Mục tiêu chung Tuyển chọn được các giống lúa có thời gian sinh trưởng cực ngắn, năng suất cao, chống chịu một số loại sâu bệnh hại chính để gieo cấy ở những vùng hay bị lũ sớm tại Tha
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
THANH HÓA- NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Lan
THANH HÓA - NĂM 2015
Trang 3Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ khoa học theo Quyết định số
223 ngày 05 tháng 02 năm 2015 của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức:
Học hàm, học vị,
Chức danh trong Hội đồng
PGS.TS Nguyễn Văn Viết Viện khoa học NN Việt Nam Chủ tịch
TS.Lê Quý Tường Trung tâm khảo nghiệm giống,
sản phẩm cây trồng Quốc gia Phản biện 2 PGS.TS Lê Hữu Cần Trường đại học Hồng Đức Ủy viên
TS Nguyễn Bá Thông Trường ĐH Hồng Đức Thư ký
Xác nhận của Người hướng dẫn
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng
Ngày … tháng … năm 2015 (Ký và ghi rõ họ tên)
TS.Nguyễn Thị Lan
* Có thể tham khảo luận văn tại Thư viện trường và Bộ môn.
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Thanh Hoá, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Đàm Dạ Hương
Trang 5Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo trường Đại học Hồng Đức, Khoa Nông Lâm Ngư nghiệp, Bộ môn Khoa học cây trồng, các thầy giáo, cô giáo
đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Ủy ban nhân dân huyện Nông Cống, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, trạm Khuyến nông, phòng Thống
kê huyện , lãnh đạo và nhân dân xã Thăng Long huyện Nông Cống đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã luôn quan tâm, động viên khích lệ và hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Đàm Dạ Hương
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài: 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 4
3 Ý nghiã khoa học và thực tiễn của đề tài: 4
3.1.Ý nghiã khoa học 4
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
4 Giới hạn của đề tài 4
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới 5
1.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa 7
1.3 Tình hình sản xuất lúa gạo trong nước: 7
1.4 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa của Việt Nam 7
1.5 Nghiên cứu về các tính trạng đặc trưng của cây lúa 12
1.6 Các chỉ tiêu đánh giá và tình hình nghiên cứu chất lượng lúa gạo 18
1.7 Những nghiên cứu trong lĩnh vực chọn tạo giống 22
1.7.1 Vai trò của giống mới 22
Trang 71.7.2 Các hướng chọn tạo giống có kiểu cây mới 23
1.7.3 Phương hướng chọn tạo giống lúa 26
1.7.4 Những kết quả đạt được trong công tác chọn giống 28
1.8 Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Thanh Hóa 31
1.9 Tình hình tác động của thiên tai đến sản xuất lúa tại Thanh Hoá 31
CHƯƠNG 2 : VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Vật liệu nghiên cứu 34
2.2 Nội dung nghiên cứu 35
2.3 Phương pháp nghiên cứu 35
2.3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 35
2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 36
2.3.3 Quy trình kỹ thuật dùng trong thí nghiệm 37
2.3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 37
2.3.4.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng 41
2.3.4.2 Đặc điểm nông sinh học 41
2.3.4.3 Đặc điểm hình thái 43
2.3.4.4 Mức độ nhiễm sâu bệnh 43
2.3.4.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 43
2.3.5 Xử lý số liệu 43
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Một số đặc điểm thực vật học ở giai đoạn mạ của các giống lúa 44
3.2 Thời gian sinh trưởng của các giống lúa 45
3.3 Chiều cao cây, số lá trên cây và màu sắc lá của các giống lúa 48
3.4 Động thái tăng trưởng số nhánh 50
3.5 Chiều dài và chiều rộng lá đòng 53
3.6 Chỉ số diện tích lá của các giống lúa tham gia thí nghiệm 54
3.7 Tình hình phát sinh và gây hại của sâu bệnh trên các giống lúa 57
3.7.1 Rầy nâu 58
Trang 83.7.2 Sâu đục thân 58
3.7.3 Sâu cuốn lá nhỏ 59
3.7.4 Bệnh đạo ôn 59
3.7.5 Bệnh khô vằn 59
3.7.6 Bệnh bạc lá 60
3.8 Một số đặc tính nông học khác 61
3.9 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 62
3.9.1.Số bông trên m2 63
3.9.2 Số hạt / bông 65
3.9.3 Tỷ lệ hạt chắc 65
3.9.4 Khối lượng 1000 hạt của các giống tham gia thí nghiệm 66
3.9.5 Năng suất lý thuyết 66
3.9.6 Năng suất thực thu 67
3.10 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng gạo 68
3.10.1 Chất lượng xay xát 69
3.10.2 Chất lượng thương phẩm 69
3.10.3 Chất lượng nấu nướng và ăn uống 71
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Đề nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
I Tài liệu tiếng Việt 77
II Tài liệu tiếng Anh 80
PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI P1 PHỤ LỤC 2 : KẾT QUẢ XỬ LÝ SỐ LIỆU P4
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FAO: Tổ chức nông nghiệp và lương thực Thế giới
IRRI: Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 10Bảng 3.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các giống lúa tại Nông
Cống trong vụ Mùa năm 2013 46
Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu về thân, lá của các giống lúa trong vụ Mùa năm
2013 tại xã Thăng Long, huyện Nông Cống 49
Bảng 3.4 Động thái tăng trưởng số nhánh của các giống lúa vụ Mùa năm
2013 tại Nông Cống 51
Bảng 3.5.Một số chỉ tiêu về lá đòng của các giống lúa thí nghiệm 54 Bảng 3.6 Chỉ số diện tích lá của các giống lúa vụ Mùa năm 2013 tại xã
Thăng Long, huyện Nông Cống 55
Bảng 3.7 Khả năng chống chịu một số loại sâu bệnh hại chính của các giống
lúa vụ Mùa năm 2013 tại Nông Cống 57
Bảng 3.8 Một số đặc tính nông sinh học khác của các giống lúa vụ Mùa
2013 tại Nông Cống 61
Bảng 3.9 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa vụ Mùa năm
2013 tại xã Thăng Long, huyện Nông Cống 63
Bảng 3.10 Một số chỉ tiêu chất lượng của các giống lúa vụ Mùa năm 2013 tại
xã Thăng Long, huyện Nông Cống 68
Bảng 3.11 Đánh giá phẩm chất cơm của các giống lúa thí nghiệm 73
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Chiều cao cây và số lá trên thân chính của các giống lúa trong vụ
Mùa 2013 tại Nông Cống 50
Hình 3.2.Động thái đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa năm 2013
tại xã Thăng Long huyện Nông Cống 52
Hình 3.3 Chỉ số diện tích lá qua các thời kỳ sinh trưởng của các giống lúa vụ
Mùa năm 2013 tại xã Thăng Long, huyện Nông Cống 55
Hình 3.4 Năng suất của các giống lúa vụ Mùa 2013 tại Nông Cống 64
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L) là một trong ba cây lương thực chính của loài
người, khoảng 40% dân số thế giới xem lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 1/4 khẩu phần lương thực hàng ngày Như vậy lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% dân số thế giới Hiện nay nhu cầu lương thực thế giới vẫn đang tiếp tục tăng cao với hàng triệu người đang thiếu đói hàng ngày
