DANH MỤC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ Trang Bảng 2.1: Tình hình hiện trạng sử dụng đất tự nhiên của xã Xuân Hoà 15 Bảng 2.2: Diễn biến một số yếu tố thời tiết khí hậu của tỉnh Thanh Hóa 16 Bảng 2.3: D
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HOÁ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
NGUYỄN THANH HÓA
“TUYỂN CHỌN MỘT SỐ LOẠI CÂY TRỒNG XEN PHÙ HỢP, CÓ HIỆU QUẢ CAO TRÊN ĐẤT TRỒNG CAO SU THỜI KỲ KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA”
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THANH HOÁ, NĂM 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HOÁ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
NGUYỄN THANH HÓA
TUYỂN CHỌN MỘT SỐ LOẠI CÂY TRỒNG XEN PHÙ HỢP, CÓ HIỆU QUẢ CAO TRÊN ĐẤT TRỒNG CAO SU THỜI KỲ KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Trang 3Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ khoa học theo Quyết định số: /QĐ - ĐHHĐ, ngày tháng năm 20 của hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức:
Học hàm, học vị, họ và tên Cơ quan công tác
Chức danh trong Hội đồng
1 TS Lê Đình Sơn Sở KH và CN Thanh Hóa Chủ tịch
2 PGS.TS Nguyễn Hồng
Sơn
Viện KHNN Việt Nam Phản biện 1
3 TS Trần Công Hạnh Trường Đại học Hồng Đức Phản biện 2
4 TS Lê Hữu Cần Trường Đại học Hồng Đức Ủy viên
5 TS Lê Văn Ninh Trường Đại học Hồng Đức Thư ký
Xác nhận của Người hướng dẫn
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng
Ngày tháng năm 2013
TS Nguyễn Thị Lan
Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện trường Đại học Hồng Đức và Bộ môn
khoa học cây trồng – Khoa Nông lâm ngư nghiệp
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Hóa
Trang 5Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp
đỡ về mọi mặt của các thầy giáo, cô giáo, các cơ quan, đơn vị, bạn bè, đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn:
Lãnh đạo Trường đại học Hồng Đức; Khoa Nông Lâm Ngư nghiệp; các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn Khoa học Cây trồng của Trường Đại học Hồng Đức; đặc biệt là TS Nguyễn Thị Lan người hướng dẫn khoa học đã giúp đỡ, hướng dẫn tôi từ khi lập đề cương, xây dựng kế hoạch triển khai đề tài đến hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn: Huyện ủy, HĐND&UBND, các Phòng Nông nghiệp, Tài nguyên – Môi trường, Chi cục Thống kê, Trạm khuyến nông huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Ủy ban nhân dân xã Xuân Hòa; bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, người thân đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tác giả
Nguyễn Thanh Hóa
Trang 6MỤC LỤC Trang
1.1 Tình hình phát triển cao su trên thế giới và Việt Nam 4
1.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây trồng xen trong vườn cây cao
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây trồng xen trong vườn cây
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây trồng xen trong vườn cây
1.3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN XÃ XUÂN HÕA HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH
THANH HÓA TRONG PHÁT TRIỂN CÂY TRỒNG XEN TRÊN VƯỜN
CÂY CAO SU THỜI KỲ KTCB
14
1.7.2 Thực trạng trồng xen trong vườn cây cao su ở xã Xuân Hoà 18
Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
Trang 72.1 VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 19
2.1.2 Thời gian, địa điểm và điều kiện đất đai nghiên cứu 19
2.3.2 TUYỂN CHỌN MỘT SỐ LOẠI CÂY TRỒNG XEN PHÙ HỢP,
CÓ HIỆU QUẢ TRÊN ĐẤT TRỒNG CAO SU THỜI KỲ KTCB
HUYỆN NHƢ XUÂN TỈNH THANH HÓA
20
Thí nghiệm 1: Tuyển chọn một số giống ngô phù hợp, hiệu quả cao trên
đất trồng thời kỳ KTCB tại Xuân Hòa – Nhƣ Xuân – Thanh Hóa 20
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ LOẠI CÂY
TRỒNG XEN PHÙ HỢP, CÓ HIỆU QUẢ TRÊN ĐẤT TRỒNG CAO
SU THỜI KỲ KTCB HUYỆN NHƢ XUÂN TỈNH THANH HÓA
31
Trang 83.1.1 Tuyển chọn một số giống ngô phù hợp, có hiệu quả cao trên đất trồng cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản tại xã Xuân Hoà huyện Như Xuân 31 3.1.1.1 Thời gian sinh trưởng và đặc điểm nông học của các giống ngô 31
3.1.1.3 Mức độ chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận 37 3.1.1.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 38 3.1.2 Tuyển chọn một số giống lạc thích hợp, có hiệu quả cao trên đất trồng cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản tại xã Xuân Hoà huyện Như Xuân 40 3.1.2.1 Thời gian sinh trưởng và đặc điểm nông học của các giống lạc 40 3.1.2.2 Chỉ số diện tích lá của các giống lạc qua các thời kỳ sinh trưởng 43 3.1.2.3 Mức độ chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất thuận
3.1.2.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lạc 46 3.1.3 Tuyển chọn giống đậu xanh thích hợp và hiệu quả cao trong vườn cao
su thời kỳ kiến thiết cơ bản tại xã Xuân Hoà huyện Như Xuân – Thanh Hoá 49
3.1.3.1 Thời gian sinh trưởng, đặc điểm nông học các giống đậu xanh 49 3.1.3.2 Chỉ số diện tích lá của các giống đậu xanh qua các thời kỳ sinh trưởng 51 3.1.3.3 Mức độ chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất thuận
3.1.3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu xanh 54 3.2 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của cây cao su thời kỳ KTCB
3.2.1 Tình hình sinh trưởng của cây cao su trong thí nghiệm 56 3.2.2 Tình hình phát sinh, phát triển sâu bệnh hại và khả năng chống chịu sâu
3.3 Lãi thuần thu được từ các loại cây trồng xen nghiên cứu trên vườn cây
Trang 10DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
VRG Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam
NSLT Năng suất lý thuyết
TGST Thời gian sinh trưởng
CSKTCB Cao su kiến thiết cơ bản
Trang 11DANH MỤC BẢNG VÀ ĐỒ THỊ Trang
Bảng 2.1: Tình hình hiện trạng sử dụng đất tự nhiên của xã Xuân Hoà 15 Bảng 2.2: Diễn biến một số yếu tố thời tiết khí hậu của tỉnh Thanh Hóa 16 Bảng 2.3: Diễn biến một số yếu tố thời tiết khí hậu tại huyện Như Xuân
Bảng 3.1: Thời gian sinh trưởng và đặc điểm nông học của các giống ngô 31
Bảng 3.2: Đặc điểm nông học của một số giống ngô 34 Bảng 3.3: Chỉ số diện tích lá của các giống ngô qua các thời kỳ sinh trưởng
Đồ thị 3.2: Chỉ số diện tích lá của các giống ngô qua các thời kỳ sinh
Bảng 3.4: Mức độ chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất
Bảng 3.5: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống ngô 39 Biểu đồ 3.3: Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của các giống ngô 40 Bảng 3.6: Thời gian sinh trưởng và đặc điểm nông học của các giống lạc 41
Đồ thị 3.4: Các giai đoạn sinh trưởng của các giống lạc 41 Bảng 3.7: Chỉ số diện tích lá của các giống lạc qua các thời kỳ sinh
