Yêu cầu Đánh giá ảnh hưởng của trồng xen lạc đến sinh trưởng, phát triển, tình hình sâu bệnh hại, năng suất và hiệu quả đối với cây cao su ở thời kỳ kiến thiết cơ bản ở huyện Thạch Thàn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thạch Thành là huyện miền núi tỉnh Thanh Hoá cách trung tâm Thành phố Thanh Hoá 60 km về phía Bắc
Phía Bắc giáp tỉnh Hoà Bình và Ninh Bình
Phía Nam giáp huyện Cẩm Thuỷ và Vĩnh Lộc
Phía Đông giáp huyện Hà Trung
Phía Tây giáp huyện Cẩm Thuỷ và Bá Thước
Tổng diện tích tự nhiên: 55.811,54 ha Trong đó:
Cùng với cây mía, cây cao su tiểu điền trên địa bàn huyện đã khẳng định
là loại cây có giá trị kinh tế cao làm chuyển biến tích cực trong chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, giúp nông dân xoá nghèo bền vững và tiến tới làm giàu chính đáng So với các loại cây trồng khác, cây cao su tiểu điền cho giá trị kinh tế cao gấp từ 3-5 lần trên cùng một diện tích Tỉnh Thanh Hóa đã xác định cây cao su là một trong những cây chủ lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn liền công - nông - lâm nghiệp ở trung du, miền núi Thủ tướng
Trang 2Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 114/QĐ-TTg, phê duyệt dự án phát triển cây cao-su ở Thanh Hóa Từ đây, nông thôn Thạch Thành đã có sự chuyển mình từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá Tình hình
đó đã làm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu ruộng đất theo hướng: diện tích sản xuất cây lương thực giảm xuống, diện tích sản xuất các loại cây công nghiêp tăng lên, đã làm tăng sản lượng cây trồng hàng hoá Diện tích mía niên
vụ 2013 – 2014 là 6.040 ha, diện tích cao su toàn huyện là 3.470 ha Cũng từ đây, bộ mặt nông thôn Thạch Thành có nhiều khởi săc
Cây cao su (Hevea brasiliensis) có nguồn gốc mọc hoang dại ở vùng
nhiệt đới thuộc lưu vực sông Amazon nằm khoảng 100
vĩ Bắc đến 150 vĩ Nam xích đạo và kinh tuyến 46-470
Tây, bao gồm các nước Brazil, Bolivia, Colombia, Peru, Ecuador, Venezuela, French, Guiana, Surinam và Guyana
Cao su là một loài cây thân gỗ thuộc họ Đại kích (Euphorbiaceae), là loài cây có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea do chất nhựa mủ của nó là
nguyên liệu chính trong sản xuất cao su tự nhiên Cây cao su hiện nay đã phát triển ra ngoài vùng truyền thống của nó, lên đến vĩ độ 290 Bắc (Ấn Độ, Burma, Trung Quốc) và xuống đến vĩ độ 230 Nam (Sao Paulo, Brazil), cao trình lên đến 1.200 m (Trung Quốc) Theo FAOSTAT (2010)[8], hiện nay trên thế giới có 28 quốc gia trồng cao su, phân bố 90% ở Châu Á; 7,6% ở Châu Phi và 2,2% Châu
Mỹ Cây cao su được xem là cây phù hợp với khả năng hộ gia đình, nó cũng đáp ứng yêu cầu là một cây công nghiệp lâu năm có khả năng giúp địa phương đa dạng hóa nền nông nghiệp và mang lại hiệu quả kinh tế cho các hộ nông dân So với các mô hình cao su khác thì cao su tiểu điền có ưu thế hơn, vì cao su tiểu điền cần vốn đầu tư nhỏ, cơ sở hạ tầng đầu tư không tốn kém nhiều
Năm 2007, diện tích cao su tiểu điền gia tăng đáng kể, đạt 219.000 ha, chiếm 42,44% so với diện tích cao su cả nước Diện tích tiểu điền tăng 24.000 ha so với năm
2005, một phần do tác động của chương trình 327 trong những năm đầu thập niên
1990 và dự án đa dạng hóa nông nghiệp khởi động năm 2000 (VRA, 2010)[11] Kế
Trang 3hoạch từ nay đến năm 2020, Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) sẽ phát triển thêm 180.000 ha cao su tiểu điền, đưa tổng diện tích cao su tiểu điền của cả nước lên 350.000 ha (chiếm 50% tổng diện tích cao su của cả nước) (VRA, 2010)[11]
Tỉnh Thanh Hóa xác định cây cao su là một trong những cây trồng mang lại nhiều lợi ích to lớn cho vùng đồi núi: Đây là loại cây có khả năng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; giữ nước, chống sạt lở đất, lũ quét ở miền núi hiệu quả nhất; là cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao nhất; giải quyết việc làm cho nhiều lao động nhất Không chỉ cho thu hoạch mủ mang lại thu nhập cao, thời gian cho thu hoạch có thể lên đến trên 20 năm, cây cao su sau khi kết thúc chu kỳ kinh tế còn có thể cho gỗ có giá trị do gỗ cao su bền, màu sắc phong phú Mùn cưa gỗ cao su là nguyên liệu hàng đầu để nuôi trồng các loại nấm có giá trị cao như nấm linh chi, nấm hương, mộc nhĩ…Ngoài ra, trồng cây cao su sẽ giúp người nông dân thoát khỏi lề lối canh tác lạc hậu, làm quen với tác phong công nghiệp, hình thành đội ngũ công nhân nông nghiệp Từ
đó, xây dựng kinh tế bền vững, thực hiện "li nông không li hương", góp phần giảm thiểu áp lực dân nghèo kéo ra thành thị làm ăn, gây nhiều hệ lụy phức tạp Chính vì những lợi ích to lớn như vậy nên lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa đã xác định cây cao su là một trong những cây chủ lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn liền công - nông - lâm nghiệp ở trung du, miền núi Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 114/QĐ-TTg, phê duyệt dự án phát triển cây cao su ở Thanh Hóa Theo đó, đến năm 2005, Thanh Hóa hình thành vùng cao su với diện tích 15.000 ha Theo Quyết định số 700/QĐ-UBND ngày 24/7/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá về việc Phê duyệt quy hoạch cây cao su toàn tỉnh đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 là: năm 2015, toàn tỉnh phấn đấu trồng được 25.000 ha cao su trở lên Từ năm 2011, Thanh Hoá đang thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển cao su tiểu điền trên địa bàn tỉnh theo Quyết định số 269/2011/QĐ-UBND, ngày 21/01/2011 của UBND Tỉnh Tuy nhiên, diện tích trồng mới năm 2010 cả tỉnh chỉ đạt được 5514,26ha, riêng huyện Như Xuân có diện tích trồng nhiều nhất 208ha; sang năm 2011 tổng diện
Trang 4tích trồng mới cao su tiểu điền là 2.630,70 ha, trong đó huyện Như xuân cũng trồng nhiều nhất, đạt 854,00 ha Theo báo cáo tổng hợp của Sở nông nghiệp & Phát triển nông thôn Thanh Hoá, tổng hợp diện tích cao su tiểu điền toàn tỉnh đến năm 2013 đạt 8.310,77ha, đạt 78,99% so với quy hoạch diện tích cao su tiểu điền từ năm 2009-2015 theo Quyết định số 700/QĐ-UBND Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc triển khai trồng cao su không đạt, trong đó có nguyên nhân dự
án trồng cao su chủ yếu triển khai trên vùng nghèo, dân không đủ nguồn lực đầu
