Qua nghiên cứu tìm hiểu thực tế sản xuất của nông dân các địa phương trồng ớt trong huyện được biết, để đảm bảo đạt năng suất, chất lượng ớt quả cao, ngoài việc duy trì độ ẩm đất phù hợp
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây ớt (Capsicum spp.) là cây trồng có vị trí quan trọng thứ hai sau cây
cà chua trong số chín loại cây họ cà (Solanaceae) Cây ớt có nguồn gốc từ Nam
Mỹ, bắt nguồn từ một số loài hoang dại, được thuần hóa và trồng ở Châu Âu,
Ấn Độ cách đây hơn 500 năm Tùy thuộc vào mức độ cay, ớt được chia thành 2
loại là ớt ngọt (Capsicum annuum L) và ớt cay (Capsicum frutescens L)
Quả ớt chín có màu sắc, hương vị và vị cay đặc trưng, rất thích hợp cho việc nấu nướng, chế biến thức ăn ở cả dạng quả tươi, quả khô và các sản phẩm chế biến như ớt bột, tương ớt Mặc dù quả ớt có giá trị năng lượng thấp (25 kcal/100g) nhưng có chứa nhiều các chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe con người, gồm các loại vitamin: A (530 IU/100g), C (128 mg/100g), B2 (0,05 mg/100g), các nguyên tố khoáng: kali (195 mg/100g, photphorus (22 mg/100g) và canxi (6mg/100g) và các hợp chất có đặc tính biệt dược (antioxidant, capsaicin, capsantin) có tác dụng ngăn ngừa bệnh ung thư, kích thích lưu thông máu, ổn định huyết áp Vị cay của quả ớt là do chất Capsicin (C18H27NO3) một loại alcaloit, chiếm khoảng 0,05 - 2% (trọng lượng khô kiệt)
có tác dụng kích thích ăn ngon, tiêu hóa tốt, được nhiều người ưa thích Chất Capsicin không bị phân hủy trong quá trình nấu nướng hoặc chế biến (làm gia
vị, muối chua, ngâm dấm, sấy khô, xay bột, làm tương…) vì vậy quả ớt được
sử dụng như là một loài rau xanh hoặc làm nguyên liệu cho công nghiệp chế
biến thực phẩm (Karima Lahbib., et al, 2012)[17]
Vĩnh Lộc là huyện nằm trong vùng đồng bằng sông Mã Theo Báo cáo qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Vĩnh Lộc, giai đoạn 2010-
Trang 22 2020[9], tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 15.803 ha, trong đó đất nông nghiệp là 10.548 ha (chiếm 66,75% tổng diện tích đất tự nhiên) Đất đai của huyện được chia thành bốn nhóm chính là: đất phù sa được bồi hàng năm 581ha, đất phù sa không được bồi hàng năm 5.807ha; đất phù sa ngập nước 1.192 ha và đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét và đá biến chất, đá cát 4.975ha; chiếm 5,51%; 55,05%; 11,30% và 47,17% so với diện tích đất nông nghiệp của huyện, tương ứng
Trong các nhóm đất chính của huyện, nhóm đất phù sa không được bồi
có nhiều đặc điểm, tính chất đất thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây ớt Vì vậy, từ nh ng năm đầu của thập k 80, thế k 20, cây ớt cay đã được đưa vào trồng trong cơ cấu cây trồng vụ đông trên chân đất 2 l a 1 màu
và vụ xuân trên đất chuyên màu, đáp ứng nhu cầu thu mua ớt khô cho xuất khẩu của các công ty thương mại, công ty xuất khẩu nông sản thời bấy giờ Thực tế sản xuất ở huyện Vĩnh Lộc cho thấy, trồng ớt xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn rất nhiều so với trồng cây lương thực và nhiều loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm khác Với mức năng suất ớt quả tươi trung bình 20 - 25 tấn/ha, thu nhập/ha/vụ (6 tháng) đạt mức 100 - 125 triệu đồng, cao gấp 2,5 - 3,0 lần so với trồng l a Bên cạnh đó chi phí cho sản xuất
và đầu ra của sản phẩm được đảm bảo do các công ty xuất khẩu ký hợp đồng đầu tư và bao tiêu sản phẩm Mặc dù vậy, cho đến nay diện tích trồng ớt của huyện vẫn chậm được mở rộng
Qua nghiên cứu tìm hiểu thực tế sản xuất của nông dân các địa phương trồng ớt trong huyện được biết, để đảm bảo đạt năng suất, chất lượng ớt quả cao, ngoài việc duy trì độ ẩm đất phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển, bón đầy đủ, cân đối các yếu tố dinh dưỡng đạm (N), lân (P), kali (K) và phòng, trừ kịp thời các loại sâu, bệnh hại, thì một yêu cầu có tính bắt buộc trong kỹ thuật thâm canh ớt là phải bón một lượng 15 - 20 tấn/ha phân chuồng (PC) hoai mục Song, trong điều kiện phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp hiện nay, phần lớn nông dân đều không thể đáp ứng được yêu cầu này
Từ thực tiễn sản xuất của nông dân, giả thiết đặt ra là: do trồng ớt trong điều kiện không có phân h u cơ, cây không được cung cấp bổ sung các yếu tố
Trang 33 dinh dưỡng đa, trung và vi lượng (ngoài phân vô cơ), đồng thời các đặc tính
lý, hóa, sinh học của đất cũng biến đổi theo hướng bất lợi đối với sinh trưởng, phát triển của cây: đất chặt bí, kết cấu kém, khả năng ngấm nước và gi nước giảm, nhiệt độ đất thay đổi nhanh theo điều kiện môi trường, khả năng trao đổi cation thấp, hệ vi sinh vật đất phát triển kém… dẫn đến hiệu lực phân bón thấp, số lần tưới tăng, sinh trưởng, phát triển của cây bị hạn chế, năng suất, phẩm chất thấp, chi phí sản xuất tăng, hiệu quả sản xuất giảm
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, Công ty cổ phần Phân bón Lam Sơn đã sản xuất và đưa ra thị trường loại phân bón h u cơ vi sinh 1-3-1 HC15 (HCVS) được sản xuất từ các loại loại phế phụ phẩm của công nghiệp chế biến đường mía (bùn thải, tro lò nhà máy đường), than bùn tự nhiên, phân gia
s c, gia cầm, các chủng vi sinh vật có ích (cố định đạm, phân giải lân, phân giải cellulo) và các loại phân N, P, K thông dụng trên thị trường[2]
Từ thực tiễn nêu trên, vấn đề nghiên cứu đặt ra là: bón phân HCVS cho cây ớt cay có tác dụng tăng năng suất, chất lượng và cải thiện được các tính chất đất hay không? Có thể sử dụng phân HCVS thay thế cho phân chuồng trong thâm canh ớt cay xuất khẩu được không? Và nếu được thì lượng bón bao nhiêu là đạt hiệu quả kinh tế cao nhất?