Đồ thị 3.5: Đồ thị thể hiện chỉ số diện tích lá (m2
Bảng 3.8: Mức độ chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất
Bảng 3.9: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lạc 47 Biểu đồ 3.6: Năng suất lý thuyết và năng suất thực tế của các giống lạc 47
Trang 12Bảng 3.10: Đặc điểm nông học và thời gian sinh trưởng của các giống
Đồ thị 3.7: Thời gian các giai đoạn sinh trưởng của các giống đậu xanh 49 Bảng 3.11: Chỉ số diện tích lá qua các thời kỳ sinh trưởng của các
Đồ thị 3.8: Chỉ số diện tích lá (m2 lá /m2 đất) qua các thời kỳ sinh
Bảng 3.12: Mức độ chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh
Bảng 3.13: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
Biểu đồ 3.9: Biểu đồ thể hiện năng suất lý thuyết và năng suất thực tế
Bảng 3.14: Sự tăng trưởng vanh thân cây cao su với các cây trồng xen
Biểu đồ 3.10: Sự tăng trưởng thân cây cao su với các cây trồng xen
Bảng 3.15 Lãi thuần thu được từ các loại cây trồng xen nghiên cứu
Trang 13
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây cao su (Hevea brasiliensis) có nguồn gốc mọc hoang dại ở vùng nhiệt đới
thuộc lưu vực sông Amazon nằm khoảng 100
vĩ Bắc đến 150 vĩ Nam xích đạo và kinh tuyến 46 - 470
Tây, bao gồm các nước Brazil, Bolivia, Colombia, Peru, Ecuador, Venezuela, French, Guiana, Surinam và Guyana (Pushparajah, 1984)[57]
Cao su là một loài cây thân gỗ thuộc họ Đại kích (Euphorbiaceae), là loài cây có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea do chất nhựa mủ của nó
là nguyên liệu chính trong sản xuất cao su tự nhiên Cây cao su hiện nay đã phát triển ra ngoài vùng truyền thống của nó, lên đến vĩ độ 290 Bắc (Ấn Độ, Burma, Trung Quốc) và xuống đến vĩ độ 230
Nam (Abraham PD, Wycherley PR, Pakianathan SW, 1968)[46], cao trình lên đến 1.200m (Trung Quốc) Theo FAOSTAT (2010), hiện nay trên thế giới có 28 quốc gia trồng cao su, phân bố 90% ở Châu Á; 7,6% ở Châu Phi và 2,2% Châu Mỹ Indonesia hiện là nước có diện tích trồng cao su lớn nhất thế giới, đạt: 2,90 triệu ha Tuy nhiên, Thái Lan mới là nước có sản lượng mủ cao nhất, đạt 3,19 triệu tấn, chiếm đến 30,1% tổng sản lượng của toàn thế giới ( Lê Gia Phúc Trung, 2004)[36], (Nugawela
A,1989)[50], (Lukman HJG,1995)[56]
Qua thực tế cho thấy: Cao su tiểu điền nhiều, nhưng không "mạnh" Nguyên nhân
năng suất ở vườn cao su tiểu điền đạt thấp là do nông hộ chưa chú trọng đến việc đầu
tư, chăm sóc và áp dụng các biện pháp kỹ thuật nên vườn cây cao su đến kỳ khai thác cho năng suất thấp: 1 ha cao su Quốc doanh trong thời kỳ kiến thiết cơ bản được đầu tư với giá từ 36 - 40 triệu đồng, trong khi cao su tiểu điền chỉ ở khoảng từ 15 - 20 triệu đồng (Nguyễn Minh Hiếu và Trần Phương Đông, 2001)[18], ( Trần Thị Thúy Hoa, 2006)[19], (Đinh Xuân Trường và Nguyễn Ngọc Truyện, 2001)[35]
Thanh Hóa đã xác định cây cao su được coi là một trong những cây chủ lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn liền công - nông - lâm nghiệp ở trung du, miền núi Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 114/QĐ-TTg, phê
Trang 14duyệt dự án phát triển cây cao su ở Thanh Hóa Theo đó, đến năm 2005, Thanh Hóa hình thành vùng cao-su với diện tích 15.000 ha UBND Tỉnh cũng đã có kế hoạch phát triển cao su năm 2010 là 2.350 ha, ban hành chính sách khuyến khích phát triển cao su năm 2011 với diện tích trồng mới 2.000 ha, với ngân sách hỗ trợ lên đến gần
13 tỷ đồng Tuy nhiên, diện tích trồng mới năm 2010 cả tỉnh mới chỉ trồng được
568 ha, đạt 27,2% kế hoạch, trong đó cao su tiểu điền tại các huyện đạt 368 ha, riêng huyện Như Xuân có diện tích trồng nhiều nhất 187 ha, đạt 37,4% Trong năm
2011 việc hoàn thành kế hoạch trồng mới cao su của tỉnh Thanh Hóa cũng không thể đạt được (Công ty TNHH MTV Cao Su Thanh Hóa)[6] Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc triển khai trồng cao su không đạt, trong đó có nguyên nhân dự án trồng cao su chủ yếu triển khai trên vùng nghèo, dân không đủ nguồn lực đầu tư, cây cao
su lại mất độ 6 - 8 năm mới được khai thác, thời gian cao su kiến thiết cơ bản kéo dài người trồng cao su sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc ổn định đời sống Cây cao su lại trồng hàng rộng với khoảng cách 6 x 3 m, địa hình trồng cao su có độ dốc cao nên tốc độ rửa trôi xói mòn trong những năm đầu rất lớn Người dân trồng cao
su cũng đã trồng xen một số loài cây ngắn ngày như sắn, mía, ngô, đậu lạc, khoai lang… vào giữa hai hàng cao su, nhưng hoàn toàn tự phát, chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào để xác định lọai cây trồng, giống cây trồng phù hợp cho việc trồng xen cho cây cao su mới trồng Chính vì vậy, việc xác định cây trồng trồng xen
có hiệu quả cho cây cao su mới trồng vào thời kỳ kiến thiết cơ bản kéo dài 6 - 8 năm, xây dựng mô hình trồng xen hợp lý nhằm mang lại thu nhập cho nông dân, lấy ngắn nuôi dài, giúp người nông dân ổn định cuộc sống, yên tâm phát triển cây cao
su, góp phần bảo vệ môi trường, chống xói mòn rửa trôi là việc làm cấp bách mà thực tiễn sản xuất đang đặt ra Để giải quyết vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Tuyển chọn một số loại cây trồng xen phù hợp, có hiệu quả cao trên
đất trồng cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản tại huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa”
2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục đích
Xác định được thực trạng cơ cấu cây trồng hiện có trên đất trồng cao su của
Trang 15huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa (mức độ thích hợp, hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường…); lựa chọn và đề xuất được 1 - 2 giống cho mỗi loại cây thích hợp cho trồng xen cây cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản, góp phần mở rộng và phát triển cao su xã Xuân Hòa huyện Như Xuân
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
4 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài tập trung nghiên cứu tuyển chọn các cây trồng xen phù hợp trên đất trồng cao su thời kỳ KTCB vụ Xuân năm 2012 tại huyện Như Xuân
Trang 16CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CAO SU THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1.1 Tình hình phát triển cao su trên thế giới
Trên thế giới, hình thức sản xuất cao su tùy từng quốc gia, có nơi trồng cao
su trên diện tích rộng từ 500 - 10.000 ha, hoặc lớn hơn nữa do vốn nhà nước, doanh nhiệp đầu tư và trồng tập trung gọi là cao su đại điền, có nơi trồng cao su trên diện tích hẹp 1,0 - 2,0 ha với quy mô nhỏ do các hộ bỏ vốn đầu tư, hoặc được hỗ trợ thêm vốn ngân sách của nhà nước gọi là cao su tiểu điền Trên phạm
