận những gì đứa trẻ vốn có được coi là mặt mạnh của đứa trẻ để phát huy Mỗi đứa trẻ có mặt mạnh riêng, vì thế việc đưa ra tiêu chí chung là rất khó Phát triển kĩ năng mang tính linh hoạt, đối với trẻ chậm phát triển cần chú ý hành vi thích ứng

1.4.3 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non

Giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển trong môi trường hòa nhập ở trường Mầm non cần có sự phối hợp nhiều phương pháp khác nhau Giáo viên

có thể sử dụng các phương pháp sau đây để giáo dục cho trẻ

- Phương pháp đóng vai

Phương pháp đóng vai được sử dụng nhiều để đạt mục tiêu thay đổi người học đối với một vấn đề hay đối tượng nào đó Phương pháp đóng vai cũng rất có tác dụng trong việc rèn luyện về kĩ năng giao tiếp ứng xử của trẻ Đóng vai còn là phương pháp giúp trẻ thực hành , bày tỏ thái độ trong tình huống giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ sáng tạo của trẻ

Khi sử dụng phương pháp đóng vai, người dạy học cần chú ý:

+ Ấn định thời gian (chuẩn bị, sắm vai, trao đổi sau khi đóng vai…) + Lựa chọn tình huống đóng vai (phù hợp với chủ đề hoạt động, phải

là tình huống mở, phù hợp với trẻ )

Trang 38

+ Hướng dẫn thảo luận sau khi đóng vai, phỏng vấn người đóng vai

- Phương pháp giải quyết vấn đề

Cấu trúc quá trình giải quyết vấn đề bao gồm các bước cơ bản sau :

* Bước 1: Nhận biết vấn đề

* Bước 2: Tìm các phương án giải quyết

* Bước 3: quyết định phương án giải quyết

- Phương pháp giao nhiệm vụ

Đây là phương pháp thường được dùng trong nhóm các phương pháp giáo dục Giao nhiệm vụ là đặt trẻ vào vị trí buộc trẻ nhất định phải thực hiện trách nhiệm cá nhân Giao nhiệm vụ sẽ giúp trẻ phát triển tính chủ động, sáng tạo, khả năng ứng đáp trong mọi tình huống của trẻ vì vậy muốn giao nhiệm

vụ có kết quả tốt thì giáo viên cần hình dung được những việc phải làm gợi ý

và yêu cầu trẻ phải hoàn thành Khi giao nhiệm vụ cố gắng đảm bảo phù hợp với đặc điểm, lứa tuổi và khả năng của từng trẻ, không yêu cầu quá ức gây hoang mang lo lắng

- Phương pháp trò chơi

Phương pháp trò chơi có thể sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau như làm quen, cung cấp kiến thức, đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố những tri thức đã học

Phương pháp trò chơi có những thuận lợi như: phát huy tính sáng tạo; hấp dẫn; và gây hứng thú cho người học ; giúp cho người học dễ tiếp thu kiến thức mới, giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo bầu không khí thân thiện; tạo cho người học có tác phong nhanh nhẹn

Ngay từ khi ra đời trò chơi đã có nhiều chức năng như: Chức năng giáo dục, chức năng giao tiếp, chức năng văn hóa, chức năng giải trí…

Những chú ý khi sử dụng phương pháp trò chơi: Lựa chọn trò chơi phù hợp với lứa tuổi và nội dung hoạt động; Cần chú ý tới yếu tố thời gian; Chú ý tới điều kiện cơ sở vật chất; Người chủ trò phải có khả năng lôi cuốn được những người khác; Trò chơi phải đa dạng, phong phú, dễ chơi, hấp dẫn, mang tính giáo dục; Là trò chơi tập thể… Giáo viên nên: Tin tưởng vào trẻ và năng lực của trẻ; Kiên nhẫn và có kĩ năng lắng nghe tốt; Tôn trọng ý kiến của trẻ, không áp đặt ý kiến của mình; Có kinh nghiệm sống và biết suy xét

Trang 39

- Luyện tập

Trong tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển ở trường mầm non, việc luyện tập là cách tổ chức nội dung ôn tập sau bài mới, bài ôn tập, bài luyện tập và bài tổng hợp Đối với trẻ chậm phát triển thì luyện tập được xem là cách thức củng cố kiến thức, kỹ năng đã được cung cấp, giúp trẻ có thêm hiểu biết, nhận thức sâu sắc hơn về thế giới xung quanh, đồng thời rèn cho trẻ chậm phát triển các kĩ năng nhận thức, kỹ năng thực hành… Bên cạnh đó, luyện tập là yêu cầu cần được sử dụng thường xuyên bằng nhiều hình thức khác nhau, từ dễ đến khó dựa vào sự phát triển của trẻ

Ngoài ra, giáo viên cũng cần sử dụng các phương pháp: Đàm thoại, Nêu gương, Kể chuyện trong quá trình giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển trong môi trường hòa nhập ở trường mầm non

