TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP NGUYỄN THU HIỀN KHÓA LUẬNTỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SỮA VÀ CHẤT LƯỢNG SỮA CỦA ĐÀN BÒ SINH SẢN NUÔI TẠI TRANG TRẠI BÕ SỮA SỐ 1 THỊ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP
NGUYỄN THU HIỀN
KHÓA LUẬNTỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SỮA VÀ CHẤT LƯỢNG SỮA CỦA ĐÀN BÒ SINH SẢN NUÔI TẠI TRANG TRẠI BÕ SỮA
SỐ 1 THỊ TRẤN THỐNG NHẤT,YÊN ĐỊNH, THANH HÓA
Ngành:Chăn nuôi - Thú y
Mã ngành:28.06.21
THANH HÓA, NĂM 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP
KHÓA LUẬNTỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SỮA VÀ CHẤT LƯỢNG SỮA CỦA ĐÀN BÕ SINH SẢN NUÔI TẠI TRANG TRẠI BÕ SỮA SỐ 1
THỊ TRẤN THỐNG NHẤT, YÊN ĐỊNH, THANH HÓA
Người thực hiện:Nguyễn Thu Hiền
Lớp:K18 - Đại học Chăn nuôi- Thú y
Khóa:2015-2019
Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Hải
THANH HÓA,NĂM 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Báo cáo tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong bộ môn khoa học Vật nuôi, khoa Nông LâmNgư nghiệp, trường Đại học Hồng Đức, các
cô, chú, anh, chị tại cơ sở thực tập, gia đình và bạn bè
Nhân dịp này tôixin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo bộ môn Khoa học vật nuôi, khoa Nông Lâm Ngư nghiệp, trường Đại Học Hồng Đức Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các cô, chú, các anh, chị công tác trong trang trại bò sữa Thanh Hóađã giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành Báo cáo tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới giảng viên trực tiếp hướng dẫn Báo cáo tốt nghiệp cho tôi là Ths Nguyễn Thị Hải, cô đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành Báo cáo tốt nghiệp này
Và tôi cũng xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên tôi trong quá trình thực tập
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thu Hiền
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢN SỐ LIỆU iv
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu cần đạt 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1.Cơ sở lí luận về quá trình tạo sữa của bò sữa 3
2.1.1.1.Đặc điểm hình thái và cấu tạo của bầu vú và tuyến sữa 3
2.1.1.3 Sự thoái hóa của tuyến sữa 8
2.1.1.4 Quá trình hình thành sữa 9
2.1.2 Sinh lý tiết sữa 12
2.1.2.1 Chu kì tiết sữa 12
2,1,2,2 Phản xạ thải sữa 12
2.1.2.3 Sữa sót 14
2.1.3 Thành phần và đặc tính của sữa 14
2.1.3.1 Khái niệm về sữa 14
2.1.3.2 Thành phần của sữa 15
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 16
2.2.1.Tình hình nghiên cứu chăn nuôi bò sữa ngoài nước 16
2.2.2 Tình hình nghiên cứu chăn nuôi bò sữa trong nước 17
2.2.3 Tình hình chăn nuôi của cơ sở thực tập 19
2.2.3.1 Điều kiện tự nhiên 19
Trang 52.2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 19
2.2.4 Những thuận lợi và khó khăn 20
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Thời gian, địa điểm 22
3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22
3.4.2.1 Thông tin sơ cấp 22
3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi, phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 22
3.4.3.1 Các chỉ tiêu theo dõi 22
3.4.3.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 23
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 23
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
4.1 Chu kì thực tế và sản lượng sữa trên 1 chu kì 24
4.2 Sản lượng sữa theo tháng của chu kì 25
4.3 Chất lượng sữa 29
PHẦN 5: KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ 32
5.1 Kết luận 32
5.2 Đề nghị 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
Trang 6DANH MỤC BẢN SỐ LIỆU
Bảng 4.1 Chu kì thực tế và sản lƣợng sữa trên 1 chu kì 24
Bảng 4.2 Sản lƣợng sữa theo tháng của chu kì 27
Bảng 4.3.Chất lƣợng sữa 30
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Chu kì thực tế 26
Biểu đồ 4.2 Sản lƣợng sữa trên 1 chu kì 25
Biểu đồ 4.3: Sản lƣợng sữa theo tháng của chu kì 28
Biểu đồ 4.4: Chất lƣợng sữa 31
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, với chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước, đất nước ta đang trên đà phát triển mạnh, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao, nhu cầu về thực phẩm tăng nhanh, tăng mạnh cả về chất lượng và số lượng trong đó có nhu cầu về sữa.Trước thực tế đó, cùng với sử dụng lợi thế sẵn có của ngành chăn nuôi nước ta là: khai thác tối ưu nguồn thức ăn, bãi chăn cũng như nguồn phụ phẩm công-nông nghiệp Chúng ta cần đẩy mạnh phát triển ngành chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi bò sữa để đáp ứng nhu cầu về sữa
