Giai đoạn này lợn con rất nhạy cảm với điều kiện bất lợi tác động lên cơ thể như chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, chuồng trại không hợp vệ sinh, thức ăn kém chất lượng, thời tiết thay đổi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP
- -
LÊ THỊ THANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN
CON THEO MẸ VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI
TRẠI LỢN PHÚ SƠN XÃ THIỆU PHÚ THIỆU HÓA – THANH HÓA
Ngành đào tạo: Chăn nuôi
Mã ngành: 28.06.21
THANH HÓA- 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN
CON THEO MẸ VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TẠI
TRẠI LỢN PHÚ SƠN XÃ THIỆU PHÚ THIỆU HÓA – THANH HÓA
Người thực hiện: Lê Thị Thanh Lớp: Đại học Chăn nuôi K20 Khóa: 2017-2021
Giáo viên hướng dẫn: ThS Khương Văn Nam
THANH HÓA- 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nổ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc, tận tình và chu đáo của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo Th.S Khương Văn Nam, là người đã tận tình trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm báo cáo tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Khoa học vật nuôi, khoa Nông - Lâm - Ngư nghiệp, trường Đại học Hồng Đức đã góp
ý chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành báo cáo
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới: Chủ trang trại, kỹ thuật và công nhân của trang trại lợn Phú Sơn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tại trang trại
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình tới gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, cũng như việc hoàn thành khóa luận này
Xin kính chúc các thầy cô giáo luôn luôn mạnh khỏe để tiếp tục cống hiến sức lực, trí tuệ cho sự nghiệp trồng người
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hoá, tháng năm 2021
Sinh viên
LÊ THỊ THANH
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
Phần I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết ở đề tài 1
1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 c i m sinh c a n con 3
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng ến hội chứng tiêu chảy ở n con 6
2.2 Những hiểu biết về hệ vi khuẩn đường ruột của lợn con 11
2.2.1 Nhóm vi khuẩn ường ruột – Enterobacteriaceae 12
2.2.2 Nhóm vi khuẩn vãng ai 15
2.3 Những hiểu biết về hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ 18
2.3.1 Nguyên nhân 18
2.3.2 Cơ chế sinh bệnh 18
2.3.3 Triệu chứng 19
2.3.4 Bệnh tích 19
2.3.5 Phòng bệnh 20
2.3.6 iều trị 21
2.4 Một số hiểu biết về thuốc sử dụng trong đề tài 22
2.4.1 Thuốc Bio-Enzofloxacin 22
2.4.2 Thuốc Five-lincocin 23
2.4.3 Thuốc Bio-Prozyme 24
2.5 Sơ lược về cơ sở thực tập 25
2.5.1 Vị trí ịa 25
Trang 52.5.2 c i m thời tiết khí hậu 25
2.5.3 Cơ sở vật chất 25
2.5.4 Công tác vệ sinh phòng bệnh c a trang trại 27
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 29
3.1.1 ối tư ng nghiên cứu 29
3.1.2 Vật iệu nghiên cứu 29
3.2 Phạm vi nghiên cứu 29
3.3 Nội dung nghiên cứu 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu 29
3.4.1 Thời gian, ịa i m 29
3.4.3 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 30
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 31
Phần IV : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Kết quả điều tra tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ tại trại lợn Phú Sơn xã Thiệu Phú – Thiệu Hóa – Thanh Hóa 32
4.1.1 ết quả khảo sát hội chứng tiêu chảy ở n con theo mẹ trong 12 tháng năm 2020 32
4.1.2 ết quả theo dõi 3 tháng u năm 2021 34
4.2 Kết quả điều trị bệnh của phác đồ 36
4.2.1 ết quả iều trị bệnh c a hai phác 36
4.2.2 Thời gian, chi phí iều trị c a hai phác 39
Phần V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 KẾT LUẬN 41
5.2 ĐỀ NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
HÌNH ẢNH MINH HOẠ 1
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ qua
12 tháng năm 2020 32 Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ qua 12 tháng trong năm 2020 34 Bảng 4.2 Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ qua các tháng 2, 3, 4 năm 2021 34 Biểu đồ 4.2.Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong trong 3 tháng đầu năm 2021 35 Bảng 4.3 Kết quả về thử nghiệm khỏi bệnh và tỷ lệ tử vong 37 Bảng 4.4 Kết quả điều trị thử nghiệm về thời gian khỏi bệnh, lƣợng thuốc và chi phí điều trị 39
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ qua 12 tháng trong năm 2020 34 Biểu đồ 4.2.Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong trong 3 tháng đầu năm 2021 35
Trang 8PRRS :Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine
Reproductive and Respiratory Syndrome – PRRS)
Trang 9Phần I: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết ở đề tài
Hiện nay ngành chăn nuôi lợn ngày càng phát triển, việc nâng cao chất lượng giống và nguồn thức ăn đạt tiêu chuẩn là vô cùng cần thiết Bên cạnh những thuận lợi đạt được, chăn nuôi lợn ở nước ta cũng gặp rất nhiều khó khăn
và trở ngại Trong đó dịch bệnh luôn là vấn đề lo ngại đối với nghành chăn nuôi,
nó làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm, nếu không phòng và chửa trị kịp thời thì sẽ đưa đến tỷ lệ chết cao và gây thiệt hại lớn về kinh tế như một số bệnh: bệnh dịch tả lợn châu phi, bệnh tai xanh, bệnh lở mồm long móng Qua thực tế cho thấy, hội chứng tiêu chảy cũng là một bệnh lý đặc thù của đường tiêu hóa diễn biến rất phức tạp
Để cung cấp lợn giống và lợn thương phẩm (hay lợn thịt) cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại và các nông hộ thì việc phát triển đàn lợn con mới sinh là việc làm cấp thiết Lợn con sau sinh ra một số bộ phận, chức năng chưa hoàn thiện nên chúng chưa thích ứng tốt với những tác động bất lợi của ngoại cảnh
Vì vậy, chúng rất dể mắc bệnh trên đường tiêu hóa và hô hấp Thường gặp nhất
là hội chứng tiêu chảy, hội chứng này đã gây ra những tổn thất nghiêm trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản tại trại lợn Phú Sơn xã Thiệu Phú – Thiệu Hóa – Thanh Hóa Bệnh có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của lợn con
Nó có thể làm lợn con chậm lớn sau cai sữa, thậm chí mất khả năng phát triển về sau, do đó làm giảm số lượng lợn con sau cai sữa và số lượng lợn không cung cấp đủ để nuôi thương phẩm, gây thiệt hại lớn về khinh tế cho người chăn nuôi Những vấn đề nêu trên cho thấy để góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh tiêu chảy gây ra thì việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân và các giải pháp phòng trị bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ là việc làm cần thiết Song với quy mô trang trại như hiện nay thì việc làm thế nào để hạn chế đến mức tối đa lợn con mắc hội chứng tiêu chảy đang là vấn đề được người chăn nuôi quan tâm Từ
thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát tình hình hội chứng tiêu
Trang 10chảy ở lợn con theo mẹ và thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại trại lợn Phú Sơn xã Thiệu Phú – Thiệu Hóa – Thanh Hóa.”