Ở Việt Nam, lúa gạo là nguồn lương thực thiết yếu trong bữa ăn hàng ngày, sản xuất lúa gạo đã và đang trở thành một ngành sản xuất hàng hoá có giá trị nhất định, không thể thiếu trong nền sản xuất nông nghiệp của đất nước Dân số nước ta hiện nay là 86,4 triệu người, với tốc độ tăng gần đây 1 triệu người/năm; diện tích gieo trồng lúa giảm trung bình 58.700 ha/năm, so với 2001; diện tích canh tác lúa giảm 325.000 ha [Cục Trồng Trọt, 2008] Bên cạnh đó, sự biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ còn diễn biến vô cùng phức tạp, gây bất lợi cho sản xuất lúa gạo trong tương lai gần Tại Việt Nam, thiên tai đang ngày càng gia tăng cả về quy mô cũng như chu kỳ lặp lại, từ đó làm mất đi nhiều thành quả của quá trình phát triển kinh tế-xã hội của cả nước Tính bình quân trong 15 năm qua, thiên tai đã gây tổn hại khoảng 1,5% GDP hàng năm Báo cáo kết quả nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương do BĐKH của tổ chức DARA International (năm 2012) chỉ ra rằng, BĐKH có thể làm Việt Nam thiệt hại khoảng 15 tỉ USD mỗi năm, tương đương khoảng 5% GDP Nếu Việt Nam không có giải pháp ứng phó kịp thời, thiệt hại do BĐKH ước tính có thể lên đến 11% GDP vào năm 2030
Hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên như: đất đai, nguồn nước, khí hậu, chế độ thủy văn, nhiệt độ, độ ẩm nên sẽ
là ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi BĐKH ở Việt Nam
Trang 13Thứ nhất, tình trạng ngập lụt do nước biển dâng sẽ làm mất đất canh tác
trong nông nghiệp Nếu mực nước biển dâng thêm 1m, ước tính khoảng 40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các tỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập
Thứ hai, tình trạng xâm nhập mặn ở khu vực ven biển cũng sẽ làm thu
hẹp diện tích đất nông nghiệp Một phần diện tích đáng kể đất trồng trọt ở vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị nhiễm mặn vì
2 đồng bằng này đều là những vùng đất thấp so với mực nước biển
Thứ ba, nhiệt độ tăng, hạn hán (thiếu nước tưới) sẽ ảnh hưởng đến sự
phân bố của cây trồng, đặc biệt làm giảm năng suất, cụ thể là năng suất lúa của vụ Xuân có xu hướng giảm mạnh hơn so với năng suất lúa của vụ Mùa; Theo Trần Thọ Đạt và cộng sự (2012), ước tính rằng, năng suất lúa Xuân ở vùng đồng bằng sông Hồng có thể giảm 3,7% vào năm 2020 và giảm tới 16,5% vào năm 2070; năng suất lúa Mùa sẽ giảm 1% vào năm 2020 và giảm 5% vào năm 2070 nếu không có các biện pháp ứng phó kịp thời và hiệu quả
Do vậy vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý và khoa học nông nghiệp là làm thế nào để đáp ứng được mục tiêu giảm nghèo và an toàn lương thực
Ngoài các điều kiện tự nhiên (khí hậu, thổ nhưỡng), năng suất cây trồng phụ thuộc vào hai yếu tố chính là giống và kỹ thuật canh tác ếu tố giống đóng vai trò hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Đó cũng là biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu vừa rẻ tiền, hiệu quả và nhanh nhất Có được các giống cây trồng mới thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu, cho năng suất cao, chất lượng phù hợp thì người nông dân có thể “sống chung” với biến đổi khí hậu Trong đó, ưu tiên nghiên cứu những giống chống chịu khô hạn, mặn, ngập lụt lâu ngày, giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày góp phần cho mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo xu hướng bền vững
Tại Thanh Hoá, diện tích sản xuất lúa hàng năm của tỉnh khoảng 252.000
ha (vụ Xuân 120.000 ha, vụ Mùa 132.000 ha) và cơ cấu giống lúa thuần
Trang 14chiếm từ 40-70% diện tích Tuy nhiên trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, Thanh Hóa cũng là một trong những địa phương phải hứng chịu tác động nặng nề bởi hạn hán, lũ quét, bão lụt, tần suất và mức
độ tàn phá năm sau thường cao hơn năm trước Vụ Mùa năm 2011 Thanh Hóa thiệt hại trên 385 tỷ đồng do mưa lớn kéo dài, trong đó các huyện bị thiệt hại nặng như huyện Nông Cống, Tĩnh Gia, Lang Chánh, Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Nông Cống, Hà Trung, Triệu Sơn…, diện tích lúa mùa bị mất trắng do bão lụt úng ngập lên đến hàng ngàn ha Có thể nói tình hình lũ lụt tại Thanh Hóa đang rất nghiêm trọng, việc lựa chọn bộ giống lúa cực ngắn (thời gian sinh trưởng 85-90 ngày) để gieo trồng cho vùng hay bị lũ sớm của tỉnh Thanh Hóa
là vấn đề cấp bách mà thực tiễn sản xuất đặt ra Theo thống kê của Sở NN&PTNT Thanh Hóa, huyện Nông Cống có 1.627 ha trồng lúa cần né lụt, huyện Thạch Thành có 1.390 ha lúa cần né lụt, huyện Hà Trung diện tích cần
né lụt cũng lên đến hang ngàn ha… Còn khá nhiều địa phương trong tỉnh Thanh Hóa đang rất cần có giống lúa cực ngắn để đảm bảo an ninh lương thực cũng như đời sống của người dân vùng dễ bị tổn thương bởi tác động của thời tiết cực đoan
Xuất phát từ thực tế sản xuất và mục tiêu phát nông nghiệp nông thôn
nông dân của tỉnh Thanh Hóa, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Tuyển chọn một
số giống lúa cực ngắn để né tránh thiên tai cho vùng hay bị lũ sớm tại Thanh Hóa”
2 Mục tiêu của đề tài:
2.1 Mục tiêu chung
Tuyển chọn được các giống lúa có thời gian sinh trưởng cực ngắn,
năng suất cao, chống chịu một số loại sâu bệnh hại chính để gieo cấy ở những vùng hay bị lũ sớm tại Thanh Hóa
Trang 15
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tuyển chọn được 2-3 giống lúa cực ngắn (có thời gian sinh trưởng dưới
100 ngày), năng suất đạt ≥ 50tạ/ha, chống chịu với một số sâu bệnh hại chính
để gieo cấy ở những vùng hay bị lũ sớm tại Thanh Hóa
3 Ý nghiã khoa học và thực tiễn của đề tài:
4 Giới hạn của đề tài
Do thời gian có hạn, nên đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu trên một số giống lúa cực ngắn ngày ở vụ Mùa năm 2013 tại xã Thăng Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá
Trang 16CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có hơn một trăm nước sản xuất lúa, tập trung chủ yếu
ở Châu Á và Châu Mỹ La tinh Vùng trồng lúa phân bố rộng, có thể trồng ở những vùng có vĩ độ cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 530B, Tiệp 490B, Nhật, Italia, Nga (Kransnodar) 450C Bắc đến Nam bán cầu: New South Wales (Úc) 350N… Tuy nhiên cây lúa phân bố tập trung chủ yếu ở Châu Á từ 300B đến 100
N
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa của 10 nước sản xuất lúa
đứng đầu thế giới năm 2010 Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
dự đoán đến năm 2015, nhu cầu tiêu thụ gạo tăng 11% ở Đông Nam Á, 13%
ở Nam Á, 52% ở Châu Phi (Nguyen và Ferreo, 2006; Zeigler, 2007) Xóa đói
Trang 17giảm nghèo và tăng thu nhập cho người trồng lúa là một trong 8 mục tiêu thiên niên kỉ của Liên Hợp quốc Năm 2010 năng suất lúa đạt cao nhất Diện tích trồng lúa tăng dần từ năm 2000 - 2007, năm 2000 diện tích là 154,11 triệu
ha, năm 2007 diện tích là 155,81 triệu ha, tăng 1,69 triệu ha Về năng suất cũng có sự gia tăng rõ rệt: Năm 2000 năng suất bình quân thế giới chỉ đạt 38,94 tạ/ha, đến năm 2010 năng suất lúa bình quân của thế giới đã đạt bình quân 43,33 tạ/ha, đưa sản lượng lúa thế giới đạt 660,27triệu tấn