Chăn nuôi bò sữa là ngành sản suất hàng hóa mang lại nhiều lợi thế như tận dụng được đồng bằng, bãi chăn thả thự nhiên, tận dụng được nguồn phế phụ phẩm từ nông nghiệp và công nghiệp chế biến như rơm, rạ, bã bia là những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và giá trị hàng hóa cao là sữa đồng thời chăn nuôi bò sữa còn giúp giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa của nước ta, chưa thích hợp với một số giống bò có nguồn gốc ôn đới Đồng thời phương thức chăn nuôi thường phân tán ở các nông hộ và các trại nhỏ với điều kiện nuôi dưỡng khác nhau, do đó thường dẫn đến các chỉ tiêu sinh sản không ổn định như: tuổi động dục lần đầu cao, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ dài,… Trước tình hình trên, đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ cấp thiết là phải làm thế nào để tăng khả năng sản xuất sữa của đàn bò cũng như tăng hiệu quả về kinh tế, phát huy vốn tiềm năng sinh học của đàn bò sữa, tăng nhanh, tăng mạnh về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu về sản xuất và tiêu dùng
Để góp phần giả quyết những yêu cầu trên và đánh giá được thực trạng đàn bò sữa, từ đó có thể đưa ra một số biện pháp nhằm cải thiện khả năng sinh
sản của đàn bò sữa, tôi tiến hành thực hiện đề tài:“Đánh giá năng suất và chất lượng sữa của đàn bò sinh sản nuôi tại trang trại bò sữa số 1 – Thị Trấn Thống Nhất – Yên Định - Thanh Hóa”
Trang 91.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
Đánh giá năng suất và chất lượng sữa của đàn bò sinh sản tại trang trại bò sữa Thống Nhất – Yên Định – Thanh Hóa
1.2.2 Yêu cầu cần đạt
Xác định được các chỉ tiêu năng suất chất lượng sữa của đàn bò sữa
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Số liệu nghiên cứu là cơ sở bổ sung vào tài liệu tham khảo về năng suất sữa của bò sữa nuôi tại Thanh Hóa, đồng thời làm tài liệu nghiên cứu khoa học của sinh viên chuyên ngành chăn nuôi thú y
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua kết quả nghiên cứu về năng suất sữa của đàn bò sữa từ đó làm cơ sở
để ngành chăn nuôi bò sữa trên cả nước nói chung và các trang trại chăn nuôi bò sữa tại Thanh Hóa nói riêng có biện pháp, kế hoạch nhằm cải thiện khả năng sản xuất của đàn bò sữa từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế
Trang 10PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1.Cơ sở lí luận về quá trình tạo sữa của bò sữa
2.1.1.1.Đặc điểm hình thái và cấu tạo của bầu vú và tuyến sữa
2.1.1.1.1 Tuyến sữa
Tuyến sữa (tuyến vú) là cơ quan sản xuất của bò sữa Tham gia vào cấu tạo tuyến sữa có các mô tuyến và mô liên kết, ngoài ra còn có hệ cơ, mạch quản, lâm ba và thần kinh
* Mô tuyến
Mô tuyến gồm 2 phần chính là hệ thống tuyến bào và hệ thống ống dẫn Đó
là cơ quan tạo sữa duy nhất ở bò Sự phát triển của tuyến có liên quan trực tiếp đến năng suất sữa
- Hệ thống tuyến bào
Tuyến bào (nang tuyến, mô tuyến) là đơn vị chế tiết chủ yếu của tuyến sữa Tuyến bào có số lượng rất lớn, tuyến bào có dạng khối cầu, mặt trong được bao phủ bởi các tếbào biểu mô tuyến (tế bào tiết sữa) Đó là tập hợp một tầng thế bào thượng bì đơn, hình dạng tế bào thay đổi theo chu kì phân tiết sữa Khi phân tiết mạnh, trong tế bào tích trữ nhiều dịch phân tiết Tế bào có hướng hình trụ cao, đầu nhỏ hướng vào xoang tuyến bào Tế bào tuyến chứa nhiều hạt mỡ và protein
có kích thước khác nhau Khi không phân tiết tế bào biểu mô tuyến thu hẹp lại.Chính giữa mỗi tuyến bào có một xoang, gọi là xoang tiết Xoang này ăn thông với ống dẫn sữa nhỏ Trong bầu vú, tuyến bào hợp lại với nhau thành từng chùm người ta gọi là chùm tuyến bào hoặc tiểu thùy Mỗi một phần tư bầu vú được tập hợp bởi nhiều chùm tuyến bào và biệt lập với nhau bởi ngăn màng treo giữa các
mô liên kết khác, (Phùng Quốc Quảng và Nguyễn Xuân Trạch, 2002) [1]
Trang 11Bể sữa được phân ra làm haiphần phần trên gọi là bể tuyến, phần dưới gọi
là bể đầu vú Cuối cùng của núm vú có cơ thắt đầu núm vú,cơ này ngăn cho sữa không tự chảy ra ngoài, (Phùng Quốc Quảng và Nguyễn Xuân Trạch, 2002) [1]
- Mô liên kết mỏng: Đây là lớp mô mỏng nằm ở phần nông khắp bề mặt da
- Mô liên kết dày: Lớp mô này nằm sâu bên trong lớp mô lên kết mỏng, gắn với phần da và tuyến thể bằng sự tạo thành một lớp liên kết đàn hồi
-Màng treo bên nông: Lớp mô liên kết này bắt nguồn từ khung chậu chải rộng xuống phía dưới bao phủ và nâng đỡ phần bên dưới tuyến thể
- Màng treo bên sâu: Bắt đầu từ khung chậu đi xuống phái dưới và hỗ trợ
mô tuyến của bầu vú
- Màng treo giữa: Là màng treo kép, bắt đầu từ đường giữa của thành bụng chia đầu vú thành nữa trái nữa phải Màng này nâng đỡ phần giữa của vú chống lại lực kéo xuống, giữa bầu vú ở vị trí cân bằng nếu các cấu trúc phụ trợ khác bị tách rời
- Tổ chức liên kết đệm: Giữa các nâng tuyến có các tổ chức mỡ tổ chức này có 2 chức năng:
+ Có tác dụng đệm nhằm tránh xây xát chó các nang tuyến khi bầu vú căng sữa và có kích thích cơ giới bên ngoài lên núm vú
+ Giữ cho tuần hoàn máu lưu thông trong thời kì căng sữa, (PhùngQuốc Quảng và Nguyễn Xuân Trạch, 2002) [1]
*Hệ cơ tuyến vú
Xung quanh các nang tuyến có cơ biểu mô khi cơ này co bóp, sữa được đẩy từ nang tuyến vào hệ thống ống dẫn để đổ vào bể sữa Xung quanh các ống dẫn sữa lớn và bể sữa có hệ thống cơ trơn Xung quanh đầu vú có các hệ cơ vòng gọi là cơ thắt đầu vú Khi cơ biểu mô co bóp thì cơ trơn giãn và cơ thắt đầu
Trang 12vú co lại, khi cơ trơn co thì cơ thắt đầu ví giãn ra và sữa được đẩy ra ngoài thành tia, (Phùng Quốc Quảng và Nguyễn Xuân Trạch, 2002) [1]
* Mạch máu
- Hệ thống động mạch Hầu hết mạch máu cung cấp cho đầu vú do đôi động mạch âm ngoài.Động mạch đi từ khoang bụng, thông qua rãnh bẹn, chui qua ống bẹn,quanh co uốn khúc làm cho tốc độ dòng chảy của máu chậm lại Động mạch tuyến sữa phân thành 2 nhánh lớn là động mạch tuyến sữa trước và động mạch tuyến sữa sau, một phân nhánh nhỏ động mạch dưới da bụng bắt nguồn từ động mạch tuyến sữa trước cung cấp máu cho phần trước tuyến sữa
Động mạch đáy chậu bắt nguồn từ trong xương chậu cung cấp máu cho phần rất nhỏ phía sau bầu vú
- Tĩnh mạch tuyến sữa
Tĩnh mách tuyến sữa từ 2 nữa sau của bầu vú thu thập máu vào tĩnh mạch tuyến sữa sau.Hai tĩnh mạch tuyến sữa sau thông với nhau trên bề mặt của tuyến thể tĩnh mạch đáy chậu cũng thu nhận máu từ phần sau tuyến sữa và phần sau của cơ thể và sau đó đổ vào tĩnh mạch sửa sau Như vậy, máu ở tĩnh mạch sau tuyến sữa đi ra không thể hiện đúng bản chất của máu đi ra từ tuyến sữa Tĩnh mạch tuyến sữa trước được tạo thành bằng thu nhận máu của phần trước bầu sữa Các tĩnh mạch tuyến sữa trước và sau được thông với nhau bằng tĩnh mạch nối có kết cấu van, những van này hoạt động linh động, cho nên máu có thể chảy theo bất cứ chiều nào tùy thuộc vào vị trí của gia súc, (Phùng Quốc Quảng và Nguyễn Xuân Trạch, 2002) [1]
* Hệ thống lâm ba
Hệ thống lâm ba trong tuyến sữa có chức năng vận chuyển dịch thể dịch lam ba từ bề mặt tế bào đến hạch lâm ba và trả lại dịch thể đến tuần hoàn tĩnh mạch Một chiếc van ở trước ngực ngăn chặn máu chảy vào hệ thống lâm ba Hệ thống van trong mạch lâm ba đảm bảo cho dịch lâm ba chảy theo dòng chảy tĩnh mạch Hạch lâm ba lọc dịch thể theo cách loại trừ vật lạ và sản sinh lâm ba cầu.Mỗi nữa của bầu vú có một hạch lâm ba lớn năm ngay sau ống bẹn và nhiều hạch lâm ba nhỏ hơn năm rải rác trong tuyến sữa.Bạch huyết sau khi chảy qua
Trang 13hạch lâm ba lớp, chúng rời khỏi bầu vú bằng một hoặc hai hạch lâm ba và sau
đó theo ống bẹn hòa cùng với hạch lâm ba khác, (Phùng Quốc Quảng và Nguyễn Xuân Trạch, 2002) [1]
2.1.1.1.2 Bầu vú
Bầu vú của bò gồm 4 vú gắn liền với nhau:bốn vú này tương đối đọc lập với nhau.Nhìn bên ngoài đầu vú từ phía đằng sauta thấy 1 rãnh chia bầu vú thành 2 nữa và mỗi nữa được tạo thành từ 2 khoang gọi là khoang trước và khoang sau( vú trước và vú sau)
- Giữa các khoang vú có các vách ngăn bằng mô liên kết Các vách ngăn chạy theo chiều dọc và chiều ngang làm cho các khoang độc lập với nhau Như vậy có thế một khoang vú này sản sinh ra một lượng sữa lớn hơn các khoang kia, hoặc một trong các khoang bị nhiễm khuẩn mà các khoang khác không bị ảnh hưởng nhiều
* Một bầu vú bò lí tưởng có đặc điểm sau:
- Bầu vú phát triển hình bát úp, rộng và sâu, bốn khoang vú có thể tiết gần bằng nhau
- Các núm vú thẳng đứng có độ dài trung bình, tách biệt nhau rõ ràng với khoảng cách giữa các núm vú trước lớn hơn một chút so với khoảng cách giữa các núm vú sau
- Các dây chằng nâng đỡ bầu vú vững chắc bầu vú không bị chảy sâu quá tránh cho các núm vú lê quệt trên mặt đất và bị tổn thương
- Trên bề mặt bầu vú thấy nhiều tĩnh mạch và các tĩnh mạch này nỗi rõ
- Bên trong phải chứa nhiều mô tuyến
Một bầu vú chứa ít mô tuyến và chứa nhiều mô liên kết thì mặc dù thể tích lớn nhưng không phải bầu vú lí tưởng để sản xuất sữa Người ta có thể phân biệt dễ dàng một bầu vú nhiều mô tuyến với một bầu vú nhiều mô liên kết, sau khi vắt sữa một bầu vú nhiều mô tuyến thì rỗng, mềm, còn bầu vú nhiều mô liên kết thì cứng, vẫn tiếp tục cho hình dạng một bầu vú đầy sữa, ngay cả sau khi ta
đã vắt kiệt Như vậy cần phải nắn bầu vú trước và sau khi vắt sữa để đánh giá cấu trúc của nó Có thể sử dụng một phương pháp khác, ấn một hay nhiều ngón
Trang 14tay lên đầu vú nếu như dấu ấn của ngón tay chậm mất đi chứng tỏ đầu vú có nhiều mô tuyến Trong trường hợp bầu vú nhiều mô liên kết thì dấu ấn ngón ty nhanh chóng mất đi, hoặc không để lại dấu ấn và có cảm giác cứng khi ấn ngón tay, (Phùng Quốc Quảng và Nguyễn Xuân Trạch, 2002) [1]
2.1.1.2 Sự hình thành và phát triển của tuyến vú
a) Giai đoạn bào thai
Tuyến sữa được hình thành ngay trong những tháng đầu của thai Mầm tuyến sữa suất hiện khi thai của bò khoảng 2 tháng sau đó mầm tuyến kéo dài hình thành mầm sơ cấp.Sự tạo kênh bắt đầu từ mầm sơ cấp, do sự sắp xếp tế bào
ở vùng xích đạo và sự tách dời giữa chúng tạo ra khoảng trống đó là tiền thân bể tuyến và vùng nhỏ là tiền thân của bể đầu vú Ở đầu của mầm sơ cấp có sự phân kênh hình thành mầm tuyến thứ cấp, đó là tiền thân của hệ thống dẫn sữa
Sự tạo thành núm đầu vú bắt đầu khi bào thai khoảng 2 tháng, khi bào thai khoảng 3 tháng tuổi sự phân kênh không phát triển khi đến khi sơ sinh Không
có sự phân biệt về hình thành tuyến sữa theo giới tính đực, cái, (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2006) [2]
b) Giai đoạn ngoài thai
- Từ sơ sinh đến thành thục về tính:
Sau sơ sinh sự phát triển của tuyến sữa và thể trọng có tốc độ tương tự nhau, Tình trạng đó kéo dài cho đến thành thục về tính Trong giai đoạn gần thành thục về tính sự sinh trưởng và phát triển của tuyến sữa chịu ảnh hưởng của hoocmon.Sự phát triển của nang trứng kéo theo sự tăng tiết estrogen, hoomon này kích thích sự phát triển của hệ thống ống dẫn sữa Cùng với sự phát triển của tuyến thể, các mô liên kết, mô mỡ cũng được phát triển với tốc độ tương đương Ở giai đoạn 2-3 tháng tuổi,kích thước của mầm tuyến có thể là dấu hiệu
để lựa chọn bê cái hướng sữa
- Từ động dục lần đầu đến thụ thai lần đầu:
Các kích tố buồng trứng như estrogen và progesteson được phân tiết vào máu.Estrogen kích thích sự sinh trưởng của hệ thống ống dẫn sữa còn
Trang 15progesteson khích thích sự phát triển của tuyến bào Dưới tác dụng của các kích
tố này, tốc độ phát triển của tuyến sữa biểu hiện nhanh chóng Tuyến bào xuất hiện và biến mất ở mỗi chu kì sinh dục Sự biến mất của mỗi tế bào nhường chỗ cho sự phân nhánh của ống dẫn sữa Quá trình như vậy lập đi lập lại qua các chu
kì sinh dục tạo nên sự phát triển hoàn thiện của tuyến thể Song song với quá trình trên là sự sinh trưởng các mô liên kết tạo giá đỡ cho mô tuyến và sự tích lũy các mô mỡ
- Giai đoạn mang thai:
Từ 8-10tháng tuổi tuyến sữa của bê đã phát triển đến mức độ hoàn thiện
và có khả năng sinh sữa nhưng nói chung người ta không phối giống trước khi
bê nghé đạt khoảng 70% cơ thể trưởng thành Ở giai đoạn mang thai dưới tác động của estrogen và progesteron hệ thống ông dẫn và tuyến bào đềuphát triển mạnh.Tuy nhiên giai đoạn đầu mang thai hệ thống ông dẫn phát triển mạnh, còn tuyến bào ở giai đoạn đó phát triển chậm sau đó tuyến bào phát triển nhanh dần theo sự tiến triển của thai Trước khi đẻ 2-3 ngày tuyến sữa đã tích lũy sữa đầu
- Giai đoạn sau khi đẻ
Ở trâu bò, tuyến sữa đã phát triển đầy đủ trong giai đoạn mang thai, không thể tiếp tục phát triển sau khi đẻ Song trong thực tiễn sản lượng sữa tăng dần và đạt đến ổn định, duy trì năng suất cao ở 6-8 tuần sau khi đẻ sau đó năng suất giảm dần xuống Hiện tượng đó là do dung lượng phân tiết của tuyến bào tăng lên Sau một thời gian duy trì cường độ phân tiết cao, tuyến sữa suất hiện quá trình thoái hóa, (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2006) [2]
2.1.1.3 Sự thoái hóa của tuyến sữa
Trong một chu kì tiết sữa năng suất sữa có xu hướng tăng lên và duy trì mức độ cao, ở tháng cho sữa thứ 2-3 hoặc tháng thứ 4 sau đó dần dần giảm xuống Hiện tượng đó là do sự giảm thấp số lượng tế bào tuyến, kèm theo sự giảm thấp chức năng của mỗi tế bào.Hiện tượng sinh lý bình thường này diễn ra theo sự tiến triển của chu kì cho sữa gọi là sự thoái hóa tiến sữa
Có 2 loại thoái hóa tuyến sữa, thoái hóa tự động và thoái hóa nhân tạo
* Sự thoái hóa tự động
Trang 16Sự thoái hóa tự động tuyến sữa xảy ra chậm và có tính chất tự nhiên Số lượng tế bào tuyến trong mỗi tuyến bào dần dần tiêu biến, sau đó tuyến bào biến mất thay vào đó là tổ chức mô liên kết Song song với quá trình trên, chiều cao của mỗi tế bào tuyến giảm thấp gây nên sự thu hẹp kích thước của tế bào và toàn
bộ tuyến sữa Kết quả cuối cùng của sự thoái hóa là toàn bộ tuyến bào biến mất, nhưng vẫn tồn tại hệ thống ống dẫn trong tuyến sữa Điều này có ý nghĩa quan trọng cho sự tái tạo lai chu kì cho sữa tiếp theo Cùng với sự thoái hóa tuyến bào, số lượng các men cần cho sự tạo sữa cũng có xu hướng giảm hoạt lực Do vậy, sự tạo sữa giảm thấp theo sự tiến triển của chu kì sữa, (Nguyễn Xuân Trạch
và cs, 2006) [2]
* Sự thoái hóa nhân tạo
Sự thoái hóa theo kiểu này mang tính chất cưỡng bức, khi sữa ứ đọng trong tuyến sữa áp suất nội trong tuyến bào tăng, làm cho tuyến bào tăng lên Cuối cùng tế bào vỡ ra, sữa trào ra ngoài bề mặt tuyến bào và chảy vào vi quản tuyến bào Các thành phần sữa trở thành những vật lạ và là đối tượng sinh lý của lâm ba cầu, (Nguyễn Xuân Trạch và Cs, 2006) [2]
2.1.1.4 Quá trình hình thành sữa
2.1.1.4.1 Sự tạo sữa
Sự tạo sữa là quá trình sinh lý tích cực và phức tạp diễn ra trong tế bào tuyến Sữa được tổng hợp từ các nguyên liệutrong máu, để sản ra 1 lít sữa, bình quân có có khoảng 540 lít máu tuần hoàn qua vú Thông thường tuyến vú chỉ chiếm 2-3% thể trọng, nhưng trong một năm nó thải một lượng vật chất khô qua sữa lớn gấp 3-4 lần so với khối lượng chất khô trong cơ thể Trong các thành phần của sữa một số được tổng hợp ngay trong tuyến bào, nhưng một số được vận chuyển nguyên dạng trực tiếp vào máu.Các thành phần của sữa được tổng hợp từ trong túi lưới nội chất (endoplasmic reticulum), với sự tham gia của thể ribozom Năng lượng cho lưới nội chất do mitochondria cung cấp Sau khi được tổng hợp, các thành phần này được chuyển dọc theo máy Golgi, qua nguyên sinh chất và màng đỉnh của tế bào biểu mô và sau đó được máy Golgi đổ vào xoang tiết dưới dạng “ bọng túi”, (Nguyễn Xuân Trạch và Cs, 2006) [2]
Trang 17a) Sinh tổng hợp protein sữa
Có 3 nhóm protein chủ yếu trong sữa là cazein, albumim và globulin Sự tổng hợp 3 loại protein này có những đắc trưng riêng
- Cazein: Cazein là thành phần protein chủ yếu và đặc thù của sữa thường, không có trong tự nhiên Cơ thể tổng hợp cazein ở tuyến sữa diễn ra theo nguyên lý chung của sự tổng hợp các protein mô bào Trong quá trình sinh tổng hợp cazein, tuyến sữa đã sử dụng hầu hết các axit amin cần thiếu và một phần các axit amin có thể thay thế được trong máu Tuyến bào cũng có khả năng sinh tổng hợp các axit amincos thể thay thế từ các sản phẩm trao đổi chất trong cơ thể sống do sự có mặt của alaminoza và transaminaza
- Albumin: Albumin thường có rất nhiều trong sữa đầu và vậy sữa đầu thường dễ đông đặc hơn khi xử lý ở nhiệt độ 80 độ Albumin trong sữa có 2 nguồn gốc Tuyến sữa đã sử dụng các axit amin có trong máu để tổng hợp một phần các albumin sữa Phần còn lại do albumin từ máu chuyển vào tuyến sữa theo cơ chế thẩm thấu chủ động,vì vậy cấu trúc albumin sữa tương tự albumin máu
- Globulin: Nhiều nghiên cứu cho thấy globulin trong sữa hầu như xuất thân từ máu do cơ chế thẩm thấu chủ động ngược gradient nồng độ Tính chất kháng thể của globulin phụ thuộc vào nguồn bệnh mà bản thân bò mẹ tiếp xúc trong thời gian mang thai, globulin chủ yếu có trong sữa đầu.Trong giai đoạn sơ sinh sức đề kháng của bê phụ thuộc vào hàm lượng của chất này trong sữa đầu, (Nguyễn Xuân Trạch và Cs, 2006) [2]
b) Sinh tổng hợp đường lactoza trong sữa
Lactoza là loại đương đặc trưng của sữa Chúng được tạo thành từ glucoza
và galactoza Glucoza trong máu bò ổn định khoảng 50-60 mg%, đóng vai trò quan trọng trong sự tổng hợp đường lactoza của sữa Nó không chỉ là thành phần của lactoza mà còn cung cấp năng lượng trong các phản ứng sinh tổng hợp, đồng thời là nguồn gốc của galactoza
Lactoza được tạo thành trong tuyến sữa từ D-glucoza và UDP-galactoza dưới sự tham gia của các enzym Đầu tiên protein A (galactosyl transferaza)
Trang 18trong tuyến sữa xúc tiến phản ứng giữa UDP-galactoza và các nhân tố nhận khác nhau, đặc biệt là N-acetyl- D-glucosamin tạo thành N-acetylllactosamin và UDP Protein A có hoạt lực thấp với D-glucoza như là chất nhận nên mặc dù protein A có thể trực tiếp chuyển UDP-galactoza đến với D-glucoza để tạo thành lactoza, nhưng phản ứng diễn ra chậm chạp Sau đó nhờ sự có mặt của protein B (γ-lactoza-syntheaza) ở tuyến sữa, hai loại men này phối hợp với nhau đã làm giảm đáng kể tác động của protein A đối với D-glucoza Do vậy tốc độ phản ứng sinh tổng hợp lactoza trở nên nhanh chóng đáp ứng số lượng lớn đường lactoza
trong sữa cho bò cái cao sản
c) Sinh tổng mỡ sữa
Mô sữa được tạo thành trong tuyến sữa là kết hợp của glyxerin và axit béo Nguồn gốc của glyxerin do sự thủy phân mỡ trong máu và sự hoạt động tổng hợp của tuyến sữa từ các sản phẩm của quá trình oxy hóa glucoza Có khoảng 25% tổng số axit ủa sữa bắt nguồn từ axit béo của thức ăn, 50% mỡ sữa bắt nguồn từ mỡ sữa của huyết tương, những axit này chủ yếu là axit béo mạch dài C8-C22, phần còn lại là các axit mạch ngắn C4-C14 được sử dụng tổng hợp
mỡ sữa, axit axetic và butyric sản sinh ra trong quá trình lên men ở dạ cỏ được
sử dụng tổng hợp axit béo của mỡ trong sữa, trong đó axit axetic đóng vai trò rất quan trọng Khác với động vật dạ dày đơn, đường glucoza không được sử dụng
để tổng hợp axit béo ở gia súc nhai lại Mặt khác, trong dạ dày cỏ có diễn ra quá trình hydro hóa, làm bão hòa các mạch nối đôi của các axit béo không no mạch dài có trong thức ăn (C18:2, C18:3 hoặc C20:40) Do vậy, trong mỡ sữa thường thiếu các loại axit béo này, (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2006)[2]
2.1.1.4.2 Nhu cầu dinh dương cho sản xuất sữa
Nhu cầu dinh dưỡng cho sản xuất sữa phụ thuộc vào tỷ lệ phần trăm mỡ sữa trong sữa đầu, theo hệ thống sô liệu của Đức, Hà Lan, Na Uy thì để tạo ra 1kg sữa tiêu chuẩn cần có 740kcal tương đương 740/1700=044 UFL và cần có
31 gram protein Vì hiệu quả sử dụng protein là 64% nên nhu cầu protein cung cấp để tạo ra 1kg sữa tiêu chuẩn (4% mỡ sữa) là: 31/0,64=48 gam
Nhu cầu Ca và P cho tiết sữa là 4,2 gam và 1,7 gam cho 1kg sữa tiêu chuẩn (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2000)[3]
Trang 192.1.2 Sinh lý tiết sữa
2.1.2.1 Chu kì tiết sữa
Khác với các tuyến khác trong cơ thể chức năng tiết sữa của tuyến vú không liên tục mà mang tính giai đoạn Sau khi đẻ tuyến sữa bắt đầu tiết và liên tục cho đến khi cạn sữa Giai đoạn tiết sữa như vậy gọi là chu kì tiết sữa Tiếp sau đó, tuyến sữa ngừng hoạt động trong một thời gian ngắn để chuẩn bị cho chu
kì tiếp theo Thời gian ngừng tiết sữa cho đến lứa đẻ sau là giai đoạn cạn sữa Những bò cái được nuôi dưỡng tốt trong giai đoạn vắt sữa thì chu kì tiết sữa kéo dài đến 300 ngày hoặc hơn và giai đoạn cạn sữa là 45-60 ngày
Trong mỗi một chu kì cho sữa, lượng sữa thu được trong một ngày đêm
có khác Sự biến đổi năng suất sữa hàng ngày trong chu kỳ tiết sữa phụ thuộc vào cá thể cũng như điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng Nhìn chung, sau khi đẻ lượng sữa trong một ngày đêm tăng lên và đạt cao nhất ở tháng thứ 2 hoặc thứ 3 sau đó giảm dần xuống Năng suất sữa đạt cực đại vào cuối khoảng 1\5 đầu tiên của chu kỳ tiết sữa Đối với bò có sức sản xuất cao, hệ số hụt sữa khoảng 5-6% tháng, còn ở bò có sức sản xuất trung bình là 9-12% tháng Khi có thai lượng sữa giảm nhanh, đặc biệt từ tháng thứ 5 trở đi Bò thường cho năng suất sữa lớn nhất vào chu kỳ tiết sữa thứ 3 Bỏ để lứa 1 chỉ cho năng suất sữa bằng khoảng 75% năng suất sữa của bò cái trưởng thành Lứa thứ 2 có năng suất sữa bằng khoảng 85% năng suất sữa của chu kỳ thứ 3, (Phùng Quốc Quảng và Nguyễn Xuân Trạch, 2002) [1]
Theo Nguyễn Văn Thưởng (1995)[4] sản lượng sữa đạt cao nhất ở tháng thứ hai hoặc thứ ba sau đó giảm dần, mức độ giảm từ từ hay giảm nhanh còn phụ thuộc vào giống, đặc điểm cá thể vật nuôi và nuôi dưỡng Ở những bò có sản lượng sữa cao đường cong tiết sữa giảm từ từ và đều hơn
2.1.2.2 Phản xạ thải sữa
Sữa được bài xuất ra ngoài khi bê nghé bú hay vắt sữa theo cơ chế phản xạ Phản xạ tiết sữa được tiến hành theo 2 pha: pha thần kinh và pha thần kinh-thể dịch
a) Pha thần kinh
Trang 20Cung phản xạ trong pha thứ nhất bắt đầu từ thụ quan của vú theo thần kinh truyền vào đến rễ lưng và rễ bên tủy sống, lên đến hành não, theo đường truyền vào dến vùng nhân trên thị của vùng dưới đồi và tiếp tục lên vỏ đại não Sợi truyền bắt đầu từ nhân trên thị, sợi này trong thành phần của bó trên thị tuyến yên đến thùy thần kinh của tuyến yên Đáp ứng của thùy này đới với sự kích thích bú hoặc vắt sữa là thải oxytoxin vào máu Mặt khác, từ tủy sống thần kinh vùng hông truyền xung động theo đường truyền ra, thuộc thần kinh giao cảm của tuyến vú Thần kinh truyền ra có ảnh hưởng trực tiếp đối với cơ trơn ống dẫn, bể sữa và ống đầu vú Pha thứ nhất có thời kỳ tiềm phục ngắn (1 – 4 giây)
b Pha thần kinh – thể dịch
Pha này có liên quan đến hoạt động của hóc-môn oxytoxin Oxytoxin được hình thành ở hypothalamus và được tích trữ ở thùy sau tuyến yên Oxytoxin được phóng thích ra chỉ khi được kích thích vào thời gian vắt sữa Những tín hiệu lặp lại có tính chu kỳ như tiếng động của máy vắt sữa, tác động xoa bóp bầu vú sẽ được truyền vào hypothalamus Sự hưng phấn này được lan tỏa xuống tuyến yên, gây phân tiết oxytoxin Oxytoxin có tác dụng làm co bóp
cơ biểu mô của tuyến bào đẩy sữa vào bể chứa Hoạt động của hóc-môn này kéo dài khoảng 6 phút, mà thời điểm từ khi tiếp nhận thần kinh cho đến khi hocmon tới bầu vú (bắt đầu tác động lên tuyến vú) kéo dài mất khoảng 1 phút Như vậy, thời gian vắt sữa chỉ được giới hạn trong khoảng 5 phút Thời kỳ tiềm phục của pha thứ hai là 30-40 giây
Phản xạ thần kinh – hocmôntrong sự bài tiết sữa là phản xạ có điều kiện, Bởi vậy, việc duy trì các tín hiệu kích thích có điều kiện như người vắt, nơi viết, máy vắt, âm thanh có tác dụng tốt đối với việc gây phản xạ thải sữa, ngược lại, các tác nhân lạ có thể gây ức chế hoạt động của chúng gây trở ngại cho việc bài sữa, khi con vật bị các kích thích đau, khó chịu (bị đánh dập, xoa bóp đầu vú quá mạnh), tác nhân lạ xuất hiện như tiếng động cơ, người lạ xuất hiện, làm cho con vật sợ hãi,
sự phóng thích oxytoxin bị ức chế, tăng giải phóng adrenalin, gây co bóp thành cơ trơn ống dẫn, co tác động đến cơ biểu mô bào tuyến, nên sự cung cấp máu cho tuyến sữa bị hạn chế, Adrenalin còn làm cho sự mẫn cảm của biểu mô tuyến bào đối với oxytoxin giảm thấp, (Nguyễn Xuân Thạch và cs, 2006)[2]
Trang 212.1.2.3 Sữa sót
Lượng sữa còn lại trong tuyến sữa sau khi vắt sữa bình thường được gọi là sữa sót Thành phần của sữa sót gần tương tự như sữa thường, nhưng tỉ lệ mỡ sữa có cao hơn Sữa sót không thể vắt được trong điều kiện bình thường, nhưng chúng ta có thể thu được bằng việc tiêm cho động vật một lượng oxytoxin nhất định sau khi vắt sữa Lượng sữa sót ở bò bằng khoảng 15-20% dung lượng tuyến sữa, Ở trâu và ở dê tỉ lệ sữa sót thường thấp hơn nhiều Lượng sữa sót thường tăng lên theo tuổi của bò, có thể do tính đàn hồi của hệ cơ tuyến sữa kém dần Lượng sữa sót của giai đoạn sau của chu kì sữa thường cao hơn giai đoan đầu Tuy nhiên sự sai lệch thường không rõ rệt Tỉ lệ phần trăm sữa sót thay đổi phụ thuộc vào năng suất sữa Tỉ lệ này thường cao hơn ở bò cao sản so với bò thấp sản Những bò sữa năng suất không ổn định cũng có nhiều sữa sót hơn bò năng suất sữa ổn định, (Nguyễn Xuân Trạch và cs 2006)[2]
2.1.3 Thành phần và đặc tính của sữa
2.1.3.1 Khái niệm về sữa
Tại Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về gian lận thực phẩm tổ chức ở Giownevơ năm 1908, sữa được định nghĩa như sau:
Sữa là sản phẩm toàn vẹn của việc vắt sữa hoàn chỉnh, không ngừng của một gia súc cái cho sữa, trong trang thái sức khỏe tốt, nuôi dưỡng tốt và không mệt mỏi Sản phẩm cần được thu nhận một cách vệ sinh và không chứa sữa non (loại sữa vắt ra trong khoảng 5 ngày trước khi đẻ) hoặc sữa đầu (loại sữa vắt ra trong khoảng 7 ngày sau khi đẻ) Khi nói đến sữa mà không chỉ dẫn loài gia súc nào thì phải hiểu đó là sữa bò Đối với sữa từ một loài gia súc khác, ngoài bò cái
ra, cần nêu rõ thêm tên loài gia súc đó, ví dụ sữa dê, sữa trâu, (Phùng Quốc Quảng, 2001)[5]
Chu kì sản xuất sữa của bò sữa tương ứng với chu kì sinh sản của nó Chu
kì sản xuất của bò sữa được chia làm 3 giai đoạn giai: đoạn sinh đẻ, giai đoạn tiết sữa, giai đoạn cạn sữa Giữa ba giai đoạn này có mối liên quan mật thiết đến nhau, nuôi dưỡng bò sữa cần phân biệt theo từng giai đoạn của chu kì sản xuất
Trang 22Để đánh giá khả năng sản xuất sữa người ta thường tính toán năng suất sữa của một con bò hò hay trung bình toàn đàn Năng suất sữa là lượng sữa được sản xuất ra trong một ngày, một tuần, một tháng hay cho cả chu kì Để đánh giá khả năng sản xuất sữa của bò người ta thường dựa trên năng suất sữa ở các thời điểm này, (dẫn theo Trần Quang Hạnh, 2010)[6]
Để đánh giá chất lượng sữa người ta phân tích các thành phần dinh dưỡng trong sữa như vật chất khô, protein, mỡ
2.1.3.2.Thành phần của sữa
Thành phần chính của sữa bao gồm nước và vật chất khô Thành phần vật chất khô bao gồm mỡ sữa và vạt chất khô không mỡ sữa Trong thành phần vật chất khô của sữa người ta tìm thấy gần 100 chất bao gồm Lipid, đường lactoza, protein, vitamin, chất khoáng, enzyme, thể khí và đặc biệt có hàm lượng kháng thể đáng kể Sữa có giá trị dinh dưỡng đặc biệt vì trong sữa có chứa đầy đủ các acid amin không thay thế, acid béo, muối khoáng và một số nguyên tố vi lượng, chúng hòa tan ơ các mức độ khác nhau, (Chu Thị Thơm và cs,2006)[7]
Thành phần của sữa thay đổi nhanh chóng trong những ngày đầu tiên sau khi đẻ Sữa được tiết ran gay sau khi đẻ được gọi là sữa đầu, còn sữa tiết sau được gọi là sữa thường Sữa đầu và sữa thường có thành phần khác nhau nhiều
Thành phần các chất có trong sữa
- Nước
- Nước là thành phần chủ yếu của sữa chiếm 83-89% khối lượng sữa Nước cùng với các thành phần hòa tan trong nước tạo nên hệ thống keo ổn định của sữa Nước trong sữa tồn tại ở hai dạng là nước tự do và nước liên kết
+ Nước tự do chiếm 96-97% tổng lượng nước Nước có thể tách được trong quá trình cô đặc, sấy vì không có liên kết hóa học với chất khô Nước tự do có thể bị bốc hơi trong quá trình bảo quản phomat hoặc cũng có thể bị ngưng tụ ngay trên bề mặt
+ Nước liên kết chiếm một tỉ lệ nhỏ, khoảng 3-4% Hàm lượng nước liên kết phụ thuộc vào các thành phần nằm trong hệ keo như protein, các phophattit, polysacarit, Hàm lượng nước liên kết trong các sản phẩm sữa rất khác nhau.Ví
Trang 23dụ,trong sữa gầy có 2,13-2,59% nước liên kết, sữa đầu có 4,15% nước liên kết Nước liên kết đóng băng ở nhiệt độ nhỏ hơn 0 độ, không hòa tan trong muối, đường Dạng đặc biệt của nước liên kết là nước kết tinh với lactose dưới dạng C12H22O11H20, (Chu Thị Thơm và Cs, 2006)[7]
- Chất khô
Trừ nước ra chất khô của sữa bao gồm tất cả các thành phần của sữa Có thể xác định chất khô của sữa bằng phương pháp sấy đến trọng lượng không đổi hoặc công thức tính toán
- Lipid sữa
Lipid của sữa bao gồm chất béo, các phophatit, glicolipid, steroid Về mặt dinh dưỡng, chất béo có độ sinh năng lượng cao, có chứa các vitamin hòa tan trong chất béo (A,D,E), Có tới 98=99% chất béo của sữa là các phophatit, cholesterol, carotein, vitamin (A,D,E,K)
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1.Tình hình nghiên cứu chăn nuôi bò sữa ngoài nước
Hiện nay, trên thế giới có 1.500 triệu con Bò sữa nhưng được phân bố không đều giữa các châu lục Sự phân bố này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và địa lý tự nhiên của mỗi nước và tập trung chủ yếu ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu
úc Các nước có nền kinh tế kém phát triển ở Châu Phi và Châu á chủ yếu chăn nuôi bò hướng thịt và cày kéo
Trong những năm gần đây, một số nước đã chú trọng và có nhiều dự án để phát triển ngành chăn nuôi bò sữa, đặc biệt một số nước ở Châu á như Trung Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam Trong đó, có một số nước
đã thành công với tốc độ này như Trung Quốc, năm 2002 có 5.66 triệu con bò sữa, tổng sản lượng sữa sản xuất trong nước đạt 11,23 triệu tấn đáp ứng được 70-80% nhu cầu tiêu dùng trong nước Đài Loan đã tự sản xuất và đáp ứng được trên 70% nhu cầu về sữa Thái Lan đã sản xuất được 40% nhu cầu tiêu dùng sữa trong nước
Khác với các nước ở Châu Âu là khu vực có ngành chăn nuôi bò sữa và sản xuất sữa lâu đời, các nước Châu Á có 2 loại hình sản xuất sữa:
Trang 24+Loại hình 1: sản xuất sữa chủ yếu dựa trên sông (River Baffalo) và bò U (Bos Indicus) với yêu cầu đầu tư và kỹ thuật không cao, sữa tiêu thụ rộng rãi ở nông thôn và thành thị.Nhóm này chủ yếu gồm các nước ở Nam Á: Ấn Độ, Pakixtan,Bănglađet, Nepan, Xrilanca, là các nước có nghề sản xuất sữa truyền thống
+Loại hình 2: gồm các nước có nghề sản xuất sữa chưa phải là truyền thống, chỉ nuôi bò hạn chế ở 1 số vùng với giống bò có nguồn gốc từ Châu Âu
và Bắc Mỹ, đòi hỏi đầu tư và trình độ kỹ thuật cao, lao động lành nghề Nhóm này gồm các nước Thái Lan, Malaixia, Philipin, Indonexia,Việt Nam (Nguyễn Văn Thiện, 2000) [11]
Một trong những chỉ tiêu đánh giá sự phát triển ngành chăn nuôi trâu bò sữa nói chung và bò sữa nói riêng là khối lượng sữa tính trên đầu người Lượng sữa đạt trên 500kg/đầu người là Đan Mạch, Hà Lan, Pháp, Úc, Thụy Sĩ, Ba Lan
Từ 300-500kg sữa/đầu người là Nga, Đức, Canada, Nhật, Thụy Điển Các nước khác như: Trung Quốc, Ấn Độ, MeHiCo, Thổ Nhĩ Kỳ chỉ đạt 4-71kg sữa/đầu người (Lê Văn Ban, 1991)[17]
Nghiên cứu của Chamberlain (1992)[23] cho biết khi bò ôn đới chuyển đến vùng nhiệt đới tuổi đẻ lứa đầu thường muộn hơn và chịu ảnh hưởng của chế