1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
1.2.1.1 Mục tiêu chung
Nắm đƣợc tình hình mắc và điều trị bệnh tiêu chảy trên đàn lợn con theo
mẹ và thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại trại lợn Phú Sơn xã Thiệu Phú – Thiệu Hóa – Thanh Hóa
Kết quả thử nghiệm điều trị có thể giúp cơ sở lựa chọn đƣợc phác đồ điều
trị bệnh hiệu quả cho bệnh tiêu chảy lợn con theo mẹ ở thời điểm hiện tại
Trang 11Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trong thời điểm hiện tại, các bệnh trên lợn con vẫn đang diễn biến phức tạp trong đấy điển hình là tiêu chảy trên lợn con cùng với các bệnh nhiễm trùng huyết và nhiễm độc đường ruột Bệnh xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi trên toàn thế giới Bệnh thường gặp ở lợn con mới sinh đến cai sữa Ở nước ta thường sảy ra
ở vụ Đông – Xuân, nhất là sau những trận mưa lớn, những ngày có độ ẩm cao và khi thời tiết có sự thay đổi đột ngột nóng lạnh thất thường Bệnh gây tử vong cao khoảng 16% - 18% có nơi đến 20% Những con khỏi bệnh thì còi cọc, chậm lớn gây ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của đàn lợn, làm giảm hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
2.1.1 c đi m sinh c a ợn con
Lợn con sau khi sinh, chúng sống trong môi trường thay đổi đột ngột, chính
vì thế mà cơ thể chúng có sự thay đổi cơ bản để tự thích nghi Giai đoạn này lợn con rất nhạy cảm với điều kiện bất lợi tác động lên cơ thể như chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, chuồng trại không hợp vệ sinh, thức ăn kém chất lượng, thời tiết thay đổi đột ngột, sự tác động của tác nhân stress, ngoại cảnh như: nhiệt độ,
độ ẩm, ánh sáng,…
So với gia súc trưởng thành thì lợn con còn một số cơ quan chưa hoàn thiện
về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh và hệ tiêu hóa Lúc đầu mới sinh ra võ đại não phát triển chưa đủ nên các phản xạ có chức năng bảo vệ nói chung còn rất kém, nhất là phản xạ điều tiết thân nhiệt Vì vậy mà lợn con không thích nghi với điều kiện môi trường ngoại cảnh nên đã xảy ra bệnh tật Theo Trương Lăng
1993 thì tốc độ tăng trọng của lợn con như sau:
Khối lượng 10 ngày tuổi gấp 2 lần khối lượng sơ sinh
Khối lượng 21 ngày tuổi gấp 4 lần khối lượng sơ sinh
Khối lượng 30 ngày tuổi gấp 5-6 lần khối lượng sơ sinh
Khối lượng 40 ngày tuổi gấp 7-8 lần khối lượng sơ sinh
Trang 12Khối lượng 50 ngày tuổi gấp 10 lần khối lượng sơ sinh
Khối lượng 60 ngày tuổi gấp 12-14 lần khối lượng sơ sinh
Tốc độ sinh trưởng nhanh nhất là 21 ngày tuổi Sau đó tốc độ giảm đi vì lượng sữa của mẹ giảm đi nên tập cho lợn con ăn sớm
Ở lợn con sơ sinh bộ máy tiêu hóa hoạt động đang còn hạn chế, dịch dạ dày yếu nên khả năng tiêu hóa thức ăn còn kém Theo Đào Trọng Đạt (1996) [2] thì lượng nước bọt và men tiêu hóa trong dạ dày còn ít, chỉ bằng 13% số lượng cần thiết so với lợn trưởng thành Cụ thể là: Trong 3 tuần đầu lượng axit Clohidir HCl ở dạng tự do còn ít, chỉ chiếm 10% mà HCl tự do càng nhiều thì khả năng tiêu hóa càng cao Các men có chức năng tiêu hóa Protein như: Pepsin, Trypsin, Katepsin Đều có ít và chỉ tăng nếu sau 3 tuần tuổi Do vậy lợn con rễ mắc các bệnh về đường tiêu hóa Hơn nữa các phản xạ tiết dịch trong những ngày đầu chưa được thành lập nên lượng dịch tiêu hóa chỉ được tiết ra khi được thức ăn kích thích trực tiếp vào vách dạ dày khi lợn con ăn vào Vì vậy đã hạn chế thức ăn tiêu hóa của lợn con Mặt khác lợn con sơ sinh chưa hình thành sự cân bằng chắc chắn về hệ vi sinh vật đường ruột
Đối với lợn con, quá trình đồng hóa mạnh hơn quá trình dị hóa nên Protein đóng một vai trò quan trọng nó là nguyên nhân cho sự sinh trưởng và phát triển cơ thể Mặt khác các yếu tố vi lượng như: Fe, Cu, Co, Mn,…rất cần thiết cho quá trình tạo máu cho cơ thể lợn con Nhưng sau khi sinh ra thì các yếu
tố vi lượng này chỉ chiếm một phần rất ít trong cơ thể lợn, chúng chưa đầy đủ để duy trì cho quá trình tạo máu của cơ thể Chính vì vậy mà sau khi sinh ra, trong giai đoạn bú sữa, lợn con chưa được bổ xung các yết tố vi lượng đó kịp thời chính vì thế mà dễ mắc bệnh
Lợn con sau khi sinh ra cũng dễ bị mắc các mầm bệnh xâm nhập do cơ năng hàng rào bảo vệ cơ thể còn yếu như: da mỏng, dịch dạ dày còn yếu, mật độ long trên da còn thưa Hơn nữa hệ thống miễn dịch của cơ thể chưa hoàn chỉnh Lợn vừa mới sinh ra, trong máu hầu như khong có kháng thể, lượng kháng thể
Trang 13chỉ được tăng lên khi lợn con được bú sữa đầu Như khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, nó phụ thuộc vào lượng kháng thể được hấp thu từ lượng sữa đầu của lợn mẹ vì vậy lợn con không được bú sữa đầu thì khả năng miễn dịch là rất kém, dễ mắc bệnh