vi toàn thế giới thì cao su tiểu điền chiếm 80 - 90% tổng diện tích cao su Sản lượng cao su tiểu điền đạt 5.125.000 tấn năm 2009, tăng 280.000 tấn so với cao
su tiểu điền năm 2007 Cao su đại điền năm 2009 tăng 121.000 tấn so với năm
2007 chiếm 66,18% (Bộ NN & PTNN, 1998)[1], (Nguyễn Thị Huệ, 2006)[17], ( Viện KHNN Việt Nam, 2001)[37], (Faostat, 2010)[40]
Indonesia có tổng diện tích cao su lớn nhất, đạt 3.433,0 ha Trong đó, cao su tiểu điền đạt 2.920,0 nghìn ha (chiếm 85,1%) trong tổng diện tích cả nước Tiếp đến là Thái Lan đạt 2.333,8 nghìn ha, Malaysia đạt 1.185,9 nghìn ha, Ấn Độ đạt 584,0 nghìn ha và cuối cùng là Việt Nam đạt 309,0 nghìn ha (chiếm 49,9%) tổng diện tích cả nước Việt Nam là nước có diện tích cao su tiểu điền đứng thứ 5 trên thế giới (Nguyễn Thị Huệ, 2006)[17], (Hà Văn Khương, 2009)[21], ( Faostat, 2010)[40], (ARNPC, 2010)[45], (Pushparajah, 1984)[57]
1.1.2 Tình hình phát triển cao su ở Việt Nam
Cao su ( Hevea brasiliensis) là một loài cây thân gỗ thuộc họ Đại kích (Euphorbiaceae), là loài cây có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea
do chất nhựa mủ của nó là nguyên liệu chính trong sản xuất cao su tự nhiên Trước đây cây cao su chủ yếu được trồng từ vĩ tuyển 17 trở vào, nhưng ngày nay cao su không chỉ được phát triển khá mạnh ở vùng Bắc Trung Bộ mà còn được
Trang 17trồng ở các tỉnh phía Bắc như Sơn La, Lai Châu, Bắc Giang (Bộ NN & PTNN,
1998)[ 1], (Nguyễn Thị Huệ, 2006)[17]
Việc mở rộng diện tích cao su trong và ngoài nước là nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ Việt Nam Tuy nhiên, ưu tiên hàng đầu vẫn là chất lượng trồng mới cây cao su chứ không phải là việc tăng số lượng trồng mới (Lê Quốc Doanh – Viện
KHKT Nông lâm nghiệp MNPB)[16]
Năm 2007 diện tích cao su tiểu điền gia tăng đáng kể, đạt 219.000 ha, chiếm 42,44% so với diện tích cao su cả nước Diện tích tiểu điền tăng 24.000 ha so với năm 2005, một phần do tác động của Chương trình 327 trong những năm đầu thập niên 1990 và Dự án đa dạng hóa nông nghiệp khởi động năm 2000 (VRA, 2009)[35]
Kế hoạch từ nay đến năm 2020, Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) sẽ phát triển thêm 180.000 ha cao su tiểu điền, đưa tổng diện tích cao su tiểu điền của cả nước lên 350.000 ha, chiếm 50% tổng diện tích cao su của cả nước (Lê Gia Trung Phúc, 2004)[36]
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÂY TRỒNG XEN
TRONG VƯỜN CÂY CAO SU THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Lúc đầu cây cao su chủ yếu trồng độc canh trong các mô hình độc canh cao
su Một chu kỳ của một vườn cây cao su thường kéo dài 20 – 30 năm Trong đó theo quy trình kỹ thuật cao su thời gian đầu từ khi trồng mới đến khi khai thác lấy mủ cao su gọi là thời kỳ kiến thiết cơ bản kéo dài từ 6 – 8 năm tùy thuộc vào mỗi giống cây cao su, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và vùng miền sinh thái Cây cao su sau khi cho khai thác mủ từ 20 - 25 năm sẽ thanh lý và trồng lại ( Bộ NN
& PTNN, 1998)[1], (Lê Quốc Doanh – Viện KHKT nông lâm nghiệp MNPB)[16]
Trong quá trình canh tác trồng độc canh cây cao su người ta nhận thấy rằng mặc dù lợi nhuận kinh tế mà cây cao su đem lại là không hề nhỏ nhưng chi phí đầu từ trồng mới và thời kỳ kiến thiết cơ bản 6 - 8 năm là không hề nhỏ, trong thời gian này cây cao su chỉ sinh trưởng và chưa cho lợi nhuận Để tăng thêm lợi nhuận, giảm chi phí đầu tư đó cho cây trồng chính cũng là lấy ngắn nuôi
Trang 18dài người ta bắt đầu trồng xen vào giữa hàng cây cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản
Ở mỗi nơi, mỗi đặc điểm sinh thái, khí hậu khác nhau trồng xen mỗi loại cây trồng xen khác nhau phù hợp để cây cao su sinh trưởng, phát triển (Dạ Thảo và
Kỹ thuật trồng xen được giới thiệu vào Sri Lanka từ năm 1979 với nhấn mạnh giảm cạnh tranh cho cây cao su hơn là hiệu quả sử dụng đất (Jayasena
WG, Herath HMG, 1986)[54] Xen canh chuối được khuyến cáo trồng một hàng đơn giữa cao su và trải qua hàng thập niên, tỉ lệ các hộ trồng xen canh tăng dần Hiện nay đến 50% các hộ trồng cao su ở Sri Lanka trồng xen chuối trong giai đoạn KTCB (Jayasena WG, Herath HMG, 1986)[54] Trong hầu hết các trường hợp khi được quản lý tốt thì việc trồng xen không ảnh hưởng đến cây cao su đã được công bố cũng kết luận rằng sinh trưởng của cây cao su được cải thiện khi xen canh với cây che phủ đất và cây trồng làm thức ăn cho gia súc Những nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc xen canh đã tạo được tiểu khí hậu thích hợp cho quá trình quang hợp và sinh trưởng của cây cao su Nghiên cứu gần đây (Rodrigo et all, 2005) [58] cho rằng sinh trưởng và năng suất mủ cao su tăng ở giai đoạn kinh doanh bằng cách trồng xen chuối với cao su giai đoạn KTCB
Lợi nhuận từ mô hình xen canh cao su và các cây trồng xen tại Trung Quốc đạt 1500 RMBY/năm = 2.772.743đ /ha/năm Lợi nhuận tính riêng cho từng cây trồng xen vào thời kỳ CS KTCB như sau: Từ mía: 103,5 USD (1986-1988); 137,7 USD (1990-1991) Từ trà: 207,7 USD (1986-1988); 58,2 USD (1990-1991) Từ tiêu: 877,1 USD (1986-1988); 791 USD (1990-1991) Từ cà phê :
Trang 1978,4 USD (1986-1988); 56,5 USD (1990-1991) Bình quân thu nhập thêm từ mía: 527.746 đ/ha/năm; từ trà: 1.059.190 đ/ha/năm; từ tiêu : 4.473.370 đ/ha/năm;
từ cà phê : 399.769 đ/ha/năm (Faostat, 2010)[40]
Tại Thái Lan, các loại cây trồng xen khuyến cáo cho cao su tiểu điền trong thời gian 3 năm đầu trồng cao su là ngô, lúa nương, đậu, dứa, rau xanh, cỏ chăn nuôi Các loại cây trồng xen nên trồng cách hàng cao su 1m Mía được khuyến cáo không nên chọn làm cây trồng xen, nhất là vào mùa khô do có thể gây hỏa hoạn Chuối và đu đủ có thể trồng xen với khoảng cách giữa hàng trồng xen và hàng cao su là 2,5m; Giữa chuối và đu đủ khoảng cách là 3m, cây họ đậu phủ đất nên được trồng giữa các khoảng cách này (Lukman HJG, 1995)[56]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây trồng xen trong vườn cây cao
và dinh dưỡng rất thuận lợi cho việc trồng xen canh, trồng thêm nhiều loại cây
trồng khác nhằm tăng thu nhập theo hướng “lấy ngắn nuôi dài” (Hà Văn
Khương)[21],(Lê Gia Trung Phúc, 2004)[36]
Các loại cây được trồng xen được khuyến khích là cây họ đậu, lúa, rau màu giữa hàng lô cao su trong những năm đầu của thời kỳ kiến thiết cơ bản khi hàng cao su chưa khép tán Cây trồng xen không làm ảnh hưởng đến cây cao su và không là ký chủ của những mầm bệnh hại cao su Phải bón phân cho cây trồng xen, luân canh hợp lý và dùng tàn dư thực vật sau khi thu hoạch để