Sang những năm đầu thế kỷ 21, người ta có xu hướng hạn chế sử dụng các chất hoá học tổng hợp trong thâm canh lúa, chú trọng chỉ tiêu chất lượng hơn là số lượng làm cho năng suất lúa có xu hướng chững lại hoặc chỉ tăng chút ít Tuy nhiên, ở những nước có nền khoa học kỹ thuật phát triển, năng suất lúa vẫn cao hơn hẳn, thể hiện ở số liệu thống kê tình hình sản xuất lúa của 10 nước có sản lượng lúa hàng đầu trên thế giới (bảng 1)
Năm 2012, sản lượng lúa thế giới dự báo điều chỉnh còn 720 triệu tấn lúa (480,1 triệu tấn gạo), thấp hơn dự báo ban đầu 1,4 triệu tấn lúa, phản ảnh diễn biến
thời tiết xấu do La Nina ở nhiều nước, đặc biệt ở Bangladesh Nhưng sản lượng
lúa 2011 vẫn cao hơn năm 2010 khoảng 2,5% hay 17,7 triệu tấn Trong đó Ấn Độ lần đầu tiên vượt 100 triệu tấn, cao nhất từ trước đến nay Sản lượng kỷ lục còn ghi nhận ở các nước châu Mỹ La-tinh và Caribbean
Tổ chức Lương nông Quốc tế FAO dự báo sản lượng lúa năm 2012 đạt 732,3 triệu tấn (488,2 triệu tấn gạo), cao hơn 2011 là 1,7 % Cứ sau mỗi năm sản lượng lúa tăng thêm 12,3 triệu tấn với điều kiện thời tiết diễn biến bình thường Dự báo này dựa trên diện tích tăng thêm 1,6%, đạt 165,1 triệu ha, năng suất 4,44 tấn/ha, đặc biệt ở Châu Á (Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar, Pakistan, Philippines, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Sri Lanka) Sản xuất lúa cũng hồi phục ở một số nước châu Phi như Mali, Senegal và Nigeria, trong khi Madagascar do bị các trận bão vào tháng 1 Các nước châu Mỹ La-tinh và Caribbean sản lượng giảm 7% so với 2011 do hạn hán, giá lúa thấp, chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là Argentina, Brazil Sản
Trang 18lượng lúa còn giảm ở châu Âu và Mỹ do chuyển qua cây trồng khác, trong khi
Úc được mùa năm 2012
1.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp nói chung
và sản xuất lúa nói riêng
Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất
- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển
Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, trái đất hiện đang đối mặt với một viễn cảnh mà trong đó hạn hán, nắng nóng, cháy rừng, lũ lụt và lốc xoáy diễn
ra thường xuyên hơn, mức độ ngày càng tàn khốc, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của hàng tỷ người
Để ứng phó với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong nghề trồng lúa, các nhà khoa học đã và đang quan tâm nhiều đến công tác lai tạo, chọn lọc giống Vào những năm cuối của thế kỷ 20, Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI đã sử dụng những biến đổi di truyền để chọn những giống lúa có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu với sâu bệnh và đặc biệt chống chịu với những điều kiện bất lợi như đất nhiễm mặn, khô hạn, ngập úng, bão lũ…Một trong những giải pháp ứng phó hữu hiệu với biến đổi khí hậu trong nghề trồng lúa được nhiều quốc gia lựa
Trang 19chọn là chọn giống lúa ngắn ngày và cực ngắn để né tránh lụt bão, ứng ngập, giúp người nông dân vùng dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu có thể yên tâm sản xuất, hạn chế thất thoát bởi thiên tai
Ngày 21/3/2012, tại Hà Nội, Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam
(VDIC) tổ chức Hội thảo trực tuyến "Cách mạng xanh phát triển nâng cao
năng suất nông nghiệp", với sự tham dự của đại biểu 6 nước Việt Nam, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Philippines và Ấn Độ Từ các nghiên cứu năm
2009, nhiều giống lúa siêu cao sản đã được trồng khảo nghiệm ở các nước như Indonesia, Việt Nam, Lào, Campuchia, Trung Quốc…, trong đó có 56 giống lúa tỏ ra kháng nhiều loại sâu bệnh như cháy lá, rầy nâu, muối lá hành… được chuyển giao cho nhiều nước 106 giống đã được đưa qua ngân hàng Gene của mạng lưới quốc tế đánh giá di truyền lúa (Internationnal Network for Genetic Evaluation of rice) Các giống này chịu hạn, thích nghi với vùng đất không tưới, chống chịu với nhiều loại sâu bệnh
1.3 Tình hình sản xuất lúa gạo trong nước:
Ở Việt Nam, trồng lúa là một nghề truyền thống lâu đời nhất của nhân dân Theo thống kế của FAO năm 2008, Việt Nam có diện tích lúa khoảng 7,4triệu ha đứng thứ 7 sau các nước có diện tích lúa trồng nhiều ở Châu Á Năng suất lúa của Việt Nam năm 2010 đạt 5,2 tấn/ha và tiếp tục tăng lên trong năm 2012 Việt Nam vượt trội trong khu vực Đông Nam Á nhờ thuỷ lợi được cải thiện đáng kể và áp dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, bảo vệ thực vật Theo thống
kế của FAO năm 2008, Việt Nam có tổng sản lượng lúa hàng năm đứng thứ 5 trên thế giới, nhưng lại là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2(5,2 triệu tấn) sau Thái Lan (9,0 triệu tấn), chiếm 18% sản lượng xuất khẩu gạo thế giới, 22,4% sản lượng xuất khẩu gạo của châu Á
1.4 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp nói chung
và sản xuất lúa của Việt Nam
Việt Nam được coi là một trong những quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nhiều nhất vì hiện tượng biến đổi khí hậu, do có đường bờ biển dài 3.260
Trang 20km chạy dọc chiều dài đất nước và có hướng với bão, lốc, luợng mưa to và thường xuyên biến đổi Theo nghiên cứu của các chuyên gia, đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, hai vùng nông nghiệp lớn nhất cả nước, sẽ phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất do tình trạng biến đổi khí hậu, nước biển dâng diễn ra Bằng chứng của hiện tượng biến đổi khí hậu có thể thấy rõ ở Việt Nam Nhiệt độ trung bình đã tăng 0.5°C và mực nước biển dâng cao 20 cm so với 50 năm trước Những hiện tượng khí hậu cực đoan như mưa lớn, hạn hán và bão lụt ngày càng xuất hiện với cuờng độ lớn hơn ở Việt Nam.Theo số liệu thống kê của Trường Đại học Thuỷ lợi, có 11 vụ hạn hán nghiêm trọng xảy ra trong các năm từ 1976 - 1996 đã dẫn đến những thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp, gây cháy rừng, làm cạn kiệt sông suối nhỏ và các hồ chứa nước dẫn đến tình trạng biển lấn sâu vào đất liền Có khoảng 3,8 triệu người rơi vào tình trạng thiếu nước sinh hoạt trên toàn quốc
Theo ông Ayumi Konishi, Giám đốc ADB tại Việt Nam: "Khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam là khu vực dễ bị tổn thương nhất, hơn bất cứ nơi nào khi biến đổi khí hậu diễn ra Tác động lớn của biến đổi khí hậu đang đến gần buộc các nước phải hành động kịp thời, đầu tư ngay từ bây giờ cho các biện pháp ứng phó, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu Nếu khu vực đồng bằng sông Cửu Long, một trong những vựa lúa lớn nhất nước,
bị ngập chìm trong nước do mực nước biển dâng, sẽ đồng nghĩa với việc Việt Nam phải đối mặt với thách thức mất sản lượng lúa gạo, sản xuất giảm và hơn cả
là mất đất sản xuất nông nghiệp Do đó, cần nghiên cứu để có giải pháp ứng phó"
Bộ Tài nguyên và Môi trường đang nghiên cứu, cập nhật để đưa ra kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng chính xác hơn vào năm 2015 Thủ tướng Việt Nam vừa qua đã phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu” Theo đó, Việt Nam dự trù chi 1.965 tỷ đồng cho công tác ứng phó biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu ở Việt Nam đã gây nhiều hệ lụy nghiêm trọng trong sản xuất nông nghiệp Điều đầu tiên phải kể đến là thiếu diện tích canh tác do nước biển