Biết sử dụng các phương pháp giáo dục chủ động Linh động trong việc

sử dụng các kĩ thuật điều động nhóm, không bám sát vào một quy trình định sẵn Có khả năng tạo bầu không khí tin tưởng lẫn nhau Có kiến thức về tâm lý của trẻ

1.4.4 Hình thức giáo dục kỹ năng kỹ năng sống cho trẻ chậm phát triển trong môi trường giáo dục hòa nhập ở các trường Mầm non

Trong quá trình tổ chức giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển trong môi trường hòa nhập, việc lựa chọn hình thức phù hợp sẽ mang lại hiệu quả cao Có thể sử dụng các hình thức sau đây trong tổ chức giáo dục KNS cho trẻ chậm phát triển

- Hoạt động cá nhân tại lớp

Hoạt động cá nhân là hình thức dạy học trẻ chậm phát triển phổ biến trong các lớp học chuyên biệt, tại các lớp học hòa nhập là hoạt động phụ đạo riêng Đây là cách tổ chức dạy học theo phương pháp 1 thầy – 1 trò trong 1 phòng hay lớp học riêng, 1 vị trí riêng (đối với các trường chuyên biệt là phòng dạy cá nhân hay gọi là phòng học chuyên dụng)

Kế hoạch dạy học cho trẻ chậm phát triển được thiết kế chi tiết dựa vào đặc điểm của từng cá nhân Giáo án không cần tuân theo đúng khuôn mẫu của giáo án dạy trẻ bình thường mà soạn giáo án có thể là dạy hoặc rèn một kiến thức hay một loại kỹ năng nào đó phù hợp với loại tật của trẻ Trong hoạt động

cá nhân, giáo viên khắc phục những kiến thức và kĩ năng trẻ chậm phát triển

Trang 40

chưa thực hiện trong giờ học chung cả lớp với trẻ bình thường hay khi học chung với những trẻ chậm phát triển khác Điều quan trọng hơn là tiết học cá nhân còn nhằm chuẩn bị cho các em những kiến thức và kĩ năng cần thiết trước khi các em được lĩnh hội cùng các bạn trong các hoạt động giáo dục KNS

Kế hoạch gắn liền với yêu cầu, giáo viên phải nắm vững và hiểu biết những đặc điểm về trình độ nhận thức, tâm lý, tình cảm và hành vi của cá nhân trẻ, chú ý đến điểm mạnh và hạn chế, những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà trẻ có để từ đó đưa ra những kiến thức và kỹ năng phù hợp Trong quá trình thực hiện, giáo viên lên kế hoạch từng ngày, theo dõi sự nỗ lực của

cá nhân trẻ được đánh giá bằng chỉ số Trẻ ngồi học bình thường trong lớp với các trẻ khác song trẻ chậm phát triển có mục tiêu riêng Vì vậy, vấn đề trẻ đạt yêu cầu hoàn thành mục tiêu ở mức độ nào đi nữa thì cũng không ảnh hưởng đến mục tiêu chương trình học tập chung của trẻ khác cũng như của cả lớp

- Hoạt động theo nhóm tại lớp

Hoạt động theo nhóm là cách thức tổ chức hoạt động giáo dục KNS mà giáo viên chia lớp ra thành các nhóm để cùng hoạt động, giao nhiệm vụ cho từng nhóm, cùng hướng dẫn, hỗ trợ các nhóm để giải quyết nhiệm vụ phân công Mỗi thành viên trong nhóm đều có vai trò, nhiệm vụ nhất định, trẻ cùng nhóm tương tác và giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ

Học theo nhóm căn cứ dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động giáo dục KNS, việc giải quyết các nhiệm vụ học tập dựa vào khả năng kinh nghiệm đồng thời cũng dựa trên kiến thức, kỹ năng, sự hợp tác, cộng hưởng tinh thần trách nhiệm giữa các cá nhân Các thành viên trong nhóm cùng hợp tác, cùng chịu trách nhiệm giữa các cho kết quả hoạt động chung của cá nhóm Đây được coi là một phương pháp dạy học phổ biến phát huy khả năng tích cực của mỗi đứa trẻ, thể hiện rõ tinh thần giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong giai đoạn hiện nay Tùy thuộc vào từng yêu cầu của nội dung bài học để giáo viên xác định phân chia hoạt động học theo nhóm và thời lượng dành cho các hoạt động một cách khoa học và phù hợp

Để phương pháp dạy trẻ chậm phát triển theo nhóm đạt kết quả đề ra, giáo viên cần lựa chọn, xác định lượng kiến thức phù hợp với khả năng của trẻ Đó là nhiệm vụ cần sự tham gia giải quyết và mang lại lợi ích cho tất cả các thành viên trong nhóm Để trẻ hào hứng tích cực khi tham gia các hoạt

Ngày đăng: 18/07/2023, 00:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w