tủ gốc cho cây cao su Trên đất bạc màu, đất dốc phải thiết lập thảm phủ cây
họ đậu Không trồng xen cây ngắn ngày trên vườn cây cao su có độ dốc trên 8% vì việc làm đất có thể gây ra xói mòn nghiêm trọng (Lê Quốc Doanh – Viện KHKT nông lân nghiệp MNPB)[16], (Đinh Xuân Trường, 2007)[34]
Trang 20Theo Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam (Hà Văn Khương, 2009)[21]: Kết quả khảo nghiệm xen cây thảm phủ họ đậu Mucuna Brateata trong vườn cây cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản trên nhiều vùng khác nhau tại VRG cho thấy thảm Mucuna bracteata có khả năng thích nghi rộng, mang nhiều đặc tính tốt, đem lại nguồn chất xanh lớn cho vườn cao su Nếu có biện pháp tận dụng được nguồn chất xanh này thì đây sẽ là một phương tiện hữu hiệu trong việc thâm canh vườn cây nhất là trên những vùng đất thoái hóa
Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Xuân Trường- Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (Đinh Xuân Trường,2007)[34]: So sánh sự rửa trôi đất tại các công thức trồng xen: Tính bình quân cho 4,5 năm thí nghiệm thì nghiệm thức trồng xen với cây họ đậu là thấp nhất (6,1 - 8,1 kg/ha); Trên các ô trồng xen Dứa - Lạc
- Ngô đường, lượng đất mất đi ước tính 12,2 - 16,6 kg/ha; Trong các ô trồng xen với Chuối - Dứa, tổng lượng đất mất đi từ 9,7 - 35,8 kg/ha do bị rửa trôi mạnh trên phần đất trống giữa các hàng Chuối - Dứa Ô đất bỏ trống, lượng đất mất đi
là 159 kg/ha
Cùng với việc triển khai trồng cây cao su năm 2010, trên 100 ha đất đồi cao
su ở xã Chăn Nưa (huyện Sìn Hồ - Lai Châu) đã thực hiện mô hình xen canh cấy Lúa nương trên diện tích đất đồi cao su Lúa nương trồng xen với cao su trong 3 năm đầu, mỗi năm trồng 1 vụ trong vòng 5 tháng Cho đến khi cây cao su cao 1,5m trở lên, tán xòe rộng, thì thôi không trồng xen canh Lúa nương nữa mà chuyển sang trồng Lạc, Đậu tương dưới tán cây… Theo Phòng NN&PTNT huyện Sìn Hồ, ước tính sẽ thu được 10 - 12 tạ lúa/ha, không thua kém gì so với những mùa vụ trồng lúa thuần trước đây (Lê Quốc Doanh – Viện KHKT nông lâm nghiệp MNPB)[16] Diện tích trồng cao su chủ yếu là đất đồi độ dốc 10-150
nên dễ xói mòn về mùa mưa, làm đất nhanh thoái hoá Để cao su phát triển tốt trên diện tích vùng
gò đồi, đất chuyển đổi từ rừng kinh tế, việc trồng xen nhằm khôi phục chất đất, tăng thu nhập trong thời gian cao su chưa cho thu hoạch là rất cần thiết Theo ông Hà Văn Khương- Ban quản lý kỹ thuật Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam nhận xét khăn lớn trong việc phát triển cây cao su vùng Tây Bắc là trong quãng thời gian kiến thiên cơ bản kéo dài 6 - 9 năm, vấn đề đảm bảo lương thực, “lấy ngắn nuôi dài” cho người dân góp đất trồng cao sẽ rất nan giải Trồng
Trang 21cỏ Panicum maximum xen cao su giai đoạn KTCB tại xã Tông Lệnh - Thuận Châu - Sơn La) Để vừa giải quyết khó khăn này, vừa góp phần cải tạo những hạn chế đối với các diện tích đất dốc trồng cao su trong giai đoạn KTCB (Hà Văn Khương, 2009)[ 21]
Viện KHKT Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc hiện đang nghiên cứu hoàn thiện và bước đầu cho thấy những hiệu quả của kỹ thuật trồng xen cây lương thực ngắn ngày trong vườn cao su giai đoạn KTCB
Theo kế hoạch đến năm 2020, diện tích cao su của vùng Tây Bắc (gồm Lai Châu, Điện Biên, Sơn La) sẽ được mở rộng với tổng diện tích trên 90 nghìn hecta Hiện tại, các diện tích cao su từ 1 - 2 năm tuổi ở các tỉnh Tây Bắc đang sinh trưởng phát triển rất thuận lợi Vì vậy, khả năng mở rộng vùng cao su Tây Bắc đã bước đầu mở ra nhiều triển vọng khả quan (Trần Thị Thúy Hoa,2006)[19], (Hà Văn Khương, 2006)[21]
Tuy nhiên, khác với vùng cao su ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên được trồng trên các diện tích đất bằng phẳng và giàu dinh dưỡng, việc đưa cây cao su lên Tây Bắc vấp phải nhiều khó khăn do tầng đất canh tác mỏng, ít màu mỡ và đặc biệt là độ dốc rất lớn Thêm nữa, giai đoạn KTCB của cây cao su thường kéo dài từ 6 - 9 năm Ở giai đoạn này, bộ tán của cây cao su còn nhỏ nên diện tích đất được che phủ rất thấp Do vậy, hiện tượng xói mòn, rửa trôi khiến đất mất dinh dưỡng, suy giảm khả năng sản xuất, ảnh hưởng mạnh đến cân bằng sinh thái là tất yếu
Xuất phát từ yêu cầu phát triển cây cao su bền vững ở Tây Bắc, đồng thời tăng thu nhập cho người dân trong giai đoạn KTCB, từ năm 2009, Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã tập trung nghiên cứu xác định bộ giống cây trồng và kỹ thuật trồng xen trong các vườn cao su Qua một năm trồng thử nghiệm và so sánh đối chứng, Viện đã xác định được một số giống lạc, ngô, đậu
và giống cỏ chăn nuôi có triển vọng có thể đưa vào trồng xen trong vườn cao su trên diện tích lớn trong các vụ tiếp theo (Lê Quốc Doanh – Viện KHKT nông lâm nghiệp MNPB)[16]
Về giống lạc: Qua trồng xen thử nghiệm giữa hai hàng cao su tại các vườn cao su ở 3 tiểu vùng khí hậu tại Mai Sơn (Sơn La), Tam Đường (Lai Châu) và Mường Ẳ̉ng (Điện Biên) cho thấy, hai giống LH5 và MD7 thể hiện ưu thế nổi trội về năng suất và khả năng thích ứng với điều kiện trồng xen trên nhiều chất
Trang 22đất vùng Tây Bắc Năng suất trung bình 2 giống lạc trên ở cả vụ xuân hè năm
2009 và 2010 đều đạt từ 1,8-2,1 tấn/ha (Lê Quốc Doanh – Viện KHKT nông lâm nghiệp MNPB) [16]
Với quy trình kỹ thuật chăm sóc và phân bón tương tự, năng suất lạc trồng xen cao su không kém nhiều so với lạc trồng thuần Quan trọng nhất, lạc là cây
họ đậu có độ che phủ đất cao, vừa có khả năng cải tạo đất hiệu quả Sau khi thu hoạch, thân lạc được tận dụng để che phủ cho các hàng cao su bên cạnh nên vừa
có tác dụng ngăn ngừa cỏ mọc, vừa tăng độ phì cho đất
Các loại cây họ đậu khác như đậu tương, đậu xanh cũng là đối tượng được Viện KHKT Nông lâm nghiệp MNPB tập trung nghiên cứu trồng xen thử nghiệm vào vườn cao su với mục đích quan trọng nhất là cải tạo đất, giảm công làm cỏ cho người dân Bên cạnh đó, các loại đậu cũng như ngô, lạc trồng xen cao
su cho thấy, cao su giai đoạn KTCB không ảnh hưởng nhiều tới năng suất của cây trồng xen
Trong vụ Xuân Hè năm 2009 và 2010, giống đậu tương DT12, DT84 trồng thử nghiệm tại 3 tỉnh Tây Bắc đều cho ưu điểm ngắn ngày, khả năng sinh trưởng, chống chịu khá, năng suất đạt 1,5 đến 1,7 tấn/hecta Hai giống đậu xanh VN99-3, ĐX11 cũng được xác định là rất phù hợp với phương pháp canh tác trồng xen trong vườn cao su vì năng suất và khả năng phát triển không thua kém so với đậu xanh trồng thuần