độ nuôi dưỡng Singh và Cs (1986) nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất sữa của
bò lai ở Chotanagpur, Ấn Độ cho biết bò HF x Zebu (<50%HF) sản lượng sữa là 2888,8 kg thời gian cho sữa là 319,2 ngày, bò HF x Zebu (>50%HF) có sản lượng sữa là 3655,1 kg, thời gian cho sữa là 292,8 ngày
Hall (2007)[27] thông báo bò HF nuôi tại trang trại Crystal Brook, Canada
có hoạt động sinh sản lúc 9 – 10 tháng tuổi, phối giống lần đầu lúc 14 – 15 tháng tuổi, sản lượng sữa 12.500kg/chu kỳ Nghiên cứu của Mandalena (1990) cho biết ở châu Mỹ La Tinh, trong điều kiện quản lý, nuôi dưỡng kém, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ có khuynh hướng tăng dần theo tỷ lệ gia tăng máu HF trong con lai (từ 625 ngày lên trên 700 ngày)
2.2.2 Tình hình nghiên cứu chăn nuôi bò sữa trong nước
Với chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta về phát triển ngành chăn nuôi: " Chăn nuôi phải nhanh chóng trở thành ngành sản xuất chính nhằm
Trang 25cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng về thịt, trứng và tiến tới cung cấp sữa".Với mục tiêu đó, năm 1958 nước ta đã nhập bò lang trắng đen Bắc Kinh về nuôi thử tại Ba Vì (Hà Tây), SaPa(Lào Cai), Đồng Giao(Ninh Bình) Đến năm
1968 đã nhập tiếp bò lang trăng đen Bắc Kinh thích nghi nuôi ở Ba Vì Nhưng các đàn bò sữa này phát triển kém, tỷ lệ loại thải cao, năng suất sữa thấp Sau
đó, đàn bò được chuyển lên Mộc Châu(Sơn la), nơi có điều kiện khí hậu, thời tiết thích hợp hơn và đã thu được kết quả tốt hơn
Từ năm 1970-1978, nước ta đã nhập thêm 883 con bò sữa HF từ CuBa về nuôi thích nghi ở Mộc Châu Dưới sự hướng dẫn của chuyên gia CuBa và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mà đàn bò sữa gốc CuBa nuôi ở Mộc Châu
đã đạt tới 3900-4200kg/chu kỳ Năm 1977, chuyển 255 con từ Mộc Châu vào Lâm Đồng và một số nơi khác để nhân rộng nhưng do chưa được chú trọng nhiều nên ngành chăn nuôibò sữa ở nước ta phát triển còn chậm
Năm 2003, tổng đàn bò sữa cả nước có khoảng 80.000 con Và theo số liệu thống kê chăn nuôi bò sữa đến năm 2012, tổng đàn bò sữa trên cả nước là 166.989 con và có 98.372 con bò sữa cái đang cho sữa, lượng bò sữa ở Việt Nam chủ yếu đang được chăn nuôi tại các nông hộ (khoảng 120.000 con).Tính đến tháng 4/2014 tổng số bò sữa (theo số liệu thống kê 01/04/2014) là 200.400 con
Chăn nuôi bò sữa Việt Nam đang được đặt lên thành chiến lược phát triển ngành sữa của những năm tiếp theo trong chương trình ưu tiên phát triển Nông nghiệp giai đoạn 2010- 2020 Kế hoạch 2010 đạt 200.000 con với sản lượng sữa hàng hóa 230.000- 320.000 tấn và tự túc được 40% nhu cầu tiêu dùng trong nước Mục tiêu đến năm 2020 nâng tổng số đàn bò sữa lên 500.000 con Tổng đàn bò sữa hiện nay ước tính 102.000 con, trong đó bò HF chiếm tỷ lệ 15%, bò lai HF 83%, sản lượng sữa sản xuất 220.000 tấn (năm 2002 có 54.345 con đạt sản lượng 95.000 tấn) (Cương và cs, 2003) Để đạt được mục tiêu trên thì đàn bò lai chiếm một vị trí vô cùng quan trọng: Năng suất sữa tuy thấp hơn bò HF nhưng chất lượng sữa ổn định và cao hơn, khả năng thích nghi với khí hậu nhiệt đới gió mùa tốt hơn, phù hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hiện nay của người chăn nuôi
Trang 262.2.3 Tình hình chăn nuôi của cơ sở thực tập
2.2.3.1 Điều kiện tự nhiên
2.2.3.1.1 Vị trí địa lý
Trang trại bò sữa Thanh Hóa thuộc Thị Trấn Thống Nhất,huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
2.2.3.1.2.Đất đai địa hình
Trang trại bò sữa Thanh Hóa có điều kiện địa hình thuận lợi, có quy mô
4000 con, diện tích xây dựng 40 hecta với vốn đầu 700 tỷ đồng là trang trại đầu tiên được chính thức đi vào hoạt động trong tổ hợp 5 trang trại bò sữa công nghệ cao vinamilk Thanh Hóa Tổng diện tích canh tác cả tổ hợp trang trại là 2.500
ha, trong đó diện tích xây dựng trung tâm các trang trại chăn nuôi bò sữa là hơn
200 ha
Từ nay cho đến năm 2020, lần lượt 4 trang trại khác trong tổ hợp này cũng sẽ được hoàn thành theo đúng kế hoạch, trong đó có một trang trại bò sữa organic, đưa quy mô của Tổ hợp trang trại bò sữa lên 20 nghìn con
2.2.3.1.3 Thời tiết khí hậu
Thanh Hoá là tỉnh nằm ở cửa ngõ vào miền trung, với khí hậu nhiệt đới
tỉnh trung du miền núi, có dạng địa hình phức tạp, nên sự biến động của thời tiết giữa các vùng và các mùa trong năm là khá lớn, về mùa hè nhiệt độ ngoài trời có thể lên tới 400
C, do sự ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam (gió Lào) còn mùa
C
Mùa mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 6, 7, 8, còn mùa khô cao điểm nhất vào tháng 12 đến tháng 3 năm sau
2.2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Trang trại được đầu tư xây dựng với công nghệ máy móc thiết bị hiện đại,
hệ thống quạt làm mát cho bò, khu chế biến thức ăn với đầy đủ các loại máy móc phục vụ cho việc chế biến thức ăn như máy băm cỏ, máy trộn thức ăn, xe chuyên chở, xe rải thức ăn, Khu xử lý chất thải khép kín không làm ô nhiễm môi trường, khu tách ép phân để tận dụng nguồn phân bò cung cấp cho trồng