tư, cây cao su lại mất độ 7-8 năm mới được khai thác, vì vậy trong những năm cao su ở giai đoạn KTCB người trồng cao su sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc ổn định đời sống Cây cao su lại trồng hàng rộng với khoảng cách 3 x 6 m, địa hình trồng cao su có độ dốc cao nên tốc độ rửa trôi xói mòn trong những năm đầu rất lớn Người dân trồng cao su cũng đã trồng xen một số loài cây ngắn ngày như sắn, mía, ngô, đậu lạc, khoai lang, dứa… vào giữa hai hàng cao su, nhưng hoàn toàn tự phát, chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào để xác định loại cây trồng, giống cây trồng phù hợp cho việc trồng xen cho cây cao su thời kỳ KTCB Chính vì vậy, việc xác định cây trồng trồng xen có hiệu quả cho cây cao
su mới trồng vào thời kỳ KTCB kéo dài 6 -7 năm, xây dựng mô hình trồng xen hợp lý nhằm mang lại thu nhập cho nông dân, lấy ngắn nuôi dài, giúp người nông dân ổn định cuộc sống, yên tâm phát triển cây cao su, góp phần bảo vệ môi trường, chống xói mòn rửa trôi là việc làm cấp bách mà thực tiễn sản xuất đang
đặt ra Để giải quyết vấn đề trên chúng tôi thực hiện đề tài “Tuyển chọn một giống lạc trồng xen phù hợp, có hiệu quả cao trên đất trồng cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài:
2.1 Mục đích
Xác định được thực trạng cơ cấu cây trồng xen hiện có cho cây cao su thời kỳ KTCB của huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa ( mức độ thích hợp, hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường…) lựa chọn và đề xuất được 1 - 2
Trang 5giống lạc thích hợp cho trồng xen cây cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản, cho năng suất, và hiệu quả cao trên đất trồng cao su của huyện Thạch Thành
2.2 Yêu cầu
Đánh giá ảnh hưởng của trồng xen lạc đến sinh trưởng, phát triển, tình hình sâu bệnh hại, năng suất và hiệu quả đối với cây cao su ở thời kỳ kiến thiết cơ bản
ở huyện Thạch Thành
Đánh giá tình hình sinh trưởng phát triển, tình hình sâu bệnh hại, năng suất
và hiệu quả của một số giống lạc trồng xen trên đất trồng cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản tại huyện Thạch Thành
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Xác định cơ sở khoa học về trồng xen lạc có hiệu quả cho cây cao
su thời kỳ kiến thiết
- Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ bổ sung thêm những tài liệu khoa học
về trồng xen trên đất trồng cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất
Trang 64.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, trong giới hạn xác định ảnh hưởng của trồng xen lạc đến khả năng sinh trưởng phát triển cây cao su thời kỳ KTCB, khả năng bảo vệ, cải tạo đất cho vùng đất trồng cây cao su huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
4.3 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 6/2013 đến tháng 10/2014
5 Điểm mới của luận văn
Hệ thống hóa và góp phần xây dựng cơ sở khoa học, định hướng cho việc xây dựng mô hình trồng xen hợp lý trên đất trồng cao su thời kỳ KTCB tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
Lựa chọn được giống lạc phù hợp để trồng xen cây cao su thời kỳ KTCB
của huyện là giống lạc L26
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CAO SU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1.1 Tình hình phát triển cao su trên thế giới
- Trên thế giới, hình thức sản xuất cao su tùy từng quốc gia, có nơi trồng cao su trên diện tích rộng từ 500 - 10.000 ha, hoặc lớn hơn nữa gọi là cao su đại điền, có nơi trồng cao su trên diện tích hẹp 1,0 - 2,0 ha với quy mô nhỏ gọi là cao su tiểu điền Trên phạm vi toàn thế giới thì cao su tiểu điền chiếm
80 - 90% tổng diện tích cao su
- Indonesia có tổng diện tích cao su lớn nhất, đạt 3.433,0 ha Trong đó, cao su tiểu điền đạt 2.920,0 nghìn ha (chiếm 85,1%) trong tổng diện tích cả nước Tiếp đến là Thái Lan đạt 2.333,8 nghìn ha, Malaysia đạt 1.185,9 nghìn
ha, Ấn Độ đạt 584,0 nghìn ha và cuối cùng là Việt Nam đạt 309,0 nghìn ha (chiếm 49,9%) tổng diện tích cả nước (FAOSTAT, 2010)[8]
1.1.2 Tình hình phát triển cao su ở Việt Nam
Trước đây cây cao su chủ yếu được trồng từ vĩ tuyển 17 trở vào, nhưng ngày nay cao su không chỉ được phát triển khá mạnh ở vùng Bắc Trung Bộ
mà còn được trồng ở các tỉnh phía Bắc như Sơn La, Lai Châu, Bắc Giang…
Việc mở rộng diện tích cao su trong và ngoài nước là nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ Việt Nam Tuy nhiên, ưu tiên hàng đầu vẫn là chất lượng trồng
mới cây cao su chứ không phải là việc tăng số lượng trồng mới
Năm 2007, diện tích cao su tiểu điền gia tăng đáng kể, đạt 219.000 ha, chiếm 42,44% so với diện tích cao su cả nước Diện tích tiểu điền tăng 24.000 ha so với năm 2005, một phần do tác động của Chương trình 327 trong những năm đầu thập niên 1990 và Dự án đa dạng hóa nông nghiệp khởi động năm 2000 (VRA, 2010)[9]
Trang 8Kế hoạch từ nay đến năm 2020, Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) sẽ phát triển thêm 180.000 ha cao su tiểu điền, đưa tổng diện tích cao su tiểu điền của cả nước lên 350.000 ha (chiếm 50% tổng diện tích cao su của cả nước) (VRA, 2010) [9]
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÂY TRỒNG XEN TRONG VƯỜN CÂY CAO SU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây trồng xen trong vườn cây cao su trên thế giới
Cao su trồng giai đoạn kiến thiết cơ bản ( KTCB) mất 6 -7 năm, trong giai đoạn này chưa khai thác được mủ và vì vậy người trồng cao su chưa có thu nhập ở giai đoạn này Việc trồng xen giai đoạn này, ngoài giải quyết vấn
đề thu nhập cho người trồng cao su còn có tác dụng tăng hiệu quả sử dụng đất đặc biệt khi giá cả mủ cao su thất thường
Kỹ thuật trồng xen được giới thiệu vào Sri Lanka từ năm 1979 với nhấn mạnh giảm cạnh cho cây cao su hơn là hiệu quả sử dụng đất (Chandrasekera, 1979)[36] Xen canh chuối được khuyến cáo trồng một hàng đơn giữa cao su
và trải qua hàng thập niên, tỉ lệ các hộ trồng xen canh tăng dần (Chambers R., 1999; Jayasena WG, Herath HMG 1986; Rodrigo et al., 2001)[34],[37],[40] Hiện nay đến 50% các hộ trồng cao su ở Sri Lanka trồng xen chuối trong giai đoạn KTCB (Rodrigo et al., 2001)[40] Trong hầu hết các trường hợp khi được quản lý tốt thì việc trồng xen không ảnh hưởng đến cây cao su đã được công bố (Chandrasekera, 1979)[34] Ahmad ABBH, 1987, [32] cũng kết luận rằng sinh trưởng của cây cao su được cải thiện khi xen canh với cây che phủ đất và cây trồng làm thức ăn cho gia súc Những nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc xen canh đã tạo được tiểu khí hậu thích hợp cho quá trình quang hợp và sinh trưởng của cây cao su (Nugawela, 1989; Rodrigo et al., 1997; Rodrigo et al., 2001; Rodrigo et al., 2005)[38],[39],[40],[41] Nghiên cứu của Rodrigo et al., 2001[40] cho rằng sinh trưởng và năng suất mủ cao su tăng ở giai đoạn kinh doanh bằng cách trồng xen chuối với cao su giai đoạn KTCB