Ngô là cây lương thực chủ lực của vùng Tây Bắc, từ năm 2009 đến nay, nhiều giống ngô lai cũng đã được đưa vào trồng xen thử nghiệm với các vườn cao su tại ba tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu Kết quả cho thấy hai giống ngô lai LVN 184 và LVN 14 có ưu điểm ngắn ngày, năng suất đạt hơn 6 tấn/hecta không thua kém so với ngô trồng thuần tại địa phương với cùng điều kiện canh tác Điều này khẳng định, cao su ở giai đoạn KTCB gần như không ảnh hưởng nhiều tới sinh trưởng và năng suất của ngô cũng như các loại cây trồng khác (Lê Quốc Doanh – Viện KHKT nông lâm nghiệp MNPB)[16]
Ngoài các giống cây lương thực truyền thống, qua 2 năm nghiên cứu thử nghiệm, Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc cũng đã lựa chọn được một số giống lúa cạn phù hợp với điều kiện trồng xen giữa các hàng cao su giai đoạn KTCB như Luy 46, IR 78875 Tại huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La và một
số địa phương khác, một số giống cỏ thân bò, thấp cây, có chất lượng tốt cho
Trang 23chăn nuôi đã khẳng định được năng suất cao khi trồng xen với cao su như Brizantha, Panicum maximum, VA06 (Lê Quốc Doanh – Viện KHKT nông lâm nghiệp MNPB) [16]
Theo kế hoạch từ nay đến năm 2011, Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc sẽ tiếp tục nghiên cứu sâu về sự cải thiện tính chất lý – hóa của việc trồng xen trên đất trồng cao su Để tạo điều kiện cho việc phát triển trồng cỏ theo
mô hình trồng xen cao su, Cty CP Cao su Sơn La đã hỗ trợ cho nông dân trồng xen tại xã Tông Lệnh (huyện Thuận Châu, Sơn La) hơn 126 con bò Một số doanh nghiệp hiện cũng đang xúc tiến đầu tư trang trại kết hợp với nông dân trồng cỏ xen cao su, mở ra triển vọng phát triển đàn bò quy mô lớn tại các vùng trồng cao su trong giai đoạn cao su từ 1 đến 10 tuổi (Trần Thị Thúy Hoa, 2006)[19], (Hà Văn Khương, 2009)[21]
Mặc dù đang trong quá trình hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác nhưng hiện tại, đã có hàng trăm nông dân tại các vùng trồng cao su ở Tây Bắc hưởng ứng mô hình kỹ̉ thuật trồng xen do Viện KHKT Nông lâm nghiệp MNPB nghiên cứu thử nghiệm
Theo đánh giá Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, khi hoàn thiện kỹ thuật, việc trồng xen các cây trồng khác trong vườn cao su có thể đem lại nguồn thu phụ cho người dân có đất cao su từ 9 đến 15 triệu đồng/hecta/vụ, góp phần giải quyết việc làm cho lao động dư thừa khi chuyển đất trồng cây truyền thống sang cây cao su lâu năm Quan trọng nhất, việc trồng xen sẽ góp phần quan trọng để bảo vệ bền vững chất lượng đất trồng cao su, hạn chế tới 80-90% lượng đất xói mòn rửa trôi so với trồng cao su thuần trong giai đoạn KTCB (Bộ NN & PTNN)[1], (Đinh Xuân Trường và Nguyễn Ngọc Truyện, 1998)[35] Trung tâm nghiên cứu và Phát triển nông lâm nghiệp Tây Bắc cũng đã tiến hành nghiên cứu kỹ thuật trồng xen các cây ngắn ngày trong cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản; Nghiên cứu phát triển các kỹ thuật trồng xen, trồng gối, luân canh cây trồng; Nghiên cứu kỹ thuật canh tác gieo thẳng trên lớp phủ Nghiên cứu kỹ thuật che phủ đất bằng xác thực vật sống, thực vật chết trong canh tác cây trồng; Nghiên cứu sự đa dạng hóa trong hệ thống canh tác kết hợp ngô, cà phê, cao su, chè Những nghiên cứu này đều hướng đến mục tiêu phát triển sản xuất nông lâm nghiệp bền vững, canh tác theo hướng bảo tồn, khai thác có hiệu quả
Trang 24tài nguyên đất, khí hậu của vùng, trồng xen cây lương thực ngắn ngày trong vườn cao su KTCB đã được chuyển giao tới nông dân vùng Tây Bắc Nhiều kết quả khuyến nông đã được địa phương đánh giá cao như kỹ thuật trồng xen trong cao su KTCB, lạc xen sắn, thâm canh ngô
Thực hiện chủ trương của tỉnh Điên Biên về phát triển cây cao su, sau gần 4 năm huyện Mường Chà đã trồng được 1.155ha, trong đó gần 600 ha trong giai đoạn kiến thiết tập trung tại các xã: Mường Mươn, Na Sang, Sa Lông, thị trấn Mường Chà đã trồng xen cây cây lúa nương vừa chống xói mòn, bảo vệ đất và vườn cây, nhất là đảm bảo lương thực cho người dân trong thời gian cây cao su chưa có sản phẩm thu hoạch Qua các vụ sản xuất cho thấy, năng suất lúa trồng xen trong vườn cao su rất khả quan, trung bình từ 17 - 20 tạ/ha Trồng xen canh trong vườn cao su không chỉ giúp người dân phát huy lợi thế những diện tích đất
đã góp cổ phần với Công ty Cổ phần Cao su Điện Biên vừa cải thiện, tự túc được một phần lương thực cho gia đình Qua đó, không chỉ đem lại lợi ích cho người dân, mà còn nâng cao nhận thức về việc tận dụng tối đa tiềm năng của đất phục
vụ phát triển kinh tế Nhất là việc thực hiện mục tiêu phát triển cao su, một loại cây có ý nghĩa chiến lược trong phát triển kinh tế của địa phương, góp phần đẩy mạnh mục tiêu xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới (http://nongnghiep.vn Hiệu quả trồng xen canh cao su ở Mường Chà – Điện Biên )[42]
Ở xã Hòa Bình, TP Kon Tum, tỉnh Kon Tum mô hình trồng xen canh cây
cà phê - cao su đem lại hiệu quả và tăng thêm thu nhập cho người nông dân (Lê Gia Trung Phúc, 2004)[36]
Tại huyện Đức Cơ tỉnh Gia Lai năm 2007 phòng Kinh tế huyện đã trình diễn các mô hình trồng xen lạc với cao su tiểu điền trong thời gian kiến thiết cơ bản, kết quả mang lại rất khả quan Đa phần diện tích trồng mới cao su tiểu điền trên địa bàn huyện là đất đồi với độ dốc 10-15 độ, nên dễ bị xói mòn về mùa mưa, làm cho đất dễ bị thoái hóa Thời gian qua do giá sắn cao đã thu hút người dân đổ xô vào trồng sắn Cây sắn chỉ cho thu nhập cao ở vài ba năm đầu nếu không đầu tư đất sẽ bị bạc màu nên những năm sau đó chính cây sắn cũng không phát triển được chứ chưa nói trồng cây trồng khác Vì vậy việc trồng xen cây họ đậu khôi phục lại chất lượng đất và tăng thu nhập cho người dân trong thời gian đầu cây cao su chưa cho thu hoạch là rất cần thiết Lạc thu hoạch xong bà con
Trang 25còn có thể trồng xen thêm cây bắp và cây trồng khác để luân canh Hiệu quả thu được từ mô hình trồng xen lạc với cao su có thu nhập thêm hơn 10 - 20 triệu đồng/ha/năm, ngoài ra còn tiết kiệm được công làm cỏ, xới xáo đất cho cao su, cây lạc còn có tác dụng tích cực trong việc bảo vệ đất đai, chống xói mòn, rửa trôi đất trong mùa mưa Sau khi thu hoạch lạc, chân đất đã được bổ sung một lượng mùn đáng kể nhờ có xác của cây lạc Rễ lạc có nốt sần cố định đạm góp phần hạn chế sự thoái hoá của đất…Rõ ràng trồng xen lạc với cây cao su mang lại nhiều lợi ích, hơn thế đã thay đổi tập quán canh tác độc canh, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp bền vững (http://nongnghiep.vn Mô hình trồng xen lạc trong vườn cây cao su tại huyện Đức Cơ – Gia Lai)[ 43]
