THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY .... Trên cơ sở đó đề xuất được biện pháp thự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8140114
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh
THANH HÓA, NĂM 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được nêu rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Tâm lý giáo dục – Trường Đại Học Hồng Đức đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lời biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Nguyễn Thị Thanh là người đã trực tiếp giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Với quỹ thời gian có hạn và kinh nghiệm chưa nhiều nên tôi không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !
Thanh Hóa, tháng 8 năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC BẢNG x
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục 6
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Giáo dục 10
1.2.2 Giáo dục mầm non 11
1.2.3 Quản lý giáo dục 12
1.2.4 Xã hội hóa 13
1.2.5 Xã hội hóa giáo dục 13
1.2.6 Xã hội hóa giáo dục mầm non 13
Trang 51.2.7 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục trong trường mầm non 14
1.3 Hoạt động xã hội hóa giáo dục ở trường mầm non 14
1.3.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động xã hội hóa giáo dục trong trường mầm non 14
1.3.2 Ý nghĩa của xã hội hóa giáo dục trong trường mầm non 17
1.3.3 Vai trò của hoạt động xã hội giáo dục trong trường mầm non bối cảnh hiện nay 18
1.3.4 Nguyên tắc xã hội hóa giáo dục mầm non 18
1.3.5 Nội dung xã hội hóa giáo dục trong trường mầm non 20
1.3.6 Các lực lượng tham gia công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non 22
1.4 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục trong trường mầm non giai đoạn hiện nay 24
1.4.1 Xây dựng kế hoạch công tác xã hội hóa giáo dục mầm non 24
1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch công tác xã hội hóa giáo dục mầm non 25
1.4.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non 26
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá công tác xã hội hóa giáo dục mầm non 29
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường Mầm non trong bối cảnh hiện nay 31
1.5.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội hóa giáo dục mầm non thuộc về chủ thể và khách thể quản lý 31
1.5.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non thuộc môi trường quản lý 32
Kết luận chương 1 33
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 34
2.1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục Thành phố Thanh Hóa 34
Trang 62.1.1 Tình hình phát triền kinh tế, chính trị, xã hội văn hóa 34
2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục và xã hội hóa giáo dục mầm 36
2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại các trường Mầm non công lập Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 37
2.2.1 Mục đích khảo sát 37
2.2.2 Nội dung khảo sát 37
2.2.3 Phương pháp khảo sát 38
2.2.4 Đối tượng khảo sát 39
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại các trường Mầm non công lập Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 40
2.3.1 Nhận thức về công tác xã hội hóa giáo dục mầm non của các đối tượng điều tra 40
2.3.2 Thực trạng nhận thức về mục tiêu công tác xã hội hóa giáo dục mầm non 41
2.3.3 Thực trạng nhận thức về nội dung công tác xã hội hóa giáo dục mầm non 43
2.3.4 Thực trạng nhận thức về lợi ích của hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại các trường mầm non TP Thanh Hóa 44
2.3.5 Thực trạng đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động XHHGD tại các trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 47
2.4 Kết quả thực trạng quản lí công tác xã hội hóa giáo dục mầm non công lập tại thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 49
2.4.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch xã hội hóa giáo dục tại các 49
2.4.2 Thực trạng tổ chức thực hiện xã hội hóa giáo dục tại các trường mầm non trường mầm non công lập Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 51
2.4.3 Thực trạng chỉ đạo xã hội hóa giáo dục tại các trường mầm non trường mầm non công lập Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 52
2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 55
Trang 72.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lí công tác XHHGD tại các trường
mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 56
2.5.1 Mặt mạnh và nguyên nhân 56
2.5.2 Hạn chế và nguyên nhân 58
Kết luận chương 2 60
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON Ở TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 61 3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 61
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 61
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 61
3.1.3 Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu quả 61
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 61
3.2 Biện pháp quản lý xã hội hóa giáo dục tại các trường mầm non TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 62
3.2.1 Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người về vị trí, vai trò, nội dung của xã hội hóa giáo dục mầm non trong bối cảnh hiện nay 62
3.2.2 Kế hoạch hóa quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non ở các trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 66
3.2.3 Tổ chức triển khai hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương và của nhà trường 69
3.2.4 Huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 72
3.2.5 Nâng cấp, xây dựng trường mầm non có vị thế cao hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thực tiễn giáo dục TP Thanh Hóa 75
3.2.6 Tăng cường hiệu quả chỉ đạo công tác XHHGD thông qua giám sát các hoạt động 79
Trang 83.3 Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 83
3.3.1 Mục đích 83
3.3.2 Nội dung khảo nghiệm 83
3.3.3 Phương pháp khảo nghiệm và xử lý kết quả 83
3.3.4 Kết quả khảo nghiệm 84
Kết luận chương 3 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1 Kết luận 90
2 Khuyến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC P1
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CBQL : Cán bộ quản lý GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo GDMN : Giáo dục mầm non
MN : Mầm non
TP : Thành phố XHH : Xã hội hóa XHHGD : Xã hội hóa giáo dục XHHGDMN : Xã hội hóa giáo dục mầm non
Trang 10
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các mức độ đánh giá thực trạng 39 Bảng 2.2 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của công tác xã hội
hóa giáo dục mầm non 40 Bảng 2.3 Thực trạng nhận thức về mục tiêu công tác XHH GDMN 41 Bảng 2.4 Thực trạng nhận thức về nội dung công tác XHH GDMN 43 Bảng 2.5 Thực trạng nhận thức về lợi ích hoạt động xã hội hóa giáo
dục mầm non 45 Bảng 2.6 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động XHHGD 47 Bảng 2.7 Thực trạng xây dựng kế hoạch xã hội hóa giáo dục tại các trường
mầm non công lập Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa 49 Bảng 2.8 Đánh giá việc tổ chức thực hiện kế hoạch xã hội hóa giáo dục 51 Bảng 2.9 Thực trạng công tác chỉ đạo của CBQL về XHH GD tại các
trường mầm non công lập TP Thanh Hóa 53 Bảng 2.10 Thực trạng kiểm tra, đánh giá công tác xã hội hoá giáo dục ở
các trường 55 Bảng 3.1 Tính cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động xã hội hóa
giáo dục mầm non ở trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa 84 Bảng 3.2 Tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động xã hội hóa
giáo dục mầm non ở trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa 86 Bảng 3.3 Tương quan giữa mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các
biện pháp 87