Trang 9- Tại Thái Lan, các loại cây trồng xen khuyến cáo cho cao su tiểu điền trong thời gian 3 năm đầu trồng cao su là ngô, lúa nương, đậu, dứa, rau xanh,
cỏ chăn nuôi Các loại cây trồng xen nên trồng cách hàng cao su 1m Mía được khuyến cáo không nên chọn làm cây trồng xen, nhất là vào mùa khô do
có thể gây hỏa hoạn Chuối và đu đủ có thể trồng xen với khoảng cách giữa hàng trồng xen và hàng cao su là 2,5m; Giữa chuối và đu đủ khoảng cách là 3m, cây họ đậu phủ đất nên được trồng giữa các khoảng cách này[40]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển cây trồng xen trong vườn cây cao su ở Việt Nam
Cao su là cây công nghiệp dài ngày, thời gian KTCB khá dài, thường phải mất 6 -7 năm Trong thời gian này, khi cây cao su chưa khép tán thì có một diện tích đất tốt giữa hai cao su bị bỏ trống (cao su thường được chọn trồng ở những nơi đất có tầng dày, giàu mùn và dinh dưỡng) nên rất thuận lợi cho việc trồng xen canh thêm nhiều loại cây trồng khác nhằm tăng thu nhập
theo hướng “lấy ngắn nuôi dài” (Tống Viết Thịnh; Lê Gia Trung Phúc,
2004)[25] Mặt khác đất trồng cao su thường dốc, hàng cao su rộng 6x3m vì vậy những năm đầu nếu không tạo thảm thực vật che phủ, không trồng xen thì
sẽ xảy ra xói mòn, rửa trôi rất lớn Ngoài việc giảm rửa trôi xói mòn, cây trồng xen còn góp phần tăng độ ẩm, tạo kết cấu đất, giúp cho cây cao su phát triển tốt hơn
Theo khuyến cáo của Viện nghiên cứu cao su Việt Nam (VRA): Các loại cây được trồng xen được khuyến khích là cây họ đậu, lúa, rau màu giữa hàng
lô cao su trong những năm đầu của giai đoạn KTCB khi hàng cao su chưa khép tán Cây trồng xen không làm ảnh hưởng đến cây cao su và không là ký chủ của những mầm bệnh hại cao su Phải bón phân cho cây trồng xen, luân canh hợp lý và dùng tàn dư thực vật sau khi thu hoạch để tủ gốc cho cây cao
su Trên đất bạc màu, đất dốc phải thiết lập thảm phủ cây họ đậu Không trồng xen cây ngắn ngày trên vườn cây cao su có độ dốc trên 8o
vì việc làm
Trang 10đất thường xuyên có thể gây ra xói mòn nghiêm trọng (VRA, 2010)[9]
Trong quá trình trồng xen, cần sử dụng các cây trồng, đặc biệt là cây họ đậu không cùng là ký chủ của sâu bệnh trên cây cao su; không cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng và nước của cây cao su Sử dụng những giống cây trồng
có khả năng chịu hạn, có khả năng che tủ đất, thích hợp với điều kiện đất đai khí hậu của vùng đã được kiểm chứng qua các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước để xây dựng mô hình trồng xen có hiệu quả
Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam cho biết: So sánh sự rửa trôi đất tại các công thức trồng xen: Tính bình quân cho 4,5 năm thí nghiệm thì nghiệm thức trồng xen với cây họ đậu là thấp nhất (6,1-8,1 kg/ha); Trên các ô trồng xen Dứa - Lạc - Ngô đường, lượng đất mất đi ước tính 12,2 - 16,6 kg/ha; Trong các ô trồng xen với Chuối - Dứa, tổng lượng đất mất đi từ 9,7 - 35,8 kg/ha do bị rửa trôi mạnh trên phần đất trống giữa các hàng Chuối - Dứa Ô đất bỏ trống, lượng đất mất đi là 159 kg/ha (Đinh Xuân Trường và CS; Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam, 2007)[24], [28]
Mô hình trồng cao su xen sắn tại Giai Xuân - Tân Kỳ trên diện tích 5 ha trồng năm 2010, sắn đạt năng suất: 16 tấn/ha, sau 1 năm mỗi ha cho thu nhập 28,8 triệu đồng, cây cao su phát triển tốt, chiều cao bình quân 1,6m Mô hình trồng cao
su xen dứa tại Quỳnh Thắng - Quỳnh Lưu: Quy mô 5 ha, bắt đầu thực hiện năm
2009, sau 2 năm cao su đạt chiều cao bình quân 2,2 m, sinh trưởng phát triển mạnh, dứa đang phát triển tốt không kém so với diện tích dứa trồng thuần, năm
2011 cho thu hoạch dứa quả, ước tính đạt năng suất 180 tạ/ha, nếu giá dứa bán 3000đ/kg thì 1 ha sẽ cho thu nhập 54 triệu đồng từ cây dứa (Báo Nghệ An, 2010)
Mô hình xen canh gieo cấy lúa nương trên diện tích 100 ha đất đồi cao
su tại xã Chăn Nưa (huyện Sìn Hồ, Lai Châu) Lúa nương trồng xen với cao
su trong 3 năm đầu, mỗi năm trồng 1 vụ trong vòng 5 tháng Cho đến khi cây cao su cao 1,5m trở lên, tán xòe rộng, thì thôi không trồng xen canh lúa nương nữa mà chuyển sang trồng lạc, đậu tương dưới tán cây… Theo anh
Trang 11Nguyễn Kim Phi - cán bộ Phòng NN&PTNT huyện Sìn Hồ ước tính bà con sẽ thu được 10 - 12 tạ lúa/ha, không thua kém gì so với những mùa vụ trước (VRA, 2010)[9]
Trung tâm nghiên cứu và Phát triển nông lâm nghiệp Tây Bắc cũng đã tiến hành nghiên cứu kỹ thuật trồng xen các cây ngắn ngày trong cao su giai đoạn KTCB; Nghiên cứu phát triển các kỹ thuật trồng xen, trồng gối, luân canh cây trồng; Nghiên cứu kỹ thuật canh tác gieo thẳng trên lớp phủ (DMC); Nghiên cứu kỹ thuật che phủ đất bằng xác thực vật sống, thực vật chết trong canh tác cây trồng; Nghiên cứu sự đa dạng hóa trong hệ thống canh tác kết hợp ngô, cà phê, cao su, chè Những nghiên cứu này đều hướng đến mục tiêu phát triển sản xuất nông lâm nghiệp bền vững, canh tác theo hướng bảo tồn, khai thác có hiệu quả tài nguyên đất, khí hậu của vùng, trồng xen cây lương thực ngắn ngày và cỏ trong vườn cao su KTCB đã được chuyển giao tới nông dân vùng Tây Bắc Nhiều kết quả khuyến nông đã được địa phương đánh giá cao (ví dụ: kỹ thuật ghép các giống cà phê chè mới TN1, TN2; kỹ thuật thâm canh cà phê chè bền vững, kỹ thuật trồng xen trong cao su KTCB, lạc xen sắn, thâm canh ngô )
Cây trồng xen thường sử dụng là các loài cây họ đậu, khoai lang, cây thảm phủ, … thậm chí cà phê – xen 1 hàng cà phê vào giữa 2 hàng cao su (tuy nhiên cà phê chỉ cho hoa lợi trong thời gian 3-4 năm, còn sau đó khi cây cao
su đã khép tán trên hàng thì cà phê không còn cho hiệu quả kinh tế nữa
Việc trồng xen này nói chung là tạo ra thu nhập phụ thêm cho các tiểu điền hoặc đơn vị nông trường cao su thuộc quản lý nhà nước trong khi cao su còn chưa thu hoạch được Ngoài ra, việc trồng xen này còn tạo ra một số hiệu quả khác nhau đối với từng loại cây, ví dụ như:
Cây họ đậu: cải tạo đất do có các nốt sần ở rễ chứa vi khuẩn cố định đạm (Rhizobium), tạo được nguồn phân hưuc cơ giàu đạm cho cây cao su
Các loài cây tạo thảm phủ: che phủ măt đất hạn chế tác động của sức
Trang 12nóng từ ánh sáng mặt trời thường làm bay hơi các chất dinh dưỡng trong lớp đất mặt, giảm được rửa trôi, giữ ẩm và chống xói mòn đất khá hiệu quả Các loại cây như dứa, ca cao thì vẫn có thể thu hoạch khi cao su đã khép tán mặc dù hiệu quả kinh tế của những cây này mang lại là không cao
Những kết quả nghiên cứu của Lê Văn Trinh, Hà Minh Trung và cộng sự (1993) về trồng xen cây họ đậu với cà phê ở Tây Bắc, Hoàng Lương (2005)