Tại Bình Phước mô hình trồng xen cây ớt sừng vàng phát triển rất tốt dưới tán cao su, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cao su, ngược lại nhờ chăm sóc cây ớt, cây cao su sinh trưởng và phát triển tốt hơn Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản ở những vườn cây chưa khép tán, nông dân tận dụng trồng xen canh cây ngắn ngày sẽ mang lại thu nhập cao Nếu không tận dụng được những khoảng đất trống này thì vừa mất công làm cỏ, bón phân, nhưng hiệu quả kinh tế không cao Do vậy, hiện nay nhiều hộ nông dân trồng xen canh các loại cây trồng như ớt, dưa hấu, bí Ngoài hiệu quả thu lợi từ sản phẩm, bề mặt đất có các cây công nghiệp ngắn ngày che phủ còn có tác dụng tích cực trong việc bảo vệ đất, giữ ẩm, chống xói mòn, rửa trôi trong mùa mưa Sau khi thu hoạch, chân đất
đã được bổ sung một lượng mùn đáng kể, cao su sinh trưởng tốt hơn vì thu được hàm lượng dinh dưỡng từ thân và rễ các cây này (http://binhphuoc.com.vn Trồng xen dưa leo trong vườn cây cao su tại Bình Phước) [44]
Tại Thanh Hóa trong thời gian gần đây nhiều hộ gia đình trồng cao su ở Nông trường Vân Du - Thanh Hóa đã có sáng kiến đưa cây dứa vào trồng xen trong vườn cao su kiến thiết cơ bản cho giá trị kinh tế rất cao Theo bà con nơi đây, cây dứa là một trong những loại cây ăn quả rất phù hợp với việc trồng xen và cho hiệu quả cao, chỉ cần trồng 1 lần cho thu hoạch liên tiếp 2-3 vụ quả trước khi cây cao su kịp khép tán Theo tính toán, 1 vụ dứa trồng xen cho thu khoảng 40 tấn quả, bán cho tư thương hoặc các nhà máy chế biến, sau khi trừ hết chi phí cho thu lãi từ 40 - 45 triệu đồng/ha/năm là nguồn thu đáng kể cho các hộ gia đình cải thiện đời sống và đầu tư vào cho cây dài ngày là cao su (http://nongnghiep.vn Mô hình trồng xen dứa trong vườn cây cao su tại huyện Thạch Thành)[41]
Trang 26Ở các huyện Thạch Thành, huyện Cẩm Thủy và huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa đã đưa cây nghệ vàng, cây dưa hấu, cây dứa, cây lạc, củ đậu và mía vào trồng xen trong vườn cao su kiến thiết cơ bản cho giá trị kinh tế rất cao là nguồn thu đáng kể cho các hộ gia đình cải thiện đời sống và đầu tư vào cho cây dài ngày là cây cao su (Công ty TNHH MTV Cao Su Thanh Hóa)[6]
1.3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN XÃ XUÂN HÕA HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA TRONG PHÁT TRIỂN CÂY TRỒNG XEN TRÊN VƯỜN CÂY CAO SU THỜI KỲ KTCB
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý: xã Xuân Hoà huyện Như Xuân là 1 xã miền núi của tỉnh Thanh
Hoá Phía Đông giáp rừng quốc gia Bến En; phía Tây giáp xã Nghĩa Mai huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An; phía Bắc giáp xã Xuân Quỳ; phía Nam giáp xã Bãi Trành, xã Xuân Bình huyện Như Xuân; xã Xuân Hòa cách thị trấn Yên Cát huyện Như Xuân khoảng 18km
* Thuận lợi và khó khăn trong sản xuất nông lâm nghiệp:
Đặc điểm địa hình, đất đai: xã Xuân Hoà là 1 xã miền núi với khoảng 2/3
diện tích là đồi núi Tuy nhiên hiện nay giao thông đi lại đã được cải thiện rất lớn nhờ có đường Hồ Chí Minh chạy qua
Diện tích đất tự nhiên của xã Xuân Hòa khá lớn, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 78,63 % Đây là tiềm năng để phát triển cây cao su để phát triển cây cao su là cây chiến lược để nâng cao thu nhập và xóa đói giảm nghèo cho người nông dân Hiện nay xã có gần 500 ha cao cao su được trồng trên địa bàn bào gồm cao su tiểu điền và của Công ty TNHH MTV Cao su Thanh Hóa trồng trên địa bàn xã Theo chủ trương chính sách của tỉnh Thanh Hóa, huyện Như Xuân trong những năm tiếp theo xã Xuân Hòa sẽ tiếp tục mở rộng diện tích trồng cao su trên đất lâm nghiệp, đất rừng sản xuất và rừng nghèo kiệt đó cũng là cơ sở để nghiên cứu đưa cây trồng xen có hiệu quả tăng thu nhập cho người nông dân mà còn cải
tạo đất, tạo điều kiện cho cây trồng chính cây cao su sinh trưởng, phát triển tốt
Trang 27Bảng 2.1: Tình hình hiện trạng sử dụng đất tự nhiên của xã Xuân Hoà
2 Đất núi đá không có trồng cây 48,20
( Nguồn: Ban thống kê xã Xuân Hoà )
Số liệu bảng 2.1 cho thấy Xuân Hòa có diện tích đất chƣa sử dụng khá lớn (220,86 ha), trong đó có 88,92 ha đất bằng và 103,74 ha đất đồi núi Đây là quỹ đất có khả năng phát triển cây cao su và cây lâm nghiệp khác Đất rừng sản xuất lớn (1.762,99 ha), chiếm tới 42,12% đất sản xuất Nhƣ vậy xã Xuân Hòa có tiềm
năng rất lớn để phát triển cây cao su và cây lâm nghiệp
Trang 28Thuận lợi: Là xã trọng điểm trong các chiến lƣợc phát triển kinh tế, xã hội cùng với các xã Hoá Quỳ, Thƣợng Ninh, Cát Tân, thị trấn Yên Cát Giao thông
đi lại khá thuận lợi Diện tích lâm nghiệp lớn chiếm 78,63% diện tích đất tự nhiên thuận lợi cho phát triển trồng cây công nghiệp dài ngày nhƣ cây cao su, trồng cây công nghiệp hàng năm và cây lâm nghiệp
Khó khăn: Đa phần dân số của xã có nền kinh tế con nghèo, trình độ dân trí còn thấp, hình thức canh tác lạc hậu, tiếp thu khoa học kỹ thuật chậm Hệ thống thuỷ lợi yếu kém, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên
* Đặc điểm khí hậu thời tiết:
Bảng 2.2 cho thấy các yếu tố khí hậu của huyện Nhƣ Xuân - Thanh Hóa mang đặc trƣng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và có một mùa Đông lạnh kéo dài Nhiệt độ từ tháng 2 đến cuối tháng 4 hàng năm ở nhiệt độ thấp, lƣợng mƣa nhỏ
Bảng 2.2: Diễn biến một số yếu tố thời tiết khí hậu của tỉnh Thanh Hóa
Tháng
Nhiệt độ ( 0 C)
Thời gian chiếu sáng
Lƣợng mƣa
bốc hơi, (mm)
Ẩm độ (RH%) Tối
cao
Tối thấp
Trung bình
Giờ nắng
Ngày
Cao nhất trên ngày
Cao nhất
Trang 29Bảng 2.3: Diễn biến một số yếu tố thời tiết khí hậu tại huyện Như Xuân
(Số liệu trung bình năm 2011; Từ tháng 01 đến tháng 7 năm 2012)
(Nguồn: Trạm Khí tượng Thủy văn Như Xuân)
* Ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu thời tiết
Qua bảng 2.3 cho thấy: Trong vụ Xuân năm 2012 thời tiết có nhiều biến động nhất là tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất với các đợt không khí lạnh tràn về với cường độ mạnh làm cho nhiệt độ hạ thấp một cách nhanh chóng, ảnh hưởng xấu đến quá trình nảy mầm của cây ngô, cây lạc và cây đậu xanh tháng 2, tháng 3 nhiệt độ đã tăng dần nhưng vẫn có đợt không khí lạnh tràn về làm ảnh hưởng đến thời kỳ ra lá của các giống cây trồng xen tham gia thí nghiệm Từ tháng 4 trở đi nhiệt độ tăng cao dần thuận lợi cho cây ngô, cây lạc và cây đậu xanh sinh trưởng, phát triển
Như vậy trong vụ Xuân 2012 khó khăn lớn nhất là do nhiệt độ xuống quá thấp và kéo dài nhất là tháng 3 vẫn có đợt không khí lạnh làm chậm lại quá trình sinh trưởng và phát triển của các giống ngô, lạc, đậu xanh kéo dài thời gian mọc mầm so với mọi năm Do đó mà thời gian sinh trưởng của các giống tham gia thí