Trang 21dâng cao, xâm lấn những cánh đồng thấp trũng ven biển Mùa hè thì hạn hán, nắng nóng, thiếu nước dẫn đến hoang mạc hóa, sa mạc hóa trên những vùng đất cát, đất trống, đồi trọc Từ đó, hệ số sử dụng đất nông nghiệp giảm Thứ hai là năng suất, sản lượng cây trồng nông nghiệp giảm mạnh do giống, cây trồng nông nghiệp không còn thích nghi với điều kiện thời tiết, khí hậu biến đổi; cơ cấu cây trồng, giống bị đảo lộn; dịch hại, sâu bệnh hoành hành… Mùa mưa bão thường đến bất thường với sự gia tăng cả tần suất và cường độ, đôi khi làm mùa màng bị mất trắng, nhất là những vùng ven sông, suối, ven biển, vùng trũng…Tổng hợp hai nguy cơ trên có thể dẫn đến thiếu ăn, nghèo đói do an ninh lương thực không đảm bảo, thiếu việc làm, thu nhập thấp Ngoài các điều kiện tự nhiên (khí hậu, thổ nhưỡng), năng suất cây trồng phụ thuộc vào hai yếu tố chính là giống và kỹ thuật canh tác ếu tố giống đóng vai trò hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Đó cũng là biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu vừa rẻ tiền, hiệu quả và nhanh nhất Có được các giống cây trồng mới thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu, cho năng suất cao, chất lượng phù hợp thì người nông dân có thể “sống chung” với biến đổi khí hậu Trong đó, ưu tiên nghiên cứu những giống chống chịu khô hạn, mặn, ngập lụt lâu ngày, giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày góp phần cho mục tiêu chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo xu hướng bền vững
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong ba vùng bị thiệt hại nặng nhất trên thế giới do biến đổi khí hậu (BĐKH), bởi dự báo nếu mực nước biển dâng 1 m thì 70% diện tích vùng ĐBSCL sẽ bị ngập, khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa bị mất, kéo theo khoảng 4,7 triệu người dân chịu ảnh hưởng Để hạn chế thiệt hại do BĐKH, Viện lúa ĐBSCL đã đưa ra một số loại giống lúa có khả năng thích nghi với những biến đổi thất thường của khí hậu: 31 giống lúa có khả năng chống chịu khô hạn và 14 giống lúa mẹ có khả năng kháng mặn tốt Qua kết quả đánh giá, các giống lúa thích nghi với biến đổi khí hậu như: OM8923, OM6162, OM4218, OM6377, OM5629, OM6677, OM5464,OM6976…Các giống OM5464, OM 5629, OM 6677 có khả năng chịu được độ mặn 3 – 4 ‰ Riêng
Trang 22giống lúa IR 64 Subon 1 đang được thí nghiệm cho thấy có khả năng thích ứng với độ mặn 5 - 6 ‰ ngập úng trong khoảng 21 ngày
Đối với việc hạn chế mức thấp nhất thiệt hại sản xuất lúa do lụt bão, việc tìm ra những giống ngắn ngày, thu hoạch sớm nhưng đảm bảo năng suất phẩm chất tốt được coi là giải pháp hữu hiệu Do đó, các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu, lai tạo ra nhiều loại giống lúa cực sớm chất lượng cao có khả năng thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu nhằm thâm canh tăng vụ và hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại thiên tai gây ra
Theo Trần Đình Giỏi, trong 2 vụ lúa Hè Thu và Thu Đông 2011 vừa qua, Viện Lúa ĐBSCL đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Vĩnh Long gieo sạ thử nghiệm 13 giống lúa mới cực sớm (90- 94 ngày) và 2 giống đối chứng tại 4 huyện Tam Bình, Long Hồ, Trà Ôn và Vũng Liêm, nhiều giống đã thể hiện được nhiều tính trạng vượt trội như: ngắn ngày, năng suất cao, kháng nhiều sâu bệnh và ít lem lép hạt…Các giống OM6904, OM10423, OM4488, OM6904, OM10417 và OMCS 2000 cho năng suất từ 6,6- 7,5 tấn/ha Các giống lúa cực sớm này phẩm chất gạo ngon không thua các giống khác lại có thể tăng vụ và né lũ rất hiệu quả Như vậy hiệu quả ban đầu là bước đi quan trọng cho nông dân trong việc sử dụng giống lúa cực sớm vào sản xuất đại trà, nhằm thâm canh tăng vụ và đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu
Tại khu vực đồng bằng sông Hồng và Trung Bộ, những năm gần đây do biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh đến sản xuất lúa, nhu cầu giống lúa ngắn ngày và cực ngắn càng được quan tâm hơn bao giờ hết Ngay từ những năm đầu của thập niên 90, một số giống ngắn ngày đã được gieo cấy phổ biến trong vụ hè thu ở các vùng hay bị lũ lụt sớm như CN2, Ải Mai Hương, Ba Trăng Hiện nay, bộ giống lúa có thời gian sinh trưởng dưới 100 ngày trong vụ Hè Thu khá phong phú
và ngày càng được chú trọng lai tạo, tuyển chọn theo hướng ngắn ngày, năng suất khá, chất lượng gạo tốt, chống chịu với nhiều loại sâu bệnh như: DT122 của Viện
Di truyền thực vật; P6ĐB, GL101, GL102 của Viện Cây lương thực thực phẩm;
Trang 23TH3-3, TH3-4, VL20, VL24 của Viện nghiên cứu lúa trường Đại học nông nghiệp
Hà Nội; VTNA2, Thanh ưu 3, Hoa ưu 109 của một số tỉnh chọn lọc lai tạo Các giống lúa này đang được coi là giải pháp hữu hiệu cho sản xuất lúa ở những vùng hay bị bão lũ sớm của nhiều địa phương trong đó có Thanh Hóa
1.5 Nghiên cứu về các tính trạng đặc trưng của cây lúa
Lúa là cây trồng đa dạng về kiểu hình, mỗi giống có những đặc điểm riêng biệt mà ta có thể dựa vào đó để phân biệt như: thời gian sinh trưởng, khả năng đẻ nhánh, chiều cao cây, bộ lá lúa và khả năng quang hợp, dạng hạt, màu sắc hạt [16] Các nhà chọn tạo và khảo nghiệm giống trước khi chuẩn bị cho bất kỳ một chương trình chọn tạo và khảo nghiệm giống nào cũng cần có những thông tin đầy đủ các đặc điểm về nguồn vật liệu khởi đầu của giống
Do vậy, việc nghiên cứu các đặc điểm hình thái, đặc điểm nông học, khả năng chống chịu… của các giống lúa đã được tiến hành từ lâu và thu được nhiều kết quả có ý nghĩa
* Thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ lúc nảy mầm cho đến khi chín, thường thay đổi từ 90-180 ngày tuỳ theo giống và điều kiện ngoại cảnh Trong canh tác lúa hiện đại, các nhà nông học hết sức quan tâm đến thời gian sinh trưởng của các giống lúa vì đây là yếu tố có tương quan chặt đến năng suất và việc bố trí thời vụ, cơ cấu luân canh của người nông dân trong cả một năm Qua nghiên cứu các tài liệu về thời gian sinh trưởng của các giống lúa, cho thấy: Những giống lúa có thời gian sinh trưởng quá ngắn thì không thể có năng suất cao vì sinh trưởng dinh dưỡng bị hạn chế, ngược lại những giống có thời gian sinh trưởng quá dài thì cũng cho năng suất thấp vì dễ bị lốp đổ và chịu nhiều tác động bất lợi của ngoại cảnh Trong khi đó, các giống lúa có thời gian sinh trưởng trong khoảng 120-135 ngày có khả năng cho năng suất cao hơn nhiều
Nguyễn Đình Giao và các cộng sự (2000) [13] cho rằng: Các giống lúa ngắn ngày ở nước ta có thời gian sinh trưởng từ 90-120 ngày, giống trung
Trang 24ngày có thời gian sinh trưởng từ 140-160 ngày Các giống lúa chiêm cũ ở miền Bắc, do ảnh hưởng của nhiệt độ thấp, thời gian sinh trưởng từ 180-200 ngày Ở đồng bằng sông Cửu Long, các giống lúa địa phương có thời gian sinh trưởng trong vụ Mùa tương đối dài, khảng 200-240 ngày, cá biệt những giống lúa nổi có thời gian sinh trưởng dài đến 270 ngày