Về mặt lý luận, với thành phần và công năng của phân bón theo công
bố của nhà sản xuất thì có thể sử dụng bón phân HCVS để thay thế cho phân
h u cơ trong thâm canh ớt cay xuất khẩu, nhằm khắc phục tình trạng khan hiếm phân h u cơ hiện nay để nâng cao năng suất, chất lượng, cải thiện độ phì nhiêu đất, đồng thời tạo cơ sở để mở rộng và phát triển bền v ng các vùng chuyên canh ớt vùng đồng bằng sông Mã của huyện Vĩnh Lộc và các địa phương khác trong tỉnh Thanh Hóa có điều kiện tương tự
Xuất phát từ vấn đề và giải thuyết nêu trên, ch ng tôi tiến hành thực hiện
đề tài“Nghiên cứu hiệu lực phân bón hữu cơ vi sinh 1-3-1 HC15 trong thâm
canh ớt cay xuất khẩu (Capsicum Frutescens L) ở huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa”
Trang 55
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Vai trò của chất hữu cơ đối với độ phì nhiêu đất và dinh dưỡng cây trồng
1.1.1 Chất hữu cơ trong đất
Chất h u cơ là một bộ phận hoạt động và quan trọng của đất Trong hầu hết các loại đất trồng trọt, hàm lượng chất h u cơ trong đất chỉ chiếm 1-5% và tập trung chủ yếu ở lớp đất mặt (0 – 25 cm), song có ảnh hưởng rất lớn đến các đặc tính lý, hóa, sinh học cũng như độ phì nhiêu và khả năng sản xuất của đất Đối với lý tính đất, chất h u cơ là nền tảng cơ bản để tạo nên kết cấu đất, làm tăng độ xốp, cải thiện mối quan hệ gi a chế độ nước và chế độ không khí trong đất, hạn chế quá trình xói mòn, rửa trôi đất và các chất dinh dưỡng Đối với hóa tính đất, chất h u cơ là nguồn cung cấp đạm chủ yếu cho đất Ngoài ra 5 - 60% lân, 80% lưu huỳnh và phần lớn bo và molipden là có mặt trong các hợp chất h u cơ của đất Hàm lượng chất h u cơ trong đất luôn có
sự biến động, tùy thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh và các biện pháp kỹ thật canh tác, vì vậy cần thường xuyên bổ sung các chất h u cơ để duy trì khả năng sản xuất của đất (Wooer P L., et al, 1994)[24]
1.1.2 Nguồn cung cấp chất hữu cơ cho đất
1.1.2.1 Thực vật
Trong đất tự nhiên, tàn thể thực vật rơi xuống đất (lá, quả, cành, thân cây, rễ và các chất do rễ tiết ra) là nguồn cung cấp chất h u cơ thường xuyên cho đất Khối lượng và thành phần tàn thể thực vật đưa vào đất hàng năm biến động rất lớn phụ thuộc vào các kiểu thực bì che phủ đất Dưới rừng dày, ẩm nhiệt đới, lượng chất h u cơ đưa vào đất có thể lớn gấp 2 - 3 lần so với rừng
ôn đới Nhiều nghiên cứu cho rằng, dự đoán này còn thấp hơn so với thực tế
vì một phần quan trọng lá của các loài chiếm đa số trong rừng bị các tầng thực
bì phía dưới chặn lại trước khi rơi xuống đất Thêm vào đó, t lệ rễ mọc hàng
Trang 66 năm rất khó đánh giá, do vậy gi a lượng tàn thể thực vật đưa vào đất hàng năm và sản lượng sơ cấp của thực bì rất khác nhau
Tàn tích thực vật quyết định sự hình thành tầng thảm mục Ao và tầng tích kũy A1 của phẫu diện đất Lượng thảm mục phủ đất phục thuộc vào lượng tàn thể thực vật rơi rụng xuống Tốc độ phân hủy thảm mục thay đổi hàng năm và chịu ảnh hưởng của nhịp điệu mùa vụ, phụ thuộc vào các điều kiện mặt đất có hay không thuận lợi cho hoạt động sinh học phân giải chất
h u cơ Đối với đất rừng phụ thuộc vào khí hậu, người ta nhận thấy có sự cân bằng gi a tàn thể thực vật và thảm mục từ năm này qua năm khác, đến nỗi trọng lượng của lớp thảm mục này hầu như không thay đổi ở các thời điểm quan sát trong năm Như vậy có thể thấy, trong điều kiện rừng nhiệt đới ẩm, dù có đưa một lượng lớn các chất h u cơ vào đất thì lượng h u cơ được gi lại trong tầng thảm mục rất ít vì việc phân giải tàn thể thực vật xảy ra rất nhanh
Đối với đất trồng trọt, trong quá trình sản xuất nông nghiệp, thông qua việc thu hoạch sản phẩm, con người đã lấy đi một phần sản phẩm cây trồng (thân, lá, rễ, củ, quả) tùy theo đối tượng cây trồng và mục đích của người sản xuất, từ đó làm cho hàm lượng chất h u cơ của đất giảm đi nhanh chóng Nguồn chất h u cơ trả lại cho đất là các loại tàn dư cây trồng sau khi đã thu hoạch sản phẩm, hoặc là phân xanh, phân chuồng, phân bắc, các chất h u cơ đưa từ nơi khác đến, các sản phẩm phế thải từ các quá trình chế biến động, thực vật Số lượng, thành phần tàn dư cây trồng trả lại cho đất cũng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu, đất đai, loại cây trồng, mức độ đầu tư, kỹ thuật thâm canh và trình độ quản lý, tập quán canh tác của từng vùng, từng cơ sở sản
xuất (Wooer P L., et al, 1994)[24]
1.1.2.2 Động vật và vi sinh vật đất
So với tàn dự thực vật, chất h u cơ do tàn tích động vật và vi sinh vật đưa vào đất chỉ chiếm một phần nhỏ, song thành phần và chất lượng h u cơ lại rất cao, đặc biệt là các chất h u cơ có chứa đạm Hệ động vật đất bao gồm
Trang 77 giun, kiến, mối, sâu bọ, động vật có xương sống Hệ vi sinh vật đất bao gồm nấm, xạ khuẩn, vi khuẩn Người ta ước tính mỗi gram đất có khoảng 50 - 200 triệu vi sinh vật Các vi sinh vật này nảy nở thường xuyên với tốc độ rất nhanh Chỉ tính riêng lớp đất mặt, mỗi ha có từ 500 - 1000 kg cơ thể vi sinh vật Trọng lượng của vi sinh vật (kể cả sống và đã chết) thay đổi rất lớn tùy theo từng thời kỳ trong năm và số lượng thành phần các chất h u cơ có trong đất Khối cơ thể vi sinh vật đó có chứa 6,5% đạm và khoáng hóa nhanh hơn các chất h u cơ khác trong đất rất nhiều Hơn n a, một số vi sinh vật có khả năng cố định đạm khí trời, khi chết để lại một lượng h u cơ chứa đạm cho đất Ước tính mỗi ha vi sinh vật có thể cố định và giải phóng được 35 – 65 kg N, đó
là các loại Azotobacte, vi khuẩn Rizobium cộng sinh với nốt sần rễ cây họ đậu
(Roy L Donahue., 1977)[21]
1.1.3 Cân đối chất hữu cơ trong đất
Trong đất luôn xảy ra hai quá trình trái ngược nhau là quá trình mùn hóa chất h u cơ và quá trình khoáng hóa chất h u cơ
1.1.3.1 Quá trình mùn hóa chất h u cơ
Mùn hóa là quá trình phân giải xác h u cơ trong đất để tạo nên các hợp chất h u cơ trung gian và quá trình tổng hợp các hợp chất trung gian dưới tác động của hệ vi sinh vật trong đất, tạo thành các hợp chất cao phân
tử gọi là hợp chất mùn Dạng hợp chất cao phân tử (mùn) khá phức tạp, bao gồm nhiều đơn vị h u cơ khác nhau như nhân vòng, mạch nhánh, các nhóm định chức được nối với nhau bằng các cầu nối h u cơ
Như vậy nguồn sơ cấp các chất h u cơ trong đất được tạo thành do các sản phẩm phân giải thảm mục và rễ chết Thêm vào đó là các sản phẩm
h u cơ do rễ thải ra, các sản phẩm do vi sinh vật tự dưỡng và nấm tổng hợp thành, cùng các loại vi sinh vật trong đất Phần lớn các chất h u cơ tươi này được khoáng hóa, giải phóng ra chủ yếu CO2, NH3 và một số muối vô
cơ, còn lại một phần nhỏ được chuyển thành mùn theo quá trình nêu trên
Trang 88 Giả định rằng, đối với một loại đất nhất định, tổng số chất h u cơ chuyển thành mùn t lệ với lượng bón chất h u cơ sơ cấp hàng năm Trong điều kiện tự nhiên, nếu A là lượng chất h u cơ đưa vào đất hàng năm, thì
hệ số mùn hóa K1 tương ứng với phần chất h u cơ được chuyển thành mùn được coi là không thay đổi đối với một loại đất nhất định nếu các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng trong đó quá trình mùn hóa xảy ra là không thay đổi
Hệ số mùn hóa có sự biến động lớn tùy thuộc vào bản chất chất h u
cơ bị phân giải và mùn hóa Tốc độ và năng suất mùn hóa rất khác nhau, phụ thuộc vào bản chất, hàm lượng lignin và hàm lượng N khác nhau của các chất h u cơ bón vào đất Trong nh ng điều kiện tự nhiên nhất định, năng suất mùn hóa phụ thuộc chủ yếu vào các điều kiện chuyển hóa trên mặt đất - thảm mục và trong đất - rễ cây (Wooer P L., et al, 1994)[24] 1.1.3.2 Quá trình khoáng hóa chất h u cơ
Khoáng hóa là quá trình phân hủy hoàn toàn xác h u cơ dưới tác dụng của quần thể vi sinh vật hảo khí để tạo ra các sản phẩm như muối khoáng, CO2 và H2O Thông thường lượng các chất h u cơ trong một loại đất được khoáng hóa trong một thời gian nhất định t lệ với hàm lượng chất h u cơ Khối lượng các chất có C được phân hủy trong một đơn vị thời gian được gọi là hệ số phân hủy mùn (Kt)
Đối với đất trồng trọt, việc xác định tốc độ mùn hóa có thể được xác định thông qua quan sát đất không trồng cây, song môi trường lại rất khác môi trường có cây che phủ tự nhiên Do vậy, có thể tính hằng số Kt dưới thực bì tự nhiên bằng cách cân đối hai quá trình mẫu thuẫn nhau trong đất