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử phát triển xã hội ngày càng khẳng định vai trò, tác dung to lớn của giáo dục đối với kinh tế - xã hội Giáo dục là điều kiện cơ bản và là động lực quan trọng bậc nhất thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Ngày nay chúng ta đang bước vào thời đại của công nghệ thông tin, toàn cầu hóa tri thức, trong đó vấn đề giáo dục, văn hóa, con người nổi lên hàng đầu ở nhiều nước, vấn đề này đã trở thành trung tâm của chiến lược phát triển đất nước Chiến lược giáo dục và chiến lược con người đi trước chiến lược kinh tế - xã hội Giáo dục đang đứng trước những thời cơ phát triển cực kỳ thuận lợi, nhưng cũng đang đối mặt với những thách thức to lớn Chức năng chủ yếu của giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ Phát triển giáo dục không chỉ quan tâm đến qui mô, tốc độ, số lượng mà đặc trưng chủ yếu là tổ chức các quá trình giáo dục, thông qua việc tổ chức hoạt động dạy và học dưới nhiều hình thức tổ chức giảng dạy và giáo dục đạt được chất lượng tốt nhất nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống xã hội Nhất là đối với giáo dục mầm non mà đặc trưng của nó là mang tính giáo dục gia đình
và tính tự nguyện cao
Để thực hiện tốt nhất giáo dục mầm non, Điều 11 luật giáo dục khẳng
định “Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục” Theo tinh thần của Luật, công tác
quản lý chỉ đạo, phát triển giáo dục mầm non cần phải gắn với công tác vận động xã hội mới đem lại hiệu quả cao Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Chăm lo phát triển mầm non”, thực hiện
“chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Xã hội hóa giáo dục mầm non là một
qui luật và là khâu then chốt để thực hiện “chuẩn hóa”, “hiện đại hóa” thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đến năm 2020 là: “Xây dựng hoàn
chỉnh là phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình”
Trang 12Trên thực tế, ở nhiều nơi, nhiều trường mầm non đã thực hiện rất tốt công tác xã hội hóa giáo dục khiến cho giáo dục mầm non đạt những kết quả rất tốt, tạo sự an tâm đồng thuận của cha mẹ học sinh, tạo điều kiện cho sự phát triển của địa phương Tuy nhiên vẫn còn một số nơi hoạt động này chưa thực sự phát huy được thế mạnh vốn có của nó, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển giáo dục mầm non ở các khu vực và tạo sự chênh lệch về hưởng thụ giáo dục mầm non của trẻ em ngày càng tăng
Tại các trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa nhiều năm qua đã triển khai công tác xã hội hóa giáo dục và được các cấp lãnh đạo cũng như cha mẹ học sinh ủng hộ Tuy nhiên vẫn còn tồn tại ở một số trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa thì phụ huynh vẫn chưa coi trọng giáo dục mầm non, coi chỉ là trông trẻ không học hành gì nên trẻ đến trường không thường xuyên và thích thì đến không thì nghỉ Phụ huynh còn cho rằng nội dung của XHH là để huy động kinh phí từ nhân dân, cho rằng phụ huynh lo là chính nên dẫn đến nguồn lực đầu tư cho giáo dục mầm non chưa được quan tâm đúng mức Nhằm mục đích đẩy mạnh hiệu quả của hoạt động XHHGD ở các trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa
hiện nay Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề “Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, làm sáng tỏ bản chất vấn đề quản lý hoạt động xã hội hóa ( XHH) giáo dục mầm non trong điều kiện phát triển của nước ta hiện nay Trên cơ sở đó đề xuất được biện pháp thực hiện quản lý hoạt động XHHGDMN ở các trường Mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa nhằm thúc đẩy sự phát triển của GDMN ở các trường MN công lập ở thành phố Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non ở các trường Mầm non công lập trong bối cảnh hiện nay
Trang 133.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường Mầm Non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục mầm non ở các trường công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa hiện nay đã có những kết quả đang khích lệ Tuy nhiên, quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non còn có nhiều vấn đề cần phải giải quyết cả về mặt lý luận và thực tiễn Nếu xây dựng và thực hiện được các biện pháp quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa phù hợp với thực tiễn địa phương, với đặc điểm của nhà trường, với điều kiện của cha mẹ học sinh thì sẽ huy động tiềm năng của cộng đồng, của chính quyền cũng như cha mẹ học sinh để hỗ trợ cho quá trình tổ chức giáo dục của nhà trường hiệu quả và chất lượng ngày càng nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động xã hội hóa giáo
dục trong bối cảnh hiện nay
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động xã hội hóa giáo
dục ở các Trường Mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay
5.3 Đề xuất các biện pháp thực hiện quản lý hoạt động xã hội hóa giáo
dục ở các trường Mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Phạm vi đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay
6.2 Phạm vi khảo sát:
Nghiên cứu tiến hành tại 6 trường MN công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Trang 147 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Tìm chọn những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài Phân tích và tổng hợp để hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán về những thuộc tính của
đề tài Tổng hợp nghiên cứu chủ trương, Chỉ thị, Nghị quyết cho Đảng, Nhà nước về giáo dục đào tạo, và nhất là XHH giáo dục cụ thể là XHH giáo dục mầm non
- Nghiên cứu các công trình nghiên cứu, sáng kiến kinh nghiệm liên quan đến đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát
- Trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên ở các trường mầm non
và các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên phòng giáo dục và đào tạo bằng các phiếu hỏi, phiếu điều tra về thực trạng quản lý XHH giáo dục ở các trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
7.2.2 Phương pháp chuyên gia:
- Phỏng vấn, trưng cầu ý kiến của đội ngũ CBQL, GV có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác quản lý hoạt động XHHGD trong quá trình nghiên cứu đề tài về tính khả thi của các biện pháp được đề xuất
7.2.3 Phương pháp quan sát :
- Quan sát việc tổ chức các hoạt động XHH và cách thức quản lý hoạt động XHH ở các trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa nhằm thu thập các thông tin hỗ trợ phân tích đánh giá
7.2.4 Phương pháp tổng kết và rút kinh nghiệm:
- Tổng kết kinh nghiệm hoạt động XHH và công tác quản lý hoạt động XHH giáo dục ở các trường mầm non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay
7.3 Thống kê toán học
- Số liệu được phân tích bằng thống kê toán học để định hướng và định tính của kết quả nghiên cứu
Trang 158 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động xã hội hóa giáo
dục mầm non trong bối cảnh hiện nay
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại các
trường Mầm Non công lập thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại
các trường Mầm Non công lập thành phố Thanh Hóa,tỉnh Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục
Trong tiến trình phát triển ở nhiều quốc gia, giáo dục được xem là cách
để giảm thiểu rủi ro, nguy cơ cho xã hội và là con đường hữu hiệu để chống đói nghèo Ngày nay, khi trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của một quốc gia thì chúng ta đều ý thức được rằng, giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội Vì thế, giáo dục, đào tạo giữ vai trò trung tâm, then chốt để hội nhập và phát triển của mỗi quốc gia Vì vậy đã có nhiều sách lược lâu dài nhằm thúc đẩy việc quan tâm, đầu tư, huy động mọi nguồn lực và điều kiện cho phát triển giáo dục, thực hiện sự kết hợp giữa nhà trường và gia đình,