Hiện nay thời gian sinh trưởng lý tưởng của cây lúa là 90 – 100 ngày Tuy nhiên thời gian sinh trưởng của cây lúa còn phụ thuộc vào thời vụ gieo cấy với điều kiện ngoại cảnh khác nhau Trong điều kiện ở miền Bắc nước ta,
do ảnh hưởng của của điều kiện nhiệt độ thấp, thời gian sinh trưởng của cùng một giống lúa nếu gieo cấy vào vụ Xuân sẽ dài hơn gieo cấy trong vụ Mùa Trong cùng một vụ, nếu thời vụ gieo cấy sớm hay muộn thì thời gian sinh trưởng của một giống lúa cũng thay đổi Ngay cả trong cùng một thời vụ gieo cấy ở vụ chiêm Xuân, năm nào trời rét lúa trỗ muộn, thời gian sinh trưởng kéo dài; năm nào ấm thì ngược lại Còn trong vụ Mùa, nhiệt độ ít thay đổi qua các năm nên thời gian sinh trưởng của các giống lúa tương đối ổn định
Trong sản xuất hiện nay, người nông dân rất cần có những giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu cao, không phản ứng với quang chu kỳ để có thể trồng được nhiều vụ trong năm, nhằm tăng hệ số sử dụng ruộng đất từ đó tăng sản lượng và tăng thu nhập cho nhà nông
* Khả năng đẻ nhánh
Khả năng đẻ nhánh là một đặc điểm của cây lúa, sau khi cấy cây lúa bén rễ hồi xanh rồi bước vào thời kỳ đẻ nhánh Đây là thời kỳ có ý nghĩa đáng kể trong toàn bộ đời sống của cây lúa và quá trình tạo năng suất sau này Trong quá trình sinh trưởng, nhánh lúa được hình thành từ các mắt đốt trên thân, cây lúa đẻ nhánh theo quy luật chung Tuy nhiên, các giống lúa khác nhau, thời gian đẻ nhánh cũng khác nhau Khi nghiên cứu về đặc tính đẻ nhánh của cây lúa cho biết: “ Nhánh lúa không bao giờ phát triển khi lá tương đương với nó chưa phát triển xong, nhánh không phát triển nữa khi bộ lá khô” Khi nghiên cứu về vấn đề
Trang 25này, Vũ Tuyên Hoàng, Luyện Hữu Chỉ, Trần Thị Nhàn [22] cho biết: Những
giống lúa đẻ nhánh sớm, tập trung sẽ cho năng suất cao hơn”
Những giống lúa đẻ nhánh rải rác thì trỗ bông không tập trung, bông không đồng đều, lúa chín không đều, không có lợi cho quá trình thu hoạch và năng suất thấp Khả năng đẻ nhánh của cây lúa phụ thuộc vào phạm vi mắt đẻ
và điều kiện ngoại cảnh Phạm vi mắt đẻ trước hết phụ thuộc vào số lá trên cây mẹ, mỗi lá tương ứng với một mầm nách tức là có khả năng hình thành một nhánh Từ cây mẹ có thể đẻ ra nhánh con (nhánh cấp 1), từ nhánh con có thể đẻ ra các nhánh cháu (nhánh cấp 2), nhánh cháu có thể đẻ ra nhánh chắt (nhánh cấp 3)…
Tuy nhiên trong điều kiện quần thể, do gieo cấy dày nên số nhánh đẻ thực tế có giới hạn Sau một thời gian đẻ nhánh, số nhánh tăng lên trong quần thể ruộng lúa có hiện tượng tự điều tiết, do sự cạnh tranh về ánh sáng và dinh dưỡng nên số nhánh không tăng lên nữa
Thông thường ở ruộng mạ gieo dày không có hiện tượng đẻ nhánh, nếu gieo thưa (nhất là những cây mạ hàng rìa) có thể đẻ nhánh sớm, khi cây mạ
có 4 – 5 lá, ta gọi là mạ ngạnh trê, lúc đó mật độ cây trong ruộng mạ tăng lên
và quá trình đẻ nhánh ngừng lại Các nhà khoa học tại Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) [46], [47], [49] đều nhất trí cho rằng: đẻ nhánh là tính trạng số lượng, tính trạng này có hệ số di truyền từ thấp đến trung bình và chịu ảnh hưởng rõ rệt của điều kiện ngoại cảnh
* Chiều cao cây
Chiều cao cây lúa là một chỉ tiêu hình thái có liên quan đến một số chỉ tiêu khác, đặc biệt là khả năng chống đổ Các nhà khoa học ở Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) [45] khẳng định rằng: Các giống lúa lùn có nguồn gốc
từ Trung Quốc (Dee – geo – woo – gen) chúng mang gen lùn, lặn nhưng không ảnh hưởng gì đến chiều dài bông lúa, có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chọn tạo giống Hiện nay các nhà chọn tạo giống đang tập trung và định hướng chọn tạo kiểu hình cây lúa có chiều cao lý tưởng là 100 cm
Trang 26* Bộ lá lúa và khả năng quang hợp
Bộ lá lúa là một đặc trưng hình thái giúp phân biệt các giống lúa khác nhau, đồng thời lá lúa còn là cơ quan quang hợp tạo chất hữu cơ Vì vậy, màu sắc lá, kích thước lá, độ dày của lá, góc độ lá lúa có ảnh hưởng lớn đến quá trình tạo năng suất sinh vật học và năng suất kinh tế
Quá trình hình thành của lá thường trải qua 4 thời kỳ nhỏ
đi, các lá mới lại tiếp tục xuất hiện
Tốc độ ra lá được thay đổi theo thời gian sinh trưởng và điều kiện ngoại cảnh Trung bình 1 – 3 ngày ra một lá ở thời kỳ mạ non, 7 – 10 ngày ra một lá
ở thời kỳ mạ khoẻ; 5 – 7 ngày ra một lá ở thời kỳ đẻ nhánh và khoảng 12 – 15 ngày ra một lá vào thời kỳ cuối đẻ nhánh, chuyển sang làm đòng [13] Tổng
số lá trên cây nhiều hay ít cũng có liên quan đến thời gian sinh trưởng và diện tích lá của quần thể Số lá trên cây trước hết phụ thuộc chủ yếu vào giống Ở nước ta nhóm giống lúa ngắn ngày thường có khoảng 12 – 15 lá, nhóm giống lúa trung ngày có khoảng 16 – 18 lá và nhóm dài ngày có thể có 20 – 21 lá
Số lá còn thay đổi tuỳ theo thời vụ cấy, các biện pháp bón phân và chăm sóc khác Cùng một giống nếu gieo sớm, số lá tương đối nhiều, nếu gieo cấy muộn số lá giảm đi và thời gian sinh trưởng cũng sẽ rút ngắn Vụ Xuân ở miền Bắc, những năm rét nhiều, rét đậm, thời gian sinh trưởng của cây lúa bị kéo dài, số lá có thể tăng lên từ 1 – 4 lá Khi số lá trên cây bị thay đổi thì thời gian sinh trưởng của cây lúa cũng biến đổi theo
Theo Nguyễn Hữu Tề (2001) [13] trong một phạm vi nhất định diện tích
lá có mối tương quan thuận với quá trình quang hợp nhưng nếu vượt quá giới
Trang 27hạn này thì lượng chất khô thực tế lại giảm đi vì quá trình hô hấp cũng có tương quan thuận với diện tích lá Hệ số diện tích lá phụ thuộc vào giống (dạng đứng hay xoè), mật độ, lượng phân bón…Diện tích lá tăng dần trong quá trình sinh trưởng, tăng mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh rộ và đạt tối đa trước lúc lúa trỗ bông Các giống lúa thấp cây, lá đứng có thể tăng mật độ cấy
đẻ nâng cao hệ số diện tích lá Các giống lúa cao cây, lá xoè nên hạn chế tăng mật độ vì dễ dẫn tới hiện tưọng các lá che khuất nhau, khi đó không những không tăng được lượng quang hợp (do hô hấp tăng) mà còn tạo điều kiện cho sâu bệnh xuất hiện và gây hại nặng
Độ dài lá có quan hệ đa hiệu với các gen xác định chiều cao cây nhưng lại bị chi phối bởi điều kiện ngoại cảnh [47]
Tính trạng lá đòng dài, đứng di truyền độc lập với gen kiểm tra độ dài thân và độ dài các lá phía dưới [45]
* Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
Năng suất lúa được tạo bởi 4 yếu tố, đó là:
- Số bông trên đơn vị diện tích
- Số hạt trên bông
- Tỷ lệ hạt chắc
- Khối lượng 1000 hạt
Trong các yếu tố trên thì số bông trên đơn vị diện tích có tính quyết định
và hình thành sớm nhất, yếu tố này phụ thuộc vào mật độ cấy; khả năng đẻ nhánh, khả năng chịu phân bón (nhất là phân đạm) Các giống lúa mới thấp cây, lá đứng, đẻ khoẻ, chịu thâm canh có thể cấy tăng mật độ để tăng số bông trên đơn vị diện tích [13]
Số hạt trên bông là yếu tố phụ thuộc nhiều vào đặc tính của giống, điều