về trồng xen đậu trong các lô cà phê, cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản ở Tây Nguyên cho biết nó có tác dụng làm cho cây cà phê, cao su phát triển tốt hơn
và cho hiệu quả kinh tế cao Trồng xen cây lạc với cao su 1- 3 năm tuổi ở Đồng Nai đạt lợi nhuận 3,58 - 3,98 triệu đồng/ha/vụ với tỷ suất lợi nhuận 113
- 116% Tại Buôn Ma Thuột, khi trồng xen đậu, lạc, lúa cạn với cà phê, cao
su thì lãi thuần do thu cây trồng xen đạt 1,45 - 3,36 triệu đồng/ha (Đinh Văn
Cự và cộng sự, 2005)
Lê Gia Trung Phúc , (2004) thấy rằng việc sử dụng phân bón bổ sung cho cây trồng xen, độ phì đất đai sẵn có trên vườn cao su cũng như các biện pháp nông học khác có tác dụng cải thiện năng suất cây trồng xen, từ đó mà cải thiện thu nhập của công nhân cao su, mặc dù lợi tức thu được từ mỗi loại cây
có thể thay đổi do sự biến động về giá cả
Trồng xen hoa màu lương thực trong vườn cao su kiến thiết cơ bản có tác dụng giảm lượng đất bị xói mòn, đồng thời thu nhập sản phẩm cây trồng xen rất đáng kể: lúa (7,35 tạ/ha); ngô (17,8 tạ/ha/năm) và lạc (5,8 tạ/ha/năm) Thử nghiệm so sánh 6 mô hình trồng xen hoa màu, lương thực trong cao
su kiến thiết cơ bản tại Buôn Sút M’rư, huyện Cư M’gar, tỉnh Daklak cho rằng các cây trồng xen không ảnh hưởng xấu đến dinh dưỡng đất, không tác động xấu đến sinh trưởng của cây cao su đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế hơn bỏ hoang giữa hai hàng cao su Trong đó mô hình 1 (vụ 1 trồng đậu xanh + 2 hàng ngô, vụ 2 trồng lạc) mang lại lợi nhuận cao nhất là 5,5 triệu đồng/ha/năm; mô hình 4 (vụ 1 trồng đậu xanh + 5 hàng ngô, vụ 2 trồng đậu
Trang 13đỏ) có lợi nhuận 5,26 triệu đồng/ha/năm và mô hình 3 (vụ 1 trồng đậu tương + 5 hàng ngô, vụ 2 trồng lạc) có lợi nhuận 4,1 triệu đồng/ha/năm.[23]
Mô hình trồng lạc xen cao su tiểu điền giai đoạn KTCB tại huyện Đức
Cơ - là huyện biên giới phía Tây của Gia Lai [28] cho thấy: Đa phần diện tích trồng cao su tiểu điền trên địa bàn huyện là đất đồi độ dốc 10-150
nên dễ xói mòn về mùa mưa, làm đất nhanh thoái hoá Để cao su phát triển tốt trên diện tích chuyển đổi từ trồng sắn, việc trồng xen cây họ đậu nhằm khôi phục chất đất, tăng thu nhập trong thời gian cao su chưa cho thu hoạch là rất cần thiết Biện pháp canh tác trồng xen lạc trong vườn cao su đã góp phần làm tăng thu nhập cho người dân Cao su trong thời gian này chưa có tán, rễ ăn sâu, còn lạc
có rễ ăn nông nên khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất vài chục tạ/ha Thu hoạch xong, có thể trồng xen bắp (ngô) và cây trồng khác để luân canh Hiệu quả thu được từ mô hình này có thể lên tới hơn 10,0 triệu đồng/ha/năm Đây cũng là một trong những biện pháp tiết kiệm công làm cỏ, xới đất
Ngoài hiệu quả thu lợi từ sản phẩm, bề mặt đất có lạc che phủ còn có tác dụng tích cực trong việc bảo vệ đất, chống xói mòn, rửa trôi trong mùa mưa Sau khi thu hoạch lạc, đất đã được bổ sung một lượng mùn đáng kể nhờ xác cây lạc Chi phí đầu tư và công chăm sóc giảm hơn 1 triệu đồng/ha Cao su sinh trưởng tốt hơn vì nhận được hàm lượng dinh dưỡng từ thân và rễ lạc [23]
Mô hình vườn bí xanh trồng xen canh trong lô cao su mới một năm tuổi của gia đình anh Nguyễn Văn Tuấn, xã Tân Hiệp, huyện Bình Long [29] cũng
là một mô hình đáng chú ý Thực tế cho thấy cây bí xanh phát triển rất tốt dưới tán cao su nhưng không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cao su Chu kỳ sinh trưởng và cho quả của cây bí xanh chỉ trong vòng 50 ngày và cho thu hoạch trong 2 tháng Nếu chăm sóc tốt, 1 ha bí trồng xen canh trong lô cao su cho thu hoạch khoảng 35,0 tấn quả Với giá bán bình quân 4.000 đồng/kg như hiện nay thì 1ha bí cho thu nhập gần 140,0 triệu đồng, trừ chi phí
Trang 14chăm sóc, phân bón cũng lãi hơn 100,0 triệu đồng Một năm bình quân trồng
3 vụ, nông dân thu về khoảng 300,0 triệu đồng/năm Để cây bí sinh trưởng tốt, đất trồng bí phải làm sạch cỏ, bón vôi, phân lót và thường xuyên tưới nước để giữ độ ẩm cho cây, đến khi thu hoạch cần bón thúc thêm cho cây
Mô hình trồng xen dưa hấu trên đất cao su của ông Hồ Viện ở ấp Bàu Lùng, xã Tân Hiệp (huyện Bình Long)[29] rộng hơn 2 ha mới trồng hơn 2 tháng đã cho thu hoạch Bình quân 1 ha dưa hấu cho thu hoạch khoảng 30 tấn quả, mỗi năm trồng 2 vụ, nếu được giá, sau khi trừ chi phí cũng thu về được gần 300 triệu đồng Nhiều gia đình nông dân cũng chọn cây dưa hấu trồng xen trong cao su KTCB, tuy nhiên lô cao su xen dưa hấu yêu cầu phải chủ động tưới tiêu, đầu tư giống, phân bón, công lao động, thuốc bảo vệ thực vật cao nên chỉ phù hợp với những hộ nông dân đủ điều kiện đầu tư
Công ty cao su Dak Lak [29] đã đưa giống cây dứa Cayen vào trồng xen canh trong vườn cây cao su kiến thiết cơ bản nhằm tận dụng quỹ đất, tạo việc làm thêm cho công nhân Dứa Cayen là loại cây trồng tương đối mới mẻ với nhiều đơn vị của Công ty, được Trung tâm đầu tư và phát triển cao su Dak R’lấp trồng thử nghiệm trong vườn cây cao su kiến thiết cơ bản, đến nay đã cho thu hoạch Mỗi chu kỳ thu được từ 3-4 vụ và cho năng suất là 30 tấn/ha trồng xen Theo Trung tâm đầu tư và phát triển cao su Dak R’lấp [29], sản lượng dứa quả được Công ty xuất nhập khẩu Tân Bình ký hợp đồng bao tiêu toàn bộ với mức giá là 1.300đ/kg loại 1; 1.000đ/kg loại 2; 650đ/kg loại 3 Phùng Quốc Tuấn Anh, Lê Quốc Doanh (2010) khi nghiên cứu xác định một số cây trồng xen thích hợp cho cao su thời kỳ KTCB tại tỉnh Sơn La đã xác định được một số giống cây ngắn ngày phù hợp cho cơ cấu cây trồng xen trong nương đồi cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản: Giống ngô LVN14 và LVN 184, ngắn ngày (105 đến 108 ngày), năng suất cao đạt 42,06 – 42,54 tạ/ha; Giống đậu tương ĐT12, DT 84 ngắn ngày (80 đến 92 ngày), năng suất cao (từ 10,83 đến 10,92tạ/ha); Giống đậu xanh VN 99-3, ngắn ngày (68
Trang 15ngày), năng suất cao (10,78 tạ/ha); Giống lúa cạn Luyin 46, IR 74371-3-1-1; thời gian sinh trưởng 115 ngày, năng suất đạt 12,80 đến 14,30 tạ/ha Kết quả nghiên cứu cũng đã xác định được 02 công thức luân canh trồng xen trong cao su giai đoạn KTCB là: Ngô LVN14 vụ Xuân Hè + Đậu xanh VN99-3 vụ Thu Đông và Đậu xanh VN 99-3 vụ Xuân Hè + Lúa cạn Luyin46 vụ Hè Thu) tăng thêm thu nhập phụ từ 23.090.000 đồng/ha đến 25.117.400 đồng/ha từ cây trồng xen Các tác giả cũng cho thấy: Sự tăng vanh khác biệt không lớn giữa các cây trồng xen và công thức luân canh cây trồng xen, chứng tỏ trồng xen cây lương thực, thực phẩm trong thời kỳ kiến thiết cơ bản năm thứ 2 và 3 không ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng cây cao su