là khoáng hóa và mùn hóa (Wooer P L., et al, 1994)[24]
1.1.3.3 Cân đối quá trình mùn hóa và khoáng hóa mùn
Sự biến động hàm lượng C trong một loại đất (dc) trong thời gian (dt) bằng tổng đại số các phần thu và chi, dc/dt = flL + frR – kfC
Đối với đất dưới thực bì tự nhiên đã đạt cân bằng, hàm lượng C trong đất có thể được xem là một hằng số suốt từ năm này qua năm khác và bằng
Ce, và dc/dt = 0, Do vậy: KfCe = flL + frR, Nghĩa là lượng chất h u cơ
Trang 99 mất đi được bù bằng lượng bón vào Như vậy biết được hàm lượng C khi đạt cân bằng trong điều kiện khí hậu, thời tiết nhất định thì về mặt lý thuyết, có thể tính được hằng số Kf của việc phân giải mùn Kf của các rừng rậm nhiệt đới khác nhau thay đổi tùy thuộc vào độ cao Địa hình càng cao, nhiệt độ càng giảm làm cho phản ứng phân giải chất h u cơ của đất theo con đường sinh học xảy ra chậm lại
1.1.3.4 Các chất khoáng bổ sung cho đất thông qua chất h u cơ Hàm lượng các chất khoáng bố sung cho đất có sự thay đổi lớn tùy thuộc vào bản chất tàn thể thực vật rơi rụng xuống đất, loại thực vật, mùa
vụ và tính chất đất đai Cần ch ý rằng, các nguyên tố khoáng do việc phân giải thảm mục mang lại bao gồm cả các nguyên tố khoáng do nước mưa đưa vào, đồng thời tính đến cả các nguyên tố khoáng mất đi do rửa trôi Số lượng các cation khoáng (Ca, Mg, K) hàng năm đi vào đất từ khu vực thực vật vùng nhiệt đới tương đương với khu vực ôn đới, song lượng đạm đưa vao gấp 6 -10 lần trong khi lá rơi rụng chỉ gấp hơn 3 - 4 lần
Thành phần các cation của thực vật trả lại cho đất tương tự như thành phần các cation trong phức hệ hấp thu của đất Hiện tượng giống nhau này đóng góp vào chu trình các nguyên tố khoáng trong đất Hiện tượng này cũng khiến cho thành phần của cation đi đến ngang bằng với thành phần chất h u cơ đi vào tuần hoàn Tuy nhiên người ta nhận thấy rằng các nguyên tố khoáng di động khác nhau kể cả trong đất cũng như trong thực bì và độ dài của các chu kỳ không giống nhau trong mọi trường hợp, cân bằng hàng năm của chu kỳ các nguyên tố này chỉ là gần đ ng mà thôi Trái lại, hàm lượng các chất khoáng trong đất lại ảnh hưởng đến thành phần khoáng của thảm mục Trên đất rừng feralit ở Kade thuộc Gana, hàm lượng Mg và đặc biệt là Ca trong thảm mục cao hơn rất nhiều so với thảm mục trên đất chua mạnh ở vùng lòng chảo Congo Số lượng Ca và Mg tuần hoàn hàng năm là rất cao, trong khi các nguyên tố khác có giá trị gần giống nhau và có thể so sánh được
Trang 1010
Số lượng các nguyên tố khoáng tham gia vào chu trình địa hóa có thể khác nhau về số lượng vì các nguyên tố khoáng nằm trong các thực bì khác nhau không giống nhau Sự luân chuyển các nguyên tố khoáng trong thực
bì, trong thảm mục và trong các tầng mùn đất nhiệt đới là rất khác nhau tùy theo hệ sinh thái (Wooer P L., et al, 1994)[24]
1.1.4 Ảnh hưởng của chất hữu cơ đến độ phì nhiêu đất
Độ phì nhiêu là khả năng của đất có thể cung cấp cho cây trồng đồng thời và không ngừng cả về nước và thức ăn trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển Như vậy có thể thấy, độ phì nhiêu đất không phải là số lượng các chất dinh dưỡng tổng số trong đất mà là khả năng cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây nhiều hay ít Độ phì nhiêu của đất cao hay thấp phụ thuộc chủ yếu vào các đặc tính lý, hóa, sinh học của đất và tác động của con người 1.1.4.1 Khả năng trao đổi cation của các chất h u cơ trong đất
Có thể đánh giá khả năng trao dổi cation CEC ở pH = 7 của các chất
h u cơ ở đất feralit hoặc bằng cách phân tích mối liên hệ gi a hàm lượng chất h u cơ và CEC, hoặc so sánh khả năng trao đổi cation trước và sau khi phá hủy chất h u cơ trong phức hệ hấp thu có nguồn gốc h u cơ bằng nước oxy già hay bằng cách nung ở nhiệt độ thích hợp Các giá trị CEC thu được nằm trong phạm vi 100 - 200 lđl/100g chất h u cơ CEC của các chất h u
cơ ở tầng mặt của các loại đất feralit chua dưới rừng rậm, ẩm thường xanh thấp hơn các loại đất feralit có mùn bão hòa yếu dưới rừng rậm nửa rụng lá hay dưới thảo nguyên Trong các tầng đất phía dưới của đất, CEC của các chất h u cơ cao nhất, nhưng t lệ chất h u cơ thấp và ở đó phức hệ hấp thu
có nguồn gốc khoáng chiếm vai trò chủ đạo Trong tầng B của phẫu diện đất, các chất h u cơ gi vai trò rất kém về mặt khả năng trao đổi Nhìn chung chất h u cơ gi vai trò rất quan trọng về mặt phức hệ hấp thu trong tầng mùn A1 của đất feralit (Wooer P L., et al, 1994)[24]
Trang 1111 1.1.4.2 Độ bão hòa bazơ và phản ứng của tầng mùn
Độ bão hòa bazơ và phản ứng của tầng mùn phụ thuộc vào cân đối chất h u cơ trong đất và trên mặt đất CEC của các tầng mùn thay đổi theo mùa vụ, phụ thuộc vào hàm lượng các chất h u cơ trong đất Độ bão hòa bazơ phụ thuộc vào việc đưa các chất khoáng vào đất thông qua quá trình phân giải các tàn thể thực vật và mùn Độ bão hòa bazơ và pH quyết định
sự cân đối các quá trình, gi a một bên là mùn hóa (ảnh hưởng đến hàm lượng chất h u cơ và do vậy ảnh hưởng đến khả năng trao đổi cation) và một bên là khoáng hóa tàn thể thực vật và mùn (cung cấp cation và rửa trôi các bazơ hay rễ h t mất các bazơ) Mức độ cân bằng gi a các quá trình này thay đổi một cách nhạy cảm, trong nh ng phạm vi nhất định qua các tháng, phụ thuộc vào nhịp điệu có tính chất mùa vụ của thực bì và các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ít hay nhiều thuận lợi cho hoạt động của vi sinh vật trong tầng thảm mục và trong đất
1.1.4.3 Ảnh hưởng của chất h u cơ đến việc gi nước của đất Hàm lượng nước trong đất ở pH khác nhau có liên quan chặt chẽ với cấp hạt đất và đặc biệt là t lệ các cấp hạt mịn (sét và limon), song bên cạnh đó không thể bỏ qua vai trò của chất h u cơ trong đất
Đối với đất feralit ở Trung Phi, hàm lượng nước do đất gi (pH 4,2 và 3,0) phụ thuộc vào cấp hạt mịn và chất h u cơ Trong điều kiện pH thấp, các chất h u cơ chưa mùn hóa quyết định hàm lượng nước trong đất Người ta đã chứng minh pH ở giới hạn độ ẩm tối đa đồng ruộng phụ thuộc vào hàm lượng chất h u cơ: pH độ ẩm tối đa đồng ruộng = 0,038 (A + L%) + 0,28 (% h u cơ tổng số) + 0,12 Is + 0,65 Trong đó Is là chỉ số ổn định cấu tr c của Hênin (Wooer P L., et al, 1994)[24]
1.1.4.4 Ảnh hưởng của chất h u cơ đến cấu tr c hợp chất mùn trong đất
- Đối với mùn nhuyễn: Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng, trong đất feralit, chất h u cơ đóng góp vào tầng mặt A1 cấu tr c kiểu viên trung bình đến nhỏ Trái lại, các lớp mùn sâu A3 có cấu tr c phân tán hay cấu
tr c đa diện không rõ rệt Trong hai lớp này, mối liên kết gi a các chất h u cơ
Trang 12h u cơ hay Fe2(OH)3 bao phủ Các hợp chất h u cơ đôi khi tập trung trong các đoàn lạp nhỏ màu hơi đen ít hay nhiều cát mịn và có nguồn gốc sinh học 1.1.4.5 Chất h u cơ và sự ổn định đoàn lạp trong đất
Chất h u cơ có vai quan trọng trong các nhân tố ổn định hạt kết Trong thực tế, t lệ hạt kết ổn định có liên quan chặt với hàm lượng chất h u cơ và
có tương quan âm chặt theo Is (chỉ số ổn định cấu tr c của Henin) và t lệ chất h u cơ Tuy nhiên, hàm lượng đoàn lạp bền sau khi xử lý bezen có liên quan chặt với hàm lượng chất h u cơ chưa mùn hóa hơn là đối với hàm lượng chất h u cơ tổng số T lệ đoàn lạp bền sau khi xử lý trước bằng benzen nói chung thấp hơn t lệ đoàn lạp bền sau khi xử lý với nước hay cồn Một số đất feralit thành phần cơ giới cát pha lại có t lệ đoàn lạp bền với benzen cao hơn, điều này là do vai trò chống tẩm ướt của các hợp chất h u cơ
Các công trình nghiên cứu ở Negieria đã chứng minh t lệ sét và limon
có thể phân tán trong nước rất ít ở lớp đất mặt của đất feralit Cùng với chiều sâu, hàm lượng mùn giảm dần, t lệ các phần tử phân tán tăng lên, T lệ đó lại giảm trong tầng B liên quan đến t lệ sắt tự do tăng lên Điều này xác nhận mối tương quan chặt gi a sự ổn định của đoàn lạp, hàm lượng chất h u cơ và
hàm lượng sắt tự do trong đất feralit (Wooer P L., et al, 1994)[24]
1.1.4.6 Chất h u cơ và tính thấm