kiện ngoại cảnh, lượng phân bón và kỹ thuật bón phân [22] Số hạt trên bông
nói lên sức chứa của cây, sức chứa phải tương ứng với nguồn Nguồn lớn và sức chứa nhỏ gây ra hiện tượng vẹo hạt, sức chứa lớn nguồn nhỏ thì tỷ lệ hạt lép cao Vì vậy nâng cao số hạt trên bông thì các nhà chọn giống phải chú ý
Trang 28đến khả năng quang hợp của cây [37] Tỷ lệ hạt chắc là một yếu tố cấu thành năng suất, giống có tỷ lệ hạt chắc cao sẽ cho năng suất cao Tỷ lệ hạt chắc được quyết định trực tiếp bởi 3 thời kỳ là: thời kỳ giảm nhiễm, trỗ và chín Để
có tỷ lệ hạt chắc cao phải bố trí thời vụ gieo cấy hợp lý, sao cho khi lúa làm đòng, trỗ bông và chín gặp được điều kiện ngoại cảnh thuận lợi [13] và cây lúa phải được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cũng như chế độ tưới tiêu phải hợp
lý
Khối lượng 1000 hạt chủ yếu phụ thuộc vào đặc tính của giống mà ít chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh Tuy nhiên trong thời kỳ từ lúc lúa trỗ bông cho đến chín sữa, nếu cây lúa gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi, đủ nước, lá xanh bền thì khối lượng 1000 hạt sẽ cao
Khi nghiên cứu về năng suất cá thể, Vũ Tuyên Hoàng và Luyện Hữu Chỉ [22] cho rằng: Những giống lúa có bông to, hạt to sẽ cho năng suất cao Nguyễn Văn Hiển, Trần Thị Nhàn [19] khi nghiên cứu độ thoát cổ bông cho biết: Những giống lúa có bông trỗ thoát hoàn toàn thường cho tỷ lệ hạt chắc cao hơn và ngược lại
Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất thực chất là mối quan hệ giữa cá thể và quần thể [26] Mối quan hệ này có 2 mặt, khi số bông tăng lên trong một giới hạn nào đó thì khối lượng bông giảm ít nên năng suất cuối cùng tăng, đó là mối quan hệ thống nhất Nhưng khi số bông tăng lên quá cao sẽ làm cho khối lượng bông giảm nhiều, lúc đó năng suất sẽ giảm, đó là mối quan hệ mâu thuẫn Vì vậy trong kỹ thuật trồng trọt phải điều tiết mối quan hệ giữa số lượng bông và khối lượng bông sao cho hợp lý để thu được năng suất lúa cao nhất
Ngoài các yếu tố trên có ảnh hưỏng trực tiếp đến năng suất thì chiều dài bông và chiều dài cổ bông lại có ảnh hưởng gián tiếp đến năng suất
- Chiều dài bông: Là một đặc điểm di truyền của giống, nó được tính từ đốt cổ bông đến đầu mút bông không kể râu Chiều dài bông là một tính trạng
Trang 29liên quan trực tiếp đến số hạt/bông, nó quyết định một phần năng suất của giống Chiều dài bông do cả gen trội và gen lặn quy định [37]
- Chiều dài cổ bông: Chiều dài cổ bông có ý nghĩa gián tiếp đến năng
suất của giống và đặc biệt có ý nghĩa trong sản xuất hạt lai và tính chống bệnh đạo ôn ở lúa Chiều dài cổ bông do các gen trội điều khiển và có độ biến động rất lớn [31] Chiều dài cổ bông có liên quan đến chiều dài lóng đốt cuối cùng
và biểu hiện ở tính trỗ thoát của bông Trong nghiên cứu về lúa lai các nhà
khoa học đã phát hiện gen lặn eui có khả năng kéo dài lóng đốt cuối cùng
mạnh nhất làm cổ bông dài ra nhưng không kéo dài các lóng ở bên dưới [57]
1.6 Các chỉ tiêu đánh giá và tình hình nghiên cứu chất lượng lúa gạo
* Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng gạo
Tại cuộc hội thảo của các nhà di truyền chọn giống, các nhà hoá sinh học đến từ tất cả các nước trồng lúa trên thế giới tại Viện lúa Quốc tế IRRI (tháng 10/1978), người ta đã chia chất lượng lúa gạo thành bốn nhóm:
- Chất lượng xay xát (Milling quality)
- Chất lượng thương phẩm (Market quality)
- Chất lượng nấu nướng và ăn uống ( Cooking and eating quality)
- Chất lượng dinh dưỡng (nutritive quality)…
Đây là cơ sở cho các nhà chọn giống nghiên cứu, đánh giá chất lượng của các dòng giống lúa
* Chất lượng xay xát
Chất lượng xay xát được xem xét ở 2 chỉ tiêu chủ yếu đó là tỷ lệ gạo lật
và gạo xát tính theo % khối lượng của thóc; tỷ lệ gạo nguyên tính theo % khối lượng gạo xát Thóc có chất lượng xay xát tốt là thóc sau khi xát cho tỷ lệ gạo tổng số và gạo nguyên cao Xay xát thực chất là quá trình loại bỏ vỏ trấu, phôi
và vỏ cám Khi loại bỏ các thành phần này thì hàm lượng của cellulose và lipid bị giảm xuống rõ rệt Khi giảm hàm lượng cellulose ở ngoài sẽ giúp tăng khả năng tiêu hoá, còn khi giảm hàm lượng lipid sẽ làm tăng khả năng bảo quản Việc loại bỏ phôi và vỏ cám cũng sẽ làm giảm hàm lượng protein, có
Trang 30thể làm giảm được sự mất mát nhiều dinh dưỡng do xay xát bằng kỹ thuật xử
lý thuỷ nhiệt, ngâm vớt thóc, hấp phơi khô rồi mới xát Khi thu hoạch lúa phải xác định đúng thời điểm chín sinh lý thì mới đạt tỷ lệ gạo nguyên cao
Tỷ lệ vỏ trấu trung bình từ 20-22% và có thể thay đổi từ 16-26% Cám
và phôi hạt chiếm 10% Do đó tỷ lệ gạo trắng thường ở khoảng 70% (Khush
và ctv, 1979) Tỷ lệ gạo trắng thường ít biến động và nó cũng phụ thuộc ít vào môi trường (Bùi Chí Bửu và ctv, 2000) Tỷ lệ gạo nguyên biến động rất lớn Đây là một tính trạng di truyền và chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường, đặc biệt là nhiệt độ và độ ẩm trong thời gian chín và sau thu hoạch (Khush và ctv, 1979)
Theo Ngô Quốc Trung (2007), hàm lượng trấu của lúa Việt Nam rải rộng (18,18 đến 26,9%), các giống lúa ở miền Nam gieo trồng trong vụ Hè thu có hàm lượng vỏ trấu gần như nhau, các giống lúa gieo trồng vụ Xuân Hè có hàm lượng trấu cao nhất
* Chất lượng thương phẩm
Chất lượng thương phẩm là tiêu chuẩn dùng để mua bán, trao đổi trong nước và quốc tế Chất lượng thương phẩm căn cứ vào: Hình dạng, chiều dài, chiều rộng, độ bóng, độ trong, độ bạc bụng và màu sắc hạt gạo [52] Hạt gạo càng dài, càng trong (độ bạc trắng càng thấp) thì càng được ưa chuộng trên thị trường
Chất lượng thương phẩm là chỉ tiêu có ý nghĩa quyết định trong việc sản xuất hàng hoá của lúa gạo, chất lượng này được thể hiện ở các chỉ tiêu cơ lý sau:
- Tỷ lệ gạo nguyên (Wale Kernel): hạt gạo còn nguyên, hình dạng tự
nhiên theo khối lượng gạo xát (Lê Doãn Diên và cộng sự, 2003)[6]
- Tỷ lệ gạo trắng trong: là tỷ lệ gạo nguyên (trừ gạo nếp) sau khi loại bỏ các hạt vàng (yellow kernel), hạt đỏ (red kernel), hạt hư hỏng (head damaged kernel)
Trang 31Chất lượng của các mẫu hạt gạo thương phẩm thường được đánh giá căn
cứ vào hàm lượng ẩm, độ sạch, không có trấu, rơm rạ và các loại hạt khác cũng như căn cứ vào màu sắc và độ đồng đều Khi các nhà sản xuất lúa gạo mang thóc đi bán, tất cả các chỉ tiêu này đều phải được xem xét, đánh giá các mẫu thóc, sau đó phải chịu các thử nghiệm xay xát và nấu nướng Do đó kích thước hạt, màu sắc hạt, độ láng bóng, độ trong và độ đồng đều của hạt rất quan trọng cần xem xét trước khi đánh giá độ tăng trọng của hạt gạo
Phương pháp đánh giá độ tăng trọng của hạt gạo được đánh giá bằng mắt hoặc kính hiển vi Về kích thước và hình dạng hạng có thể tuỳ theo đặc tính của giống mà hạt gạo có kích thước và khối lượng khác nhau
Sở thích của người tiêu dùng khác nhau khá rõ giữa các vùng, các quốc gia cho nên tiêu chuẩn đánh giá chiều dài và hình dạng hạt thay đổi giữa các
quốc gia và dân tộc Nhóm dân cư ở vùng trồng lúa Japonica hạt dài trung