Mặt khác khi bố trí các loại cây trồng xen khác nhau thì khả năng bảo vệ đất của các loại cây này khác nhau không nhiều, dao động trong khoảng từ 1,8 đến 3,3 tấn/ha, nhưng so với cao su trồng thuần thì lượng đất giảm hẳn, từ 18,75% đến 34,37% so với đối chứng Kết quả phân tích đất không thấy có sự khác biệt đáng kể, tuy nhiên sau khi trồng các loại cây lương thực, thực phẩm hàm lượng của các nguyên tố khoáng đa lượng dễ tiêu P2O5, K2O và các cation trao đổi trên các mô hình có trồng xen đều cao hơn đối chứng không trồng xen Khi trồng xen luân canh các cây lương thực, thực phẩm làm độ chua của đất giảm (pHKCL từ 3,90 lên 3,91 ÷ 3,97) và độ mùn tổng số tăng lên (OM từ 2,50% lên 2,52 ÷ 2,54%)
Tại Thanh Hóa, nông trường Vân Du huyện Thạch Thành đã đưa cây dứa vào trồng xen trong vườn cao su KTCB cho giá trị kinh tế cao, chỉ cần trồng 1 lần cho thu hoạch liên tiếp 2-3 vụ quả trước khi cây cao su kịp khép tán Theo tính toán, 1 vụ dứa trồng xen cho thu khoảng 40 tấn quả/ha, bán cho
tư thương hoặc các nhà máy chế biến, sau khi trừ hết chi phí cho thu lãi từ 40
- 45 triệu đồng/ha/năm là nguồn thu đáng kể cho các hộ gia đình cải thiện đời sống và đầu tư vào cho cây dài ngày là cây cao su
Thực trạng trồng xen cao su tại Thanh Hóa cho thấy: Một số diện tích
Trang 16khá lớn cao su giai đoạn KTCB thường được nông dân trồng xen bằng cây mía, cây sắn Mía và sắn là các cây trồng rất phàm ăn, có năng suất sinh vật cao nhất là mía, vì vậy lượng dinh dưỡng cây lấy đi từ đất nhiều hơn các cây trồng xen khác Nếu không cung cấp đủ dinh dưỡng sẽ xảy ra sự cạnh tranh dinh dưỡng với cây cao su Đối với cây sắn còn tiết ra axit HCN làm cho cây cao su sinh trưởng chậm, lá vàng (Trần Thị Thuý Hoa, 2006) [10]
Trang 17Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu:
- Giống L 23:
Nguồn gốc và phương pháp: Giống lạc L23 được chọn ra từ nguồn thu thập năm 2001 L23 được công nhận cho sản xuất thử năm 2008 theo Quyết định số 111/QĐ-TT-CCN ngày 03 tháng 6 năm 2008
Đặc điểm
+ Thời gian sinh trưởng ở vụ Xuân 120 ngày, 105 ngày trong vụ Thu đông + Cứng cây, chiều cao thân chính từ 45 - 50 cm, tán gọn, lá có màu xanh đậm Quả eo trung bình, có gân rõ, vỏ lụa màu hồng nhạt, chịu thâm canh cao +Năng suất quả trung bình 50 - 55 tạ/ha, thâm canh có thể đạt 53 tạ/ha, năng suất quả khô của L23 cao hơn L14 từ 13-23% trong vụ xuân và 20% ở
vụ thu đông
+ L23 có khối lượng 100 quả 145-150 gram, khối lượng 100 hạt 58- 61
Trang 18gram, tỷ lệ nhân 70 - 72%
+ L23 có khả năng chịu hạn, kháng cao với bệnh gỉ sắt, đốm nâu, héo xanh vi khuẩn và sâu chích hút, kháng trung bình với bệnh đốm đen tốt, chống đổ tốt
- Giống lạc TB 25:
Lạc TB25 có thời gian sinh trưởng ngắn (ngắn hơn giống lạc L14 khoảng 5 ngày): Vụ Xuân 110 – 115 ngày; Vụ Thu Đông 100 – 105 ngày + Lạc TB25 chống chịu bệnh gỉ sắt, bệnh đốm nâu, đốm đen và héo xanh
vi khuẩn khá hơn một số giống đang trồng phổ biến hiện nay
+ Lạc TB25 có tiềm năng cho năng suất cao, năng suất quả: Vụ Xuân: 40 –
45 tạ/ha, vụ Thu Đông: 35 – 40 tạ/ha Thâm canh tốt có thể đạt 50 – 60 tạ/ha + Lưu ý: Giống lạc TB25 là giống lạc chịu thâm canh vì vậy nên bố trí trồng ở chân đất tốt, chủ động tưới tiêu để đạt năng suất cao
* Phân bón:
Phân chuồng hoai mục
Trang 19Phân đạm: Ure 46% N
Phân lân: Supe lân 16% P2O5
Phân kali: Kali clorua 60% K2O
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thực trạng điều kiện thời tiết khí hậu, đất đai, kinh tế xã hội của huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
- Điều tra khảo sát thực trạng các mô hình cây trồng xen trên vườn cao
su thời kỳ kiến thiết cơ bản
- Nghiên cứu xác định giống lạc trồng thích hợp cho mô hình trồng xen cao
su
- Theo dõi khả năng chống chịu, sinh trưởng phát triển của cây cao su, sự tăng trưởng của vanh thân cây cao su
- Nghiên cứu hiệu quả của mô hình trồng xen lạc trên vườn cao su thời
kỳ kiến thiết cơ bản (hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường, hiệu quả xã hội)
- Đề xuất mô hình trồng xen trên đất cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp theo phương pháp PRA
Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và hệ thống cây trồng huyện Thạch Thành tại Chi cục Thống kê, Phòng NN&PTNT, Phòng Tài nguyên và Môi trường và các phòng, ban khác của huyện Thạch Thành bao gồm:
Các tài liệu, nghiên cứu về tài nguyên đất: Đặc điểm hóa lý tính đất đai (thông tin được tham khảo từ Báo cáo xây dựng Bản đồ đất tỉnh Thanh Hóa, 20…); các số liệu về diện tích loại đất, số liệu phân tích tính chất lý, hoá học của các loại đất huyện Thạch Thành trong vòng 5 năm gần đây
Số liệu khí tượng từ năm 1991-2014 của Trạm Khí tượng - Thủy văn Thạch Thành;
Trang 202.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp
2.3.2.1 Phương pháp SWOT
Phân tích, đánh giá tình hình sản xuất các cây trồng, từ đó tìm ra những ưu điểm và hạn chế trong sản xuất, qua đó đề xuất một số giải pháp và hướng phát triển Để phân tích, đánh giá thông tin sử dụng phương pháp
SWOT (S: Strength, W: Weak), O: Opportunity và T: Threats) là phương
pháp được sử dụng cho phân tích khám phá các cơ hội mới, quản lý và giảm thiểu những tiêu cực; dùng để phân tích xác định điểm mạnh, điểm yếu, xem xét các cơ hội và rủi ro trước mắt và triển vọng trong tương lai về hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất các cây trồng khác nói riêng Để thực hiện cần trả lời các câu hỏi:
Cái gì chúng ta kém?
Cái gì đang tồn tại?
O: Cơ hội
Vùng đang có cơ hội nào?
Chúng ta hiểu biết thế nào về xu
hướng quan tâm?
T: Rủi ro
Những rủi ro môi trường?
Rủi ro thị trường?
Rủi ro dịch bệnh?
2.3.2.2 Điều tra trực tiếp, phỏng vấn người dân
Phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân về giống cây trồng xen, năng suất cây trồng trồng xen, kỹ thuật trồng xen, chi phí sản xuất, công lao động, hiệu quả kinh tế, những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất trồng xen của nông hộ
Cách chọn mẫu để điều tra: Đơn vị điều tra theo 3 độ tuổi cao su (cao su
1 năm tuổi, cao su 2 năm tuổi, cao su 3 năm tuổi), mỗi độ tuổi cao su điều tra
30 hộ, phân theo hộ diện tích lớn (trên 2 ha), trung bình (từ 1-2 ha) và nhỏ(dướ i 1 ha) Hộ cụ thể lấy ngẫu nhiên trong từng nhóm Nội dung điều tra theo phiếu điều tra đã được in sẵn câu hỏi theo yêu cầu Người được
Trang 21phỏng vấn là chủ hộ hoặc lao động chính của nông hộ
Các loại giống thí nghiệm được bố trí với công thức
STT Ký hiệu công thức Nội dung công thức
Trang 22+ Xới vun, tưới tiêu nước: Sau gieo khi lạc bắt đầu mọc bới nhẹ quanh gốc
để tạo điềukiện cho cành cấp 1 phát triển sớm