Theo tác giả Trần Cừ (1975) [1] thì lượng kháng thể mà lợn con nhận được thông qua sữa đầu đến 21-22 ngày tuổi Phải đến 28-35 ngày tuổi thì lợn con mới có thể sản sinh ra kháng thể Ở lợn con sơ sinh, đặc điểm cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định nghĩa là sinh nhiệt, thải nhiệt chưa cân bằng Sự điều tiết thân nhiệt của lợn con kém là do lượng mỡ dưới da của lợn con còn mỏng Mỡ và Glycogen dự trữ trong cơ thể thấp, hệ thần kinh điều khiển cân bằng chưa hoàn chỉnh Bệnh cạnh đó diện tích bề mặt của cơ thể so với khối lượng cơ thể là tương đối cao, đối với lợn con dễ bị mất nhiệt và bị lạnh, ở giai đoạn này lợn con duy trì được thân nhiệt là do nước trong
cơ thể là sự hoạt động của hệ thống tuần hoàn Chính vì thế nhiệt độ chuồng trại
có nhiệt độ thấp ẩm độ cao Chuồng bị gió lùa là một trong những yếu tố trực tiếp làm cho lợn con mất thân nhiệt khi đó thì các bệnh rất dễ xảy ra, đặc biệt là bệnh tiêu chảy
Mặt khác người ta xác nhận trong 8 tuần đầu tiên đã có sự thay đổi enzim tiêu hóa ở lợn con Những khảo sát mới nhất của trường đại học IWA Mỹ về miễn dịch dạ dày cho biết chỉ có một số ít Pepsin ở lợn lúc sơ sinh và tăng dần cho đên 3-6 tuần tuổi mới đạt mức độ bình thường và độ Ph thích hợp cho men Pepsin hoạt động là 2, và phạm vi hoạt động của nó hoạt động trong khoảng Ph dưới 2-4 Theo nghiên cứu của các tác giả trường đại học Cam Túc Trung Quốc năm 1961 Lợn con càng nhỏ manh tràng càng lớn niêm mạc dạ dày phát triển nhanh Cùng với sự phát triển cả chiều dài đường ruột, dịch tiết cũng tăng lên, dịch vị của lợn cũng thay đổi nhiều, trong vòng một tháng đầu ion H+ rất thấp, thậm chí không có khả năng diệt trùng Axit chlohodric HCl có thể tiết ra sau một tháng tuổi và sau thời gian bú sữa nồng độ mới tăng lên Các tuyến tiêu hóa
Trang 14dần dần đến độ thuần thục, khả năng tiêu hóa tăng Bộ máy tiêu hóa của lợn con biến đổi theo tuổi giai đoạn theo mẹ Ph của dạ dày thấp và sau tăng dần, cụ thể là: 3 tuần tuổi Ph là 2,8-2,9 tuần tuổi Ph là 4,96 Bằng ống dò và bằng phương pháp dạ dày nhỏ của Paupol, người ta tìm được HCl tự do cho đến khi được 21 đến 35 ngày tuổi Theo nghiên cứu của Castron 1975: có sự hoạt động của trypsin trong tuyến tụy và niêm dịch dạ dày đối với lợn con sơ sinh yếu Theo Walhes và Bailey: sự hoạt động của lactozo rất cao khi lợn con mới đẻ ra, sau đó tăng lên trong khoảng 1 đến 2 tuần tuổi Nhưng từ đó giảm đi nhanh chóng và tới 4 đến 5 tuần tuổi thì rất thấp và duy trì sự ổn định ở đó
Đối với lipaza người ta thấy rằng trong 4 tuần tuổi đầu tieenn nó hoạt động khá cao, sau lại càng cao vì sự hoạt động của lipaza rất cao Bởi nó quan
hệ tới sự thủy phân triglycarid thành monoglycarid Nói tóm lại về đặc điểm sinh lý của lợn con thì điểm đáng chú ý nhất là khả năng thích ứng kém, cơ thể khi thay đổi môi trường sống từ môi trường sống bên ngoài gặp nhiều tác động bất lợi sẽ xuất hiện các rối loạn về hoạt động sinh lý, đặc biệt là rối loạn tiêu hóa các chất, làm cho cơ thể còi cọc, chậm phát triển, chậm lớn dễ mắc các bệnh về đường tiêu hóa
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hội chứng tiêu chảy ở ợn con
Lợn con luôn là đối tượng rất nhạy cảm với hiện tượng tiêu chảy do hệ thống tiêu hóa của lợn con chưa được hoàn thiện, rất dễ bị gây tổn thương bởi các yếu tố lạ ngoại nhập
2.1.2.1 Môi trường
Môi trường ngoại cảnh là yếu tố thiết yếu ảnh huởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc Khi có sự thay đổi các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, mưa, nắng, điều kiện chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến sức khoẻ của lợn, đặc biệt là lợn con theo mẹ Do ở lợn con theo mẹ cấu tạo và chức năng sinh lý chưa ổn định và hoàn thiện, khi gặp các yếu tố bất lợi dễ bị stress, làm giảm sức đề
kháng, dễ bị bệnh trong đó có tiêu chảy
Trang 15Khi thời tiết thay đổi đột ngột, nhiệt độ và độ ẩm của môi trường thay đổi đột ngột lên quá cao hoặc quá thấp, đặc biệt là thời tiết lạnh Do ảnh hưởng của lạnh, nhiệt độ cơ thể giảm xuống làm cho mạch máu ngoại vi co lại dồn máu vào
cơ quan phủ tạng Khi đó, mạch máu thành ruột bị xung huyết làm trở ngại đến tiêu hóa, thức ăn bị đình trệ tạo điều kiện cho các vi sinh vật sinh sôi và phát triển, đặc biệt là quá trình lên men tạo ra các sản phẩm độc, các chất này kích thích vào vị trí nội cảm thụ thần kinh ruột gây hưng phấn làm cho ruột co bóp mạnh và nhiều lần, đẩy thức ăn ra ngoài Đồng thời do hiện tượng xung huyết làm cho tính thấm thành mạch tăng lên, đẩy thức ăn ra ngoài gây tiêu chảy