bình, các nước Châu Á rất thích hạt gạo dài và rất dài như Thái Lan, Hồng Kông và một số nước Châu Mỹ Những vùng trồng lúa cạn như vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên Việt Nam thì người tiêu dùng lại rất thích hạt gạo
to, bầu
* Chất lượng nấu nướng và ăn uống
Ngoài tính trạng thon dài, trong suốt, tỷ lệ gạo nguyên cao thì chất lượng nấu nướng và ăn uống cũng rất cần thiết trên thương trường Chất lượng nấu nướng và ăn uống được đánh giá qua các chỉ tiêu về nhiệt độ hoá hồ, hàm lượng amylose, hương thơm và các phẩm chất của cơm như độ nở, độ hút nước, độ bóng, độ rời, độ chín…Chất lượng nấu nướng và ăn uống phản ánh thị hiếu người tiêu dùng ở các khu vực
Hàm lượng amylose được coi là quan trọng bậc nhất để xác định chất lượng nấu nướng và ăn uống của gạo Dựa vào hàm lượng amylose trong nội nhũ, các giống lúa được phân thành 2 nhóm waxy (1-2%) (gạo nếp) và nonwaxy (>2%) (gạo tẻ) Trong nhóm nonwaxy chia làm 3 nhóm: hàm lượng amylose thấp (10-20%), hàm lượng amylose trung bình (20-25%), hàm lượng
Trang 32amylose cao (>25%) Các giống có hàm lượng amylose thấp cho cơm dẻo, các giống có hàm lượng amylose trung bình cho cơm mềm, các giống có hàm lượng amylose cao thì cho cơm cứng hoặc rất cứng [2]
Mùi thơm là một chỉ tiêu rất quan rọng khi đánh giá chất lượng gạo Mùi thơm có thể được đánh giá tại 3 thời điểm: trên lá, trên hạt gạo lật và trên cơm khi nấu Theo đó thì người ta chia các giống thành 3 mức: không thơm, hơi thơm và thơm
Dựa trên nhiệt độ hóa hồ người ta có thể chia gạo của các giống lúa khác nhau thành các loại sau đây: giống có nhiệt độ hoá hồ thấp (<69oC), giống có nhiệt độ hoá hồ trung bình (70-74oC) và giống có nhiệt độ hóa hồ cao (>74oC) Tinh bột của đa số các giống Japonica có nhiệt độ hoá hồ từ thấp đến trung bình Còn các giống lúa Indica, con lai giữa Indica và Japonica
thường có nhiệt độ hoá hồ cao
Khi nghiên cứu chất lượng gạo của một số giống lúa địa phương và nhập nội, phần lớn có hàm lượng amylose từ trung bình đến cao, nhiệt độ hoá hồ cao, thuộc nhóm cơm 1 và 2, các nhóm lúa đặc sản thường ở nhóm cơm 3 và
4 Gieo cấy ở vụ Mùa cho chất lượng cơm ngon hơn cơm ở vụ chiêm Xuân
Độ nở và khả năng hút nước cũng tăng theo chiều của hàm lượng amylose Việc xác định hàm lượng amylose và nhiệt độ hoá hồ cũng như mối liên quan đến hai yếu tố này là biện pháp gián tiếp chủ yếu trong chương trình chọn giống lúa nhằm kiến tạo các giống lúa có chất lượng nấu nướng tốt Mặc
dù các đặc tính của tinh bột gạo và những biến đổi của nó trong thời gian nấu cơm nhưng đây vẫn là những yếu tố quan trọng chủ yếu trong việc xác định các đặc tính của cơm
Ngoài ra trong các chỉ tiêu về chất lượng nấu nướng và ăn uống thì phẩm chất cơm là một chỉ tiêu không thể thiếu Phẩm chất cơm được đánh giá dựa vào độ nở của hạt gạo sau khi nấu, độ bóng của cơm, khả năng hút nước của gạo…
Trang 33* Chất lượng dinh dưỡng
So với các cây trồng được coi là cây lương thực nuôi sống con người thì lúa có hàm lượng protein trong hạt ít hơn, chỉ khoảng 7-8% Tuy nhiên lúa gạo lại cung cấp 40-80% lượng calori và 40-50% lượng protein trong khẩu phần dinh dưỡng hàng ngày của con người Protein của gạo là loại protein có giá trị dinh dưỡng cao nhất so với tất cả các loại ngũ cốc khác Nó được đặc trưng bởi tính dễ đồng hoá, sự cân bằng về các loại aminoacid và có mặt đủ của 8 aminoacid không thay thế cũng như các loại vitamin và khoáng chất
1.7 Những nghiên cứu trong lĩnh vực chọn tạo giống
1.7.1 Vai trò của giống mới
Trong sản xuất nông nghiệp, giống đóng vai trò quan trọng trong việc tăng sản lượng và chất lượng cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm chi phí sản xuất Giống cây trồng là khâu quan trọng nhất trong sản xuất trồng trọt Đặc tính của giống (kiểu gen), yếu tố môi trường và kỹ thuật canh tác quyết định năng suất của giống Những sự thay đối về khí hậu, đất, nước ảnh hưởng rất lớn đến năng suất Có sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường, kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định của môi trường
Vì vậy đánh giá tính ổn định và thích nghi của giống với môi trường thường được sử dụng để đánh giá giống
Giống cây trồng nói chung và giống lúa nói riêng thì trong sản xuất chưa bao giờ đáp ứng đủ Hầu hết các nước trồng lúa trên thế giới đều quan tâm nghiên cứu về giống Viện nghiên cứu lúa quốc tế (International Rice Research Institute-IRRI) đã có chương trình nghiên cứu lâu dài về chọn giống, tạo giống nhằm đưa ra những giống có đặc trưng chính như: thời gian sinh trưởng, tính chống bệnh, sâu hại, năng suất, chất lượng gạo…
Giống lúa mới được coi là giống lúa tốt thì phải có độ thuần cao, thể hiện đầy đủ các yếu tố di truyền của giống đó, khả năng chống chịu tốt các điều kiện ngoại cảnh bất lợi của từng vùng khí hậu, đồng thời chịu thâm canh, kháng sâu bệnh hại, năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định qua nhiều thế hệ
Trang 34Hiện nay với kỹ thuật sinh học phát triển con người ngày càng can thiệp sâu hơn, thúc đẩy nhanh quá trình chọn tạo giống mới có lợi cho con người bằng phương pháp tạo giống như: lai hữu tính, xử lý đột biến đặc biệt là kỹ thuật di truyền đang đóng góp có hiệu quả vào việc cải tiến giống lúa Việc sử dụng các giống lúa ngắn ngày (xu hướng của sản xuất nông nghiệp hiện nay),
đã cho phép gieo trồng nhiều vụ trong năm và cũng cho phép bố trí thời vụ gieo cấy trong vụ Xuân muộn hơn nhằm kéo dài thời gian sản xuất cây vụ đông, đồng thời cũng là hướng tận dụng tốt nhất nguồn tài nguyên thiên nhiên (bức xạ mặt trời, đất đai, nguồn nước ), để tăng khả năng quang hợp thuần của ruộng lúa, tạo năng suất ngày càng cao Nghiên cứu vai trò của giống trong sản xuất nông nghiệp cho thấy: Giống luôn là yếu tố quan trọng làm tăng năng suất, tăng sản lượng và hạ giá thành sản phẩm
1.7.2 Các hướng chọn tạo giống có kiểu cây mới
Những năm gần đây các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu và đưa ra
mô hình kiểu cây mới Theo Lu B.R, Lorestto G.C, 1980 [54], kiểu cây lúa mới có đặc điểm hình thái như sau:
* Khái niệm về kiểu cây mới
- Khả năng đẻ nhánh thấp (3-4 nhánh với lúa gieo vãi, 5-8 nhánh với lúa cấy)
- Không có nhánh vô hiệu
Trang 35Kiểu cây mới ít đẻ nhánh hơn các giống hiện nay, có số hạt trên bông bằng 2-3 lần giống IR72, một số giống mới cho năng suất cao hơn IR72 khoảng 20% trong khi đó tỷ lệ hạt chắc và khối lượng 1000 hạt không đổi Khả năng quang hợp cao hơn IR72 từ 10 – 15%, có bộ lá đứng hơn, dày hơn, xanh hơn, có nhiều lá công năng hơn, lá đòng dài hơn IR72, điều này rất quan trọng cho quá trình tích luỹ vật chất khô vào hạt
* Kiểu cây và đặc điểm của nó ở các hệ sinh thái khác nhau
- Lá xanh đậm, đứng hoặc rũ vừa phải
- Thời gian sinh trưởng 120 – 150 ngày
- Chống chịu sâu bệnh tốt
- Hệ thống rễ phát triển rộng
- Có khả năng chống chịu
- Hạt gạo không bị gẫy
- Năng suất có thể đạt từ 50-70 tạ/ha
Lúa địa phương trồng một vụ/năm
- Có từ 5 - 8 bông/khóm
- Có 150 - 200 hạt/bông
- Lá trên cứng, lá dưới rủ xuống vừa phải
- Cao trên 130cm, rễ dày, ăn sâu
- Thời gian sinh trưởng 100 ngày
- Chống chịu sâu bệnh
- Năng suất 30 – 40 tạ/ha
Trang 36Lúa địa phương trồng quanh năm
- Có từ 5-7 bông/khóm
- Thân cứng, lá trên thẳng đứng, lá dưới rũ xuống vừa phải
- Cao 130-150cm
- Rễ dày, ăn sâu với thân rễ mọc tự nhiên
- Giữ nguyên phẩm chất hạt giống từ 3-5 năm
- Hạt không nảy mầm trên cây
- Năng suất đạt 30-40 tạ/ha
Lúa ở vùng đầm lầy, chịu ảnh hưởng của thuỷ triều
- Lúa chịu ngập tốt, chịu đất xấu
- Năng suất đạt 30-40 tạ/ha
Trang 371.7.3 Phương hướng chọn tạo giống lúa
Theo Gupta P.C và Otoole J.C, 1976 [41] phương hướng chọn tạo giống lúa cạn thay đổi tuỳ theo vùng sinh thái nhưng phương hướng chung có thể thay đổi như sau:
- Năng suất cao, ổn định
- Có nhiều dạng hình phong phú, thích nghi với từng điều kiện sinh thái
cụ thể của vùng
- Chiều cao cây trung bình (110-130 cm), khả năng đẻ nhánh khá từ 3-4 dảnh/khóm lên dần tới 20 dảnh/khóm
- Thân cứng, chống đổ tốt
- Có đặc điểm về chất lượng hạt phong phú
- Chuyển từ dạng bông to sang dạng nhiều bông trong điều kiện sinh thái thuận lợi
- Mạ khoẻ, bộ rễ khoẻ, ăn sâu
- Tỷ lệ hạt lép thấp, hạt mẩy, đều, chín tập trung
- Phản ứng với quang chu kỳ ở các mức độ khác nhau
- Chịu hạn tốt, khả năng cạnh tranh được với cỏ dại
- Chống chịu được với bệnh đạo ôn, khô vằn, đốm nâu, bệnh biến màu hạt, chống sâu đục thân, rầy nâu
- Chịu được đất nhiều dinh dưỡng, thiếu lân, thừa nhôm hoặc đất chua Mục tiêu chung của các nhà chọn tạo giống lúa cạn ở vùng Đông Nam Á
và IRRI như sau:
- Nâng cao năng suất bằng cách phát triển kiểu hình có chiều cao cây trung bình, đẻ nhánh khá để thay thế các giống lúa cổ truyền cao cây thân yếu
- Giữ được cơ chế chống chịu có liên quan đến ổn định năng suất, tính chống chịu hoặc chịu được với bệnh đạo ôn, chịu hạn, khả năng phục hồi đẻ nhánh sau mỗi đợt hạn
- Tạo ra được những giống có thời gian sinh trưởng khác nhau để thích hợp với các vùng sinh thái khác nhau
Trang 38- Đặc tính nhạy cảm với quang chu kỳ có thể là một yêu cầu cho một số vùng như ở Đông Bắc Thái Lan
- Giữ được đặc tính nông học tốt: Bông dài, dinh dưỡng bông cao, hạt không hở vỏ, hàm lượng amylose thấp đến trung bình
- Giữ được hoặc nâng cao tính chống chịu với các yếu tố bất lợi của đất: thiếu lân, độc tố nhôm, mangan trong đất chua, mặn và thiếu kẽm, sắt trong đất kiềm
- Nâng cao tính chống chịu sâu bệnh
Kiểu cây mới được đặc trưng nhờ sự kết hợp nào đó giữa các tính trạng của lá, thân và bông lúa Các giống lúa có nhiều kiểu cây khác nhau, các nhà chọn giống cho rằng có thể chia các giống lúa thành “kiểu cây nhiều bông” và
“kiểu cây bông to” Kiểu cây trên có nhiều bông nhưng nhỏ hơn kiểu cây dưới
Dựa vào quan hệ giữa kiểu cây và năng suất, Jennings 1979 [51] đã nhấn mạnh rằng biện pháp chọn giống có thể tiến đến một kiểu cây cải tiến (nửa lùn) cho vùng nhiệt đới đó là những giống chín sớm, chống được bệnh bạc lá
và đạo ôn, thấp cây, chống đổ, ngoài những giống nhiệt đới tương tự hiện có Mặt khác ông cũng cho rằng nhờ biện pháp chọn giống có thể tạo được những giống nhiệt đới có năng suất cao, có phản ứng với đạm và có cả những đặc trưng đặc biệt mà không thường thấy ở những giống thương mại trồng ở vùng nhiệt đới là:
- Thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 100-125 ngày (từ khi gieo mạ đến chín) và không mẫn cảm với quang chu kỳ chiếu sáng
- Những đặc trưng dinh dưỡng kể cả mọc khoẻ vừa phải và có số nhánh vừa phải, kết hợp với lá tương đối nhỏ, màu lục sẫm, mọc thẳng đứng
- Thân rạ thấp và cứng, chống đổ tốt
- Chống được những nòi nấm bệnh đạo ôn đã được phát hiện Kết quả nghiên cứu của Viện lúa Quốc tế cho thấy hiện tượng lốp đổ có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, có thể làm giảm đến 75% nếu lúa đổ trước chín 30 ngày
Trang 39hoặc sớm hơn Phần lớn năng suất bị giảm khi đổ sớm là do tỷ lệ hạt lép tăng lên Nên cần chọn tạo giống thích hợp, thấp cây, thân cứng, chống đổ là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược cải tạo giống của Viên nghiên cứu lúa Quốc tế, qua nghiên cứu tài liệu của một số nhà khoa học Mục đích của những nhà chọn tạo giống là tạo ra các giống lúa vừa có năng suất cao, vừa chống chịu được với sâu bệnh để đảm bảo hiệu quả kinh tế lớn Trong nghiên cứu về việc chọn giống chống sâu, cho rằng tính chống chịu sâu hại của cây thường có cơ chế phức tạp nhưng có thể chia thành 3 dạng như sau:
- Không ưa thích: cây có những yếu tố làm sâu hại không thích đẻ trứng,
- Chọn giống có năng suất cao
- Chọn giống theo khả năng phản ứng mạnh với việc bón nhiều phân
- Chọn giống theo tính chín sớm
- Chọn giống chịu nước và chịu úng
- Chọn giống theo tính chống mặn và chống kiềm của đất
- Chọn giống theo tính chống hạn
- Chọn giống theo tính chống đổ
- Chọn giống lúa không rụng hạt
- Chọn giống lúa để chống cỏ dại
- Chọn giống lúa theo tính chống bệnh
1.7.4 Những kết quả đạt được trong công tác chọn giống
Bằng các phương pháp chọn tạo giống lúa khác nhau, các nhà chọn giống lúa trên thế giới và trong nước đã tạo ra được hàng loạt giống lúa mới
Trang 40Những giống lúa mới này góp phần làm phong phú bộ giống lúa, làm tăng năng suất và sản lượng lúa trên thế giới
Chương trình dài hạn về chọn giống của Viện nghiên cứu lúa Quốc tế nhằm đưa vào những dòng lúa thuộc kiểu cây cải tiến những đặc trưng chính như: thời gian sinh trưởng, kể cả tính mẫn cảm quang chu kỳ thích hợp nhất với những vùng trồng lúa khác nhau, tính chống bệnh và sâu hại, những đặc điểm cải tiến của hạt, kể cả hàm lượng protein cao, chịu nước sâu, khả năng trồng khô và tính chịu lạnh Trong năm 1970, Viện đã đưa ra những dòng lúa mới, chín sớm như: IR 747, B2-6; các dòng chống bệnh bạc lá như IR497-83-
3 và IR498-1-88; dòng chống sâu đục thân IR 747, B2-6
Tại Thái Lan, qua thí nghiệm tại các trại nhân giống, 2 dòng lúa tẻ Goo- Muangluang và Dawk-Payom được phổ biến ở miền Nam Thái Lan, có tiềm năng năng suất cao < 2 tấn/ha Giống lúa nếp Sewmaeian được trồng ở Miền Bắc Thái Lan có tiềm năng năng suất cao nhất là 2,8 tấn/ha Cả 3 giống đều là giống cổ truyền (Nguyễn Ngọc Ngân, 1993) [28]
Tác giả Nguyễn Văn Hoan đã tạo ra giống ĐH60 bằng phương pháp lai hữu tính, qua thời gian trồng thử nghiệm ông cho biết:
- Giống ĐH60 tỏ ra là giống chịu hạn, chịu chua bằng giống Bao Thai (giống chủ lực của vùng trung du, miền núi)
- Chịu rét hơn hẳn CR203, CN2, VX83
- Giống ĐH60 chống chịu tốt với sâu bệnh nhất là khô vằn, đạo ôn, hoàn toàn không nhiễm đốm nâu, bạc lá, chống chịu với các loại sâu hại khác đều khá hơn các giống hiện hành [21]
Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng TW đã tiến hành khảo nghiệm
100 giống lúa mới tại các tỉnh phía Bắc vào năm 1998-1999 cho kết quả như sau:
- Giống có tiềm năng năng suất cao: 10 giống (Xi23, P4, Xuân số 12, DT12, DT17, IV1, NX30, BM9608, BM9820)