ít nhiều liên quan đến các khía cạnh như: phi tập trung hóa (decentralization); giáo dục suốt đời (longlife education); xã hội học tập (learning society); giáo dục cộng đồng (comunity education) Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã phân chia dịch vụ và thương mại dịch vụ trên thế giới 12 nhóm lớn với 143 hạng mục dịch vụ Trong 12 nhóm thương mại dịch vụ, thì dịch vụ giáo dục thuộc nhóm thứ năm, dịch vụ nhóm này bao gồm: dịch vụ giáo dục tiểu học, dịch vụ giáo dục trong học; dịch vụ giáo dục đại học và cao đẳng; dịch vụ giáo dục cho người lớn và các dịch vụ giáo dục khác
Trang 17Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác đều quan tâm xây dựng và củng
cố các tổ chức phục vụ trực tiếp cho việc giáo dục Đó là các tổ chức CMHS
và thầy giáo PTA (parel teachers association) với nội dung thiết thực vì chất lượng giáo dục cho thế hệ trẻ
Ấn Độ: Vấn đề huy động xã hội tham gia vào giáo dục gắn liền với vấn
đề phát triển nông thôn Huy động cộng đồng phát triển giáo dục phi chính quy tập trung dành cho các đối tượng học sinh bỏ học, lưu ban, không có điều kiện đi học, tương ứng với nó là các chương trình học linh hoạt…
Thái Lan có nhiều hình thức huy động nguồn lực đầu tư, hỗ trợ tài chính và tài sản như các cơ quan nhà nước thu các khoản thuế giáo dục theo quy định của luật pháp để tổ chức các hoạt động giáo dục
So với các nước, kể cả các nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn thì tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục trên GDP của Việt Nam khá lý tưởng (khoảng 5% GDP) góp phần đem lại những thành tựu quan trọng cho giáo dục
nước nhà Để thực hiện nguyên tắc hiến định “phát triển giáo dục là quốc
sách hàng đầu”, Luật Giáo dục qua các thời kỳ đã xác định rõ hệ thống giáo
dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên Trong đó, cấp học, trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề
nghiệp và giáo dục đại học Để bảo đảm tính chất “đa mục tiêu” của nền giáo
dục, chúng ta không thể chỉ dựa vào nguồn lực của Nhà nước, mà cần thực
hiện giải pháp “xã hội hoá”
XHHGD không phải là vấn đề hoàn toàn mới, đó là bước phát triển mới của một chủ trương được thực thi từ nhiều năm qua: Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Tư tưởng “lấy dân làm gốc” Đảng đã vận dụng sáng tạo và
có hiệu quả trong công tác giáo dục và trở thành sức sống tiềm tàng trong truyền thống giáo dục Việt Nam
Khi Cách mạng Tháng 8/1945 mới thành công, chỉ sau một tuần lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn Độc Lập”, ngày 8/9/1945 Người đã kí sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ, để thanh toán nạn mù chữ cho nhân dân
Trang 18Đặc biệt trong lá thư cuối cùng của Bác gửi cán bộ thầy cô giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên dịp bắt đầu năm học mới ngày 15/10/1986 một lần nữa Bác nêu rõ: giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, cần phát huy dân chủ, đoàn kết dân tộc chặt chẽ giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó Các ngành, các cấp phải quan tâm, chăm sóc nhà trường về mọi mặt, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục của ta phát triển (Hồ Chí Minh, 2002)
Chính vì sự khẳng định đó, để thúc đẩy phát triển sự nghiện giáo dục nước nhà, Đảng và Nhà nước đã thường xuyên có những chính sách, giải pháp và chủ trương XHHGD trong thời kì mới, cụ thể như:
Chủ trương xã hội hóa sự nghiệp giáo dục của Đảng được thể chế hóa vào Hiến pháp 1992, tại điều 35: “…Phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập các hình thức giáo dục khác.[26]
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 chỉ rõ: Thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Thực hiện các chính sách ưu tiên ưu đãi, các giải pháp mạnh mẽ để phát triển GD Toàn xã hội có trách nhiệm chăm lo góp phần phát triển sự nghiệp GD & ĐT.[28]
Cuốn sách “Xã hội hóa giáo dục” năm 2001 do Võ Tấn Quang chủ biên cùng tập thể các tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thanh Bình,Lê Đức Phúc, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Đản, Đào Huy Ngân khẳng định : Xã hội hóa công tác giáo dục - một phương thức thực sự giáo dục nhằm xã hội hóa cá nhân [45] Bàn về xã hội hóa giáo dục còn có nhiều tài liệu, bài viết của các tác giả
Lê Khanh, Hồ Hương, Nguyễn Thanh Phong…
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non
Dưới thời kì Pháp thuộc ở Việt Nam không có giáo dục trước tuổi đi học Cả nước chỉ có vài trại tế bần nuôi trẻ mồ côi Sau cách mạng tháng 8, cùng với việc hình thành chế độ mới, lần đầu tiên ở Việt Nam có bậc giáo dục trước tuổi đi học chính thức ra đời Ngày 10/9/1945, Nghị định số 5 của Bộ Cứu tế xã hội đã ghi “Khuyến khích các nhà bảo anh, dục anh, ấu trĩ viên …”
Trang 19Ngày 10/8/1946, Sắc lệnh số 146/SL Điều 3 đã khẳng định “Bậc học ấu trĩ nhận giáo dục trẻ em dưới 7 tuổi và sẽ tổ chức tùy theo điều kiện do Bộ Quốc gia giáo dục ấn định sau”
Nhằm phát triển GDMN theo tinh thần nghị quyết Trung Ương 2 (khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ngày 25/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị bàn về công tác giáo dục mầm non Hội nghị nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hóa giáo dục mầm non,
đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non Ngày 15/11/2002 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non Điều 1 đã khẳng định nhiệm vụ phát triển giáo dục mầm non đến năm 2010 : “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư phát triển giáo dục mầm non, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường, lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư …” đi cùng Quyết định là Thông tư liên tịch số 05/2003/TTLT/BGD&ĐT-BNV-BTC hướng dẫn một số chính sách phát triển giáo dục mầm non, trong đó đã chỉ rõ các bước của việc thực hiện quy hoạch mạng lưới trường lớp mầm non công lập, ngoài công lập, thực hiện xã hội hóa với giáo dục mầm non.[18]
GDMN là sự thể hiện sinh động nguyên tắc Nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm Nhìn vào các hình thức GDMN có thể khẳng định đây là bậc học được xã hội hóa cao hơn bất kì bậc học nào Song việc nghiên cứu về vấn
đề XHHGDMN còn hạn chế Năm 2001, Viện khoa học giáo dục ra đời cuốn
“Xã hội hóa giáo dục” đề cập một cách hết sức khái quát đến một điểm xuất phát của việc định hình XHHGDMN và vận dụng phương thức xã hội trong hoạt động GDMN Đồng thời khẳng định sự tham gia của xã hội với nhiều hình thức đóng góp là thực sự cần thiết để phát triển Giáo dục.[42]
Trên thực tế, một số đề tài nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục mầm non
có thể kể đến như:
Tác giả Hồ Thiệu Hùng (2009) trong bài viết: “Để GDMN vững bước trên con đường XHH” cho biết: Muốn XHH GDMN thành công thì phải thực
Trang 20hiện đồng bộ các phương pháp quản lý công tác này từ nhiều phía: Nhà nước (từ trung ương đến địa phương), các tổ chức kinh tế - xã hội, người dân, gia đình và bản thân ngành giáo dục.[42]
Nguyễn Võ Kỳ Anh (2014) với đề tài “XHH GDMN góp phần nâng cao chất lượng nòi giống và đào tạo nhân tài cho đất nước” đã đưa ra quan điểm quản lí công tác XHH GDMN phải thực hiện chăm lo cho GDMN là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, của mỗi gia đình và toàn xã hội, có thể khẳng định GDMN là cấp học XHH cao hơn các cấp học khác [1]
Ngoài ra còn có nhiều bài viết về xã hội hóa giáo dục mầm các tác giả ở các địa phương trong nước, đã cung cấp nhiều tư liệu và bài học kinh nghiệm quý giá, làm cơ sở định hình quan điểm về XHHGDMN và quan trọng là để vận dụng vào thực tiễn Mỗi bài viết, nghiên cứu đều đưa ra được quan điểm cá nhân và một số biện pháp nhằm phát triển XHH GDMN có hiệu quả
Luận văn này cố gắng tổng kết từ thực tiễn XHH GDMN ở Thành phố Thanh Hóa nói chung và các trường mầm non công lập nói riêng, đưa ra một
số biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý hoạt động vấn đề này hiệu quả hơn trong bối cảnh hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Giáo dục