Đối với đất feralit, ngay cả nh ng loại đất nhiều sét vẫn thường có độ hổng lớn và thấm nước tốt Các nghiên cứu thực hiện theo phương pháp của Henin (đo tốc độ thấm trên cột đất tự tạo) đã chứng minh chất h u cơ đóng vai trò quan trọng đối với độ thấm nước của các loại đất feralit Người ta đã
Trang 1313 chứng minh hệ số thấm có liên quan chặt chẽ với t lệ chất h u cơ Tương tự như trong trường hợp ổn định cấu tr c, chất mùn tổng số hầu như có vị trí tương đối ít quan trọng hơn so với các chất h u cơ khác trong nh ng tầng mùn của các loại đất feralit nghiên cứu
1.1.5 Khả năng cung cấp dinh dưỡng và sự khoáng hóa chất hữu cơ
1.1.5.1 Phân loại chất h u cơ
Các chất h u cơ đề cập đến ở đây bao gồm tàn dư cây trồng, các loại phân xanh, phân chuồng, các hợp chất h u cơ đưa từ nơi khác đến, các sản phẩm thải từ quá trình chế biến động, thực vật… và được chia thành hai nhóm:
- Nhóm h u cơ chất lượng thấp: gồm các nguyên liệu h u có có t lệ C/N cao và gi chặt đạm trong các hợp chất của ch ng, đồng thời giải phóng dinh dưỡng một cách chậm chạp, hay bị cố định trong giai đoạn đầu tiên của quá trình phân giải khi vùi vào đất như các loại rơm ra, vỏ trấu, mùn cưa, bã mía
- Nhóm h u cơ chất lượng cao: gồm các nguyên liêu h u có có t lệ C/N thấp và giải phóng đạm nhanh trong quá trình phân giải như các loại cây họ đậu, phân xanh, phân chuồng chất lượng cao, các sản phẩm phụ thải của các nhà máy chế biến như bùn thải nhà máy đường, nhà máy s a, dầu ăn và cao su
1.1.5.2 Khả năng phân giải và cung cấp dinh dưỡng của các vật liệu h u cơ Việc phân hủy các vật liệu h u cơ có t lệ N nhỏ hơn 2%, hay t lệ C/N > 25 thì dẫn đến hiện tượng cố định đạm khoáng Ngay khi vùi vào đất, các chất h u cơ có t lệ C/N cao đã bị vi sinh vật công phá Các vi sinh vật này sinh sôi nảy nở một cách nhanh chóng, tiêu thụ C thừa, tạo nên sản phẩm
có t lệ C/N thấp hơn Như vậy, một mặt để sinh sôi nảy nở vi sinh vật trước hết phải sử dụng đạm có sẵn trong đất, đồng thời sử dụng đạm có trong chất
h u cơ đang phân giải Do t lệ C/N cao, quá trình phân hủy xảy ra chậm nên
vi sinh vật phải sản sinh ra một công lớn để công phá, đưa t lệ C/N xuống khoảng 10, vì vậy ch ng phải lấy trong đất nhiều đạm hơn và gi chặt lâu hơn
để đảm bảo cho sự phát triển của riêng mình, từ đó tạo thành một loại mùn giàu N ổn định Như vậy ở đây chỉ là sự vay N của đất, không có hiện tượng
Trang 1414
gi chặt N lâu dài và là hiện tượng cố định N tạm thời bằng con đường vi sinh vật N do vi sinh vật sử dụng sẽ được trả lại dần dần cho đất khi cơ thể vi sinh vật khoáng hóa Do vậy xảy ra hiện tượng cây trồng thiếu N trong giai đoạn đầu tiên khi vùi các nguyên liệu h u cơ chất lượng thấp khi không bón
bổ sung thêm N khoáng
Đối với các nguyên liệu h u cơ có t lệ N lớn hơn 2% hay C/N < 25,
vi sinh vật phân giải chất h u cơ rất nhanh và cung cấp cho cây, chỉ sau một thời bị gi chặt tạm thời ngắn, tương đương với pha đầu của quá trình sinh sôi nảy nở của vi sinh vật, đạm nằm trong đất dưới dạng mùn ổn định
và trong cơ thể vi sinh vật (De Geus JG, 1983)[ 3]
Thei Ignazi J C (1995)[16], hiệu quả sử dụng N trong tàn dư h u cơ
ở vụ đầu tiên khoảng 15% đối với nguyên liệu vùi là đậu đỗ, 5% đối với rơn rạ Người ta nhận thấy có mối quan hệ chặt chẽ về t lệ N gi a N khoáng và N dự tr trong thành phần của mùn Bằng việc sử dụng nguyên
tử đánh dấu, vật liệu nghiên cứu là cỏ medicalo trong điều kiện nhiệt độ thấp của vùng ôn đới, nhận thấy trong vụ ngũ cốc đầu tiên, cây trồng sử dụng 11 - 17% tổng số N của tàn thể h u cơ, còn lại 72 - 78% nằm lại trong chất h u cơ của đất Các cây đậu đỗ cung cấp trung bình 14% N cho
vụ ngũ cốc đầu tiên, còn lại 21 - 40% nằm lại trong đất
Ở vùng nhiệt đới, N trong một số tàn dư cây trồng được cây sử dụng
11 - 14%, còn lại 73 - 84% nằm trong chất h u cơ của đất 25% N15 trong rơm
rạ bón cho đất cát được tìm thấy trong cơ thể cây trồng, số còn lại tồn tại trong đất và không có sự mất mát Hầu hết N15
tồn tại trong đất được tìm thấy
ở các cấp hạt lớn hơn 50 micromet Việc cung cấp N trong tàn dư h u cơ thuộc loại hòa thảo chất lượng thấp chủ yếu thông qua chất h u cơ của đất Sự biến động của các kết quả thu được đối với các loại tàn dư khác nhau là do sự biến động về t lệ N có trong tàn dư cây trồng và chất h u cơ của đất Vì vậy,
để đạt kết quả tốt hơn trong việc quản lý các tàn dư cây trồng, cần phải có khả năng dự đoán các kết quả sẽ xảy ra Nhiều tác giả đã cố gắng để đưa ra
Trang 1515 phương pháp dự đoán thông qua tình trạng bên ngoài của vật liệu h u cơ nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sự khoáng hóa của 4 loại cây họ đậu phân theo
bộ lá, thân và rễ (Baldangi G., 1960)[12] cho thấy: có 16 - 76% N được giải phóng trong vòng 20 tuần đầu, gi a hàm lượng N và t lệ C/N có mối tương quan chặt (r2 = 0,8) Trong đó có một vật liệu không tuân theo qui luật của kết quả nêu trên do có t lệ lingnin cao Việc khoáng hóa giải phóng N và S trong một số tàn dư không phải cây họ đậu có mối tương quan chặt chẽ với t lệ N và S có trong tàn dư
Trong thí nghiệm đồng ruộng ở Sumatram, việc sử dụng N trong tàn
dư của vụ tiếp theo cũng có thể giải thích bằng hàm lượng N có trong tàn
dư và lượng N nhận được từ nước mưa trong suốt quá trình sinh trưởng của cây (r2 = 0,69) Như vậy, rõ ràng là hàm lượng N và t lệ C/N là yếu tố nổi bật nhất về khả năng cung cấp N của chất h u cơ Tuy nhiên bên cạnh đó còn có một số nhân tố khác chi phối như hàm lượng lignin hay t lệ lignin/N có ảnh hưởng thực sự đến khả năng giải phóng N N không giải phóng từ từ từng ít một cho đến khi phân giải hoàn toàn lignin.T lệ xơ tự nhiên/hàm lượng cellulo thể hiện khả năng giải phóng N thực sự Đối với đất cát ở Senegan, tàn dư thực vật có t lệ C/N và xơ/xellulo cao khi phân giải thì giải phóng các nguyên tố khoáng, còn các vật liệu h u cơ có t lệ C/N tương tự nhưng t lệ xơ/cellulo thấp khi phân giải giải phóng N cho đất Ngoài ra, khả năng phân giải và giải phóng N còn liên quan ít nhiều đến hàm lượng polynol trong thành phần của vật liệu h u cơ (Wooer P L.,
et al, 1994)[24]
Kết quả kiểm tra mức độ dinh dưỡng lá để xác định phạm vi biến động về t lệ N, lignin và polynol cho thấy, đối với các loại cây họ đậu, lượng N thay đổi từ 24 - 39g/kg, lignin 63 - 63g/kg và polynol 10 - 36g/kg Lượng N giải phóng trong vòng 8 tuần đầu thay đổi trong phạm vi từ 20 - 46% so với lượng bón vào ở cùng thời điểm Tương quan ngược gi a t lệ polynol/N là cơ sở để giải thích sự khác nhau về việc giải phóng N Các kết
Trang 1616 quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của t lệ polynol/N trong việc điều khiển quá trình khoáng hóa N Đối với rễ các cây họ đậu nhiệt đới, hàm lượng lignin thay đổi từ 42 - 111g/kg; N từ 18 - 47g/kg và polynol từ 19 -82 g/kg Lượng N thực tế giải phóng sau 12 tuần thay đổi từ 11 - 47% của lượng bón vào Trong nghiên cứu này, cơ sở để dự đoán việc khoáng hóa N là (lignin + Polynol)/N Liên quan đến các kết quả nghiên cứu này còn bao gồm
cả nh ng ý kiến cho rằng, các polynol của tàn dư cây trồng liên kết với các polynol của vi sinh vật và với các chất h u cơ của đất để tạo thành các hợp chất polymers chứa N bền v ng Đối với các sản phẩm h u cơ thuộc loại hòa thảo và thân gỗ vùng nhiệt đới, quá trình phân hủy tương quan chặt chẽ với t
lệ N, ligin và polynol Quá trình khoáng hóa N liên quan chặt chẽ với t lệ phân giải và việc giải phóng P, Ca, Mg cũng theo qui luật tương tự như N (Wooer P L., et al, 1994)[24]
1.1.6 Tầm quan trọng của chất hữu cơ trong quản lý dinh dưỡng
cây trồng tổng hợp
Đã từ lâu, phân h u có nói chung, phân h u cơ sinh học nói riêng đã được coi là một trong nh ng nguồn phân bón quan trọng của sản xuất nông nghiệp và là biện pháp truyền thống để cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu đất Hầu hết phân h u cơ chứa rất nhiều nếu không nói là tất cả các nguyên
tố dinh dưỡng cần thiết, do vậy đã cung cấp một nguồn cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng
Trong một vài thập k gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ sản xuất phân bón, tính tiện lợi và hiệu lực nhanh chóng đối với cây trồng của phân hóa học đã làm lu mờ vai trò của phân h u
cơ nói chung, phân h u cơ vi sinh nói riêng do các loại phân này yêu cầu lớn
về công lao động để sản xuất Bên cạnh đó, tập quán đốt tàn dư thực vật sau mỗi vụ thu hoạch cây trồng để vệ sinh đồng ruộng và chuẩn bị cho việc làm đất cũng như các hoạt động canh tác tiếp theo đã làm mất đi một lượng khá lớn các chất h u có có thể trả lại cho đất hàng năm
Trang 1717 Hiện nay do nguy cơ thoái hóa đất và yêu cầu cần phải quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nền nông nghiệp sạch, hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, nhiều nước trên thế giới đã ch trọng việc trả lại tàn dư cây trồng cho đất, chế biến và sử dụng phân h u cơ dưới nhiều hình thức khác nhau Nước ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, quá trình khoáng hóa chất
h u cơ xảy ra mạnh mẽ, do vậy hàm lượng các chất h u cơ, đặc biệt là mùn trong đất thường thấp và không có mùn thô Vấn đề bổ sung nguồn h u cơ cho đất thông qua bón các loại phân h u cơ và vùi trả lại tàn dư cây trồng cho đất có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất trồng trọt Đồng thời tạo cơ sở để cải tạo, bảo vệ, duy trì và không ngừng nâng cao độ phì nhiêu đất, nâng cao khả năng sản xuất của đất, qua đó đáp ứng yêu cầu cung cấp các loại nông sản phẩm đảm bảo cả
về số lượng và chất lượng, phục vụ đời sống con người
Theo quan điểm hiện nay, tính bền v ng của một nền sản xuất nông nghiệp phải được xây dựng trên cơ sở bền v ng về mặt kính tế, môi trường
và xã hội (Trần Anh Phong, 1995)[6] Việc sử dụng phân bón cần thiết cũng phải được định hướng theo quan điểm Hệ thống Dinh dưỡng Cây trồng Tổng hợp (Integrated Plant Nutrient System – IPNS), hoặc để đơn giản và lại bao trùm và tổng quát hơn là Quản lý Dinh dưỡng Tổng hợp (Integaratd Nitrient Management – INN) mà nội dung cơ bản là tổ chức sử dụng các nguồn phân bón có được (h u cơ, sinh học hoặc vô cơ) ở nông trại một cách tổng hợp để đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây và nâng cao độ phì nhiêu đất trong hệ thống cây trồng, phù hợp với năng suất mong muốn (Phan Liêu, 1998)[4]
Quản lý dinh dưỡng cây trồng bao gồm hai yếu tố là cung cấp dinh dưỡng cho cây và quản lý độ phì nhiêu đất Điều đó được tiến hành ở từng cánh đồng, cho phép phát hiện sự thay đổi dinh dưỡng một cách tuần tự để
sử dụng mọi nguồn phân bón có được phù hợp với cảnh quan cụ thể của từng địa phương Quản lý dinh dưỡng cây trồng có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ môi trường, được thể hiện ở các mặt: tận dụng sản phẩm thừa,
Trang 1818 chế biến thành phân bón mới h u dụng đưa vào chu trình cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, chống thoái hóa đất và tránh bón phân vô cơ thừa dư, nhất là phân N, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt
Như vậy việc vận dụng lý luận về Hệ thống Dinh dưỡng Cây trồng Tổng hợp là rất cần thiết trong việc tăng năng suất cây trồng, đặc biệt là đối với đất vùng nhiệt đới, với đặc điểm nổi bật là hàm lượng chất h u cơ trong đất thấp,
quá trình khoáng hóa xảy ra mạnh (Wooer P L., et al, 1994)[24]
Quá trình khoáng hóa tàn dư h u cơ trong đất cũng là một trong
nh ng nguồn cung cấp chất dinh dưỡng chủ yếu cho cây trồng Bên cạnh
đó, chất h u có có tác dụng kích thích hoạt động của hệ động vật và vi sinh vật đất, từ đó cảỉ thiện kết cấu đất, dẫn đến hạn chế xói mòn, tăng khả năng ngấm và gi nước của đất, tăng khả năng đệm của đất, làm giảm độ độc của nhôm và mangan, tạo môi trường thuận lợi cho bộ rễ hoạt động Chất
h u cơ trong đất đồng thời cũng là kho dự tr và cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Việc sụt giảm hàm lượng chất h u cơ tổng số trong đất là kết quả của việc quản lý đất kém, đặc biệt là việc lấy đi quá mức các tàn dư cây trồng và xáo trộn đất Theo nhiều nghiên cứu, một trong nh ng nguyên nhân chính dẫn đến việc thoái hóa đất trồng trọt là kết quả của việc giảm t
lệ chất h u cơ trong đất (Wooer P L., et al, 1994)[24]
Trong hệ thống trồng trọt một số vùng nhiệt đới, tàn dư cây trồng thường rất ít hoặc không được trả lại cho đất, điều này dẫn đến giảm chất
h u cơ của đất, năng suất cây trồng giảm Thực tế sản xuất của nông dân một số nước phát triển cho thấy, bằng cách bón một lượng lớn tàn dư h u
cơ kết hợp với một số biện pháp kỹ thuật như che phủ đất và áp dụng phương pháp canh tác tối thiểu có thể khắc phục được tình trạng sụt giảm thường xuyên về năng suất và hiệu quả sản xuất trồng trọt
Ở nước ta, vấn đề bón tổng hợp phân h u cơ - vô cơ để nâng cao năng suất cây trồng và cải thiện độ phì nhiêu đất đã được rất nhiều các nhà khoa học chý ý (Bùi Đình Dinh, 1995; Trần Khải, 1997; Thái Phiên, 1997 )[1],[7],[5] Theo các tác giả, để đảm bảo sản xuất ổn định và lâu
Trang 1919 bền trên đối với đất vùng nhiệt đới ẩm có hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt thì ngoài việc trả lại cho đất các nguyên tố dinh dưỡng lấy đi của đất theo sản phẩm, cần thiết phải duy trì thích đáng hàm lượng chất h u cơ trong đất, duy trì các đặc tính vật lý đất và bảo vệ đất khỏi rửa trôi, xói mòn
1.2 Đặc điểm sinh thái, dinh dưỡng của cây ớt
2.2.1 Nguồn gốc và phạm vi phân bố
Các loài Capsicum có nguồn gốc từ Mexico, sau đó được mở rộng đến Bolivia ở miền Nam của châu Mỹ La tinh, nơi mà ớt được coi là một phần không thể thiếu trong chế độ ăn uống của con người từ 7,500 trước công nguyên Ớt được trồng ở Tây Ban Nha vào năm 1493; ở Anh năm 1548, các nước Trung Âu năm 1585, sau đó từ châu Âu ớt được lan rộng sang châu Á Hiện nay, ớt được trồng nhiều ở các nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan, Indonesia, Sri Lanka, Thái Lan, Nhật Bản, Nigeria, Uganda, Ethiopia,… Trong đó, Trung Quốc được đánh giá là nước sản xuất và xuất khẩu ớt lớn nhất thế giới (Karima Lahbib., et al, 2012)[17]
Cây ớt cay thuộc họ Solanaceae, chi Capsicum, loài frutescence L,
Trên thế giới hiện có khoảng 1.600 giống ớt khác nhau và được chia thành
năm nhóm chính: C Annum L; C Frutescens L; C Chinenses; C Baccatum L; C Pubescens R (Jesusa Crisostomo Legaspi, 2007)[7] Ớt thương mại được phân loại theo nồng độ capsaicin (C18H27NO3. Loài Capsicum là cây lưỡng bội với 24 nhiễm sắc thể ( 2n = 24), gần đây phát hiện một số loài ớt không hăng là cây đơn bội, số nhiễm sắc thể (n = 13) và khác với các loài ớt cay về kích thước, hình dạng, màu sắc, hương vị và độ cây (Karima Lahbib., et al, 2012; Awole., et al, 2011)[17],[11]
1.2.2 Yêu cầu về nhiệt độ
Ớt là cây ưa ấm và rất mẫn cảm với nhiệt độ thấp ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng, phát triển Giai đoạn nảy mầm, ớt yêu cầu nhiệt độ cao, thích hợp nhất 25 - 30oC Nhiệt độ thấp hơn, ớt nảy mầm chậm, t lệ nảy mầm thấp Ớt sinh trưởng mạnh trong điều kiện nắng ấm và yêu cầu 3 - 5 tháng có nhiệt độ dao động trong khoảng 25o
C - 30oC Nhiệt độ thấp dưới 5oC ớt ngừng sinh
Trang 2020 trưởng Giai đoạn ra hoa, ớt đặc biệt mẫn cảm với nhiệt độ cao T lệ đậu quả giảm nghiêm trọng khi nụ hoa được hình thành ở nhiệt độ 33oC trở lên Ngoài
ra nhiệt độ cao ở thời kỳ sau thụ phấn cũng ức chế quá trình hình thành quả (Denis R Decoteau, 1990)[13]
Theo khuyến cáo của Trung tâm nghiên cứu Teaspoon – FeedingTM
Haifa, Israel, nhiệt độ thích hợp đối với cây ớt, loài Capsicum annuum L ở
1.2.3 Yêu cầu về đất đai
Cây ớt thích hợp trồng trên các loại đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc cát pha, thoát nước tốt, khả năng gi ẩm cao, hàm lượng mùn, hàm lượng chất h u cơ cao Độ pH thích hợp cho sinh trưởng phát triển của ớt là 6,5 - 7,5 Đất trồng ớt nên có độ dốc từ 0,01 - 0,03% để đảm bảo cho việc thoát nước nhanh, qua đó hạn chế các bệnh về rễ Cung cấp nước đầy đủ và kịp thời cho ớt là vấn đề đặc biệt quan trọng trong thâm canh ớt Thiếu hoặc thừa nước là nguyên nhân gây rụng hoa, rụng quả Trong thời kỳ ra hoa, ớt đặc biệt mẫn cảm với tình trạng độ ẩm của đất Thiếu hoặc thừa nước trong thời kỳ này đều dẫn đến hạn chế quá trình thụ phấn, làm xuất hiện nhiều loại sâu bệnh hại, dẫn đến làm giảm năng suất, chất lượng ớt Vì vậy, các loại đất