Trang 30nghiệm kéo dài, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển, ảnh hưởng tới năng suất sau này
1.3.2 Thực trạng trồng xen trong vườn cây cao su ở xã Xuân Hoà
Diện tích đất sản xuất chủ yếu trên địa bàn xã Xuân Hoà huyện Như Xuân
là vùng đất đồi với độ dốc 10 – 350 Với tổng diện tích đất tự nhiên 4.901,86 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 3.291,17 ha Diện tích rừng trồng là 1.762,99 ha với những cây lâu năm như keo, cao su (trong đó diện tích cao su là trên 500 ha) Diện tích cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản trên địa bàn xã đã trồng xen ngô, lúa, củ đậu, nhưng trồng xen chủ yếu là cây sắn và cây mía Hệ thống kinh tế,
xã hội của xã còn nghèo, đa phần dân số của xã có trình độ thấp, hình thức canh tác lạc hậu, tiếp thu khoa học kỹ thuật chậm Diện tích cây trồng xen trong vườn cao su chủ yếu là cây sắn, làm cây cao su sinh trưởng chậm, thời kỳ KTCB kéo dài 8 - 9 năm mới đưa vào khai thác được Hiệu quả kinh tế cây trồng xen rất thấp, đất canh tác hàng năm ngày càng bị bạc màu, bị rửa trôi Vì vậy đối với xã Xuân Hòa có diện tích cây cao su đã trồng 500 ha và có tiềm năng mở rộng diện tích trồng cây cao su trên đất lâm nghiệp, đất rừng nghèo kiệt, để có hiệu quả, rút ngắn thời kỳ kiến thiết cơ bản và tăng thêm thu nhập cho người lao động thì trồng tìm ra cây trồng xen phù hợp, có hiệu quả cao (cây cao su sinh trưởng tốt, cải tạo đất và tăng thu nhập cho người lao động) trên đất trồng cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản là rất cần thiết
1.4 NHỮNG NHẬN XÉT RÖT RA TỔNG QUAN TÀI LIỆU
- Trồng xen phù hợp đúng quy trình kỹ thuật trong vườn cây cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản không những giúp cây cao su sinh trưởng phát triển tốt mà còn giúp tăng thêm nguồn thu nhập “ lấy ngắn, nuôi dài” cho người dân lao động
- Cây họ đậu: Giúp cải tạo đất do có các nốt sần ở rễ chứa vi khuẩn cố định
đạm (Rhizobium) bổ sung thêm được nguồn phân cho cây cao su
- Trồng xen hợp lý các loại cây trồng xen sẽ tạo thảm phủ: che phủ mặt đất, giảm được rửa trôi, giữ ẩm, chống xói mòn đất khá hiệu quả tạo điều kiện cho cây cao su sinh trưởng, phát triển rút ngắn thời kỳ KTCB
Trang 31CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Các giống ngô: Giống ngô DK9955; DK9901 (Công ty Monsanto); Giống ngô NK6654 (Công ty Syngenta); Giống ngô LVN14 (Viện Nghiên cứu ngô)
- Các giống lạc: Giống lạc L19 (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam); Giống lạc L23; L26 (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm); Giống lạc TB25 (Công ty cổ phần giống cây trồng Thái Bình)
- Các giống đậu xanh: ĐXVN4; VN99-3 (Viện nghiên cứu Ngô), ĐX14
(Viện Cây Lương thực và Thực phẩm), ĐX208 ( là giống phục tráng địa phương
ở miền Nam)
2.1.2 Thời gian, địa điểm và điều kiện đất đai nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 02 đến tháng 6 năm 2012
- Địa điểm nghiên cứu: tại xã Xuân Hòa huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa
- Điều kiện đất đai: thí nghiệm được bố trí trên đất đồi feralit trồng cao su 1 năm tuổi
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của các loại cây trồng xen (ngô, lạc, đậu xanh) trong điều kiện trồng xen trong vườn cây cao su thời kỳ KTCB
- Nghiên cứu đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại và chống chịu các điều kiện ngoại cảnh bất thuận của một số giống ngô, lạc, đậu xanh
- Nghiên cứu xác định năng suất và hiệu quả kinh tế của các mô hình trồng xen từ đó làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc phát triển mô hình trồng xen cao su có hiệu quả, góp phần ổn định và phát triển diện tích trồng cây cao su, một loại cây trồng đa dụng mang lại hiệu quả lâu dài và bền vững cho vùng đồi núi Thanh Hóa
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 32Phương pháp nghiên cứu bố trí các thí nghiệm nghiên cứu ngoài đồng ruộng 2.3.1 CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THEO DÕI CÂY CAO SU
- Theo dõi 15 cây cao su trong điều kiện có cây trồng xen khác nhau Theo
dõi sự tăng trưởng chu vi thân cây cao su trong 4 tháng có cây trồng xen
- Dùng thước (thước dây) đo vanh thân cây cao su ở vị trị cách mặt đất 100
cm (vị trí thân kinh tế khi cây cao su cho khai thác) ở thời điểm trước khi bố trí thí nghiệm và sau khi kết thúc thí nghiệm
- Theo dõi sự phát sinh, phát triển sâu, bệnh hại và mức chống chịu lại sâu, bệnh hại của cây cao su trong điều kiện có cây trồng xen
2.3.2 TUYỂN CHỌN MỘT SỐ LOẠI CÂY TRỒNG XEN PHÙ HỢP, CÓ HIỆU QUẢ TRÊN ĐẤT TRỒNG CAO SU THỜI KỲ KTCB HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA
Thí nghiệm 1: Tuyển chọn một số giống ngô thích hợp và hiệu quả trên đất trồng cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản tại xã Xuân Hoà huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hoá
1 Công thức thí nghiệm:
Công thức 1: Giống ngô DK9955 (Công ty Monsanto)
Công thức 2: Giống ngô LVN14 (Viện Nghiên cứu ngô)
Công thức 3: Giống ngô DK9901 (Công ty Monsanto)
Công thức 4: Giống ngô NK6654 (Công ty Syngenta)
Trang 33Sơ đồ thí nghiệm
Ghi chú: I,II,II,IV: công thức; 1,2,3: số lần nhắc lại
3 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu:
* Các giai đoạn sinh trưởng phát triển:
Ngày mọc được tính có trên 50% số cây có bao lá mầm lên khỏi mặt đất (mũi chông)
Ngày 3 lá (50% số cây theo dõi mọc 3 lá
Ngày 9 lá (50% số cây theo dõi có 9 lá)
Ngày xoắn nõn (50% số cây theo dõi xoắn nõn)
Ngày trổ cờ: ghi số ngày từ khi gieo hạt đến khi có 70% số cây/ô trổ cờ (xuất hiện nhánh cuối cùng của bông cờ)
Ngày tung phấn: ghi số ngày từ khi gieo hạt đến khi có 70% số cây/ô tung phân (khi những bông phấn ở 1/3 phía trên bông cờ tung phấn thì coi cây đó đã tung phấn)
Ngày phun râu: ghi số ngày từ khi gieo hạt đến khi có 70% số cây/ô phun râu (tính cây có râu dài 2 – 3 cm)
Ngày chín sinh lý: ghi số ngày từ khi gieo đén khi có 70% số bắp trên ô có chấm đen ở chân hạt hoặc 75% số cây có lá bi khô
Trang 34Chiều cao cây: Đo từ gốc đến mút lá cao nhất để lấy chiều cao ở từng thời
kỳ Theo dõi 7 ngày một lần; Đo từ gốc sát mặt đất đến điểm bắt đầu phân nhánh của bông cờ khi ngô chín sữa- sáp để lấy chiều cao cuối cùng [3]
Diện tích lá được tính theo công thức: S = D x R x 0,7
Trong đó: D: chiều dài của lá
R: chiều rộng của lá
0,7: Là hệ số điều chỉnh k
Chỉ số diện tích lá được tính theo công thức :
LAI (leaf area Index) = Diện tích lá (m2)/ Diện tích đất (m2
)
* Mức độ chống chịu sâu, bệnh hại theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống ngô QCVN 01-56:2011/BNNPTNT [3]