Giáo dục được hiểu là quá trình nhằm hình thành, phát triển nhân cách con người, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người dạy học và người học nhằm để người học lĩnh hội những tri thức và kinh nghiệm mà loài người đã tích luỹ trong lịch sử
* Cấu trúc của hệ thống giáo dục quốc dân: Hệ thống giáo dục quốc dân được thiết lập nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục, đáp ứng yêu cầu đào tạo con người của đất nước, tập hợp các ngành học, bậc học, cấp học, từ nhà trẻ đến sau đại học một cách liên tục, thống nhất
Lịch sử phát triển và tiến bộ của xã hội loài người cho thấy: Xã hội muốn duy trì và phát triển thì con người trong xã hội cần được giáo dục liên tục để tiếp thu, cập nhật và phát triển kiến thức, kỹ năng mà loài người đã tích
Trang 21luỹ được Giáo dục là hiện tượng xã hội nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển và tiến bộ không ngừng của xã hội
Trong đó giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm:
1 Nhà, nhóm trẻ nhận trẻ từ ba tháng tuổi đến ba tuổi
2 Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ từ ba tuổi đến sáu tuổi
3 Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi (Điều 21-Luật Giáo dục, 2005)
1.2.2 Giáo dục mầm non
Điều 23 Luật Giáo dục (2019) ghi rõ: “Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi” Mục tiêu của GDMN là: “Giáo dục mầm non nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm
mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”[45]
* Các loại hình nhà trường mầm non bao gồm trường công lập và trường ngoài công lập
- Trường công lập: Trường thuộc sở hữu Nhà nước, do cơ quan nhà nước cấp Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp quận huyện quản lý Mọi chi phí hoạt động của nhà trường do NSNN cấp và một phần chi phí do cha mẹ các cháu đóng góp
- Trường ngoài công lập: Là loại hình nhà trường nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, tự trang trải chi phí hoạt động Có 2 loại hình trường, gồm: Trường dân lập và tư thục
Tất cả các loại hình nhà trường này đều chịu sự quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của Nhà nước Trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân, Nhà
Trang 22nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân mở trường ngoài công lập nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội Nhà trường được thành lập khi đảm bảo các điều kiện về cán bộ quản lý, giáo viên, cơ sở vật chất và năng lực tài chính theo quy định của Chính phủ
1.2.3 Quản lý giáo dục
Nhà nước quản lý mọi hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục Nhà nước quản lý giáo dục thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý, nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ
Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nói chung cho nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục
Theo Phạm Minh Hạc : “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh…” [37]
Trần Kiểm cho rằng: Quản lý là hệ thống những tác động có mục đích,
có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [43]
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể khái quát rằng:
Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý Mọi hoạt động giáo dục và QLGD đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong QLGD
Trang 231.2.4 Xã hội hóa
Khái niệm xã hội hóa xuất hiện vào thời kỳ đầu của thế kỷ 20 Thuật ngữ này được các nhà khoa học sử dụng trong rất nhiều các lĩnh vực khác nhau.Xã hội hóa là một khái niệm của nhân loại học và xã hội học được định nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời qua đó cá nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình Nói một cách khác, đó chính là quá trình con người liên tục tiếp thu văn hóa vào nhân cách của mình để sống trong xã hội như là một thành viên Hiểu nôm na theo một cách ngắn gọn thì xã hội hóa là sử dụng các tư liệu sản xuất để trao đổi giá trị thành của công Ý nghĩa của xã hội hóa là tăng tính cộng đồng, giảm thiểu tối đa chủ nghĩa cá nhân trong các lĩnh vực trong xã hội [44]
1.2.5 Xã hội hóa giáo dục
Theo quan điểm của Đại hội XI thì đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, huy động mọi nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục và xây dựng xã hội học tập là chuyển từ chủ trương “giáo dục cho mọi người sang chủ trương mọi người phải học tập suốt đời” Xã hội hóa giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là một trong những giải pháp chủ yếu để phát triển giáo dục, đào tạo
Từ đó ta có thể quan niệm : XHHGD là huy động mọi lực lượng xã hội cùng tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi
để người học được hưởng thụ các thành quả do XHHGD đem lại
1.2.6 Xã hội hóa giáo dục mầm non
XHH GDMN là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta và được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về quyền lợi và nghĩa vụ, bắt buộc và tự nguyện đối lập với tập thể và cá nhân Đây chính là nền tảng, là cơ sở pháp lí vững chắc trong công tác XHHGD nói chung và XHH GDMN nói riêng [44]
XHH GDMN là huy động mọi lực lượng xã hội cùng làm giáo dục mầm non, dưới sự quản lý của Nhà nước Việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non là nhiệm vụ chung của các trường, lớp mầm non, của cả gia đình và cộng
Trang 24đồng Bản chất của xã hội hóa giáo dục mầm non là động viên, lôi cuốn mọi lực lượng xã hội phát triển giáo dục mầm non để thực hiện giáo dục trẻ em trong độ tuổi
1.2.7 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục trong trường mầm non
Quản lí công tác XHH GDMN là quản lí việc huy động nguồn nhân lực, tài lực, vật lực của xã hội vào quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, GD trẻ từ
03 tháng tuổi đến 6 tuổi và đưa mục tiêu GDMN vào đời sống cộng đồng
Xã hội hóa giáo dục mầm non chính là xây dựng cơ chế vận hành của hoạt động xã hội hóa, để đạt được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra Xã hội hóa giáo dục mầm non nhằm mục tiêu thúc đẩy sự phát triển giáo dục, phát triển đất nước đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Muốn thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hóa giáo dục thì ta phải tăng cường các biện pháp quản
lý, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia làm giáo dục Chính vì vậy muốn quản lý tốt hoạt động xã hội hóa giáo dục trong trường mầm non thì vai trò của Hiệu trưởng chính là chủ thể quản lý Nếu xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm quản lí công tác XHH GDMN càng cao thì hiệu quả công lớn [42]
1.3 Hoạt động xã hội hóa giáo dục ở trường mầm non
1.3.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động xã hội hóa giáo dục trong trường mầm non
Xã hội hóa giáo dục mầm non là : Huy động mọi lực lượng xã hội cùng làm giáo dục mầm non, dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước Việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non là nhiệm vụ chung của các trường, lớp mầm non, của cả gia đình trẻ và cộng đồng Cần huy động và tạo điều kiện để gia đình
và cộng đồng tham gia vào các hoạt động giáo dục mầm non Giáo dục mầm non phải đáp ứng được yêu cầu của xã hội, cộng đồng, đảm bảo mọi trẻ em đều được chăm sóc, giáo dục ở các loại hình giáo dục khác nhau, được hưởng thụ các dịch vụ mầm non
Trang 25Thông tư số 02/2014/TT- BGDĐT ngày 08/02/2014 của Bộ GD – ĐT (Bộ GD và Đào tạo, 2014) xác định rõ các nội dung chủ yếu trong công tác XHHGD GD ở trường mầm non:
Điều 10 Thực hiện xã hội hóa GD
1 Nhà trường thực hiện tốt công tác tham mưu về chủ trương xây dựng
và giải pháp huy động các nguồn lực phát triển GDMN trên địa bàn
2 Các hoạt động xây dựng môi trường GD trong trường mầm non a) Trường mầm non có các hoạt động tuyên truyền dưới nhiều hình thức để nâng cao nhận thức của toàn xã hội về mục tiêu GDMN đồng thời tạo điều kiện tham gia và giám sát của toàn xã hội với các hoạt động chăm sóc,
GD trẻ của nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu và kế hoạch GDMN ;
b) Trường mầm non thường xuyên phối hợp với gia đình trong việc chăm sóc, GD trẻ thông qua các cuộc họp phụ huynh, trao đổi trực tiếp hoặc các hình thức khác để giúp trẻ phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được vui chơi, học tập;
c) Trường mầm non chủ trì và phối hợp với các lực lượng trong toàn xã hội để tổ chức các hoạt động lễ hội theo Chương trình GDMN phù hợp với truyền thống của địa phương
3 Trường mầm non huy động được sự tham gia tự nguyện của các lực lượng xã hội nhằm tăng cường cơ sở vật chất và tổ chức các hoạt động GD của nhà trường
Nghị quyết Trung Ương 2, khóa VIII tháng 12/1996 khẳng định : coi Giáo dục là quốc sách hàng đầu, mọi người chăm lo cho giáo dục, các thành phần, lực lượng xã hội có trách nhiệm đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục, góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX 2001 chỉ rõ : Phát triển sự nghiệp giáo dục là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế.[25]
Trang 26Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X 2006 lại một lần nữa khẳng định :
“Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục… ” [26]
Văn kiện đại hội Đảng lần thứ XI 2011 chủ trương hoàn thiện xã hội hóa giáo dục : “Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện động viên các nguồn lực trong xã hội ….” [27]
Văn kiện đại hội Đảng lần thứ XII 2016 : “Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng
xã hội học tập” Đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp
và giáo dục đại học
Quyết định số 239/2010/QĐ-TTg ngày 09/02/2010 phê duyệt đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 - 2015 đã xác định các nội dung của phương pháp đẩy mạnh xã hội hóa công tác phổ cập giáo dục cho trẻ em là huy động nguồn lực hợp lí, cha mẹ có trách nhiệm với nhà trường, khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có điều kiện đầu tư và phát triển trường, lớp mầm non ngoài công lập.[23]
Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ Tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 nêu rõ quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.[24]
Việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản tài trợ được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 6, 7, 8 Thông tư số số 16/2018/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT quy định về tài trợ cho các cơ sở GD thuộc hệ thống GD quốc dân
Theo Nghị định số 16/2016/NĐ-CP về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài
và Nghị định số 132/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định
16/2016/NĐ-CP, quy trình thủ tục đề xuất, thẩm định, phê duyệt các dự án ODA và vốn vay ưu đãi đã được đơn giản hóa
Trang 27Theo Luật GD 2019, Nhà nước cho phép hợp tác công tư, liên doanh, liên kết để đầu tư trong lĩnh vực GD Theo đó các đơn vị sự nghiệp công lập được phép rà soát và thống kê những tài sản chưa khai thác hết công suất, hoặc khai thác không hiệu quả của đơn vị để lập Đề án sử dụng tài sản công vào mục đích liên doanh, liên kết theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Nghị định số 151/2017/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 144/2017/TT-BTC của
Bộ Tài chính, báo cáo cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công và cơ quan chủ quản để xem xét, quyết định.[45]
Xã hội hóa giáo dục mầm non là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
đã được thể chế hóa cụ thể bằng các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về quyền lợi và nghĩa vụ Đây chính cơ sở pháp lý vững chắc trong công tác xã hội hóa giáo dục nói chung và xã hội hóa giáo dục mầm non nói riêng
1.3.2 Ý nghĩa của xã hội hóa giáo dục trong trường mầm non
Công tác XHHGD là việc làm cần thiết, có tầm quan trọng và ý nghĩa
to lớn vì XHHGD sẽ tạo ra một xã hội học tập, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội
XHHGD mầm non góp phần tạo nên những điều kiện vật chất để nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ
XHHGD mầm non tạo điều kiện cho mục đích của giáo dục phù hợp với mục đích của từng cá nhân tham gia giáo dục; tạo điều kiện làm phong phú hơn cho công tác nuôi dạy trẻ mầm non
XHHGD sẽ thực hiện công bằng xã hội
+ Xã hội hoá và dân chủ hoá giáo dục
XHHGD còn làm cho mọi người hiểu được giáo dục không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi gia đình, của từng cá nhân
XHHGD mầm non thu hút các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động đa dạng của giáo dục mầm non, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển giáo dục mầm non
Trang 281.3.3 Vai trò của hoạt động xã hội giáo dục trong trường mầm non bối cảnh hiện nay
Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ từ lứa tuổi mầm non chính là cơ
sở giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, là nền tảng cho quá trình học tập suốt đời của trẻ
Từ vai trò của giáo dục mầm non, ta có thể thấy được tầm quan trọng của việc huy động các nguồn lực để tạo các điều kiện cho giáo dục mầm non phát triển Công tác XHHGD mầm non nhằm thực hiện các vai trò sau:
Đầu tư, đóng góp phát triển các loại hình trường, lớp mầm non;
- Đóng góp xây dựng môi trường cảnh quan sư phạm, cơ sở vật chất, trường lớp theo hướng kiên cố hoá, hiện đại hoá;
- Tăng cường trang thiết bị nuôi dạy cho các nhà trường;
- Nâng cao chất lượng lượng chăm sóc và nuôi dạy trẻ mầm non, chăm
lo cho các cháu, nhất là trẻ em nghèo, diện chính sách và khó khăn khác; đồng thời phát hiện, khuyến khích những trẻ em có năng khiếu để phát triển tài năng của trẻ;
- Chăm lo cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo, giúp các cô hoàn thành tốt trách nhiệm vẻ vang của mình và đáp ứng mong mỏi của trẻ em, CMCC và xã hội
1.3.4 Nguyên tắc xã hội hóa giáo dục mầm non
Thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non cần dựa trên những quy định
có tính nguyên tắc, để đảm bảo sự phát triển lâu dài :
Thứ nhất: Nguyên tắc lợi ích - Nguyên tắc này tạo động lực cho sự
tham gia và đảm bảo lợi ích cho chủ thể tham gia
Mỗi gia đình, người dân đều có hoàn cảnh khác nhau và có nhu cầu lợi ích riêng Xã hội hóa giáo dục mầm non phải quan tâm đến việc thỏa mãn nhu cầu của các gia đình, các bậc cha mẹ Phải có đầy đủ các loại hình trường lớp
để đáp ứng nhu cầu, phù hợp với khả năng của mỗi gia đình Mọi trẻ em trong
độ tuổi đều được hưởng phúc lợi của xã hội, quyền lợi về giáo dục, chăm sóc,
Trang 29nuôi dạy Có những hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách phải được hưởng miễn, giảm học phí … Các cấp lãnh đạo của địa phương cần có những đòi hỏi thiết thực từ xã hội hóa giáo dục mầm non, bản thân giáo dục mầm non cũng phải xuất phát từ nhu cầu của mình mà làm xã hội hóa giáo dục để phục vụ cho những mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương
Thứ hai: Nguyên tắc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các lực
lượng tham gia quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non
Từng ban ngành, đoàn thể cũng như từng tổ chức xã hội đều có chức năng và nhiệm vụ riêng trong sự phát triển chung của xã hội Các ngành thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non không chỉ là sự tham gia mà còn là trách nhiệm Các ngành như Lao động thương binh xã hội, Sở tài chính, Dân số - Gia đình - Trẻ em, Y tế , Thể dục , công nghệ môi trường và đoàn thể có trách nhiệm phối hợp với ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục địa phương Phía nhà trường cần chủ động khai thác, phát huy, khuyến khích họ tham gia vào hoạt động nào đó của nhà trường phù hợp với chức năng, trách nhiệm mà họ đảm nhiệm Nguyên tắc này đảm bảo cho cơ sở mầm non có cơ
sở để vận động, thuyết phục chứ không phải cơ chế “xin - cho”, “ban ơn” cho giáo dục
Thứ ba: Nguyên tắc dân chủ - tự nguyện - đồng thuận
Đó chính là việc phát huy tính dân chủ, tự nguyện, và đồng thuận của cộng đồng trong việc tham gia xã hội hóa giáo dục mầm non Dân chủ hóa giáo dục mầm non còn thể hiện ở yêu cầu “công khai hóa” sự đóng góp của dân, sự tham gia của nhân dân vào giáo dục mầm non nhằm thực hiện tốt nhất theo Luật giáo dục quy định Thực hiện tốt nguyên tắc này mới có thể huy động được mọi tiềm năng của xã hội vào xã hội hóa giáo dục mầm non Tuy nhiên khi thực hiện dân chủ hóa trong xã hội hóa giáo dục mầm non phải đảm bảo những quy định chung, dân chủ trong khuân khổ hiến pháp và pháp luật, tránh những biểu hiện bất lợi làm ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển giáo dục
Trang 30Thứ tƣ : Nguyên tắc tuân thủ pháp lý
Tổ chức, lực lượng ở bấy kỳ hoạt động nào cũng cần tuân theo những quy định chung về mặt luật pháp Quá trình huy động và khuyến khích cần dựa trên theo Luật giáo dục, Luật bảo vệ chăm sóc trẻ em, các văn bản dưới luật như Pháp lệnh, nghị định, Thông tư, nghị quyết Đảng, hướng dẫn liên tịch, quy định điều lệ của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp … đều
là cơ sở pháp lý cho vận động các lực lượng tham gia xã hội hóa giáo dục mầm non
Thứ năm : Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất theo Ngành - Lãnh thổ
Khi thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non cần nhìn rõ mối tương quan giữa phát triển kinh tế - giáo dục đối với từng địa phương để có những
ưu tiên và tiến độ hợp lý Đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non, phát triển trường cần xây dựng phù hợp với quy hoạch mạng lưới trường học trên địa bàn nhằm phù hợp với mục đích và nhu cầu của địa phương, có như vậy phát triển giáo dục mầm non mới mang tính khả thi và là điều kiện để thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non thành công
Thứ sáu : Nguyên tắc kế hoạch hóa mọi hoạt động
Muốn biến những mục tiêu, yêu cầu của Nhà trường thành hiện thực thì nguyên tắc kế hoạch hóa hết sức quan trọng vì vậy để đảm bảo hiệu quả của
xã hội hóa giáo dục mầm non cần phải có kế hoạch hóa mọi hoạt động từ việc lập kế hoạch, tổ chức, điều hành, chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết, nắm vững thông tin ở từng việc và xuyên suốt toàn bộ quá trình
1.3.5 Nội dung xã hội hóa giáo dục trong trường mầm non
Xã hội hoá giáo dục là: “Huy động toàn xã hội tham gia giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước”
Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục thể hiện tư tưởng chiến lược, coi sức mạnh của toàn xã hội là điều kiện không thể thiếu để phát triển chất lượng và hiệu quả của sự nghiệp giáo dục, có giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục một cách lâu dài
Trang 31Nội dung cụ thể việc thực hiện XHHGDMN:
Đa dạng hóa loại hình, huy động các lực lượng tham gia vào quá trình đa
dạng hoá các hình thức học tập và các loại hình trường lớp mầm non Các loại hình trường lớp ngoài công lập sẽ góp phần làm giảm gánh nặng đầu tư của Nhà nước, tạo điều kiện cho giáo dục mầm non phát triển mạnh mẽ hơn, mở rộng quy mô giáo dục mầm non để thỏa mãn nhu cầu đến trường của trẻ em
+ Nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị trường mầm non để nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ mầm non Tổ chức các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục mầm non Các tổ chức tuỳ theo vị trí của mình, tham gia góp ý kế hoạch phát triển giáo dục mầm non của Thành phố, của phường xã, của trường mầm non; tham gia trực tiếp vào một số hoạt động của trường mầm non; phối hợp cùng trường mầm non chăm sóc, nuôi dạy các cháu mầm non;…
+ Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục mầm non Các lực lượng xã hội có thể đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực để xây dựng trường lớp, tăng cường đồ dùng, đồ chơi cho các trường mầm non, giúp các cháu có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách, khen thưởng các cháu có thành tích
“Bé khỏe, bé ngoan”, giáo viên giỏi, chăm lo đời sống tinh thần và vật chất cho CBQL, GV, NV,
+ Huy động xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục mầm non Môi trường đề cập ở đây là môi trường nhà trường, gia đình và
xã hội Phải đảm bảo cho các môi trường được lành mạnh, có tính thống nhất trong việc tác động hình thành nhân cách của trẻ nhà trẻ và mẫu giáo
+ Đây chính là việc tăng cường tính xã hội của giáo dục nói chung cũng như tính xã hội hóa giáo dục mầm non nói riêng, làm cho mối quan hệ giữa cơ
sở giáo dục mầm non và cộng đồng xã hội phát huy tối đa vai trò của mình
Xã hội hoá giáo dục mầm non đồng thời là quá trình nhằm nâng cao trách nhiệm của cả hai phía: Cơ sở giáo dục và cộng đồng với nhau; tạo điều kiện khẳng định vai trò của giáo dục mầm non thúc đẩy sự phát triển của cộng
Trang 32đồng xã hội và khơi dậy mọi năng lực tiềm ẩn trong cộng đồng xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục mầm non
1.3.6 Các lực lượng tham gia công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non
Lực lượng tham gia công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường mầm non bao gồm LLGD trong nhà trường và LLGD ngoài nhà trường bao gồm:
+ Cán bộ quản lí nhà trường: Đây là lực lượng hoạch định kế hoạch,
tổ chức thực hiện, chỉ đạo các hoạt động và giám sát, kiểm tra các hoạt động giáo dục XHHGD trong nhà trường
+ Giáo viên và nhân viên Là lực lượng trực tiếp biến kế hoạch xã hội
hóa thành hiện thực Kết quả của hoạt động xã hội hóa trong nhà trường phụ thuộc chủ yếu vào lực lượng giáo dục này
+ Ban đại diện cha mẹ học sinh: Ban đại diện cha mẹ học sinh là lực
lượng xã hội gần gũi, gắn bó nhất của nhà trường, giúp đỡ đắc lực nhà trường
về nhiều mặt, là lực lượng phối hợp thường xuyên, liên tục nhất Ban đại diện cha mẹ học sinh tạo thuận lợi cho mối quan hệ giữa nhà trường và cha mẹ học sinh để liên lạc với nhau tốt hơn, làm tăng tinh thần trách nhiệm của các bậc cha mẹ, khích lệ lao động sư phạm của giáo viên và học tập của học sinh Ban đại diện cha mẹ học sinh chăm lo bảo vệ những quyền lợi của học sinh, của nhà trường và thông báo cho cha mẹ học sinh tất cả những gì liên quan đến giáo dục, học tập của học sinh Hỗ trợ nhà trường trong việc bảo dưỡng hoặc mua sắm các phương tiện và đồ dùng dạy học Ban đại diện cha mẹ học sinh là đại diện của cha mẹ học sinh ở địa phương, có đại diện ở hội đồng giáo dục của trường, tham dự lễ hội nhà trường hàng năm Ban đại diện không chỉ là cầu nối giữa nhà trường và gia đình mà trong nhiều trường hợp còn là cầu nối, là điểm tựa trong quan hệ giữa nhà trường với các lực lượng xã hội khác ngoài trường,
kể cả trong công tác của trường với cấp ủy và chính quyền địa phương
+ Các cơ quan quản lý chuyên môn như Sở, Phòng GD&ĐT
Trang 33Các cơ quan chuyên môn như Sở, Phòng GD&ĐT có vai trò hướng dẫn việc triển khai, tổ chức các hoạt động giáo dục cho các cơ sở giáo dục trên địa bàn, tổ chức tập huấn giáo viên các môn học nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, xây dựng kế hoạch đào tạo đội ngũ giáo viên dạy tại các cơ sở giáo dục
+ Đảng bộ và chính quyền địa phương: Đảng bộ và chính quyền địa
phương Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp giữ vai trò lãnh đạo và quản lý xã hội hóa giáo dục ở địa phương có tính chất quyết định trong xã hội hóa giáo dục ở cộng đồng Các cơ quan chính quyền ở địa phương: Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân cũng có trách nhiệm theo chức năng
Các đơn vị ,lực lượng an ninh, cán bộ ngành thông tin - văn hóa, thể dục thể thao tham gia giáo dục thể chất, giáo dục văn hóa thẩm mỹ cho học sinh qua các hoạt động văn hóa, truyền thanh, triển lãm, tham quan, du lịch, vui chơi, giải trí, tập luyện và thi đấu thể dục thể thao; Ngành y tế chăm lo và giáo dục sức khỏe cho giáo viên, học sinh tại địa phương: theo dõi sức khỏe, theo dõi các chỉ số phát triển thể lực, khám sức khỏe định kỳ cho học sinh; phòng tránh và chữa các bệnh học đường; lập ”Nha học đường” trong nhà trường; truyền bá cho học sinh những tri thức về dân số và kế hoạch hoá gia đình; giáo dục giới tính, vệ sinh phòng bệnh, bảo vệ môi trường; chỉ đạo Hội chữ thập đỏ học sinh về phòng chống các tệ nạn xã hội trong học sinh như uống rượu, hút thuốc v.v
+ Các tổ chức quần chúng, văn hoá, xã hội: Đoàn Thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh ở địa phương; Hội Liên hiệp Phụ nữ; Các cá nhân; Các tổ chức
xã hội và cơ quan văn hoá, khoa học khác: Hội cựu chiến binh, Hội bảo trợ học đường, Hội cựu học sinh, Hội khuyến học .; các hội nghề nghiệp như Hội Chữ thập đỏ, Hội khoa học-kỹ thuật, Hội y học, Hội nông dân tập thể; các
tổ chức tôn giáo; các tổ chức phi chính phủ như UNESCO, UNICEF, có thể tham gia hỗ trợ nhà trường giáo dục cho học sinh như: Tổ chức tuyên truyền, động viên, giáo dục để các thành viên của tổ chức mình tham gia đóng góp và
Trang 34vận động mọi thành viên, mọi người cùng tham gia góp công, của, sức lực, trí tuệ cho kỹ năng sống tiểu học nói riêng, sự nghiệp giáo dục ở địa phương
+ Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: Các tổ chức này cũng có thể
đóng góp vật lực, trí lực vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục như là nơi để nhà trường tổ chức cho học sinh tham quan, trải nghiệm và huy động nguồn lực đầu tư vật chất
1.4 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục trong trường mầm non giai đoạn hiện nay
1.4.1 Xây dựng kế hoạch công tác xã hội hóa giáo dục mầm non
Hiệu trưởng nhà trường chủ động lập kế hoạch phát triển GDMN tại địa phương mình quản lí, đề ra mục tiêu và xác định các nguồn lực, quyết định phương thức đạt được mục tiêu, cách thức và biện pháp tổ chức thực hiện, đồng thời xây dựng được quy mô phát triển tổng thể của từng giai đoạn
Do vậy, người hiệu trưởng phải căn cứ vào tình hình cụ thể của nhà trường, từng địa phương; nhận thức rõ những thuận lợi, khó khăn; những điểm mạnh
và hạn chế bên trong, cũng như các cơ hội và thách thức từ bên ngoài nhà trường; thu thập ý kiến, nguyện vọng, nhu cầu của CMHS, của mọi lực lượng
xã hội; tạo điều kiện cho họ được bàn bạc và định ra những chỉ tiêu, biện pháp thực hiện; đồng thời CBQL GDMN tích cực tham mưu với các cấp ủy Đảng, lãnh đạo địa phương phối hợp với các đoàn thể xã hội, CMHS, tranh thủ tối
đa sự ủng hộ của các cá nhân, tập thể, các tổ chức đóng trên địa bàn nhằm góp phần tháo gỡ những khó khăn của công tác XHHGD ở từng đơn vị, từ đó các cấp ủy Đảng, lãnh đạo địa phương, các đoàn thể xã hội, CMHS dành nhiều tình cảm, tâm huyết và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công tác XHHGD của các trường mầm non Việc xây dựng kế hoạch phát triển GDMN là một việc làm rất quan trọng của các CBQL GDMN để phát triển GDMN vững mạnh đáp ứng kịp với sự phát triển chung của nền GD nước nhà, từng bước đi lên xây dựng trường tiên tiến, hiện đại, hội nhập quốc tế Thực hiện tốt việc xây dựng kế hoạch là bước đầu tiên nhà trường đã gây dựng được niềm tin đối với
Trang 35các cấp lãnh đạo và đối với CMHS, bởi vì xây dựng được kế hoạch đáp ứng yêu cầu của nhà trường, phù hợp với điều kiện, khả năng đóng góp của CMHS, chính là người hiệu trưởng nắm rất rõ tình hình và khả năng thực hiện Bất cứ chương trình XHH GDMN nào cũng phải xây dựng kế hoạch Do vậy, chu trình này cần quán triệt các yêu cầu sau đây: Hiệu trưởng nhà trường cần phải thống nhất các chức năng, nhiệm vụ Phân tích được tình hình, nêu
rõ được điểm mạnh, điểm yếu của địa phương về công tác XHHGD; phân tích được khó khăn, thuận lợi của địa phương về công tác XHHGD Xác định được các nhu cầu chủ yếu trong XHH Vạch ra được mục tiêu dài hạn, ngắn hạn trong công tác XHHGD Cụ thể hóa thành các nhiệm vụ cần tiến hành, có thể phân kì để đạt kết quả cao nhất Xây dựng kế hoạch cụ thể, chi tiết phối hợp giữa nhà trường và gia đình nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng,
GD trẻ mầm non: thực hiện chương trình chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho trẻ; chương trình GD trẻ; kiểm tra đánh giá công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, GD trẻ của trường mầm non; xây dựng cơ sở vật chất; tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương Xác định thời gian, kinh phí thực hiện cho từng nhiệm vụ cụ thể Xác định rõ ràng ai sẽ tham gia vào công tác XHH GDMN
và họ có ảnh hưởng như thế nào trong quá trình thực hiện
1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch công tác xã hội hóa giáo dục mầm non
Hiệu trưởng nhà trường căn cứ vào các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các văn bản chỉ đạo của Phòng GD&ĐT và các kế hoạch phát triển, nâng cao chất lượng GDMN trong từng giai đoạn Các trường cụ thể hóa và công khai hóa kế hoạch dựa trên các văn bản của ngành để thực hiện việc thu, chi hợp lí, công khai minh bạch trong các cuộc vận động, khuyến khích nhân dân đóng góp cũng như khuyến khích việc tham gia giám sát, điều đó sẽ gắn kết trách nhiệm của mọi người cùng chăm lo cho GDMN Dựa trên kế hoạch đã được phê duyệt, CBQL - hiệu trưởng nên xây dựng kế hoạch hoặc phân công, phân nhiệm chi tiết, đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ ứng
Trang 36với từng hoạt động cụ thể trong các nhà trường, xác định thời gian hoàn thành
và các lưu ý (nếu có) Chủ động phát hiện ra những nguồn lực cần huy động, kịp thời tổ chức huy động các nguồn lực để chăm lo cho GDMN Tuyên truyền, vận động đến các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể xã hội, kêu gọi sự ủng hộ cả về vật chất lẫn tinh thần, ngày công, giờ công Huy động từ những thứ đơn giản như đồ dùng, đồ chơi, các phế liệu không dùng đến và cả nguồn lực trí tuệ để xây dựng chất lượng của các nhà trường ngày càng một đi lên Các lực lượng, cá nhân tham gia tích cực cần phải được ghi nhận, động viên kịp thời Ngược lại, tổ chức, cá nhân làm chậm cần phải được động viên, giúp đỡ, trường hợp cần thiết phải thay thế để kế hoạch được thực hiện có hiệu quả Chỉ đạo thực hiện công tác XHH GDMN XHH GDMN là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, nhưng làm thế nào để thực hiện có hiệu quả thì đó là một thách thức lớn đối với các nhà quản lí Hiệu trưởng nhà trường phải chỉ đạo việc tổ chức thực hiện XHH GDMN ở các nhà trường Mỗi địa phương từ xã đến huyện cần có những biện pháp tác động đến cơ chế quản lí và chính sách tạo động lực thu hút các nguồn đầu tư Trong đó, Nhà quản lí phải: Chỉ dẫn mọi thành viên trong nhà trường cũng như các thành viên kết hợp thực hiện các công việc đề
ra của đợt vận động Điều phối, điều chỉnh các nhiệm vụ để công việc tiến hành nhịp nhàng Nếu nhiệm vụ có khối lượng lớn mà năng lực thực hiện bình thường thì phải hạ bớt khối lượng công việc xuống thấp hơn Nếu nhiệm
vụ có khối lượng thấp so với khả năng công việc thì phải bổ sung nhiệm vụ kịp thời
1.4.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non
Việc chỉ đạo thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non được thực hiện với những nhiệm vụ cơ bản như
- Chỉ đạo sử dụng hiệu quả và đúng quy định về các nguồn lực huy động được từ cộng đồng và các tổ chức xã hội cũng như cha mẹ học sinh
Trang 37- Chỉ đạo phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nâng cao chất
Quản lí việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, GD trẻ mầm non, cùng chăm lo phát triển GDMN trên địa bàn
Xây dựng và hoàn thiện dần quy chế phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc tổ chức hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, GD trẻ mầm non; phân bổ và sử dụng hợp lí nguồn ngân sách nhà nước và tiềm năng xã hội hợp lí; mở rộng khả năng đóng góp của CMHS cho GDMN; tổ chức các hoạt động, phong trào để tạo động lực trong việc huy động tiềm năng xã hội để phát triển GDMN; phát huy truyền thống dân tộc, lễ hội và cá nhân; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về GDMN Tuyên truyền, phổ biến các văn bản của Đảng, Nhà nước, của Ngành GD về quản lí công tác XHHGD ở trường MN, nâng cao nhận thức về vai trò quản lí công tác XHHGD cho CBQL, GV và cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị, xã hội,… thông qua tập huấn, hội nghị, hội thảo, toạ đàm, tư vấn, xây dựng góc tuyên truyền, biên soạn tài liệu,… chú trọng đến nội dung của quản lí công tác XHHGD, để cho mọi người hiểu đúng tầm quan trọng, vai trò của quản lí công tác XHHGD Tăng cường xây dựng môi trường GD đồng bộ, tạo được sự phối hợp chặt chẽ giữa ba môi trường nhà trường, gia đình và xã hội để giúp cho CBQL, người làm GD và lực lượng xã hội nắm được, hiểu và vận dụng có hiệu quả góp phần phát triển GDMN
- Chỉ đạo huy động các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động phát triển quy mô, đa dạng hóa các loại hình trường, lớp mầm non và đầu tư các nguồn lực cho GD Quản lí việc huy động các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động phát triển quy mô, đa dạng hóa các loại hình trường, lớp mầm non Thực hiện quản lí công tác XHHGD trong lĩnh vực này bằng cách huy động các nguồn đóng góp tài chính của xã hội qua thuế và các nguồn thu khác để nhà nước trực tiếp quản lí, để thực hiện đa dạng hoá cấp học, ngành học; đa dạng hoá phương thức và hình thức GDMN cho phù hợp với kinh tế
Trang 38thị trường Trên cơ sở củng cố các loại hình CL, lấy đó làm nòng cốt, mở ra nhiều hình thức GDMN, phát triển các loại hình ngoài CL, tạo cơ hội cho mọi người nâng cao trình độ, tiếp cận những vấn đề mới, áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào đời sống Đó cũng là một cách để xã hội hoá GD
Quản lí việc huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho GD Nguồn lực con người là quý giá nhất, để tạo ra một XHHT góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước là công việc có ý nghĩa to lớn Nhà trường phải luôn tích cực huy động các lực lượng xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình
GD tùy theo khả năng của mỗi lực lượng; vận động thu hút sự tham gia của các LLXH vào nội dung hoạt động của nhà trường, đa dạng hóa hình thức huy động mọi nguồn lực đóng góp tài lực, vật lực, trí tuệ, thực hiện quản lí công tác XHH GDMN Tăng cường công tác chỉ đạo của Đảng, quản lí của nhà nước đồng thời phát huy vai trò chủ động nòng cốt của ngành GD và trường MN; tổ chức phối hợp với các ban ngành, đoàn thể tham gia vào phát triển GDMN Nếu có nhiều nội dung, hình thức hoạt động quản lí công tác XHHGD có sự tham gia của toàn xã hội sẽ mở rộng và làm phong phú, sáng tạo các hoạt động đó Theo tác phẩm Khoa học quản lí GD – một số vấn đề lí luận và thực tiễn (Trần Kiểm, 2008): Để thực hiện một chủ trương/chương trình/dự án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên của người quản lí, là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch Trong quản lí, đây là căn cứ mang tính pháp lí quy định hành động của cả tổ chức Kế đó là chức năng tổ chức Thực hiện chức năng này, người quản lí phải hình thành bộ máy/cơ cấu các
bộ phận (tuỳ theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công, phân nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ giữa chúng Điều hành (chỉ đạo, tổ chức thực hiện) là nhiệm vụ tiếp theo của người quản lí Đây là khâu quan trọng tạo nên thành công của kế hoạch dự kiến Chính ở khâu này, đòi hỏi người quản lí phải vận dụng khéo léo các phương pháp và nghệ thuật quản lí Cuối cùng, người quản lí phải thực hiện
Trang 39chức năng kiểm tra, nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra Điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức Cuối cùng, tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin Thông tin đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch; thông tin cũng cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chất liệu tạo quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức; thông tin chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn tiến hoạt động của tổ chức, và thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp cho người quản lí xem xét mức độ đạt mục tiêu của toàn tổ chức Các chức năng nêu trên lập thành chu trình quản lí Chủ thể quản lí khi triển khai hoạt động quản lí đều thực hiện chu trình này.Do đó để quản lí tốt việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, GD trẻ mầm non, cùng chăm lo phát triển GDMN cũng như quản lí tốt việc huy động các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động phát triển quy mô, đa dạng hóa các loại hình trường, lớp mầm non và đầu tư các nguồn lực cho GD trên địa bàn
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá công tác xã hội hóa giáo dục mầm non
Hiệu trưởng nhà trường kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, đối chiếu
kết quả đạt được so với yêu cầu đặt ra xem công việc đề ra đạt đến mức nào Khi kiểm tra để có kết quả thì phải đánh giá được công việc đó thực hiện đạt kết quả như thế nào? Chỉ đạo của nhà trường qua các phong trào, các cuộc vận động đối với CMHS, đối với các tổ chức xã hội của địa phương, cũng như các lực lượng xã hội Nhà trường thành lập ban tổ chức có phân công công việc cụ thể cho từng thành viên từ khâu tổ chức, tuyên truyền, đến người giám sát thực hiện và việc tổ chức này nhà trường sẽ chọn lựa GV chủ nhiệm của các lớp và đại diện CMHS của lớp để tham gia và có thời gian cụ thể cho từng hoạt động Khi kết thúc mỗi hoạt động hay phong trào thì nhà trường tổ chức buổi báo cáo kết quả đã làm được với lãnh đạo Phòng GD & ĐT, với Đảng
Trang 40ủy, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn, với các tổ chức xã hội, Hội CMHS kết quả
đã thực hiện được trong cuộc vận động đó và tìm ra nguyên nhân và những tồn tại khi thực hiện để có những nhìn nhận đúng đắn về kết quả đã đạt được đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm cho những lần tiếp theo Từ những việc làm rất cụ thể, rõ ràng của nhà trường cũng như kế hoạch chi tiêu khoa học và sử dụng nguồn lực mà nhân dân đóng góp một cách đúng đắn và
có hiệu quả làm cho chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng của nhiều trường được phụ huynh và lãnh đạo địa phương tin tưởng vào các hoạt động của nhà trường, và luôn sẵn sàng ủng hộ nhà trường
Đánh giá trên cơ sở thực hiện các mục tiêu về công tác XHH GDMN
Thông qua các kết quả đo được về định lượng và định tính (Định lượng kết quả qua các phép đo hiện hành như: Tỉ lệ giảm suy dinh dưỡng hàng tháng để đánh giá chất lượng chăm sóc - nuôi dưỡng, sự cải tiến về chất lượng và số lượng của đội ngũ, sự cải tiến về chất lượng và số lượng của cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đồ dùng đồ chơi trong nhà trường ) để tổng kết rút kinh nghiệm Lưu ý: Trong quá trình thực hiện chức năng quản lí, nhà quản lí phải đặc biệt quan tâm đến việc thu thập thông tin Thông tin là nền tảng của quản
lí Không có thông tin, không thể thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của quản
lí nói chung và quản lí XHHGD nói riêng Những thông tin phục vụ cho công tác XHH GDMN bao gồm: Thông tin về sự phát triển của trẻ (phát triển thể lực và trí lực theo các số đo về tâm sinh lí lứa tuổi) Thông tin về gia đình trẻ Thông tin về đội ngũ nhà trường Thông tin về cơ sở vật chất hiện có của nhà trường Thông tin về chương trình và việc thực hiện chương trình Thông tin
về các đoàn thể chính trị, xã hội, các tổ chức kinh tế, các đơn vị trường học khác có liên quan đến nhà trường Người quản lí tổng hợp các thông tin về kết quả đào tạo nuôi dạy trẻ, chất lượng chương trình, công tác phối hợp giữa các đoàn thể…, sẽ giúp cho việc đề ra các yêu cầu XHHGD phù hợp với mục
tiêu phát triển và năng lực thực tế của địa phương