Do nước ta là một nước nhiệt đới, khí hậu quá nóng, quá lạnh, thời tiết quá khắc nghiệt, mưa nhiều nên độ ẩm cao kết với vệ sinh chuồng trại chưa tốt, mật độ nuôi chưa hợp lý dẫn đến lợn mẹ ăn uống thất thường đưa đến sữa kém chất lượng thì tình trạng lợn con tiêu chảy nhiều hơn có khi trong một đàn tỷ lệ lên tới 90 – 100 % tiêu chảy Do các nguyên nhân trên dẫn đến con vật dễ bị stress làm sức đề kháng gia súc yếu đi làm cho vi sinh vật tấn công và phát triển gây bệnh Đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hóa
Vì vậy, sau khi lợn con sinh ra phải đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho tiểu khí hậu chuồng nuôi, tránh gió lùa và các tác động bất lợi khác của ngoại cảnh tới đàn lợn con
2.1.2.2 Chế ộ chăm sóc và nuôi dưỡng
Thức ăn là nguồn nguyên liệu cung cấp năng lượng quan trọng để cơ thể tồn tại và phát triển Tuy nhiên do nhiều quá trình bảo quản hay chăm sóc không chu đáo để thức ăn bị nấm mốc, ôi thiu, nhiễm khuẩn gây rối loạn tiêu hóa Hay thức ăn thiếu hay thừa chất nào đó cũng dẫn đến lợn bị tiêu chảy
Đối với lợn thì nước uống rất quan trọng đặc biệt với lợn con Nếu cung cấp nước không đủ sẻ ảnh hưởng tới sự phát triển và hoàn thiện của lợn con Nguồn nước không sạch, nhiễm khuẩn hay kim loại nặng đều gây tiêu chảy
Thức ăn và nước uống không đảm bảo sẽ tạo điều kiện cho vi sinh vật gây
Trang 16bệnh phát triển mạnh trong đường ruột của gia súc và gây bệnh
Hộ lý sau đẻ phải tốt không cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng lợn con bị tiêu chảy nhiều Khi lợn con mới đẻ phải được nhốt trong lồng úm có nhiệt độ khoảng 32oC - 35 oC, sau 1h thì mới thả ra cho lợn con tập bú, không để lợn con ở ngoài quá lâu vì lúc này khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con còn kém nên rất dễ bị nhiễm lạnh và từ đó gây tiêu chảy
Sau khi sinh phải dùng dây và dụng cụ sạch cột và cắt rốn, sát trùng bằng Iodine sau khi cắt và sau đó tiếp tục sát trùng rốn và cuống rốn ngày 2 lần cho đến khi rụng
Cho lợn con bú sữa đầu đầy đủ: Sữa đầu ngoài thành phần dinh dưỡng cao, còn chứa các kháng thể từ mẹ truyền sang, giúp lợn con phòng chống bệnh trong 3 - 4 tuần đầu Cần lưu ý sữa đầu chỉ có giá trị phòng bệnh cho lợn con khi lợn con được bú càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt, sau 24 giờ KT trong sữa đầu sẽ giảm thấp Đồng thời, lúc này men tiêu hóa chất đạm bắt đầu hoạt động sẽ phá hủy hết KT trong sữa đầu
2.1.2.3 Vi khuẩn
Các nghiên cứu về bệnh lý và vi sinh vật học thú y đã nhận thấy rằng hiện tượng lợn con tiêu chảy có liên quan đến hệ vi sinh vật trong đường ruột của lợn Trong cơ thể lợn vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại chung sông hòa bình với nhau, một khi cơ thể suy yếu hoặc gặp điều kiện bất lợi vi khuẩn có hại nhân lên và phát triển lấn áp vi khuẩn có lợi tạo ra sự mất cân bằng thì dẫn đến rối loạn tiêu hóa, suy giảm khả năng miễn dịch niêm mạc ruột, suy giảm sức đề kháng của cơ thể
Có những tác nhân đầu tiên gây viêm ruột như virus, vi khuẩn, thức ăn gây rối loạn hấp thu và nhu động ruột Hậu quả không tránh khỏi là viêm ruột, khi đó các vi khuẩn đường ruột tiếp tục tác động làm cho bệnh nặng thêm (Hồ Văn Nam; Trương Quang và cs.,1997)[9] Có thể do một nguyên nhân nào đó tác động, làm cho trạng thái cân bằng các khu hệ vi sinh vật trong đường ruột bị
Trang 17phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loại vi khuẩn nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn Sự thay đổi hoặc biến động này có thể xảy ra ở các nhóm vi khuẩn hoặc họ vi khuẩn đường ruột cũng như nhóm vi khuẩn vãng lai, có thể biến đổi cả về số lượng lẫn chất lượng (bội nhiễm và tăng độc lực) Thường là các vi khuẩn gây bệnh thừa cơ tăng sinh và tăng độc lực, các vi khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hóa do không cạnh tranh được bị giảm đi Loạn khuẩn đường ruột
là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh ở đường tiêu hóa, đặc biệt là tiêu chảy (Vũ Văn Ngữ, 1997) [13]
E coli là tác nhân chủ yếu gây tiêu chảy ở lợn con theo mẹ, đặc biệt là lợn
con dưới 1 tuần tuổi (Trịnh Văn Thịnh, 1985) [19] Chúng xuất hiện trong phân
lợn khỏe và lợn bị viêm ruột ỉa chảy, khi bị tiêu chảy thì E coli tăng lên một
cách bội nhiễm (Hồ Văn Nam, Trương Quang và cs., 1997) [9] Trong bệnh
phân trắng lợn con, khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút, E coli thường xuyên
cư trú trong đường ruột của lợn, thừa cơ sản sinh rất nhanh và gây sự mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột (Đào Trọng Đạt, 1996) [2]
Cùng với E.coli thì Salmonella cũng là tác nhân chủ yếu gây bệnh ở lợn con (Trịnh Văn Thịnh, 1985) [19] Salmonella xuất hiện trong phân lợn mắc hội
chứng tiêu chảy cao hơn phân lợn bình thường (Tạ Thị Vịnh và Đặng Khánh Vân, 1996) [21]