Mức độ chịu hạn, rét: Đánh giá mức độ chống chịu khi gặp điều kiện bất thuận chịu hạn theo thang điểm 1-5 và chịu rét theo thang điểm 1- 4
Khả năng chống đổ: Theo dõi số cây bị đổ sau các đợt gió to và trước khi thu hoạch: Đổ rễ (%): Tính phần trăm số cây bị nghiêng góc > 300 so với chiều thẳng đứng của cây
Mức độ chống chịu sâu bệnh:
Tỷ lệ bệnh/tỷ lệ hại (%) =
Tổng số cây hoặc bộ phận của cây (dảnh,
lá, cành, quả…) bị bệnh x 100 Tổng số cây hoặc bộ phận của cây (dảnh,
lá, cành, quả…) điều tra
Trang 35Tỷ lệ ký sinh (%) = Số cá thể bị ký sinh
x 100 Tổng số cá thể theo dõi
Nxn
Nnxn x
N x
N x
N1 1 ) ( 3 3 ) ( 5 5 ) ( )
x 100 Trong đó:
Sâu xám (Agrotis ypsilon Hufnagel): Theo dõi giai đoạn cây con Tính tỉ lệ
cây bị hại trên số cây có trong ô
Sâu cắn lá (Mythimna loreyi Duponchel): Theo dõi thời kỳ giai đoạn loa kèn
Tính tỉ lệ cây bị hại trên số cây có trong ô
* Bệnh hại:
Bệnh đốm lá lớn, lá nhỏ: (Helminthosporium turcicicumpass; Helminthosporium maydis Nishi.et Miyake): Đánh giá mức hại lá và cho điểm Tính tỷ lệ diện tích lá
bị bệnh giai đoạn loa kèn chín
Bệnh khô vằn: (Rhizoctonia solani Kuin) Tỷ lệ cây bị bệnh giai đoạn loa kèn
– trổ bông cờ
* Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống ngô [3]:
- Số cây trong ô thí nghiệm: Đếm trước lúc thu hoạch toàn bộ số cây trong ô
- Chiều dài bắp: Đo từ đầu bắp đến múp bắp của 10 cây lây mẫu thu hoạch rồi lấy giá trị trung bình
- Số hàng hạt trên bắp: Đếm trên bắp của cây theo dõi
- Số hạt trên hàng: Đếm mỗi bắp một hàng của cây theo dõi Một hàng được tính khi có 50% so với hàng hạt dài nhất
Trang 36- Đường kính bắp (cm): Đo ở giữa bắp của 10 bắp lấy mẫu rồi lấy giá trị trung bình
- Số bắp hữu hiệu trên cây: Đến toàn bộ số bắp có trên cây trong ô
- Khối lượng bắp tươi của mỗi ô: Cân toàn bộ số bắp của mỗi ô
- Khối luợng khô của từng ô
- Tính năng suất của từng giống:
+ Năng suất lý thuyết (NSLT): Trước khi thu hoạch phải thu hoạch trước những cây theo dõi, để riêng từng ô, từng công thức, đánh dấu để đo đếm các chỉ tiêu cấu thành năng suất
Thí nghiệm 2 : Tuyển chọn một số giống lạc thích hợp và hiệu quả trên đất trồng cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản tại xã Xuân Hoà huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hoá
Trang 37Thí nghiệm 4 công thức 3 lần nhắc lại, bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCB 4 m x 3 m = 12 m2
Sơ đồ thí nghiệm
Ghi chú: I,II,II,IV: công thức; 1,2,3: số lần nhắc lại
3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu [2]
* Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng phát triển:
Thời gian từ gieo đến mọc mầm (ngày): quan sát toàn bộ số cây trên ô ở thời kỳ
mọc, biểu hiện ngày có khoảng 50% số cây trên ô có 2 lá mầm xoè ra trên mặt đất
Tỷ lệ mọc mầm (%): mỗi công thức theo dõi 100 hạt ở giữa luống
Thời gian từ gieo đến ra hoa (ngày), ngày có khoảng 50% số cây trên ô có ít nhất một hoa nở ở bất kỳ đốt nào
Thời gian sinh trưởng của giống từ gieo đến thu hoạch (ngày)
Chiều cao thân chính đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính của 10 cây mẫu trên ô vào thời kỳ chín trước khi thu hoạch 10 ngày
Khối lượng chất khô (g/cây) cân xác định bằng cách sấy khô đến khối lượng không đổi 10 cây mẫu ở 3 thời kỳ: ra hoa, hình thành quả và quả chắc Số cành cấp 1 trên cây đếm số cành hữu hiệu mọc từ thân chính của 10 cây mẫu / ô Chỉ số diện tích lá được tính theo công thức :
Trang 38LAI (leaf area Index) = Diện tích lá (m2)/ Diện tích đất (m2
)
* Mức độ chống chịu sâu, bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất thuận theo
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống lạc QCVN 01-57: 2011/BNNPTNT [2]
Khả năng chịu hạn, rét: Đánh giá mức độ chịu hạn và chịu úng theo thang điểm 1-5
Mức độ chống chịu sâu bệnh hại:
Tỷ lệ bệnh/tỷ lệ hại (%) =
Tổng số cây hoặc bộ phận của cây (dảnh, lá, cành, quả…) bị bệnh x 100 Tổng số cây hoặc bộ phận của cây
(dảnh, lá, cành, quả…) điều tra
Tỷ lệ ký sinh (%) = Số cá thể bị ký sinh
x 100 Tổng số cá thể theo dõi
Nxn
Nnxn x
N x
N x
Sâu sám (Agrotis ypsilon Hufnagel): Tính tỉ lệ số cây bị sâu trên số cây có trong
ô ở giai đoạn cây con
Sâu Khoang (Spodoptera litura Fabricius): Tính tỉ lệ số cây bị sâu trên số cây có
trong ô ở các giai đoạn sinh trưởng
* Mức độ nhiễm một số bệnh hại chính tính theo tỷ lệ hại:
Trang 39Bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani) điều tra các giai đoạn sinh trưởng của cây
Bệnh héo xanh (Sclerotium rolfsii Sacc.) điều tra các giai đoạn sinh trưởng
của cây lạc
* Các chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Trước khi thu hoạch mỗi ô lấy 10 cây mẫu và xác định
Số quả/cây (quả) đếm tổng số quả trên 10 cây mẫu/ ô, tính trung bình 1 cây
Số quả chắc / cây: đếm tổng quả chắc trên 10 cây mẫu/ô, tính trung bình/ 1 cây
Tỷ lệ quả 1 hạt, 2 hạt, 3 hạt :(%) Khối lượng 100 quả (g): cân 3 mẫu, mỗi
mẫu 100 quả chắc ở ẩm độ 12%
Khối lượng 100 hạt (g): cân 3 mẫu hạt nguyên vẹn mỗi mẫu 100 hạt được
tách từ 3 mẫu quả
Khối lượng nhân của 100 quả (g) cân khối lượng hạt của 100 quả ở 3 mẫu
Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = P quả/cây x mật độ cây/m2 x 10.000 m2
Năng suất thực thu (tạ/ ha) : Năng suất ô (kg/ô)/12 m2
x 10.000 m2 Thí nghiệm 3: Tuyển chọn một số giống đậu xanh thích hợp và hiệu quả trên đất
trồng cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản tại xã Xuân Hoà huyện Như Xuân
1 Công thức thí nghiệm nghiên cứu
Công thức 1: giống đậu xanh ĐXVN4
Công thức 2: giống đậu xanh ĐX14
Công thức 3: giống đậu xanh ĐX208
Công thức 4: giống đậu xanh VN99-3
Trang 40Ghi chú: I,II,II,IV: công thức; 1,2,3: số lần nhắc lại
3 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu[4]:
* Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng phát triển
Thời gian từ gieo đến mọc mầm (ngày): quan sát toàn bộ số cây/ ô ở thời kỳ mọc, biểu hiện ngày có khoảng 50% số cây/ ô có 2 lá mầm xoè ra trên mặt đất
Tỷ lệ mọc mầm(%) =
Tổng số cây mọc trên ô
x 100 Tổng số hạt gieo trên ô
Thời gian từ gieo đến ra hoa (ngày), ngày có khoảng 50% số cây trên ô có ít nhất một hoa
Thời gian sinh trưởng của giống từ gieo đến thu hoạch (ngày)
Chiều cao thân chính đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính của 10 cây mẫu trên ô vào thời kỳ chín trước khi thu hoạch 10 ngày
Chỉ số diện tích lá được tính theo công thức :
LAI (leaf area Index) = Diện tích lá (m2)/ Diện tích đất (m2
)
* Khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh theo Quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống đậu xanh QCVN 01-62:2011/BNNPTNT [4]