Xới xáo chia làm 3 lần:
Sơ đồ thí nghiệm
Ghi chú: I,II,II,IV: công thức
1,2,3: số lần nhắc lại
* Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm
Lần 1: Khi cây có 3 -5 lá thật, tiến hành xới nhẹ, có tác dụng làm đất thoáng khí cung cấp oxi, tránh tác động mạnh đến cây con
Lần 2: Khi cây có 8 – 9 lá thật, xới vào thời điểm trước khi lạc ra hoa, xới xáo rộng quanh gốc (sâu 5-7cm), nhằm tạo ra lớp đất tơi xốp cho vi khuẩn nốt sần hoạt động Thời điểm này không vun cao gốc để không làm ảnh hưởng đến quá trình ra hoa của lạc
Hàng cây cao su (rộng 1,5 m)
Hàng cây cao su (rộng 3 m)
Hàng cây cao su (rộng 3 m)
Hàng cây cao su (rộng 1,5 m)
Trang 23Lần 3: Khi cây lạc ra hoa rộ được 10 – 15 ngày, xới vun rộng và vun cao
- Tưới tiêu: Trong điều kiện vụ xuân thường xảy ra thiếu ẩm trong thời kỳ sinh trưởng ban đầu (thời kỳ gieo và cây con) của cây nên chú ý cung cấp đủ ẩm cho lạc Bên cạnh đó, cần chú ý thời kỳ ra hoa, kết quả, đây là thời kỳ cây lạc rất cần đủ ẩm (thời kỳ khủng hoảng nước của lạc) Do trồng ở vườn cao su hoàn toàn không chủ động tưới nên nếu có điều kiện có thể tưới giữ ẩm lúc gieo và che tủ nilon
- Phun thuốc phòng trừ sâu bệnh: dế, sâu xám ở thời kỳ cây con, bệnh hại ở thời kỳ ra hoa hình thành quả, quả chín
- Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
+ Các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của cây cao su : Đo đường kính thân, chiều cao cây, số tầng lá, tình hình sâu bệnh trên cây cao su
+ Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng phát triển của cây lạc:
* Thời gian sinh trưởng của giống từ gieo đến thu hoạch (ngày)
* Chiều cao thân chính đo vào thời gian tắt hoa, cách đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính của 10 cây mẫu trên ô
* Các chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Trước khi thu hoạch mỗi ô lấy 30 cây mẫu và xác định.:
Số quả/ cây (quả) đếm tổng số quả trên 30 cây mẫu/ ô, tính trung bình 1 cây
Trang 24Số quả chắc/ cây: đếm tổng số quả chắc trên 30 cây mẫu/ ô, tính trung bình 1 cây
Khối lượng 100 quả: (g) cân 3 mẫu, mỗi mẫu 100 quả chắc ở ẩm độ khoảng 10%
Khối lượng 100 hạt : (g) cân 3 mẫu hạt nguyên, mỗi mẫu 100 hạt
Khối lượng nhân của 100 quả (g) cân khối lượng hạt của 100 quả ở 3 mẫu Xác định năng suất lý thuyết (tạ/ha) = P quả/ cây x mật độ cây/m2 x 10.000m2
Năng suất thực thu (tạ/ ha) : NS thực thu (kg/ô)/500m2
x 10.000 m2
* Mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính thang điểm theo ICRISAT
Mức độ nhiễm một số bệnh hại chính tính theo tỷ lệ hại và cấp hại
Bệnh gỉ sắt- Puccinia arachidis Speg, điều tra diện tích lá bị bệnh của 10 cây mẫu trên ô (theo 5 điểm chéo góc) xác định mức độ bệnh theo cấp 1,3,5,7,9
Bệnh đốm nâu (Cercospora arachidicola Hori) điều tra ít nhất 10 cây theo 5 điểm chéo góc theo cấp 1,3,5,7,9
Bệnh đốm đen (Cercospora personatum Berk & Curt), điều tra 10 cây đại diện theo 5 điểm chéo góc ở thời kỳ trước thu hoạch và đánh giá theo cấp bệnh 1- 9
Bệnh héo xanh (Pseudomonas solanacearum Smith ) : Tính (%) số cây bị bệnh trên số cây điều tra (điều tra toàn bộ số cây trên ô), ở thời kỳ trước thu hoạch, điểm 1,2,3
2.3.3.2 Xây dựng mô hình trồng xen lạc có hiệu quả
Tiến hành xây dựng các mô hình trồng xen trong vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2014, diện tích 0,5 ha/mô hình Tổng diện tích mô hình là : (0,5 ha/cây x 5 cây
x 3 loại hình cao su ) x 2 vụ = 15 ha
Các mô hình này được bố trí trên cùng một khu đất có điều kiện lập địa tương tự nhau, đối chứng là mô hình không trồng xen
Trang 25Theo dõi các chỉ tiêu sau:
- Thời gian sinh trưởng, phát triển của cây trồng xen
- Năng suất của cây trồng xen
- Số tầng lá cao su: quan trắc trên toàn bộ ô cơ sở, quan sát và đếm số tầng lá trên mỗi cây
- Chiều cao cây: sử dụng thước dây (0,5m) buộc vào sào tre đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng cao nhất của cây, đơn vị đo là cm
- Sự tăng trưởng chu vi thân (vanh thân) của cây cao su: đo ở độ cao cách mặt đất 1m, choàng thước dây quanh thân tại vị trí cần đo sao cho thước dây tạo thành vòng tròn vuông góc với thân cây, xác định só đo tại vị trí hai đầu thước gặp nhau, đơn vị đo là cm
- Diễn biến sâu bệnh hại của cây cao su trong mô hình: phương pháp chọn điểm và số lượng quan trắc trên cây cao su tuân theo nguyên tắc:
Chọn 5 điểm trong mô hình và theo dõi 5 diểm chéo góc
Số lượng cây điều tra và mức phân cấp theo từng loại bệnh theo bảng sau:
Loại bệnh điều tra Số điểm trên/điểm Số cây Tổng số
cây Cấp bệnh
- Xác định xói mòn đất: phía dưới sườn dốc của mỗi băn đát, đào các hố hứng đất (rộng 60 cm x sâu 60 cm x dài 4m) Lượng đất xói mòn sẽ được vét sau mỗi cơn mưa, cân và lấy mẫu sấy khô, sau đó quy ra tấn/ha
2.3.4 Phương pháp phân tích kết qủa nghiên cứu
Thí nghiệm đồng ruộng: Kết quả được phân tích bằng phương pháp
Trang 26phân tích phương sai với phần mềm IRRISTAT version 5.0 (Phạm Tiến Dũng và Nguyễn Đình Hiền, 2010)
Năng suất điều tra từ các hộ và từ các mô hình thí nghiệm được xử
lý, phân tích thống kê cơ bản Excel
Hiệu quả kinh tế: Các chỉ tiêu tính toán hiệu quả kinh tế: Năng suất cây trồng, tổng thu nhập, tổng chi phí, lợi nhuận
Các công thức được sử dụng để tính toán hiệu quả kinh tế:
Tổng thu (GR) = Tổng sản lượng (Y) x giá bán (P)
Trong đó: P là giá trị một đơn vị sản phẩm ở thời điểm thu hoạch Y là tổng sản lượng trên một đơn vị diện tích
Tính tổng chi phí biến động (TVC) bao gồm tất cả các chi phí vật tư, lao động, cho sản xuất một vụ hay một năm
TVC = Chi phí vật chất + công lao động
Chi phí vật chất: = chi phí sản xuất cây trồng (phân bón + giống + thuốc BVTV + tưới nước + làm đất + dịch vụ tuốt lúa + dịch vụ hợp tác xã) Thu nhập thuần (RAVC) = GR - TVC Trong đó:
Chi phí vật chất
Trang 27Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến hệ thống cây trồng nông nghiệp huyện Thạch Thành
3.1.1 Điều kiện tự nhiên:
3.1.1.1 Địa hình, đất đai:
Là một huyện miền núi, nên Thạch Thành có địa hình tương đối phức tạp, bị chia cắt nhiều, đất đai chủ yếu được hình thành tại chỗ Tổng quan địa hình có hướng nghiên dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Tuy nhiên, bên cạnh những dãy núi còn có nhiều thung lũng bằng phẳng rất thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt
Độ cao trung bình từ 200 m – 400 m (Cao nhất là 825 m thấp nhất là 15 m)
Có con sông bưởi chạy qua, chia huyện Thạch Thành thành 2 vùng, vùng tả sông Bưởi có thị trấn Kim Tân và 16 xã, vùng hữu sông Bưởi có 9 xã Phân vùng địa hình có thể chia làm 2 vùng: Vùng đồi cao và vùng đồi núi thấp