có khả năng ngấm nước và thoát nước chậm, điều kiện tưới hạn chế được coi
là không thích hợp cho việc trồng ớt do năng suất thấp (Karssen J G M Vos, 1994)[18]
1.2.4 Yêu cầu về nước
Theo Doktorin der Naturwissenschaften (2010)[14] có thể trồng ớt thành công trong điều kiện dựa hoàn toàn vào nước trời Tuy nhiên để đảm bảo đạt năng suất cao, ổn định thì chủ động tưới, tiêu là vấn đề quan trọng nhất Ớt bị ngập úng, thậm chí chỉ trong một thời gian rất ngắn cũng có thể gây ra hiện tượng rụng lá, đồng thời làm xuất hiện nhiều loại sâu bệnh hại Ớt
là cây trồng dễ bị ảnh hưởng bởi điều kiện độ ẩm đất thấp do quá trình thoát
Trang 2121 hơi nước thông qua khí khổng của cây rất cao, trong khi bộ rễ ớt ăn nông, tập trung chủ yếu ở lớp đất mặt Vì vậy để đạt năng suất cao, cần phải đảm bảo cung cấp nước đầy đủ cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của lượng nước tưới ở các thời kỳ sinh trưởng khác nhau của cây ớt của Karssen J G M Vos (1994)[18] cho thấy, việc cắt giảm lượng nước tưới ở thời kỳ trước khi ra hoa đã làm chậm quá trình
ra hoa, giảm tối đa số lượng hoa Thiếu nước ở thời kỳ gi a ra hoa và hình thành quả dẫn đến làm giảm tổng sản lượng lượng quả thu hoạch trong toàn vụ Tình trạng thiếu nước liên tục không chỉ ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng quả thu hoạch mà còn ảnh hưởng lớn đến phẩm chất và sản lượng ớt thương phẩm Sản lượng ớt thương phẩm đạt cao nhất khi tưới nước ở mức 120% và thấp nhất ở mức tưới 40% tổng lượng thoát hơi nước nước bề mặt lá và thoát hơi nước bề mặt đất (Doktorin der Naturwissenschaften, 2010)[14]
Theo Makinde (2010)[19] ớt được coi là cây trồng mẫn cảm nhất đối với sự thiếu nước Để đạt năng suất cao, cần cung cấp nước và duy trì độ ẩm đất ở giới hạn thích hợp trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây, đặc biệt là giai đoạn trước và trong thời kỳ ra hoa Phương pháp tưới nước nhỏ giọt được coi là có hiệu quả nhất để cung cấp nước và dinh dưỡng theo nhu cầu của cây
1.2.5 Yêu cầu dinh dưỡng
Theo S Roy, M S I Khan (2011)[22] và Manuel Etuardo Alana (1998)[20], nhu cầu bón phân cho ớt tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất và khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất, đặc biệt là hàm lượng chất h u cơ trong đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng đa lượng (N, lân, kali) cũng như khả năng hấp phụ và mức độ rửa trôi dinh dưỡng trong đất trồng ớt
Cây ớt yêu cầu một lượng lớn các chất dinh dưỡng đa lượng và trung lượng, song phản ứng của ớt đối với phân bón nhìn chung thấp hơn so với các
loại rau màu khác như hành tây, rau riếp (Umesh Mohan Zende, (2008)[23]
Trang 2222 Nghiên cứu của Makinde., et al, 2010)[19] cho thấy có sự tương quan tuyến tính thuận gi a sự hấp thu các chất dinh dưỡng và năng suất ớt quả Yếu tố dinh dưỡng chủ yếu của ớt là N và lân Trên đất bán khô hạn, thành phần cơ giới nhẹ, lượng phân bón cho 1 ha ớt là: 10 tấn phân h u cơ, 140 N +
100 P2O+ 200 K2O Theo Karima Lahbib (2012)[17] bón lân cho ớt không chỉ
có tác dụng tăng năng suất quả mà còn có tác dụng cải thiện màu đỏ của quả
N là yếu tố quyết định năng suất ớt Cần phải bón cho ớt 22 N - 34 N trước mỗi đợt ra hoa và hình thành quả Bón thừa N, cây sinh trưởng mạnh, dẫn đến làm chậm quá trình ra hoa, hình thành quả, đồng thời là nguyên nhân chính dẫn hiện tượng thối vỏ quả ớt
Nhu cầu bón phân cho ớt phụ thuộc vào loại đất và đặc điểm cây trồng
vụ trước đó Bón phân cho ớt phải đảm bảo yêu cầu cân đối về mặt dinh dưỡng
để đảm bảo đạt năng suất tối đa Ở Ethiopia, lượng phân bón khuyến cáo áp
dụng cho 1 ha ớt là: 200 kg/ha DAP + 100 kg Urê (Karima Lahbib, 2012)[17]
Trang 2323
Chương 2 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN HUYỆN VĨNH LỘC TRONG MỐI QUAN HỆ
VỚI SẢN XUẤT CÂY ỚT
2 1 Vị trí địa lý
Vĩnh Lộc là huyện nằm trong vùng đồng bằng sông Mã, trên đoạn giao
nhau gi a Quốc lộ 45 với Quốc lộ 217., Trung tâm huyện cách Thành phố
40 km về phía Tây theo Quốc lộ 217 ., Tọa ọa độ địa lý: 19°57’ đến 20°08’ vĩ
độ Bắc; 105°33’ đến 105°46’ vĩ độ Đông Phía Bắc giáp huyện Thạch
Thành , pPhía ái Nam giáp huyện Yên Định Phía , phía Đông giáp huyện Hà
Trung , pPhía Tây giáp huyện Cẩm Thủy ., Diện tích tự nhiên toàn huyện
158,03 km2, ; dân số 80.,983 người, chiếm 1,42% diện tích tự nhiên và 2,35%
dân số tỉnh Thanh Hóa Huyện có vị trí chiến lược quan trọng trên trục phát
triển Đông - tây, vùng biển - đồng bằng - trung du - miền n i của tỉnh Thanh
Hóa, gi a khu công nghiệp Bỉm Sơn - Thạch Thành với khu kinh tế của khẩu
Na Mèo
2 2 Địa hình, địa mạo
Vĩnh Lộc là huyện đồng bằng nhưng tiếp giáp với các huyện miền n i
(Thạch Thành, Cẩm Thủy), vì vậy về mặt lãnh thổ có địa hình không bằng
phẳng, độ cao trung bình 15 m so với mực nước biển., Toàn huyện có 6 xã
miền n i (trong số 15 xã, 1 thị trấn), với tổng diện tích tự nhiên 9 050 ha,
chiếm 57,27% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện ., Trong địa bàn huyện,
sông Bưởi chảy theo hướng Bắc - Nam chia huyện thành 2 vùng:
- Vùng Tây sông Bưởi (gồm các xã Vĩnh Quang, Vĩnh Long, Vĩnh
Yên, Vĩnh Tiến, Vĩnh Khang, Vĩnh Ninh, Vĩnh Thành, phần phía Tây Vĩnh
Ph c và thị trấn huyện) Tổng diện tích 5.,510 ha, chiếm 34,87% diện tích
tự nhiên toàn huyện, trong đó đất đồi n i 533,2 ha (chiếm 9,86%); đất đồng
bằng 4.977ha (chiếm 90,14%) Địa hình nghiêng từ Tây sang Đông.,
Formatted: Swedish (Sweden) Formatted: Swedish (Sweden)
Formatted: Font: Not Italic, Swedish
Trang 2424
- Vùng Đông sông Bưởi (gồm các xã: Vĩnh Hưng, Vĩnh Hòa, Vĩnh
Hùng, Vĩnh Tân, Vĩnh Minh, Vĩnh Thịnh, Vĩnh An và phần phía Đông xã
Vĩnh Ph c) .Tổng diện tích 10 293 ha, chiếm 65,13% tổng diện tích tự
nhiên toàn huyện Trong đó đất đồi n i 4 094 ha (chiếm 39,78%), đất đồng
bằng 6 198 ha (chiếm 60.,22%) diện tích toàn vùng Địa hình nghiêng dần
từ Bắc xuống Nam, có nhiều ô trũng, thường bị ngập ng vào mùa mưa
2 3 Khí hậu
Huyện Vĩnh Lộc thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới, nền nhiệt độ cao, chịu
ảnh hưởng của của gió mùa Tây nam khô, nóng và gió mùa Đông bắc khô,
lạnh Diễn biến các yếu tố khí hậu qua các tháng trong năm (số liệu trung bình
trong 20 năm, từ 1993 - 2012) được trình bày trong bảng 2 1 và hình 2 1
Bảng 2 1 , Diễn biến các yếu tố khí hậu huyện Vĩnh Lộc (1993 - 2012)
Tháng
Lượng mưa (mm)
Nhiệt độ không khí (oC)
Độ ẩm không khí (%)
Lượng bốc hơi (mm)
Số giờ nắng (giờ)
Trang 2525
Hình 2 1 Diễn biến các yếu tố khí hậu huyện Vĩnh Lộc Thanh Hóa
(Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thủy văn Thanh Hóa)[8]
Từ kết quả ở bảng 3 1 và hình 3 1; , đặc điểm các yếu tố khí hậu chi
phối sự sinh trưởng, năng suất ớt được tóm tắt như sau:
- Nhiệt độ: tổng số nhiệt độ trong năm trung bình 8 960o , Nhiệt độ không
khí trung bình năm 23,70C, trong đó sáu tháng có nhiệt độ cao (tháng 5 - 10) trung
bình 27,6oC, sáu tháng có nhiệt độ thấp (tháng 11 - 4) trung bình 20o
C , Ba tháng mùa đông (tháng 1, 2, 3) có nhiệt độ thấp nhất trong năm, trung bình 18,1o
C
- Lượng mưa: tổng lượng mưa trong năm trung bình 1.,.592,7 mm, cao
nhất 2 375 mm (năm 1996), thấp nhất 1 070 mm (năm 1993), trong đó
84,5% tổng lượng mưa (1 402 mm) tập trung trong 6 tháng, từ tháng 5 -
-10 Ba tháng (tháng 8, 9, 10) có lượng mưa cao nhất, trung bình 289,6
mm/tháng (chiếm 52,4% tổng lượng mưa cả năm) ., Từ tháng 11 năm trước
đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình chỉ đạt 42,9 mm/tháng, trong đó
ba tháng (tháng 12, 1, 2) có lượng mưa thấp nhất, trung bình 21,9 mm/tháng
- Độ ẩm không khí: độ ẩm không khí trung bình trong năm 83,6%, cao
nhất 88,4%, thấp nhất 83,5% Ba tháng (tháng 11, 12, 1) có độ ẩm không
không khí thấp nhất trong năm, trung bình 82,3%
- Ánh sáng: lượng bức xạ ở huyện Vĩnh Lộc thuộc mức trung bình so với
Formatted: Italian (Italy) Formatted: Italian (Italy)
Trang 2626 vùng khí hậu nhiệt đới Tổng số giờ nắng trong năm 1 542 giờ, trung bình 4,2