Ở gia súc non mắc hội chứng tiêu chảy số lượng vi khuẩn E.coli,
Salmonella, Clostridium perfringens tăng lên từ 2 – 10 lần so với bình thường
Mặt khác, tỷ lệ các chủng mang yếu tố gây bệnh và sản sinh độc tố cũng tăng cao Nguyễn Bá Hiên (2001) [3]
Ngoài E coli và Salmonella ra thì người ta còn tìm thấy một số vi khuẩn trong phân lợn con mắc tiêu chảy như: Klebsiella, Staphylococcus,
Streptococcus, B subtilis, C perfringens
2.1.2.4 Virus
Trang 18Ngoài vi khuẩn là nguyên nhân gây tiêu chảy, người ta còn thấy sự có mặt của virus trong các trường hợp tiêu chảy Virus là tác nhân rất nguy hiểm, có khả năng lây lan mạnh, khó điều trị bằng các thuốc thông thường nên hiệu quả điều trị không cao, gây thiệt hại kinh tế cao cho người chăn nuôi, chủ yếu hạn chế tiêu chảy bằng cách phòng ngừa ban đầu
Theo Bridger (1980) [22]: Trong số những mầm bệnh thường gặp ở lợn trước và sau cai sữa bị bệnh tiêu chảy có nhiều loại virus, trong đó có 20,90%
lợn bệnh phân lập được Rotavirus; 11,20% là Transmissible Gastro Enteritis
virus (TGEV); 2% là Enterovirus và 0,7% là Parvovirus
Có 2 nhóm virus chủ yếu gây hội chứng tiêu chảy ở lợn con: thuộc họ
Corona viridae và Rota viridae Trong nhóm Corona viridae có 2 đại diện chính
gây bệnh tiêu chảy ở lợn là TGEV và Poreine Epidemic Diarrhea virus (PEDV) Ngoài ra, còn có Porcine Hemagglutinatinl Encephalomyelitis virus và Porcine
Respiratory Corona virus, những virus này ít khi gây bệnh ở đường tiêu hóa của
lợn Còn trong nhóm Rota viridae có Rotavirus gây bệnh tiêu chảy ở lợn
Khi lợn bị nhiễm virus, virus sinh sản theo đường tuần hoàn, phá hủy thành mạch máu, gây viêm tụ máu, xuất huyết làm cho niêm mạc bị tụ máu dầy lên, thấm huyết tương và hình thành màng giả từ dịch rỉ, huyết tương hỗn hợp với những mảng biểu mô, khi tróc ra để lại những vết lõm không đều Viêm loét rải rác trong đường tiêu hóa: Miệng, dạ dày, ruột, trực tràng Vết loét sâu, rộng nếu có các vi khuẩn kết hợp tác động Đặc biệt virus làm trỗi dậy những vi khuẩn kết hợp làm cho bệnh nặng và phức tạp hơn
2.1.2.5 sinh trùng
Ký sinh trùng cũng là một trong các tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở lợn Có
nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh tiêu chảy ở lợn như: Cầu trùng (Eimeria,
Isospora suis), Crytosporidium, Ascaris suum, Trichuris suis hoặc một số loài giun
tròn khác thuộc lớp Nematoda Bệnh do Isopora suis, Crytosporidium thường tập
trung vào giai đoạn lợn con từ 5 - 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ
Trang 19thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà
ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003) [16]
Đặc điểm chủ yếu của tiêu chảy do ký sinh trùng là con vật mắc bệnh bị tiêu chảy nhưng không liên tục, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, gia súc kém ăn,
thể trạng sa sút
Ngoài những nguyên nhân trên còn một số nguyên nhân khác như: Gia súc
ăn phải thức ăn có tác dụng kích thích, ăn phải thức ăn đã bị ôi thiu, các loại thuốc tẩy ký sinh trùng, dị vật cũng là những nguyên nhân gây nên tiêu chảy vì khi đó niêm mạc dạ dày, ruột bị kích thích làm trở ngại nghiêm trọng tới cơ năng vận động và tiết dịch gây rối loạn tiêu hóa
Như vậy có thể thấy, có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng theo một số chuyên gia nghiên cứu về bệnh tiêu chảy ở lợn như Nguyễn Thị Nội (1985) [10]; Hồ văn Nam (1997) [8] thì cho dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn đi nữa, cuối cùng cũng là quá trình nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột tiêu chảy mãn tính
2.2 Những hiểu biết về hệ vi khuẩn đường ruột của lợn con
Trong đường ruột của lợn con chứa vô số vi khuẩn có lợi cũng như vi khuẩn có hại Nghiên cứu về hệ vi khuẩn đường ruột một số tác giả cho rằng:
Vi khuẩn ở ống tiêu hoá cùng với vật chủ hình thành một hệ thống sinh thái mà sự cân bằng là cần thiết cho sức khoẻ vật chủ Vi khuẩn ở ruột có một vai trò sinh lý rất lớn, chúng tham gia vào quá trình tiêu hoá và chuyển hoá tinh bột, chất xơ, góp phần vào chuyển hoá nước, dị hoá protein, làm giảm bilirubin
ở ruột và thuỷ phân ure (Nguyễn Tài Lương, 1981) [6]
Trong điều kiện bình thường, giữa hệ vi khuẩn đường ruột và vật chủ ở trạng thái cân bằng, ổn định, cùng tồn tại có lợi cho cơ thể vật chủ Khi có tác nhân bất lợi từ ngoại cảnh hoặc ngay trong đường tiêu hoá tác động thì sức đề kháng của lợn giảm xuống, trạng thái cân bằng vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ
Trang 20Nhân cơ hội này một số vi khuẩn có hại nhân lên về số lượng, tăng lên về độc lực và gây bệnh
Trong đường tiêu hóa của lợn có rất nhiều vi sinh vật cư trú, chúng giữ chức năng nhất định trong quá trình tiêu hóa và có vai trò sinh lý quan trọng đối với cơ thể Số lượng và thành phần của các laoij vi khuẩn đường ruột tăng dần
từ tá tràng xuống trực tràng
Hệ vi khuẩn đường ruột bao gồm hai nhóm vi khuẩn lớn:
Nhóm vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột “Enterobacteriaceae” chúng sống hoại sinh trong đường tiêu hóa Bao gồm: Escherichia Coli,
Salmonella, Klebsiella, Shigella, Proteus
Nhóm vi khuẩn vãng lai: Chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước uống
vào hệ tiêu hóa Bao gồm: Staphylococcus, Streptococcus, Bacillus subtilis
Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn còn có các trực khuẩn yếm khí gây thối
rữa như: Clostridium perfringens, Bacillus putieficus, Bacillus sprogenes
2.2.1 Nhóm vi khuẩn đường ruột – Enterobacteriaceae
Enterobacteriaceae là một họ lớn, bao gồm các trực khuẩn Gram (-), sống
trong đường tiêu hóa của người và gia súc Ngoài ra, nó còn tồn tại trong phân,
rác, nước tiểu, đất và trong thực vật Điển hình như: Escherichia Coli,
Salmonella, Klebsiella, Shigella
Escherichia Coli – E coli
Trực khuẩn ruột già E coli có tên khoa học là Bacterium coli commune hoặc Bacillus coli được phân lập từ phân trẻ em bị tiêu chảy năm 1885 (Nguyễn
Vĩnh Phước, 1970) [15]
Vi khuẩn E.coli luôn tồn tại trong hệ tiêu hóa của người, gia súc và gia
cầm Trong nhóm vi khuẩn đường ruột thì E coli là loại phổ biến nhất, thuộc họ trực khuẩn Enterobacteriaceae, giống Escherichia
E coli là một trực khuẩn hình gậy ngắn, bắt màu Gram (-), sống trong
điều kiện hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ tiện, phần lớn di động Chúng phát triển dễ
Trang 21dàng trên các môi trường nuôi cấy thông thường, một số có thể phát triển được ở môi trường tổng hợp đơn giản Nhiệt độ thích hợp 37oC, pH thích hợp là 7 - 7,2
Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp có đủ ba loại kháng nguyên O, H, K Kháng nguyên K gồm có các loại như L, A, B Dựa vào cấu trúc kháng nguyên người ta chia E.coli ra làm các Serotyp khác nhau Hiện nay xác định khoảng 170 kháng nguyên: 80 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H và một số kháng nguyên F
Các yếu tố gây bệnh của E coli bao gồm: Yếu tố bám dính là yếu tố gây bệnh quan trọng của các chủng E coli độc; khả năng dung huyết là một yếu tố độc lực quan trọng của các chủng E coli gây tiêu chảy ở lợn; và độc tố đường ruột (enterotoxin) Enterotoxin của E coli quyết định mức độ tiêu chảy của
lợn (Trương Quang và cs., 2007) [20]
Ở điều kiện bình thường, E coli cư trú ở phần sau của ruột, ít khi có ở dạ
dày hay phía trước của ruột non Chỉ khi nào sức đề kháng của con vật bị suy
yếu thì E coli mới phát triển mạnh và cường độc, gây bệnh cho cơ thể (Nguyễn
Vĩnh Phước, 1970) [15]; (Nguyễn Như Thanh, 1997) [18]
Salmonella
Salmonella là một loại vi khuẩn có hình gậy ngắn, hai đầu tròn, không
hình thành nha bào, giáp mô Đa số Salmonella có khả năng di động, bắt màu
Gram (-), vừa hiếu khí, vừa kỵ khí bắt buộc
Mỗi Salmonella có thể có một hoặc nhiều yếu tố kháng nguyên (KN)
Hiện nay, người ta biết có 67 yếu tố KN O Việc xác định các yếu tố kháng KN
O là hết sức quan trọng để định nhóm và định type KN H chỉ có ở những
Salmonella có lông KN Vi là KN bề mặt bao bên ngoài vách tế bào vi khuẩn,
dưới dạng một màng mỏng không nhìn thấy được ở kính hiển vi thường KN Vi
chỉ có ở 2 type huyết thanh Salmonella typhi và Salmonella paratyphi C
Salmonella có hai loại độc tố là: Nội độc tố và ngoại độc tố Trong đó, nội
độc tố là độc tố rất nguy hiểm, gây độc thần kinh, hôn mê, co giật, gây phù nề mảng payer, hoại tử ruột
Trang 22Yếu tố gây bệnh của Salmonella: Yêú tố bám dính là yếu tố giúp
Salmonelle bám dính được trên lớp tế bào bề mặt niêm mạc ruột của lợn rồi tiết
độc tố và gây tiêu chảy; độc tố đường ruột là yếu tố quyết định khả năng gây bệnh và mức độ tiêu chảy ở lợn khi bị bệnh
Theo Nguyễn Như Thanh (1997) [18]: Ở lợn thì Salmonella cholerae suis gây bệnh phó thương hàn cấp là chủng Kunzendorf và Salmonella typhy gây bệnh mạn tính là chủng Vondagen Vì thế, việc chẩn đoán chính xác các loại trực khuẩn Salmonella là hết sức quan trọng và cần thiết, có ý nghĩa to lớn trong
công tác phòng và điều trị bệnh
Shigella
Shigella là trực khuẩn Gram (-), không có khả năng di động, lên men
đường glucoza, không lên men đường lactoza Nó là tác nhân gây bệnh viêm dạ dày – ruột, nó cư trú ở phần ruột già của gia súc
Shigella có KN thân O, không có KN H Căn cứ vào KN O và tính chất
sinh hóa, người ta chia Shigella ra làm 4 nhóm: Nhóm A, nhóm B, nhóm C và
nhóm D
Các Shigella đều có nội độc tố Riêng trực khuẩn Shiga còn có thêm ngoại độc tố bản chất là protein Nội độc tố Shigella cấu tạo như KN thân, có độc tính
mạnh nhưng tính KN yếu, tác dụng chính của nội độc tố là gây phản ứng tại
ruột Ngoại độc tố của trực khuẩn Shiga không giống như độc tố ruột của Vibrio
cholerae 01 và ETEC, hoạt tính sinh học chủ yếu của ngoại độc tố trực khuẩn Shiga là tác dụng độc đối với tế bào
Shigella gây bệnh lỵ ở người, đây là một bệnh truyền nhiễm có thể gây
thành các vụ dịch địa phương Thương tổn đặc hiệu khu trú ở ruột già, trên lâm sàng biểu hiện bằng hội chứng lỵ với các triệu chứng: đau bụng quặn, đi ngoài
nhiều lần, phân có nhiều mũi nhầy và thường có máu Shigella gây bệnh bằng cơ
chế xâm nhập vào tế bào biểu mô của niêm mạc ruột và nhân lên với số lượng lớn trong tổ chức ruột
Trang 23Klebsiella
Klebsiella là trực khuẩn không di động, không hình thành nha bào,
thường sinh giáp mô, bắt màu Gram (-) Giống này có hai type điển hình là:
Klebsiella pneumoniae và Klebsiella aerogenes (Nguyễn Như Thanh, 1997)
[18] Klebsiella dễ mọc trên môi trường nuôi cấy thông thường, trên thạch dinh
dưỡng hay thạch máu, khuẩn lạc lầy nhầy, màu xám
Trong tự nhiên, Klebsiella pneumoniae thường sống rải rác khắp nơi (đất,
nước) hoặc ký sinh trên đường hô hấp của người và động vật, là nguyên nhân
gây bội nhiễm vi khuẩn ở đường hô hấp Klebsiella aerogenes là trực khuẩn
sống rộng rãi trong tự nhiên, trong đường ruột của người và động vật nhưng không gây bệnh
với cơ thể gia súc Đại diện cho nhóm bao gồm: Staphylococcus, Streptococcus,
Bacillus subtilis, Clostridium perfringens
Staphylococcus
Là một tụ cầu khuẩn, vi khuẩn hình cầu, tụ lại thành từng đám hình chùm
nho Chúng gồm ba loại là: Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis
và Staphylococcus saprophyticus Trong đó, Staphylococcus aureus là vi khuẩn
sinh mủ Đây là loại vi khuẩn gây bệnh hay gặp ở các ổ nhiễm trùng Ngoài ra,
Staphylococcus aureus còn có khả năng hình thành độc tố ruột trong thực phẩm
Trang 24tròn lồi, bóng loáng, óng ánh có thể có màu vàng đậm, màu vàng cam hoặc màu trắng, tương đối lớn sau 24 giờ
Khả năng gây bệnh của tụ cầu là do vi khuẩn phát triển và lan tràn rộng rãi trong mô cũng như tạo thành nhiều độc tố và enzyme Các độc tố và enzym gồm: Hemolysin, leucocidin, coagulase, hyaluronidase, độc tố ruột, độc tố gây hội chứng shock nhiễm trùng, alphatoxin
Streptococcus
Streptococcus là những vi khuẩn hình cầu, xếp thành chuỗi, uốn khúc dài
ngắn khác nhau Liên cầu có mặt ở khắp nơi trong tự nhiên: Đất, nước, không khí, trong cơ thể người và động vật
Liên cầu là những vi khuẩn hiếu kị khí tùy tiện, phát triển tốt ở môi trường có huyết thanh hoặc có các dịch của cơ thể khác Những chủng gây bệnh thường đòi hỏi nhiều yếu tố phát triển Phần lớn liên cầu gây bệnh phát triển tốt
ở 37oC, các liên cầu ruột phát triển tốt ở khoảng nhiệt độ từ 10 đến 45o
C Ở môi trường lỏng vi khuẩn dễ tạo thành các chuỗi, sau 24 giờ canh thang vẫn trong và
có những hạt, những cụm dính vào thành ống sau đó lắng xuống đáy ống Ở thạch máu, khuẩn lạc nhỏ, tròn lồi, màu hơi xám, bóng hoặc mờ đục
Liên cầu khuẩn có khả năng sinh ra dung huyết tố “Strepto izin” và men
có tác dụng làm tan tơ huyết “Streptoki aza”
Bacillus subtilis (B subtilis)
B subtilis là trực khuẩn sống hoại sinh trong đường tiêu hóa và không gây
bệnh Theo Work, Stranger và Dark (1959): B subtilis là vi khuẩn có hệ thống men tương đối hoàn chỉnh: Men Diastaza có tác dụng thủy phân Gluxit, Protit, Lipid Men Xenluloza thủy phân Xenlulose thành đường để hấp thu; men Lipaza
và men Lexitinaza thủy phân các chất mỡ Ngoài ra, B subtilis còn có khả năng tiêu hóa Gelatin, Fibrin
Clostridium perfringens (C perfringens)
Trang 25Là trực khuẩn, không di động, có vỏ khi phát triển ở trong cơ thể người và động vật, vi khuẩn sinh nha bào khi phát triển trong môi trường tự nhiên, chúng bắt màu gram nhưng trong môi trường nuôi cấy già vi khuẩn có thể mất màu
gram C perfringens phát triển trên các môi trường nuôi cấy kỵ khí ở nhiệt độ
37oC, làm đục đều môi trường, trên môi trường thạch kỵ khí vi khuẩn sinh hơi làm nứt thạch
Có 3 loại C perfringens A, B, C là mầm gây bệnh đường ruột quan trọng đối với lợn: C perfringens typ B gây bệnh kiết lị, nhiễm độc ruột ở dê, cừu, ngựa và cả lợn; C perfringens typ C gây bệnh viêm ruột hoại tử ở lợn con, có biểu
hiện lâm sàng trầm trọng về tiêu chảy ra máu, lợn con yếu ớt, lười vận động, tỷ lệ tử
vong cao (thường biến động từ 5 - 59%, có khi đến 100%); C perfringens typ A gây
bệnh nhiễm khuẩn, thường xảy ra ở lợn sau khi sinh được vài giờ, vi khuẩn có thể tìm thấy ở ngay phân su Lợn con bị bệnh ỉa phân nhão như kem bột trong vòng 48h sau khi đẻ, lợn không sốt, bụng chướng hơi Tiêu chảy thường kéo dài
5 ngày, phân lợn có màu mận hồng, lợn bị bệnh tỷ lệ chết it nhưng khi khỏi bệnh lợn thường còi cọc chậm lớn
Độc tố và men của vi khuẩn: C perfringens sản xuất nhiều độc tố, phần
lớn đây là các enzyme khác nhau, các typ khác nhau sản xuất nhiều độc tố khác nhau, ví dụ typ A sản xuất các độc tố: Độc tố alpha, là một phospholipase C chúng thủy phân tổ chức có lecithine, phá hủy hồng cầu, gây hoại tử tổ chức phần mềm, tác dụng trên chức năng cơ tim làm hạ huyết áp, chậm nhịp tim, làm tăng tính thấm mạch máu và gây choáng, thường là tác dụng gây chết trong bệnh hoại thư; độc tố theta, có tác dụng tiêu hồng cầu khi ở điều kiện kỵ khí và tiêu tế bào; độc tố Mu, độc tố này là enzyme hyaluronidase phân hủy axit hyaluronic của tổ chức liên kết; độc tố kappa có hoạt tính của enzyme collagenase phân huỷ collagen của tổ chức liên kết; Enterotoxin bản chất là protein có tác dụng gây tiêu chảy trong nhiễm độc thức ăn
Trang 26Tóm lại, trong đường ruột của lợn cũng như của các loài gia súc có rất nhiều loại vi sinh vật khác nhau Trong đó có những loại thường xuyên cư trú (nhóm vi khuẩn đường ruột), cũng có loại cư trú tùy tiện (nhóm vi khuẩn vãng lai), có những vi sinh vật có lợi và cũng có những vi sinh vật có hại Bình thường những loại vi sinh vật này sống cộng sinh với nhau ở cùng cơ thể vật chủ, tạo ra sự cân bằng cho cơ thể vật chủ Nếu vì một lý do nào đó mà sự cân bằng này bị mất đi thì sức đề kháng của cơ thể vật chủ sẽ bị giảm và dễ sinh bệnh tật
2.3 Những hiểu biết về hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ
2.3.1 Nguyên nhân
Hội chứng tiêu chảy do rất nhiều nguyên nhân gây ra có thể là nguyên nhân nguyên phát, nguyên nhân thứ phát, do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng quản
lý dẫn đến sức đề kháng của lợn con yếu, làm lợn con bị stress tạo điều kiện cho
vi sinh vật tấn công gây bệnh
Một số nguyên nhân gây nên hội chứng tiêu chảy như: sinh lý lợn con,
môi trường, chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng, vi khuẩn, virus và ký sinh trùng
2.3.2 Cơ chế sinh bệnh
Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy là quá trình rối loạn chức phận
bộ máy tiêu hoá và nhiễm khuẩn Hai quá trình này có thể diễn ra đồng thời, hoặc cũng có thể quá trình này trước, quá trình kia sau và ngược lại Song không thể phân biệt rõ được từng quá trình
Khi thiếu mật thì có tới 60% mỡ không tiêu hoá được, gây ra chứng đầy bụng khó tiêu và ỉa chảy, hoặc việc giảm hấp thu cũng dẫn đến ỉa chảy (Phạm Ngọc Thạch, 1997) [9]
Rối loạn chức năng tiêu hóa có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào của ống tiêu hóa gồm :
+ Rối loạn tiết dịch ruột
+ Rối loạn tiết dịch tụy
Trang 27+ Rối loạn tiết dịch ruột
+ Rối loạn co bóp ruột
Do một tác nhân bất lợi nào đó, làm trạng thái cân bằng của khu hệ vi khuẩn đường ruột bị phá vỡ Có thể làm tất cả hoặc chỉ một loài vi khuẩn nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn, gây ra sự biến động ở nhóm vi khuẩn đường ruột, cũng như ở nhóm vi khuẩn vãng lai, các vi khuẩn gây bệnh có
cơ hội tăng mạnh cả về số lượng và độc lực, các vi khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hoá do không cạnh tranh nổi nên giảm đi Cuối cùng, xảy ra hiện tượng loạn khuẩn làm cho quá trình hấp thu bị rối loạn gây tiêu chảy (Trịnh Văn Thịnh, 1985) [19]
2.3.3 Triệu chứng
Lợn con mắc bệnh lúc đầu vẫn bú và chạy bình thường Sau đó con vật
ít bú hoặc bỏ bú, gầy tóp nhanh, lông xù, da nhăn nheo nhợt nhạt, hai chân sau đứng co dúm lại và run rẩy, đuôi và khoeo dính đầy phân, khi con vật đi ỉa rặn nhiều lưng uốn cong, bụng thóp lại, thể trạng đờ đẫn, nằm nhiều hơn đi lại
Th quá cấp tính: Con vật chết nhanh, thường sau 2 - 12 giờ kể từ khi bỏ
bú, lợn bỏ bú hoàn toàn đi xiêu vẹo, loạng choạng, thích nằm bẹp một chỗ, mõn tím tái, thở thể bụng, phân lỏng lầy nhầy, mùi tanh thối Lợn nằm co giật, bốn chân bơi trong không khí rồi chết
Th cấp tính: Con vật chết chậm hơn 2 - 4 ngày kể từ khi bỏ bú, con vật
ỉa chảy, mất dinh dưỡng, nước, khoáng, yếu rồi chết dần
Thế mạn tính: Thường thấy ở lợn tập ăn đến cai sữa Lợn ỉa chảy liên
miên, phân lúc nước lúc sền sệt, mùi rất khó chịu, đít dính phân, bẩn, con vật gầy sụt, xù lông, nếu không chết thì cũng còi cọc
2.3.4 Bệnh tích
Th cấp tính: Niêm mạc dạ dày phủ đầy dịch nhầy, xung huyết và xuất
huyết rõ Niêm mạc ruột bị tổn thương mạnh, có vùng hoại tử Hạch lâm ba chuyển từ màu hồng sang màu đỏ sẫm Gan nhão, dễ vỡ, đôi khi có xuất huyết Túi mật sưng, màu mật biến đổi