+ Vùng đồi núi cao: Có tổng diện tích 27.205,46 ha, chiếm 48,65% diện tích toàn huyện gồm 8 xã: Thành Lâm, Thạch Tượng, Thạch quảng, Thành Yên, Thành Minh, Thạch Cẩm, Thành Mỹ, Thành Vinh có địa hình phức tạp,
độ dốc thường từ cấp III trở lên thích hợp với việc phát triển cây trồng lâm nghiệp, cây lâu năm, cây công nghiệp…
+ Vùng đồi núi thấp: Có tổng diện tích 28.713,98 ha, chiếm 51,35% diện tích tự nhiên, có độ dốc thấp hơn và có nhiều thung lũng thuận lợi cho phát triển các cây trông như cây lương thực, cây công nghiệp hàng năm
Thổ nhưỡng: Theo số liệu và bản đồ thổ nhưỡng của tỉnh, huyện Thạch Thành với diện tích điều tra là 49 508,78 ha bao gồm các loại đất đang sử dụng vào nông nghiệp, lâm nghiệp và có khả năng nông lâm kết hợp được phân cấp độ như sau:
+ Đất có độ dốc cấp độ I (<30) 14066,17 ha
Trang 28+ Đất có độ dốc cấp độ II (>30 - <80) 5586,25 ha
+ Đất có độ dốc cấp độ III (>80 - <150) 7531,66 ha
+ Đất có độ dốc cấp độ IV (>150 - <250) 10.371,64 ha
+ Đất có độ dốc cấp độV, VI (>250) 11.925, 46 ha
Diện tích có độ dốc dưới 150 Có 27.184,08 ha, chiếm 48,61% diện tích
tự nhiên, đây là đất để phát triển cây nông nghiệp, cây công nghiệp dài ngày như cây cao su, và cây ăn quả lâu năm
Diện tích có độ dốc >150 - <250: Có 10.371,64 ha, chiếm 21,37% diện tích
tự nhiên, phân bố cho cây lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày , cây ăn quả Diên tích có độ dốc trên 250: Có 11.952,46 ha, chiếm 21,37% tổng diện tích tự nhiên, phân bố cho cây lâm nghiệp (chủ yếu là rừng phòng hộ)
3.1.1.2 Khí hậu thời tiết:
Thạch Thành nằm trong tiểu vùng khí hậu trung du phía Bắc của tỉnh Thanh Hóa có các đặc trưng chủ yếu như sau (theo số liệu của Trung tâm Khí tượng thủy văn Thanh Hóa)
Bảng 3.1: Diễn biến một số yếu tố khí hậu ở huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa (số liệu trung bình 10 năm, từ năm 2003 – 2013)
Tháng
Nhiệt độ (C0
không khí(%)
Lượng mưa (mm)
Lượng bốc hơi (mm)
Số giờ nắng giờ/tháng
Tốc độ gió TB (m/s)
Tối
cao
Tối thấp
Trung bình
Trang 29- Nhiệt độ: Tổng nhiệt độ trung bình năm từ 8.1000C – 8.5000C Biên độ năm từ 11 – 120C Biên độ ngày từ 7 – 90C Mùa đông nhiệt độ tương đối thấp, nhiệt độ trung bình tháng 2 là 17,10C, có nơi xuống dưới 150
C Mùa hè nhiệt độ không cao Nhiệt độ trung bình tháng 6 và 7 Nhiệt độ TB tháng nóng nhất là 28 – 28,80
Trang 30Ẩm độ không khí(%)
Hình 3.1: Diễn biến một số yếu tố khí hậu ở huyện Thạch Thành tỉnh
Thanh Hóa
+ Thủy văn và nguồn nước:
Thạch Thành nằm trong tiểu vùng thủy văn sông Bưởi có các đặc trưng chủ yếu sau:
- Thời gian lũ từ tháng 7 – 10, 2 tháng dòng chảy lớn là tháng 8, 9
-Mô đun dòng chảy năm: 20 – 25 l/s/km2
- Mô đun dòng chảy kiệt tháng: 2,0 – 3,0 l/s/km2
- Tổng lượng dòng chảy năm: 613 x 106 m3
- Tổng lượng dòng chảy mùa cạn: 88,3 x 106
m3 Các sông, suối trên địa bàn huyện thường ngắn, dốc, lòng sông hẹp và quanh co uốn khúc, mùa mưa nước dâng nhanh cùng lúc đổ về sông Bưởi nên thường tạo lũ quét
Nguồn nước có các hồ đập lớn như hồ Bình Công (xã Thành Minh), đập Đồng Ngư (xã Thành An) đập Tây Trác (xã Thành Long), hồ Đồng Sùng (xã Thành Kim)…/
Trang 31Nguồn nước ngầm tương đối thấp chỉ ở mức 0,02 – 2,01 l/s về mùa khô mực nước ngầm xuống thấp nên đất đai thường khô hạn
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình là 85,7% có giai đoạn mùa đông khô hanh độ ẩm không khí xuống dưới 55% (vào tháng 12) Vào cuối đông lượng mưa phùn nhiều độ ẩm không khí có lúc đạt 90-91% và có thời điểm đạt bão hòa, ẩm ướt (thường xảy ra vào tháng 2-3)
- Lượng nước bốc hơi: Lượng nước bốc hơi bình quân năm là 78,7 mm, tháng cao nhất trong năm đạt 103,2 mm tương ứng với mùa khô hanh (tháng
11 hàng năm), tháng có lượng nước bốc hơi thấp nhất là tháng 2-3 thời kỳ này xuất hiện mưa phùn kéo dài lượng nước bốc hơi chỉ đạt 50-51mm
* Tần suất xuất hiện bão:
Cây cao su là cây thân gỗ nhưng rất rễ gãy do dó bão gây nên, với tốc
độ gió từ 1-2m/s rất có lợi cho cây giúp cho vườn cây thông thoáng, hạn chế bệnh hại và nhanh khô sau khi mưa Tuy nhiên ở cấp độ gió 8-13,8m/s sẽ làm cho lá cao su bị xoắn lại và rách, tốc độ gió trên 17,2m/s sẽ gây ảnh hưởng tới gãy cành, thân cây (Nguyễn Thị Huệ, 2006) Tần suất xuất hiện bão đổ bộ vào tỉnh Thanh Hóa tương đối ít chỉ có năm 2005 có 4 cơn bão đỗ bộ vào Thanh Hóa và vào tháng 7-9 trong năm, tốc độ gió lớn nhất đạt cấp 10, năm 2009 chỉ
có 1 cơn bão đổ bộ vào Thanh Hóa vào tháng 9 Từ những thông số này cho thấy, khả năng phát triển cây cao su của Thanh Hóa nói chung và huyện
Thạch Thành là tương đối tốt
3.1.1.3 Tài nguyên đất
Theo điều tra thổ nhưỡng theo phương pháp FAO – UNESCO năm
2000, trên địa bàn huyện có các loại đất sau:
- Đất xám (Acrisol) ký hiệu AC, diện tích 35.352,16 ha, chiếm 63,35 diện tích đất tự nhiên
Trang 32100 cơ cấu cây công nghiệp ngắn ngày, trên 100 dốc cơ cấu cây công nghiệp dài ngày và cây lâm nghiệp
+ Đất xám Feralit đá lẫn nông có diện tích 23.924,76 ha, chiếm 42,78% diện tích đất tự nhiên phân bổ ở độ dốc 100 trở lên, thích hợp cho phát triển cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả
+ Đất xám Feralit đá lẫn sâu diện tích 1.673,37 ha chiếm 3% diện tích tự nhiên phấn bố ở độ cao 150
dốc, thích hợp cho pháp triển cây công nghiệp dài ngày và các mô hình nông lâm kết hợp
- Đất phù sa, diện tích 14.156,62 ha chiếm 25,24 % diện tích đất tự nhiên + Đất phù sa chưa kết von nông: Có diện tích 2.572,98 ha, chiếm 4,6% diện tích tự nhiên Phân bố ở các chân ruộng cao Loại đất này được cơ câu cây công nghiệp ngắn ngày như Mía
Bảng 3.2: Các loại đất ở huyện Thạch Thành theo FAO – UNESCO
năm 2000
tích(ha)
Cơ cấu(%)
I Loại đất xám 35.352,16 63,35
1 AC fa- h Đất xám Ferralit điển hình 9.754,03 17,48
2 AC fa-L1 Đất xám Ferralit đá lẫn nông 23.924,76 42,87
3 AC fa- L2 Đất xám Ferralit đá lẫn sâu 1.673,37 3,00
II Loại đất phù sa 14.156,62 25,24
4 FLd- fe1 Đất phù sa chua kết von nông 2.572,98 4,61
5 FLd-g1 Đất phù sa chua glây nông 590,04 1,06
6 FLd- g2 Đất phù sa chua glây sâu 595,21 1,07
7 FLe- fe1 Đất phù sa bão hòa bazơ glây nông 7.328,22 13,00
8 Fle- h Đất phù sa bão hòa bazơ điển hình 2.698,67 4,83
9 Fle-d Đất phù sa biến đổi chua 371,50 0,67
Trang 33Hình 3.2 Các loại đất ở huyện Thạch Thành theo FAO – UNESCO
năm 2000
+ Đất phù sa chua glây nông diện tích 590,04 ha chiếm 1,06% diện tích
tự nhiên, loại đất này cơ cấu 2 vụ lúa
+ Đất phù sa bão hòa bazơ glây nông: Có diện tích 7.328,22 ha chiếm 13,10% diện tích đất tự nhiên, cơ cấu 2 vụ lúa và 1 vụ Đông