giờ/ngày Số giờ nắng trung bình trong 6 tháng, từ tháng 5 - 10 là 5,6
giờ/ngày
- Lượng bốc hơi: tổng lượng bốc hơi trong năm trung bình 987 mm
Các tháng có lượng bốc hơi cao (tháng 6, 7, 11), trung bình 82 mm/tháng ,
Diễn biến các yếu tố thời tiết khí hậu trong thời vụ trồng ớt, từ tháng
12/2011 đến tháng 6/2012) được trình bày trong bảng 2 2
Bảng 2 2 Các yếu tố thời tiết khí hậu trong vụ ớt đông xuân 2011 -
2012
mưa (mm)
Nhiệt độ trung bình (oC)
Độ ẩm không khí
(%)
Lượng bốc hơi
(mm)
Tổng số giờ nắng (giờ)
(Nguồn: Trạm khí tượng Thủy văn Thanh Hóa, 2013)[8]
Kết quả ở bảng 3 2 cho thấy: điều kiện thời tiết vụ ớt đông - xuân
2011-2012 được đánh giá là tương đối thích hợp cho sinh trưởng, phát triển
của cây ớt : tTổng lượng mưa 462,5 mm (trung bình 66,07 mm/tháng, cao
hơn 12,8 mm/tháng so với trung bình của 20 năm từ 1993 - 2012) ; nNhiệt độ
không khí trung bình 21,7oC; độ ẩm không khí 84,86%, lượng bốc hơi 84,3
mm/tháng , tTổng số giờ năng là 697 giờ (trung bình 3,3 giờ/ngày) , kKhông
có các hiện tượng thời tiết cực đoan vượt ngoài giới hạn thích ứng của cây
ớt
2 4 Tài nguyên đất
Formatted: Italian (Italy) Formatted: Italian (Italy) Formatted: Italian (Italy) Formatted: Italian (Italy) Formatted: Italian (Italy) Formatted: Italian (Italy) Formatted: Italian (Italy)
Formatted: Italian (Italy) Formatted: Italian (Italy)
Trang 2727 Trên cơ sở địa hình và nguồn gốc hình thành, tài nguyên đất của huyện Vĩnh Lộc được chia thành 4 nhóm chủ yếu như sau:
- Nhóm đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): diện tích 581 ha, phân bổ dọc theo triền sông Mã thuộc các xã: Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, Vĩnh Hòa, Vĩnh Hùng, Vĩnh Tân, Vĩnh Minh, Vĩnh An ., hHàng năm đất được bồi một lớp phù sa mới Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến cát pha, chua vừa, hàm lượng các chất dinh dưỡng N, P, K tổng số và dễ tiêu từ trung bình đến hơi nghèo Do ở ngoài đê nên thường bị ngập nước vào mùa mưa lũ
- Nhóm đất phù sa không được bồi hàng năm, bao gồm:
+ Đất phù sa không được bồi, không glây, không có tầng loang lổ đỏ vàng (P): diện tích 3 720 ha, phân bố ở các xã: Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Tiến, Vĩnh Thành, Vĩnh Ph c, Vĩnh Long, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, Vĩnh Thịnh, Vĩnh Minh, Vĩnh An, Vĩnh Tân Đất có địa hình vàn, vàn cao, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nhẹ; hàm lượng chất h u cơ tổng số,
N, P, K tổng số và dễ tiêu ở mức trung bình -– khá
+ Đất phù sa không được bồi có tầng loang lổ đỏ vàng (PT) diện tích
462 ha, phân bổ chủ yếu ở các xã: Vĩnh Hưng, Vĩnh Hòa Vĩnh Hùng, vùng cao của xã Vĩnh Thịnh, Vĩnh Long, Vĩnh Ph c, Vĩnh Tân, Vĩnh An Đất thuộc địa hình cao, thành phần cơ giới thịt trung bình - thịt nhẹ, hàm lượng chất h u cơ tổng số, N, P, K tổng số và đễ tiêu ở mức trung bình đến hơi nghèo
+ Đất phù sa không được bồi có tầng glây (Pg): diện tích 1 625 ha, địa hình vàn và vàn thấp Đất có so thành phần cơ giới thịt trung bình - thịt nhẹ, hàm lượng chất h u cơ tổng số, N, P, K tổng số và đễ tiêu ở mức trung bình -–khá
- Nhóm đất phù sa ngập nước (Pj): diện tích 1 192 ha, phân bổ ở vùng trũng các xã: Vĩnh Hùng, Vĩnh Tân, Vĩnh Thịnh .Đất bị ngập nước quanh năm, lầy thụt, thành phần cơ giới thịt trung bình - thịt nặng, chua.,
Trang 2828
- Nhóm đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét và đá đá biến chất (9Fs), đá cát kết (Fq): diện tích 4 975 ha, là đất đồi n i, độ dốc từ 8o trở lên, phân bố ở các xã: Vĩnh Hùng, Vĩnh Thịnh, Vĩnh Hưng, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc Đất có tầng canh tác mỏng, nhiều đá lộ đầu, nhiều nơi đã bị xói mòn trơ sỏi, đá.,
2.5 Hiện trạng sản xuất ngành trồng trọt
Sản xuất trồng trọt ở huyện Vĩnh Lộc phát triển khá toàn diện Huyện
đã và đang thực hiện tốt việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng với
3 vụ chính là vụ chiêm xuân, vụ mùa và vụ đông Cây trồng chủ lực là l a, ngô, đậu tương, rau, màu và các loại cây công nghiệp ngắn ngày Diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng chính ở huyện Vĩnh Lộc trong 3 năm (2008 - 2010) được trình bày trong bảng 2 3
Bảng 2 3 Diện tích năng suất cây trồng ở huyện Vĩnh Lộc (2008 - 2010)
lúa
Cây ngô
Cây khoai lang
đậu tương
Cây rau màu
(Nguồn: UBND huyện Vĩnh Lộc)
Tóm lại: Điều kiện khí hậu, đất đai của huyện Vĩnh Lộc có nhiều điểm thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, trong điều kiện chăn nuôi phát triển theo hướng công nghiệp hiện nay, nguồn phân h u
Trang 2929
cơ khan hiến được xác định là một trong nh ng yếu tố hạn chế việc mở rộng diện tích và thâm canh tăng năng suất chất lượng cây trồng, đặc biệt là các loại cây rau màu, thực phẩm có giá trị, trồng trong điều kiện vụ đồng, đông - xuân trên các chân đất phù sa, địa hình vàn, vàn cao, thiếu nước Chính vì vậy, việc nghiên cứu sử dụng phân bón HCVS thay thế cho phân h u cơ được xác định là giải pháp quan trọng, qua đó góp phần mở rộng diện tích, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất các loại cây rau màu thực phẩm
có giá trị trên nhóm đất phù sa của huyện Vĩnh Lộc
Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3 1 , Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Trang 3030
3.1.1 - Đất thí nghiệm:
Đất phù sa sông Mã không được bồi, huyện Vĩnh Lộc
3.1.2 - Giống ớt
: gGiống ớt cay lai F1 số 20 do công ty Giống cây trồng Miền Nam
nhập khẩu từ Đài Loan F1 số 20 là giống ớt thích hợp cho trồng ở vùng có
khí hậu nhiệt đới và trồng được ở tất cả các thời vụ trong năm Đặc điểm:
quả to, thẳng, dài, thịt dày, cay, phù hợp cho chế biến xuất khẩu ở cả dạng quả
tươi và sản phẩm ớt muối
- 3.1.3 Phân bón
: cCác loại phân bón sử dụng trong thí nghiệm bao gồm:
- + Phân khoáng: N urê (46% N), supe lân - SSP (16% P2O5), kali
clorua (60% K2O)
- + Phân chuồng: phân độn chuồng trong chăn nuôi lợn hộ gia đình
+ - Phân HCVS 1-3-1 – HC15 do Công ty cổ phần Phân bón Lam Sơn sản
xuất theo công nghệ của Công ty cổ phần Fitohoocmon Hà Nội Nguyên liệu h u
cơ cho sản xuất là bùn lọc nhà máy đường.,
Phân bón HCVS đã được Bộ Nông nghiệp công nhận “Danh mục phân
bón được phép sản xuất và sử dụng tại Việt Nam” tại Thông tư số
31/2012/TT- Bộ NNPTNT, ngày 20/7/2012 của Bộ Nông nghiệp Phát triển
Nông thôn (trang số 12, mục 3: phân bón h u cơ vi sinh) Thành phần phân
bón theo tiêu chuẩn công bố hợp quy phân bón số 16/2012/CBHQ- LSSC
được trình bày trong bảng 3 1
Công năng: phân HCVS có tác dụng làm cho đất ngày càng màu mỡ,
tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật có ích sinh sống và phát triển, làm
cho đất tơi xốp, thoáng khí, cải tạo lý tính, hóa tính đất, từ đó gi p cho cây
trồng sinh trưởng phát triển tốt, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm cây
trồng một cách lâu dài và ổn định, làm cân bằng trạng thái sinh học trong đất,
Trang 31Nguồn: Công ty Cổ phần Phân bón Lam Sơn[2]
Công năng: phân HCVS có tác dụng làm cho đất ngày càng màu mỡ,
tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật có ích sinh sống và phát triển, làm
cho đất tơi xốp, thoáng khí, cải tạo lý tính, hóa tính đất, từ đó gi p cho cây
trồng sinh trưởng phát triển tốt, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm cây
trồng một cách lâu dài và ổn định, làm cân bằng trạng thái sinh học trong đất,
hạn chế vi sinh vật có hại
3 2 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng mục đích, yêu cầu đề ra, đề tài luận văn tập trung nghiên
cứu các nội dung như sau:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân HCVS đến các đặc tính sinh trưởng,
tình hình sâu bệnh hại, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và hiệu quả
sản xuất ớt
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân HCVS đến tính chất hóa học, khả
năng gi nước và cung cấp nước của đất
- Nghiên cứu khả năng sử dụng phân HCVS thay thế cho phân chuồng
trong thâm canh ớt
3 3 Phương pháp nghiên cứu
2.,3.,1., Phương pháp điều tra thu thập thông tin thứ cấp
Formatted: English (U.S.) Formatted: English (U.S.)