+ Đất phù sa chua glây sâu; Có diện tích 595,21 ha chiếm 1,06% diện tích tự nhiên, cơ cấu 2 vụ lúa
+ Đất phù sa biến đổi chua: có diện tích 371,50 ha, chiếm 0,66% diện tích tự nhiên, cơ cấu 2 vụ lúa
3.1.1.4 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Thạch Thành
Trong quá trình nghiên cứu và dựa vào điều kiện tự nhiên chúng tôi chia huyện Thạch Thành thành 4 tiểu vùng Việc nghiên cứu 4 tiểu vùng với mục đích phát hiện những điểm hợp lý hoặc bất hợp lý trong cơ cấu sử dụng đất, trọng tâm là cơ cấu cây trồng, sau khi điều tra nghiên cứu chúng tôi đánh giá được kết quả của từng tiểu vùng như sau:
a) Hiện trạng sử dụng đất của tiểu vùng I
Tiểu vùng I nằm ở phía Đông của huyện Thạch Thành; gồm xã Thành
Trang 34Minh, Thành Công, Thành Tân, Thạch Lâm, Thành Trực, Thành Vinh, Thành Yên Kết quả phân tích tại bảng 3.3 cho thấy:
Trong tổng số 20.282,61 ha đất tự nhiên tiểu vùng I của huyện Thạch Thành, đất đưa vào sử dụng là 19.054,43 ha, chiếm 93,9% Diện tích đất chưa đưa vào sử dụng là 1231,18 ha, chiếm 6,1% trong đó điểm đáng chú ý ở tiểu vùng này là diện tích đất đồi chưa sử dụng là 674,4 ha qua điều tra nghiên cứu diện tích đất trên có độ dốc từ 15 – 30% tầng canh tác từ 0,8 – 1,5 m (số liệu điều tra và phòng tài nguyên môi trường huyện) Có thể thấy đây là diện tích đất rất thích hợp cho việc phát triển diện tích cây Cao su của huyện
Trong số diện tích 19.054,43ha đất của vùng I đã đưa vào sử dụng có 3991,76ha đất đưa vào sản xuất nông nghiệp chiếm 19,68%, diện tích đất lâm nghiệp có 13128,47ha chiếm 64,72%, trong đó diện tích rừng sản xuất là 6.369,57 ha chiếm 48,51% diện tích đất lâm nghiệm Tuy nhiên trên thực tế diện tích rừng sản xuất này chủ yếu được trồng các loại cây lâm nghiệp như cây Keo hoặc Bạch đàn nên mang lại hiệu quả kinh tế không cao, khả năng che phủ kém đặc biệt đối với Bạch đàn thường làm thay đổi lý, hóa tính của đất Vì vậy những năm gần đây huyện đã có chủ trương chuyển đổi 1 phần lớn diện tích đất rừng sản xuất này có độ dốc và tầng canh tác phù hợp để chuyển đổi thành quĩ đất trồng cây Cao su nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển đất rừng theo hướng bền vững
Trong số diện tích đất sản xuất nông nghiệp có diện tích đất trồng cây lâu năm là 779,58 ha, hiện trạng của đất này chủ yếu là đất đồi có độ dốc tương đối thấp dao động từ 5-8%, cây trồng chủ yếu trên đất này là cây ăn quả như mít, ổi… mang lại hiệu quả kinh tế không cao so với tiềm năng của đất Việc chuyển đổi cây trồng trên diện tích đất này là cần thiết và phù hợp với chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng lâu năm của huyện
Ngoài ra trong diện tích đất bằng chưa sử dụng là 87,22 ha qua điều tra khu đất này chủ yếu nằm ở vị trí chân đồi hiện còn bỏ hoang hóa Nếu đưa
Trang 35vào qui hoạch sử dụng thành đất nông nghiệp, cụ thể là tiến hành giao diện tích đất này cho các nông hộ phát triển mô hình nông lâm kết hợp
Có thể đánh giá rằng tiểu vùng I là vùng có tiềm năng lớn về đất cho việc phát triển cây Cao su tiểu điền trong thời gian tới
Bảng 3.3 Cơ cấu sử dụng đất của tiểu vùng I
tích(ha)
Cơ cấu 1 (%)
Cơ cấu 2 (%)
Cơ cấu 3 (%)
III Đất nuôi trồng thủy sản 81,94 0,40
IV ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP 1.849,26 9,11
2 Đất đồi núi chưa sử dụng 674,4 54,80
(Nguồn: Số liệu điều tra)
b) Hiện trang sử dụng đất của tiểu vùng II
Tiểu vùng II nằm ở phía Tây của huyện gồm; Thạch Tượng, Thạch
Trang 36Quảng, Thạch Cẩm, Thạch Sơn Tổng diện tích đất tự nhiên là 10.945,25 ha
Cơ cấu sử dụng đất được thể hiện tại bảng 3.4 cho thấy:
Bảng 3.4 Cơ cấu sử dụng đất của tiểu vùng II
(ha)
Cơ cấu 1 (%)
Cơ cấu 2 (%)
Cơ cấu 3 (%)
2 Đất đồi núi chưa sử dụng 588,82 63,0
3 Núi đá không có rừng cây 292,39 32,0
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Trang 37Trong tổng số 10.945,25 ha ở tiểu vùng II của huyện Thạch Thành cho thấy diện tích đất đưa vào sử dùng đạt 9.999,44ha chiếm 91,3% diện tích đất tự nhiên của vùng Như vậy diện tích đất chưa đưa vào sử dụng là 945,81 ha chiếm 8,7% Đáng chú ý nhất đối với diện tích chưa sử dụng của vùng II là có 46,6 ha đất bằng và 588,73 ha đất đồi núi chưa sử dụng chiếm 67,18 % quĩ đất chưa
sử dụng Qua điều tra cho thấy diện tích đất đồi chưa sử dụng có khoảng 285
ha là đất có tầng canh tác trên 80 cm và độ dốc 15-20% chiếm 48,4% diện tích đất đồi chưa sử dụng Diện tích 285 ha trên có thể cơ cấu vào phát triển diện tích Cao su của huyện
Trong số 9.999,44 ha đất vùng II đã đưa vào sử dụng có 3671,76 ha đất sản xuất nông nghiệp chiếm 35,54% tổng diện tích đất tự nhiên của vùng II, trong đó đất trồng cây hàng năm là 2890,3 ha chiếm 78,7% đất sản xuất nông nghiệp Đặc biệt đối với quĩ đất này có diện tích đất trồng cây lâu năm là 831,46 ha chiếm 22% diện tích đất nông nghiệp
Trong số 4884,24 ha đất lâm nghiệp chiếm 44,62% diện tích đất tự nhiên của vùng II, đất rừng sản xuất là 3.321,51 ha chiếm 68% diện tích đất lâm nghiệp, rừng phòng hộ có diện tích là 1.562,72 chiếm 32% diện tích đất lâm nghiệp
c) Hiện trạng sử dụng đất của tiểu vùng III
Tiểu vùng III nằm phía Bắc của huyện gồm; TT Vân Du, Thành Tâm, Ngọc Trạo, Thành An, Thành Thọ, Thành Tiến, Thành Long Qua điều tra nghiên cứu, kết quả phân tích hiện trạng sử dụng đất của toàn vùng được thể hiện tại bẳng 3.5 cho thấy:
Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn vùng là 10.302,19 ha trong đó đất sản xuất nông nghiệp có 3.938,64 ha chiếm 38,3% tổng diện tích đất tự nhiên Đất lâm nghiệp là 4.450,39 ha chiếm 43,28% tổng diện tích đất tự, và điều đáng quan tâm nhất của tiểu vùng này đối với đất lâm nghiệp là đất rừng sản
Trang 38xuất tương đối lớn 3.410,59 ha chiếm 54,16% đất lâm nghiệp Qua điều tra nghiên cứu thực trạng của tiểu vùng III chúng tôi nhận thấy diện tích rừng sản xuất vùng này có hiệu quả kinh tế rất thấp, cây trồng chủ yếu trên qũi đất này
là cây Keo lá tràm và trồng theo tập quán tự phát, không chú trọng đầu tư, mật
độ không đảm bảo, độ dốc của đất từ 10-15%, đất có thành phần lý tính tốt phù hợp với các cây trồng công nghiệp dài ngày như cây Cao su Vì vậy đây
có thể coi là quĩ đất thuận lợi cho việc chuyển đổi đất đồi rừng sản xuất kém hiệu quả sang phát triển diện tích Cao su tiểu điền
Bảng 3.5 Cơ cấu sử dụng đất của tiểu vùng III
ST
(ha)
Cơ cấu 1 (%)
Cơ cấu 2 (%)
Cơ cấu 3 (%)
TỔNG DT ĐẤT TỰ NHIÊN 10.302,19
I Đất sản xuất nông nghiệp 3.938,64 38,30
1 Đất trồng cây hàng năm 2.835,79 71,99
III Đất nuôi trồng thủy sản 80,85 0,78
IV Đất phi nông nghiệp 1.729,82 16,82
(Nguồn: Số liệu điều tra)