Formatted: English (U.S.)
Trang 3232
3 , ,21 , Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng
Bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo nghiên cứu hiệu lực của phân bón
HCVS đến sinh trưởng, tình hình sâu bệnh hại, các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất, hiệu quả kinh tế bón phân và ảnh hưởng của phân bón đến
- Lượng bón N, P, K (kg/ha) ở công thức thí nghiệm là 150 N + 120 P2O5
-+ 180 K2O (theo Qui phạm khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống ớt
ngày 12/06/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
- Diện tích ô thí nghiệm: 20m2 (kích thước luống trồng ớt: 1,2 m x 17
m) Các ô thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (Randomized
Complete Block - RCB), nhắc lại 3 lần
- Sơ đồ ô thí nghiệm:
CT1
(I)
CT3 (I)
CT5 (I)
CT2 (I)
CT4 (I)
CT6 (I) CT4
(II)
CT2 (II)
CT5 (II)
CT6 (II)
CT1 (II)
CT3 (II) CT5
(III)
CT6 (III)
CT2 (III)
CT1 (III)
CT3 (III)
CT4 (III)
Ghi chú: CT 1, 2, 3, 4, 5, 6,: thứ tự công thức; I, II, III: thứ tự lần nhắc lại
Formatted: Swedish (Sweden)
Formatted: Swedish (Sweden), Condensed by
Trang 3333 2.,3.,3.,3., - Các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm
- + Thời vụ: Gieo hạt: từ 10 – - 15/11/2012 ; Trồng: 15 – - 30/12/2012
- + Chuẩn bị đất trồng: Cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại ., Lên luống rộng
100cm, cao 20- 25cm, rãnh rộng 40cm
- + Khoảng cách trồng: Trồng hàng đôi trên luống, khoảng cách hàng
cách hàng 60 cm, cây cách cây là 50 cm (0.,3 m2/cây).,
- + Mật độ: 33 300 cây/ha., 66 cây/ ô thí nghiệm
- + Bón vôi: 1000 kg/ha bón rải đều trên mặt luống trước khi lên luống.,
- + Cách bón phân [2]:
+ Bón lót khi trồng: Phân lân, phân HCVS: bón lót khi trồng 100%
lượng bón theo công thức thí nghiệm., Bón theo hốc, trộn phân đều với đất,
sau đó phủ một lớp đất mỏng lên trên trước khi trồng
+ Bón thúc: Phân N, phân kali: chia đều bón th c 4 lần, kết hợp với xới
xáo, vun gốc và tưới nước, cụ thể::
Lần 1: Sau trồng 25-30 ngày, kết hợp xới vun: 25% tổng lượng N và kali
Lần 2: Sau trồng 45-50 ngày, kết hợp xới vun: 25% tổng lượng N và kali
Lần 3: Sau trồng 70-80 ngày, hòa nước tưới: 25% tổng lượng N và kali
Lần 4: Sau trồng 100- 115 ngày, hòa nước tưới: 25% tổng lượng N và kali
- + Tỉa cành: Tỉa bỏ lá già, lá gần gốc để tạo thông thoáng.,
- + Cắm giàn: Cắm kiểu giàn chéo, 1 cây 1 cọc
- + Tưới nước: Tưới thủ công trực tiếp cho từng cây, đảm bảo độ ẩm
đất luôn trong giới hạn 70-75% độ ẩm tối đa đồng ruộng.,
- + Phòng trừ sâu bệnh hại: Thường xuyên theo dõi, phát hiện và phun
phòng trừ sâu bệnh theo quy trình hiện đang áp dụng tại địa phương.,
- + Thu hoạch: Thu hoạch khi quả bắt đầu chín thương phẩm.,
2.,3.,3., Phương pháp bố trí thí nghiệm trong phòng
Formatted: Condensed by 0.4 pt Formatted: Condensed by 0.4 pt
Formatted: Condensed by 0.5 pt Formatted: Condensed by 0.5 pt
Trang 3434
3 3 ,42 Chỉ tiêu và , Pphương pháp theo dõi các chỉ tiêu
3.3.2.1 Chỉ tiêu theo dõi
- Sinh trưởng, phát triển: theo dõi động thái phân cành, động thái tăng
trưởng chiều cao cây của cây ớt
- Tình hình sâu, bệnh hại: theo dõi mức độ gây hại của sâu đục quả và
bệnh thán thư hại ớt
.- Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: chiều dài quả; đường kính
quả; trọng lượng trung bình quả; số quả thu hoạch bình quân trên cây (theo từng
đợt và trong toàn vụ) Tính năng suất thực thu
- Hiệu quả sản xuất: theo dõi các khoản chi phí sản xuất như làm đất,
phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, công lao động trồng, chăm sóc, thu hoạch
sản phẩm Tính lãi ròng, t suất chi phí lợi nhận cận biên sử dụng phân bón
(Margin Benefit Cost Ratio – MBCR)
- Các chỉ tiêu lý, hóa của đất trước và sau thí nghiệm: pHKcl, mùn tổng
số, N, lân, kali tổng số và dễ tiêu
- Độ ẩm tối đa đồng ruộng, độ ẩm cây héo và lượng nước h u hiệu
trong đất trước và sau khi thí nghiệm
3.3.2.2.3.,3.,4.,2., Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu:
Trong mỗi ô thí nghiệm cố định 10 cây bằng cách đánh dấu để theo dõi
các chỉ tiêu nghiên cứu
- Động thái tăng trưởng chiều cao cây: chiều cao cây được tính từ đốt
phân cành thứ nhất đến cuống lá của cành cao nhất trong cây Định kỳ 1
Formatted: Font: Not Italic Formatted: Font: Not Italic
Formatted: Font: Not Italic
Trang 3535 tháng theo dõi 1 lần ., Tính chiều cao cây cuối cùng; tốc độ tăng trưởng chiều cao cây qua các tháng
+ Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/tháng) = chiều cao cây tháng sau trừ đi chiều cao cây tháng trước đó
Tổng số quả thu hoạch của từng đợt
- Các yếu tố cấu thành năng suất
Lấy ngẫu nhiên 30 quả/lần nhắc của mỗi đợt thu hoạch quả thương phẩm để xác định các chỉ tiêu sau:
+ Chiều dài quả (cm): đo từ đỉnh quả đến phần gốc gắn với cuống quả.,.+ Đường kính quả (mm): đo độ to của quả ở phần gốc gắn với cuống quả.,
- Trọng lượng quả (g): trong mỗi đợt thu hoạch, lấy ngẫu 30 quả để cân trọng , Tính trọng lượng trung bình quả ở từng đợt thu hoạch và trong toàn
vụ.,
- Số quả bình quân/cây: đếm tổng số quả mỗi đợt thu hoạch của 10 cây
cố định để theo dõi Tính số quả bình quân/cây/đợt và trong toàn vụ
- Năng suất thực thu (tấn/ha): Cân trọng lượng quả thu hoạch trong toàn bộ
ô thí nghiệm trong từng đợt thu hoạch, tính năng suất quả/ha/đợt và trong toàn
vụ
- Chỉ tiêu chất lượng quả: